1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ths. triết học_Phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên đại học ở nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay (qua thực tế trường đại học quốc gia lào)

91 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 408 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Một trong những nhiệm vụ hàng đầu ở nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào hiện nay mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã đặt ra, đó là: Tăng cường sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh nguồn nhân lực để tiếp tục đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa 29 , tr.11. Để thực hiện nhiệm vụ trên, Đảng Nhân dân cách mạng Lào khẳng định phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện phát huy nguồn lực con người yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế mạnh và bền vững. Nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của sinh viên cần phải nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; đổi mới nội dung phương pháp dạy và học, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của sinh viên, đề cao tinh thần tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề; kết hợp học đi đôi với hành, giáo dục đi đôi với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội. Trong điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, trường lớp, thư viện, sách giáo khoa… còn hạn chế thì việc phát huy vai trò năng động, sáng tạo của sinh viên trong học tập lại càng cấp thiết. Tuy nhiên, vấn đề vai trò ngày càng tăng của chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên trong thời gian qua vẫn ít được quan tâm nghiên cứu đúng mức. Để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, trong đó phải phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên đóng vai trò hết sức quan trọng. Từ những vấn đề lý luận, thực tiễn của quan hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức, đặc biệt là vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên đại học, đặt ra nhiệm vụ phải đi sâu nghiên cứu vai trò của chủ thể nhận thức, nhằm phát huy tính tích cực của chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên các trường đại học. Trên cơ sở đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trong các trường đại học ở nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào hiện nay. Hiện nay, Thủ đô Viêng Chăn đang bước vào thời kỳ mới, thực hiện nhiệm vụ đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập trung phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, triển khai nhiều dự án trọng điểm của quốc gia và của Thủ đô. Muốn vậy, ngành giáo dục đào tạo của nước CHDCND Lào nói chung, trong đó có giáo dục đại học nói riêng phải cố gắng phấn đấu vượt bậc nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo góp phần đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Một trong những giai pháp ấy là phát huy tính tích cực của sinh viên – chủ thể nhận thức trong học tập. Vì vậy, chúng tôi chọn: Phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên đại học ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay (qua thực tế trường Đại học Quốc gia Lào) làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Một trong những nhiệm vụ hàng đầu ở nước Cộng hoà Dân chủ nhândân Lào hiện nay mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của ĐảngNhân dân cách mạng Lào đã đặt ra, đó là: "Tăng cường sức mạnh đoàn kếttoàn dân tộc, phát huy sức mạnh nguồn nhân lực để tiếp tục đổi mới dưới

sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xã hộichủ nghĩa" [29 , tr.11]

Để thực hiện nhiệm vụ trên, Đảng Nhân dân cách mạng Lào khẳng địnhphát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện phát huy nguồn lực conngười - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế mạnh và bềnvững

Nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của sinh viên cần phải nâng caochất lượng giáo dục và đào tạo; đổi mới nội dung phương pháp dạy và học,phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của sinh viên, đề cao tinh thần

tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề; kết hợp học đi đôi với hành, giáodục đi đôi với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội Trong điềukiện cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, trường lớp, thư viện, sách giáokhoa… còn hạn chế thì việc phát huy vai trò năng động, sáng tạo của sinhviên trong học tập lại càng cấp thiết

Tuy nhiên, vấn đề vai trò ngày càng tăng của chủ thể nhận thức tronghọc tập của sinh viên trong thời gian qua vẫn ít được quan tâm nghiên cứuđúng mức

Để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo bồi dưỡng nguồnnhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần thực hiện nhiều giải pháp

Trang 2

đồng bộ, trong đó phải phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập củasinh viên đóng vai trò hết sức quan trọng.

Từ những vấn đề lý luận, thực tiễn của quan hệ giữa chủ thể và kháchthể nhận thức, đặc biệt là vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viênđại học, đặt ra nhiệm vụ phải đi sâu nghiên cứu vai trò của chủ thể nhận thức,nhằm phát huy tính tích cực của chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viêncác trường đại học Trên cơ sở đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đàotạo trong các trường đại học ở nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào hiện nay

