1. Trang chủ
  2. » Tất cả

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG LO ÂU CỦA SINH VIÊN NGÀNH TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC, KHOA TÂM LÝ HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

80 10 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Lo Âu Của Sinh Viên Ngành Tâm Lý Học Giáo Dục, Khoa Tâm Lý Học, Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Đinh Trọng Vĩnh
Người hướng dẫn ThS. Bùi Thị Hân
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tâm lý học giáo dục
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sinh viên ngành Tâm lý học Giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, được đào tạo để trở thành những nhà tâm lý trong môi trường học đường, những chuyên gi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG KHOA XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGÀNH TÂM LÝ HỌC

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu 4

4 Khách thể nghiên cứu 4

5 Giả thuyết nghiên cứu 4

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 5

8 Cơ sở phương pháp luận 5

9 Phương pháp nghiên cứu 6

9.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 6

9.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 6

9.3 Phương pháp trắc nghiệm tâm lý 6

9.4 Phương pháp thống kê toán học 7

10 Đóng góp mới của đề tài 7

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LO ÂU CỦA SINH VIÊN NGÀNH TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC, KHOA TÂM LÝ HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 8

1 Tổng quan đề tài nghiên cứu 8

1.1 Nghiên cứu về Lo âu của sinh viên ở Việt Nam 8

1.1.1 Một số nghiên cứu về Lo âu và sức khoẻ tâm thần của sinh viên khối ngành sức khoẻ tại Việt Nam 8

1.1.2 Một số nghiên cứu về Lo âu và sức khoẻ tâm thần của sinh viên khối ngành khác tại Việt Nam 11

1.2 Nghiên cứu về Lo âu của sinh viên ở Nước ngoài 12

1.2.1 Một số nghiên cứu về Lo âu và sức khoẻ tâm thần của sinh viên khối ngành sức khoẻ ở Nước ngoài 12

1.2.2 Một số nghiên cứu về Lo âu và sức khoẻ tâm thần của sinh viên khối ngành khác ở Nước ngoài 15

2 Lý luận về lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 19

2.1 Khái niệm thực trạng 19

Trang 3

2.2 Lý luận về lo âu 19

2.2.1 Khái niệm lo âu 19

2.2.2 Biểu hiện của lo âu 20

2.3 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi thanh niên sinh viên 21

2.3.1 Khái niệm và hoạt động chủ đạo của thanh niên sinh viên 21

2.3.2 Đặc điểm phát triển thể chất của thanh niên sinh viên 23

2.3.3 Đặc điểm về điều kiện sống, hoạt động xã hội và vai trò xã hội của thanh niên sinh viên 24

2.3.4 Đặc điểm phát triển nhận thức của thanh niên sinh viên 26

2.3.5 Đặc điểm phát triển xúc cảm, tình cảm của thanh niên sinh viên 28

2.3.6 Đặc điểm phát triển nhân cách của thanh niên sinh viên 30

2.4 Đặc điểm sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 33

2.4.1 Lịch sử hình thành trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh……… ………33

2.4.2 Đặc điểm sinh viên Sư phạm 34

2.4.3 Lịch sử hình thành khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 35

2.4.4 Đặc điểm tâm lý sinh viên khoa Tâm lý học 36

2.5 Lý luận về lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 37

2.6 Sơ đồ chỉ báo nghiên cứu 38

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 39

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LO ÂU CỦA SINH VIÊN NGÀNH TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC, KHOA TÂM LÝ HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 40

1 Mô tả khách thể và bảng hỏi nghiên cứu 40

1.1 Mô tả khách thể nghiên cứu 40

1.2 Mô tả bảng hỏi nghiên cứu 41

2 Thực trạng Lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 43

2.1 Thực trạng Lo âu chung của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 43

Trang 4

2.2 Thực trạng Lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh theo giới

tính 44

2.3 Thực trạng Lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh theo năm sinh viên 44

2.4 Thực trạng Lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh theo thành tích học tập (học kì gần nhất) 45

2.5 Thực trạng Lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh theo điểm rèn luyện (học kì gần nhất) 46

2.6 Thực trạng Lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh theo tổng số tín chỉ đang phải học trực tuyến 47

2.7 Thực trạng Lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh theo tình trạng tiêm vắc xin Covid – 19 47

2.8 Thực trạng Lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh theo tình trạng mắc Covid – 19 của bản thân hoặc người thân 48

2.9 Thực trạng Lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh theo tình trạng kinh tế gia đình 48

2.10 Thực trạng Lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh theo tình trạng bị hạn chế di chuyển do ảnh hưởng của dịch bệnh 49

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 51

CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 53

1 Kết luận 53

1.1 Kết luận nghiên cứu lý luận 53

1.2 Kết luận nghiên cứu thực trạng 53

2 Hạn chế 54

3 Kiến nghị 55

3.1 Đối với sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh 55

3.2 Đối với khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh ……… 55

Trang 5

3.3 Đối với các nghiên cứu tiếp theo 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 PHỤ LỤC 61

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Mô tả đặc điểm mẫu khách thể 40

Bảng 2 Bảng phân loại mức độ lo âu (C K Nguyen, 2016) 43

Bảng 3 Thực trạng lo âu chung của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục 43

Bảng 4 Thực trạng lo âu của sinh viên theo giới tính 44

Bảng 5 Thực trạng lo âu của sinh viên theo năm sinh viên 44

Bảng 6 Thực trạng lo âu của sinh viên theo thành tích học tập 45

Bảng 7 Thực trạng lo âu của sinh viên theo điểm rèn luyện 46

Bảng 8 Thực trạng lo âu của sinh viên theo tổng số tín chỉ đang học trực tuyến 47

Bảng 9 Thực trạng lo âu của sinh viên theo tình trạng tiêm vắc xin Covid - 19 47

Bảng 10 Thực trạng lo âu của sinh viên theo tình trạng mắc Covid - 19 của bản thân hoặc người thân 48

Bảng 11 Thực trạng lo âu của sinh viên theo tình trạng kinh tế gia đình 49

Bảng 12 Thực trạng lo âu của sinh viên theo tình trạng bị hạn chế di chuyển do ảnh hưởng của dịch bệnh 49

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam là đất nước đang có tiềm lực phát triển về mọi mặt đáp ứng cho tình hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để phát huy và giữ vững tiềm lực đó thì việc quan tâm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để kịp thời cung cấp cho dây chuyền công nghiệp hiện đại là điều cấp thiết và đáng được lưu tâm Tuy nhiên, trong nhịp sống hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ đơn thuần là có trình độ chuyên môn cao mà còn phải có một đời sống tâm lý khỏe mạnh từ đó giúp họ chịu đựng được áp lực của công việc Khi nhắc đến nguồn nhân lực phù hợp để đáp ứng cho nhu cầu của đất nước hiện tại thì không thể không nhắc đến sinh viên Việt Nam – nguồn nhân lực đang được đào tạo và có tiềm năng phát triển cao Vì thế, việc quan tâm đến các vấn đề tâm lý, tâm thần của sinh viên là một việc làm cấp thiết và đáng được lưu tâm

Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã phải hứng chịu đợt dịch bệnh thứ 4 bùng phát mạnh mẽ và kéo dài âm ỉ mãi cho đến nay Đợt dịch này đã để lại nhiều ảnh hưởng to lớn về mọi mặt và gây trở ngại cho đa phần các hoạt động thường nhật của con người Qua đó, hoạt động dạy và học cũng phải có những thay đổi để thích nghi với hoàn cảnh và những yêu cầu mới của xã hội Việc chuyển hình thức học và thi từ trực tiếp sang trực tuyến đã phần nào gây xáo trộn và khó khăn cho học sinh, sinh viên cả về tiếp thu kiến thức lẫn sức khỏe tâm lý – tâm thần Những khó khăn này, là những vấn đề đáng được quan tâm và có phương hướng điều chỉnh phù hợp để từ đó phát triển và hoàn thiện hơn nữa nguồn nhân lực của đất nước trong tương lai Trước tình hình, dịch bệnh vẫn còn chưa hoàn toàn chấm dứt và có nguy cơ bùng phát trở lại như hiện nay, việc duy trì các biện pháp phòng chống dịch bệnh và không ngừng cảnh giác những nguy cơ bùng phát dịch bệnh vẫn còn là việc mà các cấp lãnh đạo lẫn người dân vẫn phải nghiêm túc thực hiện Các thông tin về dịch bệnh cũng như những vấn đề có liên quan như vaccine, các chỉ thị, các quy định mới,… là những thông tin đang rất được quan tâm Người dân khi tiếp cận những thông tin này sẽ ít nhiều khó tránh khỏi những vấn đề về tin giả, tin sai sự thật gây hoang mang và ảnh

Trang 8

hưởng không tốt đến sức khỏe tâm lý, tâm thần của bản thân Các hạn chế về các dịch

vụ giải trí trong thời điểm hiện tại đã dẫn đến nhu câu giải tỏa những áp lực từ công việc, học tập và cuộc sống không được đáp ứng đầy đủ, từ đó dẫn đến các vấn đề về sức khỏe tâm lý, tâm thần

Lứa tuổi thanh niên sinh viên là lứa tuổi của việc tích cực học tập và nghiên cứu nhằm chuẩn bị hành trang cho sự lập thân và lập nghiệp sau này Trong giai đoạn lứa tuổi này, sinh viên trang bị các kiến thức và kĩ năng của ngành nghề mà bản thân chọn lựa để có đủ hành trang cho công việc sau này Ở lứa tuổi thanh niên sinh viên, động cơ học tập xuất phát từ:

- Các yếu tố từ chính chủ thể như hứng thú, niềm tin, lý tưởng,…

- Các yếu tố từ phía xã hội như danh vọng, mong muốn của gia đình, bối cảnh

Nguyen, et al (2021) đã thực hiện nghiên cứu “Chăm sóc sức khỏe tinh thần trong bối cảnh đại dịch Covid-19 tại thành phố Hồ Chí Minh – định hướng dự báo và khuyến nghị xác lập chiến lược”, qua việc tổng hợp các tài liệu nghiên cứu đi trước, nghiên cứu này đã đưa ra được những dấu hiệu và triệu chứng của sang chấn phổ biến

ở đa số các nhóm người trong dịch Covid – 19, đứng đầu là lo âu và trầm cảm Báo Tuổi trẻ Online số ra ngày 09/10/2021, đã có bài viết “Đại dịch COVID-19 làm tăng rối loạn lo âu, trầm cảm trên toàn cầu” đưa ra các nghiên cứu về rối loạn lo

âu và trầm cảm trên thế giới Các nghiên cứu này đã cho thấy, tỉ lệ rối loạn lo âu và

Trang 9

trầm cảm đang gia tăng trên quy mô toàn cầu, một số nghiên cứu đã ước tính số ca rối loạn lo âu tăng 26% và rối loạn trầm cảm nghiêm trọng tăng 28% Các nguyên nhân được đưa ra chủ yếu là do tác động của những hạn chế trong dịch bệnh làm giảm những tương tác xã hội qua đó gây ra áp lực cho tâm lý con người

Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, ở thời điểm hiện tại là trường Đại học duy nhất ở khu vực miền Nam (trong thời điểm hiện tại) đào tạo chuyên ngành Tâm lý học giáo dục, cung cấp nguồn nhân lực cho công tác tâm lý học đường cũng như các ngành nghề có liên quan đến tâm lý trong lĩnh vực giáo dục Sinh viên ngành Tâm lý học Giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư Phạm Thành phố

Hồ Chí Minh, được đào tạo để trở thành những nhà tâm lý trong môi trường học đường, những chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý – giáo dục,… nói chung là những công việc tiếp xúc và làm việc với học sinh, sinh viên các cấp – những chủ nhân tương lai của đất nước Do đó, việc có một tinh thần vững chắc, một sự khỏe mạnh

về cả thể lý lẫn tâm lý là một yêu cầu tất yếu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục nhất là trong bối cảnh đại dịch Covid – 19, bối cảnh mà nhu cầu hỗ trợ tâm lý đang rất cao Qua đó, việc nắm bắt các vấn đề về sức khỏe tâm thần trong bối cảnh dịch bệnh Covid – 19 của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục của trường Đại học

Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và sinh viên Tâm lý cả nước nói chung

để từ đó có cơ sở thiết lập các chương trình hỗ trợ phù hợp là điều cấp thiết trong giai đoạn hiện nay

Từ những vấn đề nêu trên, có thể thấy việc tìm hiểu thực trạng các vấn đề về sức khỏe tâm thần của sinh viên, đặc biệt là các vấn đề về lo âu là cấp thiết và đáng được quan tâm, đặc biệt là đối với các sinh viên Tâm lý, trong đó có sinh viên ngành Tâm

lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Dựa trên những cơ sở đó, đề tài “Thực trạng Lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh” được thành lập

2 Mục đích nghiên cứu

Mô tả thực trạng lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 10

3 Đối tượng nghiên cứu

Lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

4 Khách thể nghiên cứu

Sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

5 Giả thuyết nghiên cứu

H1: Tỉ lệ sinh viên nữ có lo âu từ nhẹ đến rất nặng cao hơn so với sinh viên nam H2: Tỉ lệ sinh viên năm 4 có lo âu từ nhẹ đến rất nặng cao hơn so với sinh viên các năm khác

H3: Tỉ lệ sinh viên có học lực học kì gần nhất từ khá trở lên có lo âu từ nhẹ đến rất nặng thấp hơn so với các sinh viên khác

H4: Tỉ lệ sinh viên có điểm rèn luyện từ 80 trở lên có lo âu từ nhẹ đến rất nặng thấp hơn so với các sinh viên khác

H5: Tỉ lệ sinh viên có tổng số tín chỉ phải học trực tuyến trên 20 tín chỉ có lo âu từ nhẹ đến rất nặng cao hơn so với các sinh viên khác

H6: Tỉ lệ sinh viên chưa tiêm vắc – xin Covid – 19 có lo âu từ nhẹ đến rất nặng cao hơn so với sinh viên đã tiêm vắc – xin Covid – 19

H7: Tỉ lệ sinh viên đang mắc Covid – 19 hoặc có người thân đang mắc Covid – 19

có lo âu từ nhẹ đến rất nặng cao hơn so với các sinh viên khác

H8: Tỉ lệ sinh viên trong gia đình đang bị mất một phần hoặc toàn bộ nguồn thu nhập

do dịch bệnh Covid – 19 có lo âu từ nhẹ đến rất nặng cao hơn so với các sinh viên khác

H9: Tỉ lệ sinh viên bị hạn chế di chuyển do cách ly y tế, các chỉ thị giản cách hoặc lý

do khác có lo âu từ nhẹ đến rất nặng cao hơn so với các sinh viên khác

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lý luận về thực trạng lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

- Khảo sát thực trạng lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 11

- Đề xuất kiến nghị

7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu chỉ được thực hiện trên sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

- Nghiên cứu được thực hiện tại ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

- Nghiên cứu chỉ mô tả thực trạng lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh mà không

đề cập đến những yếu tố khác

- Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 11/2021 đến tháng 12/2021

8 Cơ sở phương pháp luận

Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở một số nguyên tắc phương pháp luận cơ bản của tâm lý học sau đây:

- Nguyên tắc quyết định luận duy vật các hiện tượng tâm lý: Vấn đề lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng và chi phối bởi các động từ yếu tố về dịch bệnh COVID – 19 và các vấn đề khác như kinh tế, giáo dục, môi trường xã hội,… Các vấn đề đó tác động lên tâm lý của sinh viên thông qua các điều kiện bên trong, bao gồm: đặc điểm tâm lý cá nhân, đặc điểm lứa tuổi, trình độ và năng lực cá nhân của sinh viên Qua đó cho thấy lo âu của sinh viên bị ảnh hưởng và chi phối bởi bối cảnh và điều kiện xã hội – lịch

sử

- Nguyên tắc thống nhất giữa tâm lý, ý thức và hoạt động: Nguyên tắc này cho thấy hoạt động là phương thức hình thành, phát triển lo âu của sinh viên và thể hiện được hình thành và thể hiện thông qua các hoạt động học tập, nghiên cứu, giao tiếp, tình cảm của sinh viên Lo âu của sinh viên được hình thành

và biểu hiện thông qua hoạt động và bị ảnh hưởng bởi các vấn đề của hoạt động

- Nguyên tắc phát triển của tâm lý: Nghiên cứu nhìn nhận những vấn đề về lo

âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại

Trang 12

học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh luôn có sự vận động và thay đổi không

cố định, không bất biến mà bị ảnh hưởng và chịu tác động từ nhiều nhân tố

cá nhân và xã hội khác nhau

9 Phương pháp nghiên cứu

9.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Mục đích:

Tổng quan các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến lo âu và lo âu trong bối cảnh dịch bệnh Covid – 19 của sinh viên, qua đó phân tích, làm rõ các vấn đề đã được công bố, đồng thời xác định những vấn đề còn mâu thuẫn hoặc chưa được làm sáng tỏ để tiến hành nghiên cứu bổ sung Hệ thống hóa các lý luận làm cơ sở cho nghiên cứu thực trạng

Cách thức tiến hành:

Tìm đọc các tài liệu, nghiên cứu có liên quan ở trong và ngoài nước, các góc độ, các phương pháp tiếp cận và những kết quả đã công bố

Viết tổng quan nghiên cứu và xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

9.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích:

Khảo sát thực trạng lo âu của sinh viên và các yếu tố xung quan lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Cách thức tiến hành:

Xây dựng bảng khảo sát dựa trên các vấn đề trong bối cảnh hiện tại của sinh viên và kết hợp với phương pháp trắc nghiệm tâm lý để đánh giá mức độ lo

âu của sinh viên

Phát phiếu hỏi cho sinh viên thực hiện thông qua hình thức trực tuyến 9.3 Phương pháp trắc nghiệm tâm lý

Mục đích:

Khảo sát mức độ lo âu của sinh viên bằng thang đo nhằm phục vụ cho việc

mô tả thực trạng

Cách thức tiến hành:

Trang 13

Sử dụng thang đánh giá lo âu của Zung (Zung Self – Rating Anxiety Scale – SAS) để khảo sát mức độ lo âu của sinh viên

9.4 Phương pháp thống kê toán học

10 Đóng góp mới của đề tài

- Đề tài “Thực trạng lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh” sẽ đưa ra các số liệu về

lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học

Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó, mô tả thực trạng lo âu trong bối cảnh

xã hội hiện tại của sinh viên làm cơ sở cho công tác hỗ trợ phục hồi và chăm sóc sức khỏe tâm thần cho sinh viên

- Đề tài nghiên cứu này cung cấp những thông tin mới về lo âu của sinh viên trong bối cảnh hiện tại (dịch bệnh Covid – 19), một khía cạnh cấp thiết trong thời điểm hiện tại, qua đó làm cơ sở cho các nghiên cứu chuyên sâu và đa chiều hơn về những vấn đề sức khỏe tâm thần sau những ảnh hưởng nặng nề mà dịch bệnh Covid – 19 mang lại

Trang 14

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LO ÂU CỦA SINH VIÊN NGÀNH TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC, KHOA TÂM LÝ HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1 Tổng quan đề tài nghiên cứu

1.1 Nghiên cứu về Lo âu của sinh viên ở Việt Nam

1.1.1 Một số nghiên cứu về Lo âu và sức khoẻ tâm thần của sinh viên khối

ngành sức khoẻ tại Việt Nam

Le (2011) đã thực hiện nghiên cứu “Sức khỏe tâm lý của sinh viên: Nghiên cứu cắt ngang” nhằm xác định tỉ lệ rối nhiễu tâm lý của sinh viên như

lo âu, trầm cảm, stress và mối quan hệ với một số yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý của sinh viên Kết quả nghiên cứu cho thấy có 11% sinh viên nữ và 4% sinh viên nam có lo âu ở mức độ rất nặng Trầm cảm, lo âu, căng thẳng mức

độ nặng ở sinh viên cả hai giới lần lượt là 2%, 12% và 2% Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ ra có sự tương quan cao giữa các yếu tố trầm cảm, lo âu, căng thẳng

ở sinh viên Yếu tố hy vọng có mối liên hệ đáng tin cậy, sinh viên có hy vọng càng cao thì các rối nhiễu càng giảm và ngược lại Kết quả nghiên cứu này đã cho thấy thực trạng trầm cảm, lo âu, căng thẳng ở hai mức độ nặng và rất nặng, đồng thời chỉ ra được mối liên hệ giữa yếu tố hy vọng đến sự rối nhiễu tâm lý của sinh viên Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đưa được ra những yếu tố khác ảnh hưởng đến rối nhiễu tâm lý ở sinh viên ngoài yếu tố hy vọng

Phan, et al (2016) đã thực hiện nghiên cứu “Đánh giá mức độ Stress, Lo

âu, Trầm cảm của sinh viên chính quy khoa Dược, Đại học Y – Dược Thành phố Hồ Chí Minh” với mục đích đánh giá mức độ stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên chính quy khoa Dược – Đại học Y – Dược TP.HCM Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ stress, lo âu trầm cảm của sinh viên từ mức nhẹ trở lên lần lượt là 48,08%; 68,79% và 52,63%, mức độ stress và lo âu cao nhất ở sinh viên năm đầu và thấp nhất ở sinh viên năm cuối Việc tham gia monitor và các quan

hệ xã hội có ảnh hưởng tích cực đến mức độ stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên Ngoài ra, việc tham gia các hoạt động xã hội, câu lạc bộ, thể dục thể thao

và học lực cũng ảnh hưởng tích cực đến mức độ trầm cảm ở sinh viên Nghiên

Trang 15

cứu đã chỉ ra được thực trạng trầm cảm, lo âu, căng thẳng của sinh viên tại thời điểm thực hiện đồng thời đưa ra được những yếu tố ảnh hưởng đến các vấn đề này của sinh viên Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn chưa chỉ rõ được đâu là yếu tố có ảnh hưởng chủ yếu đến thực trạng này