Hiện nay, Thủ đô Viêng Chăn đang bước vào thời kỳ mới, thực hiệnnhiệm vụ đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập trung phát triển côngnghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng, triển khai nhiều dự án trọng điểmcủa quốc gia và của Thủ đô Muốn vậy, ngành giáo dục đào tạo của nướcCHDCND Lào nói chung, trong đó có giáo dục đại học nói riêng phải cố gắngphấn đấu vượt bậc nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo góp phần đàotạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực Một trong những giai pháp ấy là phát huy tínhtích cực của sinh viên – chủ thể nhận thức trong học tập Vì vậy, chúng tôi

chọn: "Phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên đại học ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay (qua thực tế trường Đại học Quốc gia Lào)" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong một số tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin có đề cậpnhiều tới vai trò của chủ thể và khách thể nhận thức cũng như mối quan hệbiện chứng giữa chủ thể và khách thể nhận thức Đó là các tác phẩm: "Hệ tưtưởng Đức", "Biện chứng của tự nhiên", "Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩakinh nghiệm phê phán", "Bút ký triết học"… Tác phẩm "Phát huy tinh thầncầu học, cầu tiến bộ" của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh nhiều tới vaitrò chủ thể nhận thức trong học tập

Trang 3

Trong các nghị quyết của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, đặc biệt làcác nghị quyết từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V tới Đại hội VIII luôn đềcập tới việc phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinhviên, đề cao tinh thần tự học, tự hoàn thiện tay nghề và học vấn cho người laođộng nói chung của thanh niên nói riêng.

* Ở Việt Nam có nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đề cập tới vấn đề:

- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Tiến Thủ (2001), "Quan hệ giữa chủ thể

và khách thể nhận thức với việc phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên Việt Nam hiện nay".

- Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Đức Hoàn (2001), "Phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng ở Việt Nam hiện nay"

(Qua thực tế một số trường cao đẳng ở tỉnh Hải Dương)

- Luận văn thạc sĩ của Phùng Minh Hải (2001), "Vấn đề phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của học viên hệ trung cấp lý luận chính trị ở Cần Thơ hiện nay".

- Luận văn thạc sĩ của Đoàn Thị Toan (2005), "Nâng cao vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên ở tỉnh Thái Bình hiện nay".

Một số bài đăng trên các tạp chí cũng đề cập nhiều tới vai trò của chủ

thể nhận thức như: "Tự học, tự bồi dưỡng suốt đời trở thành một quy luật"

của Nguyễn Tấn Phát, Tạp chí Tự học số 8, tháng 4 năm 2000 Đồng tác giả

Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Thị Tính: "Hiệu quả của việc dạy - tự học trong quá trình dạy ở đại học", Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp số 2 năm 1999 Bài viết của Nguyễn Văn Hội "Cơ sở lý luận của việc biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo", Tạp chí Triết học số 4 năm 1990… Các công

trình khoa học trên đã xem xét vấn đề chủ thể nhận thức, khách thể nhận thức;

đề xuất một số giải pháp phát huy vai trò chủ thể nhận thức là các đối tượng

cụ thể khác nhau như: sinh viên cao đẳng; học viên hệ trung cấp lý luận chínhtrị, v.v Tuy nhiên, đây là những công trình đề cập đến ở Việt Nam

Trang 4

* Ở Lào Văn kiện của Đảng từ Đại hội V đến VIII và các văn bản của Bộ Giáo dục nước CHDCND Lào có bài viết liên quan đến lĩnh vực này.

Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu về phát huy vaitrò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên đại học ở nước CHDCNDLào hiện nay Cho nên tác giả đã chọn đề tài này làm luận văn khoa học

3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

- Mục đích:

Trên cơ sở lý luận duy vật biện chứng về quan hệ giữa chủ thể và kháchthể nhận thức, luận văn tìm hiểu thực trạng phát huy vai trò chủ thể nhận thứctrong học tập của sinh viên các trường đại học, qua thực tế trường đại họcquốc gia Lào, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu, nhằm phát huy tính tíchcực, sáng tạo trong học tập của sinh viên nước CHDCND Lào hiện nay

- Nhiệm vụ của luận văn:

+ Phân tích đặc điểm của sinh viên đại học với tính cách là chủ thểnhận thức trong học tập

+ Phân tích thực trạng phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tậpcủa sinh viên đại học ở nước CHDCND Lào hiện nay (qua thực tế trường Đạihọc Quốc gia Lào)

+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo trong học tập của sinh viên đại học ở nước CHDCND Lào hiện nay

- Phạm vi nghiên cứu:

Đây là đề tài mang tính lý luận và thực tiễn rộng, vì vậy luận văn chủyếu đi sâu nghiên cứu vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viênđại học (qua thực tế trường Đại học Quốc gia Lào), từ đó đề xuất các giảipháp có tính khả thi

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 5

Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về lý luận nhận thức, tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng Chủ tịch KaySỏn Phôm Vi Hản và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhândân cách mạng Lào về giáo dục và đào tạo

Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu và thực hiệnluận văn, tác giả sẽ sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như:

Phân tích và tổng hợp

Lịch sử và lôgíc

Điều tra xã hội học

5 Đóng góp mới về khoa học của đề tài

Trên cơ sở lý luận của triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,

tư tưởng Kay Sỏn Phôm Vi Hản, luận văn bàn về những đặc điểm mang tínhđặc thù của sinh viên đại học chủ thể nhận thức trong học tập

Luận văn đề xuất một số giải pháp và phương hướng nhằm phát huytính tích cực, chủ động sáng tạo trong học tập của sinh viên đại học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, cải tiến vàđổi mới phương pháp dạy và học trong các trường đại học ở nước CHDCNDLào hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu thành 2 chương, 4 tiết

Trang 6

Chương 1 SINH VIÊN ĐẠI HỌC Ở NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO VÀ TÍNH TẤT YẾU PHẢI PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ

NHẬN THỨC TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN

1.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC - CHỦ THỂ NHẬN THỨC TRONG HỌC TẬP

1.1.1 Chủ thể nhận thức

Để làm rõ tầm quan trọng phải phát huy vai trò chủ thể nhận thức tronghọc tập của sinh viên Đại học ở nước Cộng hòa dân chủ nhân Lào hiện nay,trước hết cần phải làm sáng tỏ phạm trù chủ thể nhận thức, khách thể nhậnthức và sinh viên Đại học với tư cách là chủ thể nhận thức trong học tập

Một số quan điểm triết học C Mác về chủ thể nhận thức

Trước C Mác do nhận thức khác nhau và quan niệm khác nhau về bảnchất của thế giới, về vai trò của con người đối với thế giới, vì vậy quan niệm

về chủ thể nhận thức, cũng như vai trò của nó cũng rất khác nhau Điển hình

là các quan điểm duy tâm và duy vật siêu hình về chủ thể nhận thức

- Chủ nghĩa duy tâm chủ quan

Chủ nghĩa duy tâm nói chung, kể cả duy tâm chủ quan và duy tâmkhách quan đều coi bản chất thế giới là ý thức, ý thức có trước, vật chất cósau, ý thức quyết định vật chất Đại biểu điển hình của chủ nghĩa duy tâm chủquan là Béc-cơli (1865 - 1753) Điểm xuất phát của triết học Béc-cơli là kinhnghiệm cảm tính hiểu theo nghĩa là tổng hợp những biểu tượng hay nhữngcảm giác Theo ông những cảm giác này không phản ánh thực tại khách quan,

mà chính chúng là thực tại khách quan chân chính Ông viết: "Tôi không phảicho rằng sự vật biến thành biểu tượng mà nói cho đúng hơn là biểu tượng biếnthành sự vật" [6, tr.247 -248] Phạm trù "cảm giác" được G Béc-cơli giải

Trang 7

thích không phải phản ánh sự vật mà có trước sự vật Tất cả sự vật và cácthuộc tính của nó không tồn tại khách quan, mà tồn tại trong ý thức của conngười Bản thân toàn bộ thế giới tự nhiên chỉ là: "phức hợp, tổ hợp" nhữngcảm giác của chủ thể nhận thức Chủ thể ở đây không phải là loài người mà làcái tôi của G.Béc-cơli Thậm chí, bản thân thể xác cá nhân của chủ thể nhậnthức tồn tại được cũng là do "linh hồn đã cảm nhận nó", cũng là phức hợp củacảm giác Quan điểm trên của G.Béc-cơli đã đi đến chỗ phủ nhận chủ thểnhận thức là nhân loại là con người, phủ nhận sự tồn tại khách quan của thếgiới vật chất Tuyệt đối hóa yếu tố chủ quan của chủ thể, phủ nhận khách thểG.Béc-cơli đi đến chỗ đồng nhất toàn bộ các ý niệm với cảm giác, bản thâncác cảm giác cấu thành các khái niệm trừu tượng Về bản chất của chân lý,theo G.Béc-cơli cũng là sự phù hợp suy diễn của chủ thể nhận thức về chính

sự vật đó mà trên thực tế nó hoàn toàn phụ thuộc vào chủ thể

- Chủ nghĩa duy tâm khách quan.

Đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa duy tâm khách quan là Platôn vàHêghen Quá trình nhận thức, theo Platôn là sự hồi tưởng, còn Hêghen là

"tự nhận thức của ý niệm tuyệt đối" Nhận thức luận của chủ nghĩa duy tâmkhách quan còn bộc lộ nhiều hạn chế Theo Plantôn thì cảm giác khôngphải là nguồn gốc của tri thức chân thực Kết quả của nhận thức cảm tính

có thể đúng, có thể sai (lẫn lộn giữa đúng và sai) Tri thức chân thực - nhậnthức ý niệm - chỉ có thể đạt được bằng nhận thức lý tính và được thể hiệntrong khái niệm Nhưng chủ thể nhận thức đạt được điều này cũng là nhờlinh hồn vũ trụ có nguồn gốc từ thượng đế Platôn đã thần bí hóa chủ thểnhận thức Theo Phoi-ơ bắc nhận thức là sự phản ánh máy móc giản đơn,thụ động thế giới khách quan Ông chưa hiểu thế giới khách quan được "dichuyển" vào trong bộ óc con người và được "cải tạo" ở đó như thế nào.Phoi - ơ bắc về cơ bản vẫn nằm trong khuôn khổ của quan niệm siêu hình,

Trang 8

mặc dù ông là nhà duy vật.

Quan điểm của Triết học C.Mác - V.I Lênin về chủ thể nhận thức

Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin thì chủ thể nhận thức nóichung là con người, là một cá nhân hay một tập đoàn (nhân loại, dân tộc,giai cấp, đảng phái, tập thể các nhà khoa học vv ) có nhiệm vụ nhận thức

và cải tạo thế giới Chủ thể - đó là con người nhận thức và cải tạo thế giớixung quanh cũng như chính bản thân mình Chỉ có tác động vào thế giới(vào thế giới tự nhiên và đời sống xã hội), chỉ có thông qua hoạt động, conngười mới bộc lộ mình với tư cách là chủ thể nhận thức Tùy thuộc vào cấp

độ xem xét mà chủ thể nhận thức có thể là cả loài người, có thể là một giaicấp, một dân tộc, một nhóm người hay một cá nhân nào đó Con người làchủ thể nhận thức, vì con người là một chủ thể xã hội có quan hệ với nhữngngười xung quanh, nắm bắt và sử dụng được những công cụ và phương tiệncủa hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn mà các thế hệ trước để lại.Chủ thể nhận thức không phải là con người trừu tượng, mà là con ngườigắn liền với những điều kiện xã hội cụ thể với trình độ kinh nghiệm, họcvấn cụ thể Mỗi chủ thể nhận thức đều là một chỉnh thể thống nhất giữa tồntại tự nhiên, (sinh học) tồn tại có ý thức và tồn tại xã hội Con người trướchết là một thực thể sinh học, vì vậy con người phải tuân theo những quyluật của tự nhiên như quy luật về sự phù hợp giữa cơ thể và môi trường,các quá trình sinh lý, sinh hóa, các quá trình biến dị, di truyền vv Trong

Bản thảo kinh tế - triết học năm 1984, Mác viết: "Con người là một sinh

vật có tính loài" và xem giới tự nhiên là "thân thể vô cơ của con người vìcon người là một bộ phận của giới tự nhiên"

Đồng thời con người phát triển tuân theo các quy luật hình thành tâm

lý, ý thức Các quy luật này được hình thành và phát triển trên cơ sở các tiền

Trang 9

đề sinh học của con người Đó là các quy luật về sự hình thành tình cảm, niềmtin, ý chí, tư tưởng vv

Khi nói con người thì không phải là nói con người trong trạng thái tựnhiên thuần túy, mà là con người hoạt động thực tiễn - xã hội Thông qua hoạtđộng thực tiễn, con người làm biến đổi đời sống xã hội, đồng thời cũng biến

đổi chính bản thân mình Trong Luận cương về Phoi - ơ - bắc (1845) C.Mác

viết: Bản chất của con người không phải là một cái trừu tượng, cố hữu của cánhân riêng biệt Trong tính thực hiện của nó, bản chất của con người là "tổnghòa các quan hệ xã hội"

Qua mệnh đề trên C.Mác nhấn mạnh các quan hệ xã hội không tồn tại ởngoài con người thực hiện Bản chất con người, một sự trừu tượng khoa học,

là sự khái quát từ đời sống cụ thể của những con người hiện thực, từ thế hệnày sang thế hệ khác Bản chất con người được thể hiện thông qua tổng hòacác quan hệ xã hội Thông qua hoạt động thực tiễn, con người chiếm lĩnhquan hệ xã hội và biến nó thành bản chất người Con người chỉ trở thànhngười khi đặt trong mối quan hệ xã hội, nếu tách khỏi quan hệ xã hội thì conngười không trở thành người đúng nghĩa nữa

Quan điểm của triết học mác xít không làm mất đi vai trò của cá nhânnhư một số người đã quan niệm, mà ngược lại khẳng định vai trò của cá nhân,nhân cách Cá nhân ở đây, theo C.Mác là cá thể sống, sáng tạo ra những quan

hệ xã hội, cá thể hóa chúng thành thế giới bên trong phong phú và độc đáo.Trong cuộc sống xã hội không thể tách cá nhân ra khỏi cộng đồng, song cũngkhông thể có những quan hệ xã hội không có những cá nhân Mỗi cá nhân vừa

là thành viên của cộng đồng giai cấp, dân tộc, nhân loại, vừa là một thực thểđộc lập có nhân cách