T H Nguyen, et al (2019) đã tiến hành nghiên cứu “Khảo sát rối nhiễu

lo âu của sinh viên năm thứ tư trường Đại học Điều dưỡng Nam Định” nhằm khảo sát rối nhiễu lo âu của sinh viên chính quy năm thứ 4 đang theo học tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên năm tư tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định có tỉ lệ rối nhiễu lo âu chiếm tương đối cao (59,7%), 69% sinh viên tham gia nghiên cứu có sự hiểu biết nhất định về lo âu, có đến 88,3% sinh viên tham gia nghiên cứu đã tìm đến những hoạt động để làm giảm lo lắng căng thẳng Yếu tố ảnh hưởng đến lo âu ở sinh viên năm tư rất đa dạng nhưng chủ đạo là yếu tố về học tập và công việc sau khi

ra trường Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy, những sinh viên có sự hiểu biết

về lo âu, biết cách ứng xử trước các tình huống căng thẳng, biết cách phòng tránh lo âu sẽ không bị rơi vào trạng thái lo âu Nghiên cứu đã đưa ra được thực trạng rối nhiễu lo âu của nhóm khách thể được nghiên cứu và từ đó nghiên cứu được yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến vấn đề này là học tập và công việc sau khi

ra trường

T B T Nguyen, et al (2020) đã tiến hành nghiên cứu “ Thực trạng Stress, Lo âu, Trầm cảm của sinh viên năm cuối ngành Dược tại Đồng Nai” với mục đích xác định tỉ lệ stress, lo âu và trầm cảm của sinh viên đại học năm cuối ngành Dược tại Đồng Nai, đồng thời khảo sát một số yếu tố liên quan đến stress,

lo âu, trầm cảm của sinh viên năm cuối ngành Dược tại Đồng Nai theo đặc điểm nhân khẩu và xếp loại học lực của học kì gần nhất Kết quả nghiên cứu cho thấy,

tỉ lệ sinh viên có biểu hiện stress, lo âu và trầm cảm lần lượt là: 16,4%, 29,8%

và 38,8%, tỉ lệ lo âu ở mức độ nặng chiếm 6% Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ ra rằng có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các nhóm sinh viên có xếp loại học lực khác nhau Nghiên cứu này đã đưa ra thực trạng trầm cảm, lo âu, stress của sinh viên tại thời điểm nghiên cứu và cho thấy được có sự khác biệt ý nghĩa về

Trang 16

mặt thống kê giữa thực trạng trên và xếp loại học lực của sinh viên từ đó, cho thấy cần có sự nghiên cứu sâu hơn về sự ảnh hưởng của yếu tố học tập đến các vấn đề về sức khoẻ tâm thần của sinh viên Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ đưa ra những vấn đề này đối với khách thể là sinh viên năm tư từ đó dẫn đến cần nghiên cứu rộng hơn về nhóm khách thể để có thể phát triển hơn những nghiên cứu về các vấn đề nêu trên

T T Nguyen, et al (2020) đã thực hiện nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến Stress, Lo âu, Trầm cảm của sinh viên năm cuối ngành Dược tại Đồng Nai” nhằm xác định những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của sinh viên trong năm học 2019 – 2020 Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến stress, lo âu, trầm cảm của sinh viên năm cuối bao gồm: học tập, gia đình và dự định nghề nghiệp, trong đó, yếu tố học tập là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất Nghiên cứu này đã đưa ra được yếu tố học tập là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến các vấn đề trầm cảm, lo âu, căng thẳng của sinh viên năm cuối ngành Dược tại Đồng Nai đồng thời kết quả này cũng cho thấy có sự tương đồng với một số nghiên cứu đi trước về yếu tố ảnh hưởng Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ cho thấy ở khía cạnh sinh viên năm cuối ngành Dược tại Đồng Nai từ đó đưa ra vấn

đề về việc nghiên cứu sâu thêm về ảnh hưởng của yếu tố học tập đối với lo âu của sinh viên

T D Nguyen, et al (2021) đã tiến hành nghiên cứu “Tỉ lệ rối loạn lo âu lan toả và một số yếu tố liên quan ở sinh viên Đại học Y Hà Nội năm học 2018 – 2019” nhằm xác định tỉ lệ có biểu hiện rối loạn lo âu và một số yếu tố liên quan ở sinh viên năm đầu và năm cuối Đại học Y Hà Nội năm 2018 – 2019 Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 1723 sinh viên và sử dụng bộ câu hỏi Rối loạn

lo âu lan tỏa (Generalised Anxiety Disorder – 7 item, GAD-7) để phỏng vấn sinh viên về tình trạng rối loạn lo âu Kết quả cho thấy tỉ lệ rối loạn lo âu là 9,8% và một số yếu tố liên quan gồm: có gánh nặng tài chính, phải thi lại/học lại, tập thể dục thể thao, có hút thuốc, có uống rượu bia Nghiên cứu đã chỉ ra được tỉ lệ rối loạn lo âu lan toả ở mẫu khách thể và các yếu tố có liên quan đến

Trang 17

tỉ lệ đó, bên cạnh đó, nghiên cứu chưa đề cập đến các khía cạnh nguyên nhân của vấn đề tại thời điểm nghiên cứu

Qua các nghiên cứu trên có thể thấy, lo âu ở sinh viên là vấn đề đã được tiến hành nghiên cứu ở nhiều nơi, tuy nhiên, đa số các nghiên cứu đều nghiên cứu chung ba vấn đề Trầm cảm – Lo âu – Căng thẳng Do vậy, cần đẩy mạnh thêm những nghiên cứu tách riêng ba vấn đề để từ đó có thể đi sâu hơn và phân tích một cách đầy đủ hơn những khía cạnh của các vấn đề Bên cạnh đó, trong bối cảnh xã hội như hiện nay, việc quan tâm nghiên cứu sâu vào những vấn đề sức khoẻ tâm thần này ở sinh viên các ngành sức khoẻ, đặc biệt là nhóm ngành Tâm lý học cần được quan tâm hơn vì đây chính là nguồn nhân lực tiềm năng cho công cuộc phục hồi sức khoẻ toàn dân sau những tổn thương và mất mát trong dịch bệnh

1.1.2 Một số nghiên cứu về Lo âu và sức khoẻ tâm thần của sinh viên khối

ngành khác tại Việt Nam

Tran và N.D Nguyen (2015) đã thực hiện nghiên cứu “Rối loạn lo âu của sinh viên một số trường Sư phạm tại Thành phố Hồ Chí Minh” nhằm chỉ ra mức độ và biểu hiện của rối loạn lo âu ở sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh và Cao đẳng Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu được tiến hành khảo sát trên 650 sinh viên ở 2 trường sư phạm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, gồm Đại học Sư phạm và Cao đẳng

Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả cho thấy có 110 sinh viên có dấu hiệu rối loạn lo âu từ nhẹ đến nặng, trong đó có mức độ trung bình chiếm khoảng 50% Nghiên cứu này đã khảo sát được thực trạng, mức độ và biểu hiện lo âu của nhóm khách thể, từ đó giúp ích cho công tác hỗ trợ tâm lý cho sinh viên Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn chưa đào sâu phân tích lo âu ở sinh viên với các mặt xã hội của nó

Kieu (2019) đã thực hiện nghiên cứu “Depression, anxiety and stress among students in Ho Chi Minh city” (tạm dịch: Thực trạng Trầm cảm, Lo âu, Căng thẳng của sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh) nhằm nghiên cứu thực trạng trầm cảm, lo âu căng thẳng trên 500 sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh

Trang 18

Kết quả nghiên cứu cho thấy: điểm trung bình về trầm cảm, lo âu, căng thẳng ở sinh viên lần lượt là 13,37; 15,26; 16,89 từ đó có thể thấy sinh viên có trầm cảm

ở mức độ nhẹ, lo âu ở mức độ nặng và căng thẳng ở mức độ nhẹ Nghiên cứu cũng cho thấy có mối tương quan có ý nghĩa giữa trầm cảm – lo âu, lo âu – căng thẳng và căng thẳng – trầm cảm Ngoài ra, cũng có sự khác biệt ý nghĩa về điểm trung bình giữa trầm cảm, lo âu và căng thẳng ở sinh viên các chuyên ngành, cụ thể, sinh viên Y – Dược có điểm cao nhất ở cả ba mặt so với sinh viên Sư phạm

và Kinh tế - Dịch vụ Nghiên cứu này đã đưa ra kết quả đa chiều về thực trạng trầm cảm, lo âu, căng thẳng ở sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh đồng thời chỉ ra sự tương quan cũng như khác biệt về giới tính và ngành học của sinh viên

ở các mặt trầm cảm, lo âu, căng thẳng Tuy nhiên, cần có thêm những nghiên cứu sâu hơn nữa về các nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt trên

Qua các nghiên cứu trên có thể thấy, việc quan tâm đến các vấn đề sức khoẻ tâm lý - tâm thần của sinh viên đang là việc làm cấp bách nhất là trong giai đoạn đặc biệt này Để từ đó có những hỗ trợ kịp thời nhằm khắc phục những tổn thương mà các vấn đề tâm lý – tâm thần gây ra Bên cạnh đó, đây cũng là nhu cầu cấp thiết mà xã hội đặt ra thông qua nhu cầu tìm kiếm nguồn nhân lực chất lượng cao và có đời sống tâm lý khoẻ mạnh

1.2 Nghiên cứu về Lo âu của sinh viên ở Nước ngoài

1.2.1 Một số nghiên cứu về Lo âu và sức khoẻ tâm thần của sinh viên khối

ngành sức khoẻ ở Nước ngoài

Rizvi, et al (2015) đã thực hiện nghiên cứu “Prevalence of depression, anxiety and stress (by DASS scoring system) among medical students in Islamabad, Pakistan” (tạm dịch: Tỉ lệ trầm cảm, lo âu, căng thẳng (theo thống

kê điểm DASS) của sinh viên Y khoa ở Islamabad Pakistan) nhằm xác định tỉ

lệ trầm cảm, lo âu và căng thẳng (bằng hệ thống tính điểm DASS) trong số các mẫu sinh viên y khoa có chủ đích ở Islamabad, Pakistan Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỉ lệ trầm cảm ở nhóm sinh viên này là 40,9%, tỉ lệ lo âu là 74,2% và

tỉ lệ căng thẳng là 50% Kết quả nghiên cứu đã xác định được tỉ lệ trầm cảm, lo

âu và căng thẳng của nhóm sinh viên tham gia nghiên cứu và đề xuất việc xem

Trang 19

xét các yếu tố gây căng thẳng trong khi đánh giá kết quả học tập của học sinh Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở xác định tỉ lệ trầm cảm, lo âu, căng thẳng của sinh viên nhưng chưa phân tích được các khía cạnh khác xung quanh thực trạng này