Trong tác phẩm "Hệ tư tưởng Đức", C.Mác và Ph.Ăng ghen đã nêu lên

3 tiền đề cơ bản để con người tham gia vào lịch sử của mình:

Trang 10

Thứ nhất, để tồn tại con người trước hết phải được thỏa mãn các nhu

cầu ăn, ở, mặc, sau đó mới là chính trị, khoa học, tôn giáo vv Chính conngười bằng hành vi lao động sản xuất, tự thực hiện để tồn tại Trong lao độnghình thành các mối quan hệ xã hội, tạo thành xã hội Nhờ lao động con ngườihoàn thiện các tổ chức giác quan, phát triển ý thức cá nhân, ngôn ngữ, pháttriển hoàn thiện năng lực phản ánh của chủ thể

Thứ hai, sự thỏa mãn những nhu cầu đầu tiên dẫn đến sự mở rộng,

phát triển những nhu cầu mới Nhu cầu mới nảy sinh là biểu hiện của quy luậtphát triển lịch sử, nó vừa là quy luật kinh tế, vừa là quy luật xã hội Mỗi thờiđại, con người tự tạo ra một hệ thống các nhu cầu Qua đó dựng lại chân dungđời sống hiện thực và tâm lý của con người trong từng giai đoạn phát triển lịch sử

Thứ ba, ngay từ đầu con người đã tham dự vào quá trình lịch sử Hàng

ngày con người tái tạo ra đời sống của chính mình, đồng thời còn tái tạo sinh

ra người khác Con người trong quá trình tái tạo ra chính bản thân mình, baogiờ cũng mang vào đó tất cả những yếu tố đạo đức tâm lý, văn hóa xã hội

Những tiền đề trên của C.Mác và Ăng ghen về con người cho thấy conngười có bản chất xã hội, có tính lịch sử Mỗi thời đại lịch sử đã tạo ra mộtmẫu hình con người với những đặc trưng riêng về lối sống, sinh hoạt, tâm lý,nhân cách, trình độ nhận thức vv Điều đó cũng có nghĩa, theo C.Mác,Ph.Ăng ghen không có con người - chủ thể nhận thức chung chung, trừutượng, phi lịch sử, phi xã hội, mà con người - chủ thể nhận thức, luôn tồn tạitrong những điều kiện, hoàn cảnh xã hội hiện thực cụ thể Trong mỗi thời đại,con người vừa là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử

1.1.2 Khách thể nhận thức

Khách thể nhận thức - là đối tượng nằm trong miền hoạt động nhậnthức của chủ thể Nó bao gồm giới tự nhiên, các lĩnh vực đời sống xã hội vv

Trang 11

tồn tại và tác động qua lại với chủ thể nhận thức Khách thể nhận thức khôngphải là toàn bộ thế giới hiện thực, mà nó chỉ là một bộ phận nhất định của thếgiới hiện thực, đã và đang tác động qua lại với chủ thể nhận thức, tham giavào mối quan hệ với chủ thể và được đưa vào miền hoạt động nhận thức củachủ thể nhận thức Khách thể nhận thức không phụ thuộc vào chủ thể nhậnthức nhưng luôn nằm trong mối quan hệ biện chứng với chủ thể nhận thức.

Khách thể nhận thức luôn vận động, biến đổi và phát triển Mỗi giaiđoạn phát triển của lịch sử xã hội lại đưa thêm những khách thể mới vào miềnhoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của chủ thể nhận thức Như vậy,khách thể nhận thức là tất cả những gì mà chủ thể nhận thức có mối quan hệbiện chứng với nhau, chúng chỉ tồn tại với tư cách là chủ thể và khách thể khilàm tiền đề tồn tại của nhau Khách thể tồn tại không phụ thuộc vào chủ thể,song khách thể không phải là mặt đối lập trừu tượng của chủ thể, mà chủ thểluôn tích cực cải tạo khách thể và hướng vào khách thể Mặt khác, hoạt độngtích cực của chủ thể là điều kiện cho bộ phận này hay bộ phận khác của hiệnthực trở thành khách thể nhận thức của chủ thể nhận thức Cơ sở của mốiquan hệ biện chứng này chính là hoạt động thực tiễn của con người