Kunwar, et al (2016) đã thực hiện nghiên cứu “Study of depression, anxiety and stress among the medical students in two medical colleges of Nepal” (tạm dịch: Nghiên cứu về trầm cảm, lo âu, căng thẳng ở sinh viên y khoa tại hai trường Cao đẳng Y tế tại Nepal) nhằm xác định mức độ phổ biến của trầm cảm, lo âu và căng thẳng trong nhóm sinh viên tham gia nghiên cứu và mối liên hệ của chúng với các đặc điểm xã hội học của sinh viên Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ trầm cảm ở sinh viên nói chung là 29,9%, tỉ lệ lo âu là 41,1%

và căng thẳng là 27% Kết quả nghiên cứu đã cho thấy tỉ lệ trầm cảm, lo âu, căng thẳng trong nhóm sinh viên tham gia nghiên cứu Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn chưa cho thấy các yếu tố liên quan khác đến lo âu đồng thời cũng đặt ra vấn

đề nghiên cứu mới về yếu tố điều kiện sống trong việc tiếp cận các vấn đề lo âu

Azad, et al (2017) đã thực hiện nghiên cứu “Frequency of Anxiety and Depression in medical students of a private medical college” (tạm dịch: Tần suất

lo âu và trầm cảm của sinh viên y khoa của một trường cao đẳng tư nhân) nhằm mục đích xác định tần suất lo âu và trầm cảm ở sinh viên y khoa tại Cao đẳng

Y tế, Đại học Foundation (FUMC), Islamabad Kết quả nghiên cứu cho thấy có 14% sinh viên có trầm cảm từ trung bình đến nặng, 19% sinh viên có lo âu từ trung bình đến nặng Nghiên cứu đã chỉ ra các vấn đề về trầm cảm, lo âu ở sinh viên, tuy nhiên, nghiên cứu vẫn chỉ dừng lại ở khảo sát thực trạng, chưa đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề có liên quan hoặc yếu tố ảnh hưởng để từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp hơn

Busudan, et al (2017) đã thực hiện nghiên cứu “Depression, anxiety and stress in dental students” (tạm dịch: Trầm cảm, căng thẳng và lo âu ở sinh viên nha khoa) nhằm đo lường sự xuất hiện và mức độ trầm cảm, lo âu, căng thẳng

ở sinh viên nha khoa bằng thang đo DASS – 21 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ

lệ trầm cảm, lo âu, căng thẳng ở sinh viên lần lượt là 55,9%, 66,8%, 54,7%

Trang 20

Thực hiện hồi quy tuyến tính nhiều lần cho thấy những yếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm, lo âu, căng thẳng ở sinh viên bao gồm: yếu tố giới tính, sự hài lòng với các mối quan hệ với giảng viên, sự hài lòng với các mối quan hệ với đồng nghiệp và yếu tố nha khoa là lĩnh vực đầu tiên khi lựa chọn nghiên cứu Nghiên cứu này đã đưa ra những vấn đề cơ bản về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm, lo âu, căng thẳng ở sinh viên từ đó có thể thấy đa số các yếu tố ảnh hưởng đều thuộc về môi trường học tập và làm việc Qua nghiên cứu này cho thấy, cần có những nghiên cứu khác tiếp tục đào sâu vào các yếu tố ảnh hưởng trên để từ đó tìm ra những vấn đề tồn đọng và đề xuất được những phương pháp khắc phục phù hợp

Kumar, et al (2019) đã thực hiện nghiên cứu “Depression, anxiety, and stress among final-year medical students” (tạm dịch: Trầm cảm, Lo âu, Căng thẳng ở sinh viên Y khoa năm cuối) nhằm xác định tần suất trầm cảm, căng thẳng và lo âu của sinh viên y khoa năm cuối Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên Đại học tư thục có điểm trung bình của lo âu và căng thẳng cao hơn những sinh viên khác và sinh viên đại học công lập có điểm trung bình của trầm cảm cao hơn so với các sinh viên khác Tỉ lệ sinh viên có trầm cảm từ trung bình đến cực kì nghiêm trọng là 57,6%, lo âu từ trung bình đến cực kì nghiêm trọng là 74% và cuối cùng là tỉ lệ sinh viên có căng thẳng từ trung bình đến cực kì nghiêm trọng là 57,7% Ngoài ra, những lý do phổ biến dẫn đến căng thẳng, lo

âu bao gồm: áp lực thi cử, áp lực sống theo kì vọng của gia đình, sợ bước chân vào thế giới y học thật sự, không hài lòng với cơ quan quản lý Nghiên cứu đã đưa ra thực trạng trầm cảm, lo âu căng thẳng ở sinh viên đồng thời tìm ra một

số nguyên nhân dẫn đến lo âu và căng thẳng ở sinh viên y khoa năm cuối, những nguyên nhân này tập trung vào các nhóm nguyên nhân như học tập, nghề nghiệp

và gia đình, từ đó có thể thấy đây là những vấn đề đáng được lưu tâm và tiến hành nghiên cứu sâu

Qua các nghiên cứu trên, có thể thấy vấn đề về lo âu của sinh viên nhất

là sinh viên thuộc nhóm ngành sức khỏe đã và đang là vấn đề đáng quan tâm không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra

Trang 21

những yếu tố ảnh hưởng hoặc có liên quan đến lo âu ở sinh viên là những vấn

đề trong việc học tập, nghề nghiệp tương lai, gia đình và môi trường sống, từ đó

mở ra một hướng nghiên cứu mới đào sâu vào tìm hiểu và giải quyết các nguyên nhân qua đó tạo tác động phòng ngừa, giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm lý – tâm thần của sinh viên

1.2.2 Một số nghiên cứu về Lo âu và sức khoẻ tâm thần của sinh viên khối

ngành khác ở Nước ngoài

Wong, et al (2006) đã thực hiện nghiên cứu “Web-based survey of depression, anxiety and stress in first-year tertiary education students in Hong Kong” (tạm dịch: Khảo sát trên web về chứng Trầm cảm, Lo âu, Căng thẳng của sinh viên năm nhất Đại học tại Hong Kong) nhằm kiểm tra tỉ lệ trầm cảm,

lo âu và căng thẳng ở sinh viên năm nhất đại học ở Hong Kong Kết quả nghiên cứu cho thấy các mức độ trầm cảm, lo âu, căng thẳng từ trung bình trở lên có tỉ

lệ lần lượt là 21%, 41% và 27% và được nhóm tác giả cho rằng đây là vấn đề đáng báo động Nghiên cứu này đã đưa ra được số liệu về thực trạng trầm cảm,

lo âu, căng thẳng ở sinh viên năm nhất Đại học tại Hong Kong từ đó nhận ra vấn đề đáng báo động trong việc chăm sóc sức khỏe tâm lý – tâm thần cho sinh viên Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn tồn tại vấn đề về việc nghiên cứu sâu vào nguyên nhân dẫn đến thực trạng này và từ đó đưa ra cách khắc phục phù hợp

Sahoo and Khess (2010) đã thực hiện nghiên cứu “Prevalence of depression, anxiety, and stress among young male adults in India: a dimensional and categorical diagnoses-based study” (tạm dịch: Tỉ lệ Trầm cảm, Lo âu, Căng thẳng ở nam thanh niên Ấn Độ: Nghiên cứu dựa trên chẩn đoán thứ nguyên và phân loại) nhằm xác định mức độ phổ biến của các triệu chứng liên quan đến trầm cảm, lo âu và căng thẳng hiện tại trên cơ sở thứ nguyên và phân loại ở những người trẻ tuổi (500 sinh viên) tại thành phố Ranchi, Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho thấy 18,5% khách thể có các triệu chứng trầm cảm từ nhẹ đến cực kì nghiêm trọng, đối với lo âu là 24,4% và căng thẳng là 20% Trầm cảm lâm sàng là 12,1% và rối loạn lo âu tổng quát là 19,0%, lo lắng và trầm cảm đi kèm là cao với khoảng 87% những người bị trầm cảm cũng bị rối loạn lo âu

Trang 22

Nghiên cứu này đã đưa ra được thực trạng trầm cảm, lo âu, căng thẳng của sinh viên nam tại Ấn Độ, đồng thời chỉ ra một số vấn đề khác xung quanh thực trạng này theo hướng tiếp cận nghiên cứu dựa trên chẩn đoán thứ nguyên và phân loại Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chỉ mới tiếp cận ở hướng đưa ra thực trạng, do vậy cần có nghiên cứu đi sâu hơn nữa về các vấn đề tâm lý này

Yasin and Dzulkifli (2011) đã thực hiện nghiên cứu “Differences in depression, anxiety and stress between low-and high-achieving students” (tạm dịch: Sự khác biệt ở Trầm cảm, Lo âu và Căng thẳng giữa sinh viên có thành tích thấp với sinh viên có thành tích cao) nhằm mục đích xem xét sự khác biệt

về trầm cảm, lo âu và căng thẳng giữa sinh viên có thành tích thấp và sinh viên

có thành tích cao Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về trầm cảm, lo

âu, căng thẳng giữa sinh viên có thành tích thấp với sinh viên có thành tích cao, trong đó, sinh viên có thành tích thấp có mức độ trầm cảm, lo âu, căng thẳng cao hơn sinh viên có thành tích cao Nghiên cứu đã đưa ra được sự khác biệt về trầm cảm, lo âu căng thẳng giữa sinh viên có thành tích thấp với sinh viên có thành tích cao từ đó cho thấy vấn đề về học tập có sự liên quan đến sức khỏe tâm lý – tâm thần của sinh viên Ngoài ra , nghiên cứu này còn hữu ích trong việc hỗ trợ các nhà giáo dục, cố vấn, nhà tâm lý và các nhà nghiên cứu phát triển các chiến lược hỗ trợ phù hợp cho sinh viên

Mahmoud, et al (2012) đã thực hiện nghiên cứu “The relationship among young adult college students’ depression, anxiety, stress, demographics, life satisfaction, and coping styles” (tạm dịch: Mối quan hệ giữa Trầm cảm, Lo

âu, Căng thẳng, nhân khẩu học, sự hài lòng trong cuộc sống và phong cách đối phó của sinh viên Đại học ở tuổi trưởng thành) nhằm xem xét tầm quan trọng tương đối của phong cách đối phó, sự hài lòng trong cuộc sống và nhân khẩu học đối với việc dự đoán các vấn đề về trầm cảm, lo âu, căng thẳng của sinh viên Sau khi thực hiện phân tích hồi quy, kết quả nghiên cứu cho thấy: đối phó không tốt là yếu tố dự báo chính của trầm cảm, lo âu và căng thẳng, đối phó thích ứng không phải là một yếu tố dự báo quan trọng của các vấn đề này Nghiên cứu cũng cho thấy được việc giảm các hành vi đối phó không tốt có thể

Trang 23

có tác động tích cực nhất đến việc giảm trầm cảm, lo âu, căng thẳng ở nhóm khách thể Đây là một nghiên cứu tìm hiểu một khía cạnh khác về các vấn đề có ảnh hưởng đến trầm cảm, lo âu, căng thẳng, đồng thời việc phân tích vào những yếu tố này, kết hợp với các nghiên cứu sẵn có sẽ có thể nghiên cứu thêm nhiều phương pháp hỗ trợ chăm sóc sức khỏe tâm lý – tâm thần cho sinh viên

Beiter, et al (2015) đã thực hiện nghiên cứu “The prevalence and correlates of depression, anxiety, and stress in a sample of college students” (tạm dịch: Tỉ lệ và mối tương quan của Trầm cảm, Lo âu, Căng thẳng trong một mẫu sinh viên đại học) nhằm điều tra các mối tương quan tìm ẩn của trầm cảm

lo âu và căng thẳng trong một mẫu sinh viên đại học Kết quả nghiên cứu đã chỉ

ra ba mối quan tâm hàng đầu là kết quả học tập, áp lực thành công và kế hoạch sau khi tốt nghiệp Về mặt nhân khẩu học, những người căng thẳng, lo lắng và trầm cảm nhất học sinh chuyển trường, học sinh lớp trên, và những người sống ngoài khuôn viên trường Nghiên cứu này đã đưa ra được các yếu tố tương quan với các vấn đề trầm cảm, lo âu, căng thẳng của sinh viên tham gia nghiên cứu,

từ đó chỉ ra tầm quan trọng của việc thường xuyên khảo sát, đánh giá sàng lọc

về sức khỏe tâm lý – tâm thần cho sinh viên, từ đó có phương hướng và kế hoạch

hỗ trợ phù hợp

Dalky and Gharaibeh (2019) đã thực hiện nghiên cứu “Depression, anxiety, and stress among college students in Jordan and their need for mental health services” (tạm dịch: Trầm cảm, lo âu và căng thẳng ở sinh viên đại học

ở Jordan và nhu cầu của họ đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần) nhằm đo lường sự trầm cảm, lo âu và căng thẳng của sinh viên đại học ở Jordan

và khám phá nhận thức của họ về các dịch vụ sức khỏe tâm thần hiện có Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh viên đại học có mức độ trầm cảm vừa phải, mức

độ lo âu nghiêm trọng và mức độ căng thẳng vừa phải Một nửa không biết rằng các dịch vụ hỗ trợ tâm lý đã có sẵn, mặc dù 54,4% cho biết họ có gặp các vấn

đề về tâm lý Nghiên cứu đã cho thấy thực trạng trầm cảm, lo âu, căng thẳng của sinh viên và đồng thời thể hiện nhu cầu của họ đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, qua đó có thể thấy sự tồn tại khi một nữa số sinh viên không

Trang 24

biết về các dịch vụ này, qua đó đưa ra vấn đề cần có những nghiên cứu tập trung vào việc sàng lọc và tìm hiểu thêm những phương pháp hỗ trợ và tiếp cận hỗ trợ phù hợp

Gao and Liu (2019) đã thực hiện nghiên cứu “Gender differences in depression, anxiety, and stress among college students: a longitudinal study from China” (tạm dịch: Sự khác biệt về giới trong các vấn đề về Trầm cảm, Lo

âu, Căng thẳng giữa các sinh viên đại học: Một nghiên cứu cắt dọc ở Trung Quốc) nhằm xem xét sự khác biệt về giới trong trầm cảm, lo âu và căng thẳng của sinh viên đại học trong bốn năm học, và để khám phá các yếu tố liên quan đến lo lắng có thể có ở sinh viên năm nhất Kết quả nghiên cứu kéo dài bốn năm cho thấy: trung bình cả nữ và nam sinh viên đại học đều gặp lo âu nhẹ trong ba năm đầu tiên, điểm lo âu của sinh viên nữ cao hơn đáng kể so với sinh viên nam trong năm đầu tiên và năm thứ hai và không có sự khác biệt ý nghĩa về giới tính trong điểm trung bình của sinh viên ở vấn đề về trầm cảm và lo âu Tỉ lệ sinh viên nữ trải qua sự lo âu trên ngưỡng bình thường cao hơn sinh viên nam, ở sinh viên nam thì tỉ lệ trải qua trầm cảm ở các mức độ khác nhau cao hơn so với sinh viên nữ và không có sự khác biệt giữa nam và nữ trong vấn đề về căng thẳng

Lo âu có mối tương quan tích cực đáng kể với sự hướng nội Ngoài ra mức độ

lo âu của nữ sinh viên năm nhất cũng có liên quan đến ngoại hình, thói quen uống rượu và kết quả học tập Nghiên cứu này là một nghiên cứu có quy mô và dài hạn, kết quả nghiên cứu đáp ứng được mục đích và đưa ra những vấn đề có giá trị cao, đồng thời nghiên cứu còn mở ra những yếu tố liên quan đến lo âu có phần tương đồng với các nghiên cứu đi trước

Cao, et al (2020) đã thực hiện nghiên cứu “The psychological impact of the COVID-19 epidemic on college students in China” (tạm dịch: Tác động tâm

lý của đại dịch COVID-19 đối với sinh viên Đại học ở Trung Quốc) nhằm chỉ

ra các áp lực tâm lý của sinh viên Đại học trong đại dịch COVID – 19 Nghiên cứu được thực hiện trên sinh viên trường Cao đẳng Y tế Changzhi bằng cách sử dụng phương pháp lấy mẫu theo cụm, đã thu về được 7143 phản hồi Kết quả chỉ ra rằng 0,9% số người được hỏi đang lo âu nghiêm trọng, 2,7% lo âu trung

Trang 25

bình và 21,3% lo âu nhẹ Nghiên cứu này đã cho thấy những vấn đề áp lực tâm

lý của sinh viên trong giai đoạn Covid – 19, đặc biệt là vấn đề lo âu, qua đó mở

ra những vấn đề nghiên cứu cấp thiết trong bối cảnh xã hội đặc biệt này

Qua các nghiên cứu trên có thể thấy vấn đề lo âu ở sinh viên ngày nay đang được tiếp cận từ nhiều góc nhìn hơn, bên cạnh đó cũng cho thấy rõ nhu cầu nghiên cứ, đánh giá sàng lọc nhiều hơn nữa để kịp thời nắm bắt những vấn

đề về sức khỏe tâm lý tâm thần của sinh viên nhất là trong giai đoạn cuộc sống đang có những biến chuyển về nhiều mặt do ảnh hưởng của đại dịch để qua đó

có một cơ sở thực tế hoàn chỉnh, làm phương hướng cho những kế hoạch, hướng tiếp cận, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe tâm lý – tâm thần cho sinh viên

2 Lý luận về lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

2.2 Lý luận về lo âu

2.2.1 Khái niệm lo âu

Trang 26

Pham (2020), đã định nghĩa lo âu như sau: Lo âu là một trạng thái tâm

lý rất thông thường của con người Lo âu trong những điều kiện bình thường, là một phản ứng tâm lý thể hiện ý thức, trách nhiệm và mối quan tâm của cá nhân trong cuộc sống của riêng mình Cảm giác lo âu là bản tính tự nhiên và có lợi

vì nó giúp cho cá nhân thấy trước được những gì có thể xảy ra ngoài sự trông đợi, cũng như giúp cá nhân có phản ứng chuẩn bị thích hợp để tìm cách giải quyết vấn đề Tuy nhiên, nếu những cảm giác lo âu không có nguyên nhân chính đáng, có tính cách rập khuôn, tái đi tái lại, bền vững và kiên trì, vượt ra ngoài khả năng chế ngự của cá nhân tới mức gây ảnh hưởng tệ hại đến đời sống tinh thần và thể chất của cá nhân thì tình trạng lo âu đó được chú ý như là một hiện tượng của căn bệnh rối loạn lo âu

Le (2021), cá nhân mắc chứng rối loạn lo âu là những người có triệu chứng lo lắng, hốt hoảng hay sợ hãi tới mức bị ám ảnh và luôn tìm cách tránh

né những gì sẽ đưa đến cho mình cảm giác lo lắng, hốt hoảng hay sợ hãi

Nguyen (2005), lo âu (anxiety) là một rối loạn cảm xúc đặc trưng bởi cảm giác lo sợ lan toả, khó chịu, mơ hồ kèm theo các triệu chứng thần kinh tự chủ như đau đầu, vã mồ hôi, hồi hộp, siết chặt ở ngực, khô miệng, khó chịu ở thượng vị và bứt rứt, không thể ngồi yên hoặc đứng yên một chỗ Lo âu là tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xảy ra và cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe doạ

Qua đó, có thể thấy, lo âu là trạng thái tâm lý thông thường của con người, là tín hiệu báo động giúp con người đương đầu với sự đe doạ Tuy nhiên, khi lo âu kéo dài với tần suất, cường độ, tốc độ và mức độ bất thường gây ra những khó khăn trong những hoạt động sống hằng ngày, ảnh hưởng đến sức khoẻ thể lý và tâm lý thì cơn lo âu sẽ trở thành rối loạn lo âu với sự biểu hiện của các triệu chứng tâm lý và triệu chứng cơ thể

2.2.2 Biểu hiện của lo âu

Pham (2020), có nhiều loại rối loạn lo âu được biểu hiện bằng những cơn hốt hoảng (hoảng sợ) hoặc chứng sợ những nơi xa lạ trống vắng hoặc biểu hiện với sự kết hợp của cả hai biểu hiện trên

Trang 27

Nguyen (2005), các biểu hiện triệu chứng của rối loạn lo âu bao gồm lo

âu, căng thẳng vận động, tăng hoạt động thần kinh tự trị và sự cảnh giác về nhận thức Sự căng thẳng vận động biểu hiện bằng run, bứt rứt và đau đầu Sự tăng hoạt động thần kinh tự trị thường biểu hiện bằng sự thở dốc, vã mồ hôi, hồi hộp

và các triệu chứng dạ dày – ruột Sự cảnh giác nhận thức thể hiện bởi sự dễ bực tức và dễ giật mình

Theo Thang đánh giá lo âu Zung (Zung Self – Rating Anxiety Scale – SAS) (Zung, W W., 1971) các biểu hiện của lo âu bao gồm: các triệu chứng tâm lý như: sự lo lắng, bất an, hoảng sợ vô cớ, khó bình tĩnh; các triệu chứng cơ thể như: run tay chân, đau nhức đầu, cổ, thắt lưng, dễ mệt mỏi, tim đập nhanh, hoa mắt, chóng mặt, kiệt sức, khó thở, tê tay chân, các triệu chứng dạ dày – ruột, tiểu tiện bất thường, lạnh tay chân, thường xuyên nóng và đỏ mặt; các triệu chứng liên quan đến giấc ngủ như: khó ngủ và thường xuyên gặp ác mộng

Nói chung các triệu chứng của lo âu có thể được chia thành ba nhóm: triệu chứng tâm lý, triệu chứng thể lý và các triệu chứng liên quan đến giấc ngủ 2.3 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi thanh niên sinh viên