Ngày nay, do sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặcbiệt trong lĩnh vực thông tin, tin học, bằng hoạt động thực tiễn tác động trựctiếp, hoặc gián tiếp thông qua các công cụ, loài người đã không ngừng mởrộng phạm vi khách thể nhận thức của mình Thông qua hoạt động thực tiễn,chủ thể nhận thức tác động vào khách thể buộc khách thể phải bộc lộ nhữngtính chất, những thuộc tính, quy luật từ đó chủ thể khái quát hóa thành hệthống lý luận phục vụ cho nhận thức của con người để cải tạo thế giới tựnhiên và xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần Để hiểu rõhơn khái niệm khách thể nhận thức chúng ta đặt nó trong tương quan so sánhvới các khái niệm" thực tại khách quan" và "đối tượng nhận thức"

Trang 12

Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin thì "thực tại khách quan"cụm từ mà V.I.Lênin dùng trong định nghĩa vật chất chỉ là để khái quát thuộctính chung nhất, phổ biến nhất của thế giới vật chất Về vấn đề cơ bản củanhận thức luận thì "thực tại khách quan" được hiểu là tất cả những gì tồn tạiđộc lập, khách quan ở bên ngoài ý thức của con người và loài người Nó là cái

có trước, là tính thứ nhất, còn ý thức là tính thứ hai, là thuộc tính của vật chấttất nhiên không phải của bất kỳ dạng vật chất nào mà chỉ là thuộc tính củamột dạng vật chất có tổ chức cao, tổ chức đặc biệt là bộ óc người Tuy nhiênchủ nghĩa duy vật biện chứng chỉ thừa nhận sự đối lập giữa vật chất và ý thứctrong việc phân biệt vật chất là cái gì, trong quan hệ vật chất và ý thức thì cáinào có trước, cái nào có sau và cái nào quyết định cái nào Ngoài ranh giớicủa nhận thức đó thì sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ là tương đối Bởi

vì, ý thức không thể tồn tại riêng biệt, độc lập, tách rời vật chất Ý thức làthuộc tính của một dạng vật chất đặc biệt, có tổ chức cao, đó là bộ óc của conngười Tuy nhiên, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt độngthực tiễn của con người

Khái niệm "đối tượng nhận thức" được hiểu như những mặt, những lĩnhvực, những đặc tính, những quan hệ của các khách thể được nghiên cứu nhằmmột mục đích nhất định Trong những điều kiện và những tình huống nhấtđịnh chúng được ghi lại trong kinh nghiệm và được đưa vào trong quá trìnhhoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người "Đối tượng nhậnthức", thuộc về khách thể Một khi hoạt động thực tiễn của con người tácđộng vào khách thể, đặt ra tình huống có vấn đề thì một bộ phận, một lĩnh vựcnào đó của khách thể sẽ trở thành đối tượng nhận thức của chủ thể nhận thức

Ở thời kỳ cổ đại do sản xuất chưa phát triển, khoa học kỹ thuật còn ởtrình độ sơ khai, do đó triết học bao trùm lên tất cả các lĩnh vực của tự nhiên

xã hội Các nhà triết học đồng thời là các nhà toán học, thiên văn học, vật lý

Trang 13

học vv Vì vậy, triết học được coi là khoa học của các khoa học, đứng trêncác khoa học Khoa học trong thời gian này chỉ bó hẹp trong lĩnh vực cơ học,toán học, thiên văn, hàng hải, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tưới tiêu, đi lạitrên biển, xây dựng lăng tẩm cho vua chúa Từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷXIX sản xuất tư bản phát triển, khoa học đi sâu nghiên cứu từng mặt, từnglĩnh vực của tự nhiên và xã hội phục vụ cho sản xuất và đời sống con người.

Từ cuối thế kỷ XIX đến nay, khoa học phát triển theo hướng chuyên môn hóasâu, các môn khoa học tự nhiên và xã hội trở thành một tổng thể tổng hợp củangành tri thức phong phú mà mỗi ngành tri thức đó là một khoa học riêngbiệt Đồng thời, do nhu cầu sản xuất và thực tiễn đặt ra tình huống mới phảinghiên cứu đối tượng của những môn khoa học giáp ranh giữa Hóa - Sinh;Hóa - Lý; Sinh học - Vật lý; Địa chất - Hóa học vv Cùng với các khuynhhướng nhất thể hóa các tri thức khoa học trở thành một lực lượng trí tuệ thốngnhất để nhận thức và cải tạo hiện thực