2.3.1 Khái niệm và hoạt động chủ đạo của thanh niên sinh viên

Người trưởng thành là một khái niệm tổng hợp được xem xét cả trên bình diện Sinh học, Tâm lý học và Xã hội học Một số công trình nghiên cứu đã cho thấy sự chín muồi về mặt sinh học thường đi trước và sớm hơn sự chín muồi về tâm lý và xã hội Do vậy, khi xét dưới góc độ Tâm lý học, độ tuổi của người trưởng thành toàn diện của con người thường đến chậm hơn từ hai đến ba năm Ngoài ra, khái niệm tuổi trưởng thành còn phụ thuộc vào các vấn đề khác như trình độ học vấn, thời gian đào tạo, cấp học,… Đó cũng chính là lý do giai đoạn

“người trưởng thành trẻ tuổi” thường lấy cột mốc từ 20 tuổi trở lên và chậm hơn

so với tuổi công dân (18 tuổi)

Nói một cách tổng quát, người trưởng thành là những người có độ tuổi

từ 20 tuổi trở lên và hiểu về chính mình một cách tương đối cũng như có sự xác lập mục tiêu trong cuộc đời mình trong cái nhìn tổng thể

Trang 28

Bên cạnh đó, cũng có một số học thuyết của các nhà khoa học khác phân chia các độ tuổi qua những học thuyết khoa học khác nhau như: Thuyết động thái – tâm lý của Erik Erikson, thuyết về những “mùa vụ” của Daniel Levinson, thuyết về “những biến động” của Roger L Gould, thuyết “nhu cầu làm cha mẹ” của David Gutmann Các quan điểm lý thuyết trên nói lên sự bắt đầu của tuổi trưởng thành tùy thuộc nhiều vào các yếu tố văn hóa và tâm – sinh lý, trong đó, việc tự xác định mình như người lớn dựa vào nhận thức của cá nhân, liệu cá nhân có đáp ứng được những tiêu chuẩn quan trọng liên quan hay không trở thành một tiêu chí cực kì quan trọng

Các nhà Xã hội học thường phân chia các giai đoạn lứa tuổi chủ yếu dựa trên sự thay đổi vị trí xã hội và hoạt động xã hội của cá nhân, đồng thời chú ý vào các thuộc tính của từng giai đoạn của lứa tuổi người trưởng thành với tư cách một nhóm dân cư – xã hội Các giai đoạn lứa tuổi không những chỉ ra lứa tuổi tính theo thời gian và mức độ phát triển nhất định của cá nhân về mặt sinh

lý và tâm lý mà còn chỉ ra vị thế, địa vị và hoạt động xã hội đặc trưng cho một lớp xã hội nào đó Qua đó, dựa vào khái niệm về tuổi trưởng thành và các học thuyết tâm lý về sự trưởng thành kết hợp với các tiêu chí về mặt sinh lý, tâm lý,

xã hội của cá nhân để phân chia lứa tuổi người trưởng thành theo những giai đoạn khác nhau

Dựa vào các tiêu chí trưởng thành về mặt sinh lý, tâm lý và xã hội có thể phân chia tuổi trưởng thành theo các giai đoạn sau:

- Người trưởng thành trẻ tuổi (20 – 40 tuổi)

- Người trung niên (40 – 60 tuổi)

- Người lớn tuổi (60 tuổi trở lên)

Giai đoạn “người trưởng thành trẻ tuổi” được chia thành hai giai đoạn nhỏ hơn, bao gồm:

- Thời kì đầu người trưởng thành trẻ tuổi (18 – 25 tuổi): Đây là thời kì thanh niên bước vào học nghề ở các trường dạy nghề, cao đẳng, đại học nên còn được gọi là thời kì thanh niên sinh viên

Trang 29

- Thời kì thứ hai của người trưởng thành trẻ tuổi (sau 25 – 40 tuổi): Đây là thời kì lập thân – lập nghiệp của con người, còn được gọi là thời kì thành niên

Hoạt động chủ đạo ở thời kì thanh niên sinh viên chủ yếu là hoạt động học tập nghề nghiệp Người thuộc giai đoạn lứa tuổi này tập trung vào các hoạt động học tập nghề nghiệp tại môi trường đại học, cao đẳng hoặc các cơ sở đào tạo nghề nghiệp, qua đó, họ học tập các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp để phục

vụ và hỗ trợ cho giai đoạn thành niên với sự lập thân – lập nghiệp sau này Tóm lại, giai đoạn “thanh niên sinh viên” là thời kì đầu tiên của giai đoạn người trưởng thành trẻ tuổi, những người thuộc giai đoạn phát triển này

có hoạt động chủ đạo là hoạt động học tâp nghề nghiệp tại các cơ sở đào tạo Trong đề tài: “Thực trạng Lo âu của sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh”, tôi thực hiện nghiên cứu trên khách thể là thanh niên sinh viên đang học ngành Tâm lý học giáo dục tại khoa Tâm lý học trường Đại học Sư phạm Thành phố

Hồ Chí Minh

2.3.2 Đặc điểm phát triển thể chất của thanh niên sinh viên

Vào thời thanh niên sinh viên, hầu hết mọi người đều đạt đến sự phát triển hoàn thiện về mặt thể chất và đi dần đến đỉnh cao vào khoảng 25 – 26 tuổi

Số lượng các nơ – ron thần kinh cũng như số lượng xi – náp của các tế bào thần kinh có chất lượng hoàn hảo đảm bảo cho khả năng liên lạc rộng khắp, chi tiết, tinh tế và linh hoạt giữa vô số các kênh Hoạt động não bộ do đó cũng trở nên nhanh nhạy, và đặc biệt chính xác hơn so với các lứa tuổi khác Trong giai đoạn này, hệ cơ xương, cơ bắp phát triển ổn định, đồng đều tạo ra nét đẹp ngoại hình cho thanh niên sinh viên Các yếu tố về sức khỏe như sự dẻo dai, sức bền, độ linh hoạt đều phát triển đến đỉnh cao, tạo điều kiện thuận lợi cho những thành công trong lĩnh vực hoạt động của thanh niên sinh viên

Sự phát triển về thể chất cũng khác nhau ở nam và nữ Ở người nam, hệ

cơ xương, cơ bắp và hệ tuần hoàn có phần phát triển hơn so với nữ: các xương

và khớp chi to hơn, phổi lớn hơn, tổ chức cơ bắp to hơn, số lượng máu nhiều

Trang 30

hơn (nam: 4,5 lít > nữ: 3,6 lít) và 40% trọng lượng cơ thể ở người nam do cơ bắp tạo nên (ở nữ là 35%) (Baucum,2002), qua đó những nét hấp dẫn về hình thể giữa nam và nữ cũng xuất hiện nhiều sự khác biệt

Tuy nhiên, sự phát triển thể chất ở thanh niên sinh viên cũng có những

sự khác nhau do các yếu tố khác tác động Các vấn đề về sức khỏe như bệnh tật, suy giảm các chức năng, lão hóa sớm,… cũng có thể xuất hiện ở thanh niên sinh viên do ảnh hưởng của môi trường, thói quen ăn uống, sức khỏe tâm lý – tâm thần,…

Qua đó, có thể thấy thời kì thanh niên sinh viên là giai đoạn đỉnh cao của

sự phát triển về mặt thể chất Bên cạnh đó, có thể thấy, sự phát triển thể chất trong giai đoạn này cũng có những ảnh hưởng nhất định đến quá trình phát triển lẫn sức khỏe thể lý và tâm lý của thanh niên sinh viên

2.3.3 Đặc điểm về điều kiện sống, hoạt động xã hội và vai trò xã hội của

thanh niên sinh viên

Xét về các điều kiện sống và hoạt động của người trưởng thành trẻ tuổi cho thấy họ đang đứng trước những ngã rẽ của cuộc đời, người thì tiếp tục đi học, người thì bắt đầu lao động kiếm sống… Đa số họ đều thiết lập dần dần cuộc sống độc lập Trong gia đình, họ được xem như là một thành viên chính thức, được đối xử một cách công bằng như những người lớn thực thụ Ngoài xã hội, họ trở thành những thành viên chính thức của xã hội với đầy đủ quyền hạn

và nghĩa vụ công dân trước pháp luật Hoạt động chủ yếu ở giai đoạn lứa tuổi này là hoạt động nghề nghiệp Nếu chưa phải lao động kiếm sống thì sau khi tốt nghiệp phổ thông (trung học cơ sở hay trung học phổ thông) họ thường tiếp tục theo học tại các cơ sở đào tạo hệ Trung cấp, Cao đẳng, hoặc Đại học Đa số những thanh niên này chưa thể tự lập hoàn toàn Đây cũng là một hạn chế nhất định ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của họ

Hoạt động chủ yếu của thanh niên sinh viên là hoạt động học tập chuẩn

bị cho nghề nghiệp tương lai Thanh niên sinh viên là những người trưởng thành còn đang theo học ở các trường Đại học và Cao đẳng…, do vậy điều kiện sống

Trang 31

và các dạng hoạt động cơ bản của họ có những đặc trưng rất riêng Trong các trường Đại học và Cao đẳng, họ là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt gồm những người đang trong quá trình chuẩn bị tri thức để trở thành chuyên gia ở một lĩnh vực nhất định của xã hội; là những người trẻ tích cực, năng động, nhạy cảm với những thay đổi của xã hội và dễ thích nghi với sự thay đổi đó Khoảng thời gian sinh viên lĩnh hội nền tri thức xã hội trong môi trường Đại học - Cao đẳng… là thời điểm diễn ra quá trình xã hội hóa rất nhanh, mạnh và đa dạng Đây là thời điểm và là cơ hội để họ định hình, phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình Cần xem xét những điều kiện phát triển tâm lý của sinh viên thông qua những hoạt động mà họ tham gia

- Hoạt động học tập:

 Nội dung học tập: Sinh viên phải tải trọng một nội dung học tập rất đáng

kể, phong phú Khối lượng kiến thức chuyên ngành đa dạng, phức tạp (lĩnh hội hệ thống tri thức kỹ năng, kĩ xảo chuyên ngành và phát triển những phẩm chất và năng lực của người làm việc chuyên nghiệp ở tương lai) Sự đòi hỏi của thực tiễn cho thấy song song với việc chuẩn bị những tri thức lí thuyết thì việc chuẩn bị những kinh nghiệm thực tiễn và thao tác làm việc là yêu cầu tối quan trọng Hơn thế nữa, việc tiếp cận những kiến thức chuyên ngành vẫn chưa đủ nên việc học hỏi những kiến thức liên ngành và xuyên ngành để chuẩn bị làm việc thực tế là một cơ hội đáng quý cho độ tuổi

 Phương pháp học tập: Những yêu cầu về học tập ở độ tuổi này đòi hỏi người sinh viên phải độc lập, tự chủ, có ý thức đầy đủ và sáng tạo Ngoài

ra, sự học của sinh viên là loại hoạt động trí tuệ đích thực, căng thẳng, cường độ cao và có tính lựa chọn rõ rệt