Có thể nói, ranh giới và sự khác biệt các khái niệm "thực tại kháchquan"; "khách thể nhận thức" và "đối tượng nhận thức" cũng chỉ là tương đốitùy thuộc vào các mối quan hệ và thời điểm lịch sử cụ thể Chẳng hạn trongmối quan hệ này khái niệm, phạm trù được xem là khách thể nhận thức, thìtrong mối quan hệ khác lại là đối tượng của nhận thức Ví dụ "thực tại kháchquan" là phạm trù dùng để khái quát toàn bộ thế giới vật chất đối lập với ýthức Khi giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì nó lại trở thànhđối tượng của triết học Hay ranh giới giữa chủ thể và khách thể nhận thứccũng là tương đối Ví dụ : con người với tư cách là chủ thể nhận thức, chủ thểsáng tạo lịch sử, song con người và xã hội loài người lại là khách thể là đốitượng nghiên cứu của các môn khoa học khác nhau như mỹ học, xã hội học, yhọc, tâm lý học vv

Có thể nói, việc tìm hiểu các khái niệm chủ thể nhận thức, khách thể

Trang 14

nhận thức cùng với mối quan hệ giữa khách thể, chủ thể, thực tại khách quan

và đối tượng của nhận thức và phát huy vai trò của họ trong học tập

1.1.3 Sinh viên đại học - chủ thể nhận thức trong học tập

1.1.3.1 Đặc điểm tâm - sinh lý, xã hội của sinh viên đại học ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Sinh viên đại học ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào là một nhóm

xã hội đặc thù trong tầng lớp thanh niên, họ tồn tại đan xen trong các mốiquan hệ xã hội, giai cấp, dân tộc, đoàn thể

Sinh viên đại học thường ở độ tuổi 17 - 18 đến 24 -25, một số ít sinhviên ở độ tuổi 25 -30

- Về sinh lý: ở độ tuổi 17 -25 hình thể đã đạt được sự hoàn chỉnh về cấutrúc và phối hợp giữa các chức năng Thời kỳ đầu của giai đoạn này, conngười đạt được 9/10 chiều cao và 2/3 trọng lượng của cơ thể trưởng thành Bộnão đã đạt được trọng lượng tối đa (khoảng 14.000 gram), số tế bào thần kinhphát triển tương đối đầy đủ Lứa tuổi này hoạt động thần kinh cao cấp đã đạtđến mức trưởng thành Đang trong giai đoạn "dậy thì" các chức năng sinh sảnbắt đầu quá trình hoàn thiện Giới tính phân biệt rõ và phát triển đầy đủ ở mỗigiới cả về hình thể đến biểu hiện nội tiết tố

- Về tâm lý: 17 -25 tuổi là thời kỳ phát triển trí tuệ được đặc trưng bởi

sự nâng cao năng lực trí tuệ, biểu hiện rõ nhất ở khả năng tư duy sâu sắc và

mở rộng, có năng lực giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ ngày một khó khănhơn, cũng như có tiến bộ rõ rệt trong lập luận lôgíc, trong lĩnh hội tri thức, trítưởng tượng, sự chú ý và nghi ngờ Thời kỳ này cũng là thời kỳ phát triển khảnăng hình thành, ý tưởng trừu tượng, khả năng phán đoán, nhu cầu hiểu biết

và học tập cao Ở độ tuổi này sinh viên có tính nhạy bén cao, khả năng giảithích và gắn ý nghĩa cho những ấn tượng cảm tính nhờ vào kinh nghiệm và tri

Trang 15

Một trong những đặc trưng tâm lý quan trọng của lứa tuổi sinh viên là

sự phát triển tự ý thức Tự ý thức có chức năng điều kiện để phát triển và hòathiện nhân cách, hướng nhân cách theo các yêu cầu mà xã hội đòi hỏi

- Về mặt xã hội: Lứa tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển tích cực nhất vềđạo đức và thẩm mỹ, là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách Đặc biệt là

họ có vai trò xã hội của người lớn Người sinh viên đã có kế hoạch cho laođộng của riêng mình, độc lập trong phán đoán và hành vi, bắt đầu thể nghiệmmình trong cuộc sống

Vì ở độ tuổi sau trẻ em và bắt đầu thành người lớn, nên thế giới nội tâmcủa họ là vô cùng phức tạp, phát triển nhân cách của sinh viên là một quátrình chuyển từ những yêu cầu bên ngoài thành nhu cầu của bản thân sinhviên và là quá trình tự vận động và hoạt động tích cực của chính bản thân họ.Những mâu thuẫn chính là:

+ Mâu thuẫn giữa ước mơ của người sinh viên với khả năng điều kiện

và kinh nghiệm để thực hiện ước mơ đó

+ Mâu thuẫn giữa mong muốn học tập chuyên sâu những môn ưa thích

và yêu cầu thực hiện toàn bộ chương trình học tập do nhà trường quy định

+ Mâu thuẫn giữa các khối lượng thông tin vô cùng phong phú với khảnăng điều kiện để phong phú với khả năng điều kiện để xử lý thông tin