- Hoạt động chính trị xã hội: Các hoạt động chính trị xã hội ở tuổi này là một điều kiện đặc biệt cho sự phát triển tâm lý Việc tham gia vào tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Sinh viên Việt Nam đem lại những kinh nghiệm thực sự quý báu để nâng cao tri thức tầm hiểu biết, tích lũy những kinh nghiệm sống và hoàn thiện dần những kỹ năng cũng như

Trang 32

xây dựng lý tưởng nghề nghiệp - lý tưởng cuộc sống Ngoài ra, việc tham gia các tổ chức khác, các câu lạc bộ đội nhóm xã hội – kỹ năng cũng là một điều kiện thú vị giúp thanh niên sinh viên thể hiện mình và phát triển có định hướng hoặc phát triển toàn diện

- Hoạt động nghiên cứu khoa học: Hoạt động nghiên cứu khoa học chiếm một

vị trí quan trọng trong hoạt động học tập của sinh viên Hoạt động này nhằm phát huy những tố chất của một người trí thức lao động chuyên nghiệp với

hệ thống quan điểm, phương pháp luận và những phẩm chất - năng lực của một con người làm việc có phương pháp và đam mê sáng tạo Đối với sinh viên, việc tham gia nghiên cứu khoa học ở nhiều hình thức khác nhau đem đến những cơ hội mới để nhìn thấy mình và phát triển mình ở đỉnh cao về nhân cách - nghề nghiệp

- Hoạt động văn - thể - mỹ: Việc tham gia các câu lạc bộ văn thơ, hội họa,

âm nhạc, khiêu vũ, thể hình, các cuộc thi… sẽ trở thành một điều kiện để sinh viên tự thể hiện và điều chỉnh chính mình Không ít sinh viên đã thực

sự phát triển một cách nhanh chóng bằng những bước tiến dài khi có những thành công ban đầu trong hoạt động này

- Hoạt động giao tiếp: Hoạt động giao tiếp của thanh niên sinh viên đa dạng với nhiều mối quan hệ đan xen Trong những mối quan hệ khác nhau, họ trở thành thành viên của các nhóm xã hội khác nhau Đây cũng là một môi trường giúp sinh viên phát triển các phẩm chất, hình thành những kỹ năng sống, kỹ năng mềm hỗ trợ cho nghề nghiệp và cuộc sống

2.3.4 Đặc điểm phát triển nhận thức của thanh niên sinh viên

Một số nghiên cứu về sinh viên đại học cho thấy, đầu tiên họ giải thích thế giới và những kinh nghiệm giáo dục của họ một cách độc đoán (authoritarian term) Thế nhưng, dần dần họ bắt đầu chấp nhận và tích cực chấp nhận những chân lí Kramer (1991) cho rằng đặc trưng tư duy của tuổi này vượt khỏi tư duy hình thức gồm ba giai đoạn: tuyệt đối hóa (18 - 22 tuổi); tương đối (cuối tuổi 20

- đầu trung niên); biện chứng

Trang 33

Hoạt động nhận thức của thanh niên sinh viên phải kế thừa và cập nhật những thành tựu của khoa học đương đại Hoạt động học tập có tính chất mở rộng theo năng lực và sở trường, cấu trúc thứ bậc động cơ học tập bao gồm:

- Nhận thức khoa học là động cơ chủ yếu

- Được tiến hành dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy Cao đẳng, Đại học

- Góp phần hình thành tính độc lập về nghề nghiệp, năng lực giải quyết nhiệm vụ thực tiễn, tương lai

Ở thanh niên sinh viên tư duy trừu tượng, tư duy logic đã phát triển ở trình độ cao với sự phối hợp của nhiều thao tác tư duy Mặt khác, ở tuổi này tư duy của sinh viên thường linh hoạt, nhạy bén, có căn cứ Khả năng tư duy cho phép lĩnh hội nhanh nhạy và sắc bén mọi vấn đề Bên cạnh đó, sinh viên thường

ít thỏa mãn với những gì đã biết mà muốn đi sâu, tìm tòi, khám phá trên bình diện tư duy Điều này dẫn đến khả năng tìm tòi và nghiên cứu của sinh viên khá phát triển Bên cạnh đó, ở sinh viên cũng có sự phát triển tư duy sáng tạo Sinh viên thường hướng đến cái mới và hành trình đi tìm cái mới cũng rất quyết liệt

Óc hoài nghi khoa học cũng đặc biệt phát triển về chất trong độ tuổi này thôi thúc khả năng phản biện, khả năng lật ngược vấn đề xuất hiện một cách thường trực Riêng xét về khả năng tưởng tượng của sinh viên thì sự phát triển đạt đến đỉnh cao Điều này thể hiện qua khả năng sáng tác thơ, văn, truyện ngắn, bút kí…đạt mức hoàn thiện

Xem xét đặc điểm nhận thức và tư duy của sinh viên cần đặt nó trong mối quan hệ với hoạt động học tập Hoạt động học tập của sinh viên thuộc dạng

Trang 34

lao động trí óc Bản chất của hoạt động nhận thức của sinh viên là nghiên cứu chuyên sâu một chuyên ngành nào đó Chính vì thế, điều này đòi hỏi ở sinh viên một trình độ phát triển tương ứng về nhận thức Đó là những kỹ năng phân tích

và tổng hợp vấn đề, năng lực đánh giá và nhận xét các tình huống, các sự kiện

có liên quan đến chuyên ngành của mình Bên cạnh việc nghiên cứu chuyên sâu

về một lĩnh vực nào đó, sinh viên cũng phải tìm hiểu thêm những kiến thức chuyên liên ngành, tổng hợp và ứng dụng những tri thức đó vào ngành nghề họ đang học Nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay, sinh viên luôn phải nhạy bén, tính cực cập nhật những tri thức mới Hơn thế nữa, sinh viên cũng phải hình thành cho mình năng lực nghiên cứu khoa học Đây là một hoạt động đặc thù của sinh viên trong môi trường đại học Hình thành năng lực này phải thông qua việc học hỏi và trang bị cho mình những kỹ năng cơ bản như: kỹ năng xác định vấn đề, kỹ năng phân tích - tổng hợp chuyên biệt, kỹ năng giải quyết vấn đề…

Hoạt động học tập của sinh viên mang tính chất độc lập, sáng tạo Nó đòi hỏi sinh viên phải tự đào tạo, tự hoạch định mục tiêu học tập sao cho phù hợp với năng lực của mình và yêu cầu của nhà trường Họ phải nhạy bén, uyển chuyển trong từng hoàn cảnh, linh hoạt trong việc vận dụng các kiến thức để xử

lí các tình huống mới; sáng tạo trong việc phát hiện ra vấn đề, xem xét và giải quyết vấn đề dưới những góc độ khoa học khác nhau

2.3.5 Đặc điểm phát triển xúc cảm, tình cảm của thanh niên sinh viên

Tuổi sinh viên là thời kì phát triển tích cực nhất của những loại tình cảm cao cấp như: tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mĩ, tình yêu nam

nữ Những tình cảm này chiếm vị trí quan trọng và có ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động của sinh viên trong mọi lĩnh vực của đời sống

Các loại tình cảm này ngày càng trở nên đậm nét thông qua việc khám phá, tìm tòi và tham gia vào nhiều loại hình hoạt động khác nhau Đáng kể nhất

là hoạt động học tập và tham gia các hoạt động xã hội Trong hoạt động học tập, sinh viên cảm nhận được vẻ đẹp của sự đa dạng, sự mới lạ của các lĩnh vực

Trang 35

Khoa học mà họ có dịp tiếp cận Sự bí ẩn và huyền diệu của Thiên văn học, sự

kì diệu của Hóa học, sự logic của Toán học… khơi gợi trong họ một nhu cầu khám phá và say mê học hỏi Trong các hoạt động xã hội như chiến dịch tình nguyện mùa hè xanh, các phong trào đoàn hội…các bạn sinh viên sẽ cảm nhận được vẻ đẹp đơn sơ, chất phác của con người trong những làng quê nghèo, hẻo lánh; cảm nhận được sức sống của tuổi trẻ, ý nghĩa của các hoạt động tình nguyện

Hơn ai hết, sinh viên là người yêu vẻ đẹp thể hiện ở hành vi, phong thái đạo đức, cũng như vẻ đẹp thẩm mỹ ở các sự vật, hiện tượng của thiên nhiên hoặc con người tạo ra Khác với những lứa tuổi trước, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mĩ ở tuổi sinh viên biểu lộ một chiều sâu rõ rệt Họ yêu thích cái gì

họ đều có thể lí giải, phân tích một cách có cơ sở Điều này lí giải vì sao ở độ tuổi này sinh viên đã có cách cảm, cách nghĩ riêng, ăn mặc theo sở thích riêng của mình… Bên cạnh đó, sinh viên có thể lí giải, xây dựng “triết lí” cho cái đẹp của mình theo chiều hướng khá ổn định

Đặc biệt và nổi trội nhất trong thời kì này là sự phát triển mạnh mẽ, có tính định hướng, khá sâu sắc về tình yêu nam nữ Thông qua các hoạt động giao lưu, các bạn nam nữ sinh viên có dịp để gặp gỡ, trao đổi, tìm hiểu lẫn nhau Dần dần tình yêu nam nữ sẽ nảy sinh từ những tình bạn chân thành, đồng cảm và gắn

bó Loại tình cảm này mang một sắc thái mới, cao hơn và chín chắn hơn so với tình cảm thời Trung học, nó chiếm một vị trí hết sức quan trọng vào thời điểm này thể hiện ở việc chi phối các hoạt động của sinh viên, hướng sinh viên đến một tương lai gần nào đó mà họ đang mong ước Tình cảm này có tác dụng tích cực trong việc giúp các bạn thỏa mãn được nhu cầu về mặt tình cảm, chia sẻ những vui buồn của cảnh xa nhà nhớ quê, cùng nhau gắn bó vượt qua những khó khăn của quãng đời sinh viên Tuy nhiên, tình yêu này cũng có thể gây cho sinh viên cảm giác mâu thuẫn Mâu thuẫn giữa việc dành thời gian học tập và dành thời gian để đi chơi; giữa việc mong muốn tiến xa hơn trong mối quan hệ

và điều kiện chưa chín muồi… Tuy vậy, trong giai đoạn thanh niên sinh viên

Trang 36

xuất hiện nhu cầu sẵn sàng gắn bó với người khác, tình yêu nam nữ đích thực xuất hiện

2.3.6 Đặc điểm phát triển nhân cách của thanh niên sinh viên

2.3.6.1 Sự phát triển nhu cầu

Sự tự thể hiện, tự thực hiện mục đích của mình bằng khả năng phát triển nhân cách bản thân là nhu câu cao nhất trong tháp các nhu cầu và

nó được phát triển vào lứa tuổi đầu của người trưởng thành, lứa tuổi thanh niên sinh viên

2.3.6.2 Sự phát triển tự đánh giá, ý thức và tự giáo dục

Nhân cách của sinh viên phát triển một cách khá toàn diện và phong phú Sau đây là những đặc điểm đặc trưng nhất: đặc điểm về tự đánh giá, tự ý thức và tự giáo dục của sinh viên

Tự đánh giá ở lứa tuổi sinh viên phát triển mạnh với những biểu hiện phong phú và sâu sắc Điều này thể hiện ở điểm sinh viên không chỉ đánh giá hình ảnh bản thân mình với tính chất bề ngoài, hình thức mà còn

đi sâu vào nội dung các phẩm chất, các giá trị của nhân cách Tự đánh giá không chỉ đơn thuần trả lời câu hỏi: “Tôi là ai?” mà còn phải nhận thức rõ: “Tôi là người thế nào?”, “Tại sao tôi là người như thế?”, “Tôi có những phẩm chất nào?”… Những cấp độ đánh giá ở trên mang tính phê phán rõ rệt Vì vậy, tự đánh giá của sinh viên có ý nghĩa tự ý thức và tự giáo dục Bên cạnh đó, sự tự đánh giá của sinh viên được thể hiện thông qua sự đối chiếu, so sánh, học hỏi từ những người khác Người khác như là tấm gương

để sinh viên soi nhân cách của mình vào, trên cơ sở đó, họ sẽ điều chỉnh

để phù hợp với yêu cầu của xã hội

Tự ý thức là trình độ phát triển cao của ý thức Tự ý thức như là cặp mắt để mỗi sinh viên nhìn vào chính nhân cách của mình, để điều chỉnh cũng như nhận ra khiếm khuyết để bổ sung những phẩm chất nhân cách cần thiết cho phù hợp với yêu cầu và sự phát triển của xã hội Nhìn chung, tự ý thức, tự đánh giá ở sinh viên mang tính toàn diện và sâu sắc:

Trang 37

- Sinh viên nhận thức bản thân, đánh giá bản thân cả hình thức đến những phẩm chất phức tạp bên trong (danh dự, lòng tự trọng, tinh thần trách nhiệm, nghĩa vụ…) và cả năng lực cá nhân

- Sinh viên bắt đầu có khả năng đi sâu vào lí giải câu hỏi: “Tại sao tôi lại như thế?”

Tự đánh giá và tự ý thức là cơ sở của sự tự giáo dục ở sinh viên Sinh viên chỉ có thể tự giáo dục chính mình một khi họ hiểu rõ về bản thân mình Từ đó, họ phải phấn đấu và rèn luyện những phẩm chất nhân cách cần thiết để đáp ứng yêu cầu của xã hội

Nhìn chung, sự phát triển các đặc điểm tâm lý nói trên tạo điều kiện cho sinh viên đáp ứng được yêu cầu học tập và các loại hình hoạt động trong môi trường Đại học; điều này cũng góp phần định hình và hoàn thiện dần nhân cách

Tóm lại, những phẩm chất của nhân cách như sự tự ý thức, tự đánh giá, lòng tự trọng, sự tự tin, tinh thần trách nhiệm đều phát triển mạnh

mẽ ở lứa tuổi này Chính những phẩm chất nhân cách bậc cao này có ý nghĩa rất lớn đối với việc tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân theo hướng tích cực của những trí thức tương lai

2.3.6.3 Sự phát triển định hướng giá trị, định hướng lối sống

Định hướng giá trị là những giá trị được chủ thể nhận thức, ý thức và đánh giá cao, có ý nghĩa định hướng điều chỉnh thái độ, hành vi, lối sống của chủ thể nhằm vươn tới những giá trị đó Định hướng giá trị phát triển mạnh vào lúc thanh niên phải đứng trước việc chọn nghề, chọn các chuyên ngành khác nhau trong việc thi vào các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp

Cấu trúc của định hướng giá trị cũng là một trong những vấn đề cần được đề cập ở đây Một sự vật có giá trị đối với một cá nhân nào đó khi nó phù hợp và đáp ứng được nhu cầu cũng như mục đích hoạt động của cá nhân đó Như thế rõ ràng là để biết sự vật đó có giá trị như thế nào đối với bản thân thì chủ thể phải nhận thức về sự vật đó, tỏ thái độ đối với

Trang 38

chúng và chọn lựa chúng trong hoạt động của mình Do đó có thể nói, định hướng giá trị được cấu thành bởi các yếu tố tâm lý cơ bản sau: sự nhận thức, thái độ và hành động lựa chọn

Ngoài ra, định hướng lối sống của sinh viên cũng có những đặc điểm khá thú vị Lứa tuổi sinh viên là thời kì quan trọng và chín muồi cho việc định hình và hoàn thiện bộ mặt nhân cách Trong thời kì đang có nhiều biến động trên thế giới về mọi mặt, nhất là sự thay đổi về quan niệm giá trị, về hệ thống giá trị, cũng như thang giá trị, sinh viên cần phải có một tầm nhìn rộng, một sự trải nghiệm thực tế để có thể định hướng lối sống cho mình

Định hướng lối sống của sinh viên là việc sinh viên tự lựa chọn cho mình một phương cách để thể hiện các đặc điểm của bộ mặt nhân cách, cũng như con đường để đạt được những giá trị xã hội mà cá nhân hướng đến Chính phương cách thể hiện này sẽ bộc lộ nội dung nhân cách của mỗi sinh viên Đó là quá trình “xuất tâm” những tư tưởng, tình cảm, thái

độ, niềm tin, lí tưởng của họ ra ngoài và để lại dấu ấn trong sản phẩm (vật chất cũng như tinh thần) của họ Dựa trên sự thế hiện này mà người khác nói riêng và dư luận xã hội nói chung có thể nhận xét, đánh giá về họ

Định hướng lối sống của sinh viên thể hiện ở quá trình hiện thực hóa “nội dung đời sống tâm lý” của mỗi sinh viên Nói cách khác, sinh viên tự tìm cho “nội dung nhân cách” của mình một “vỏ bọc”, một

“phương tiện” để chứa đựng, để truyền tải và để thể hiện Chính do tính chủ thể, do sự khác biệt về đặc điểm tâm lý mà mỗi “nội dung” đòi hỏi một “vỏ bọc” riêng, không ai giống ai Định hướng lối sống của mỗi người hoàn toàn mang bản sắc cá nhân trong mối quan hệ với định hướng lối sống của cộng đồng

Nói cách khác, thanh niên sinh viên là lứa tuổi tràn trề sức sống, giàu nghị lực, ước mơ và có hoài bão lớn Thế giới quan, niềm tin, lí tưởng được thể hiện rõ rệt Tuy nhiên, do sự phát triển không đồng đều nên nhiều sinh viên chưa đạt được mức độ phát triển cần thiết Sự phát triển phụ

Trang 39

thuộc nhiều vào hệ thống các giá trị của mỗi sinh viên định hướng - lựa chọn Những sinh viên có sự nhìn nhận đúng đắn, khoa học sẽ có những

kế hoạch đường đời phù hợp, có mục tiêu phấn đấu rõ rệt để trở thành những chuyên gia hữu dụng, sống có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và xã hội Đây là một cơ sở tâm lý cực kì quan trọng để thanh niên sinh viên hướng đến những nền tảng phát triển vững chắc và giàu tiềm lực 2.4 Đặc điểm sinh viên ngành Tâm lý học giáo dục, khoa Tâm lý học,

trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

2.4.1 Lịch sử hình thành trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Trước năm 1975, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập với tên ban đầu là Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn, trực thuộc Viện Đại học Sài Gòn

Ngày 27/10/1976, theo quyết định số 426/TTg của Thủ tướng chính phủ, Trường Đại học Sư phạm Sài Gòn được đổi tên thành Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Từ đây, đánh dấu cột mốc chính thức thành lập của Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh

Năm 1995, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh trở thành thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đến năm 1999, chính phủ quyết định tách trường khỏi Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh để xây dựng trường thành trường Đại học trọng điểm Quốc gia khu vực phía Nam Hiện nay, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh là một trong 22 trường Đại học Trọng điểm Quốc gia và là 1 trong 2 trường Đại học Sư phạm Trọng điểm ở cả nước, đóng vai trò nòng cốt, đầu tàu đối với hệ thống các trường sư phạm và phổ thông ở phía Nam

Triết lý giáo dục của trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh là:

- Tuân thủ quan điểm giáo dục nhằm đào tạo người học đạt chuẩn: trở thành người làm nghề chuyên nghiệp, có đạo đức, có kỹ luật, có trách nhiệm với cộng đồng và thích ứng cao

Trang 40

- Môi trường giáo dục lấy người học làm trung tâm, tổ chức hoạt động giáo dục hệ thống, linh hoạt, đảm bảo đào tạo với thực hành - ứng dụng, hướng đến sự thích ứng xã hội và nghề nghiệp để thành công và hạnh phúc Các bên có liên quan đến hoạt động giáo dục của trường cam kết đồng hành, hỗ trợ cho công tác giáo dục một cách hiệu quả

- Tôn trọng và xem văn hoá chất lượng trong giáo dục là tôn chỉ hoạt động

Sử dụng đa dạng các phương thức giáo dục, phương pháp đào tạo, tôn trọng

sự khác biệt, khuyến khích phát triển nội lực, tư duy tích cực, kỹ năng nghề nghiệp,kỹ năng mềm và hứng thú nghề nghiệp

Giá trị cốt lõi của trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh là: Chất lượng – Sáng tạo – Nhân văn

2.4.2 Đặc điểm sinh viên Sư phạm

Hoạt động học tập của sinh viên Sư phạm về cơ bản diễn ra như hoạt động học tập của sinh viên các trường , các ngành nghề khác Tuy nhiên nó vẫn

có những đặc điểm riêng , đặc thù của nghề Đó là , sinh viên Sư phạm bên cạnh việc học tập tích lũy tri thức , hình thành kỹ năng , kỹ xảo tương ứng theo chuyên ngành , chuyên môn sâu còn phải tích cực rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ

sư phạm để đáp ứng được yêu cầu trở thành người người giáo viên trong tương lai , không chỉ “ dạy chữ ” mà còn “ dạy người ” Chính vì mục tiêu này mà bên cạnh những đặc điểm về hoạt động học tập của sinh viên nói chung , hoạt động học tập của sinh viên Sư phạm có một số đặc điểm nổi bật sau :

Việc học tập của sinh viên Sư phạm không chỉ đáp ứng yêu cầu chuyên môn chuyên sâu mà còn phải đáp ứng yêu cầu “ sư phạm ” , hình thành và phát triển nhân cách người giáo viên tương lai Hoạt động học tập của sinh viên sư phạm bên cạnh việc học chữ còn phải học làm thầy Bởi trong tương lai , “ công

cụ nghề nghiệp ” của sinh viên Sư phạm không chỉ là kiến thức mà còn là phải

có những năng lực và phẩm chất riêng đặc trưng đòi hỏi cần thiết phải có của nghề dạy học

- Xu hướng sư phạm: biểu hiện ở nhu cầu dạy học , mong muốn được làm giáo viên , ý thức đầy đủ ý nghĩa của nghề đối với bản thân và xã hội

Ngày đăng: 04/03/2022, 08:57

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w