Về thái độ học tập của sinh viên thì có rất nhiều kiểu khác nhau Cósinh viên học chỉ vì nghề nghiệp mà không hề quan tâm đến các lĩnh vực tri

Trang 16

thức cũng như hoạt động xã hội khác Họ luôn thực hiện bài tập theo yêu cầu

và chỉ cần đạt điểm trung bình Ngoài sách bắt buộc phải đọc thì họ chỉ đọctheo ý thích, không liên quan gì đến sự phát triển nghề nghiệp

Có sinh viên lại thích các môn học mà họ coi là tri thức về cuộc sốngnói chung trên cơ sở lựa chọn riêng của mình Họ quan tâm nhiều đến thế giới

tư tưởng và sách Ngoài giờ học bắt buộc, họ tự nguyện tham gia các chuyên

đề tự chọn, những giờ phụ đạo, các buổi hòa nhạc Họ muốn hiểu biết cáclĩnh vực mà họ quan tâm, họ luôn tham gia vào các tổ chức khoa học và nétránh các tổ chức tập thể, các công việc xã hội không liên quan trực tiếp đếnviệc học tập Với những sinh viên này thì học tập thực sự là những khát khaotri thức và kinh nghiệm sống

Cũng có những sinh viên vừa ham thích sách vở và học tập, nhưngvẫn tham gia các hình thức hoạt động và đời sống tập thể, họ cố gắng đạtđiểm cao trong các kỳ thi, coi hoạt động tập thể có ảnh hưởng tích cực đếnbản thân

Có những sinh viên luôn chú ý đến các hoạt động xã hội của nhà trường

và bản thân các khoa học Họ gắn bó với trường và tham gia tích cực vào cáchoạt động bề nổi Với họ thời sinh viên không có nghĩa chỉ là giảng đường,

mà còn có các câu lạc bộ, các tổ chức sinh viên Họ cũng cố gắng để có

"mảnh bằng", nhưng ít khi vượt quá ngưỡng tối thiểu

Ngoài những đặc điểm trên, ở vào tuổi của mình sinh viên thiếutừng trải, thiếu kinh nghiệm và vốn sống hạn chế cho nên bên cạnh rấtnhiều ưu điểm thì sinh viên còn bộc lộ những hạn chế không tránh khỏi dokhí chất của mình như: hấp tấp, vội vàng do muốn sớm khẳng định mìnhnhưng lại thiếu kinh nghiệm sống Tính tự phụ, bồng bột, chủ quan vìmuốn nhập cuộc để tự khẳng định mình nên thiếu kiềm chế, nhẹ dạ, cả tin,gặp khó khăn là dễ hoang mang, dao động, dễ bị kích động, thiếu tự chủ

Trang 17

do hệ tim mạch và hệ thần kinh chưa ổn định Khí chất của thanh niênchưa cân bằng nên dễ bốc đồng và thường bị lợi dụng Do đặc điểm vềtuổi tác của mình nên sinh viên thường tiếp thu thông tin ít chọn lọc,hướng tới các giá trị mới hiện đại nhưng lại nhanh quên quá khứ Vì lẽ đó

mà trong quá trình giảng dạy cho sinh viên bên cạnh việc giáo dục chuyênmôn nghiệp vụ thì phải giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị và giá trịtruyền thống cho sinh viên

Hiểu được đặc điểm tâm lý, xã hội của sinh viên, bản chất tốt đẹp, khảnăng cách mạng của tuổi trẻ cũng như những cách mạng của tuổi trẻ cũng nhưnhững hạn chế của họ là một vấn đề rất quan trọng để có nhận thức đúng, cóthái độ đánh giá đúng và có quan điểm giáo dục, vận động, phát triển họ mộtcách khoa học, hiệu quả và như vậy sẽ tạo ra những thành quả lớn trong sựnghiệp giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực góp phần vào thắng lợi chung của sựnghiệp đổi mới và phát triển của đất nước

Sau hơn 20 năm đổi mới, do những biến đổi trong chính sách kinh tế

-xã hội và ngoại giao, kinh tế chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấpsang cơ chế kinh tế thị trường nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa

có sự quản lý của nhà nước Chính sách ngoại giao từ chỗ chỉ quan hệ với cácnước xã hội chủ nghĩa là chủ yếu sang đa phương hóa, đa dạng hóa dẫn đến

sự thay đổi đáng kể trong thang giá trị và định hướng xã hội của thanh niênsinh viên Hiện nay thang giá trị và sự lựa chọn giá trị trong thanh niên - sinhviên đã có sự thay đổi trên cả hai khía cạnh

Thứ nhất: Sự biến đổi của chính các giá trị

Hiện nay, một số các giá trị truyền thống đã được thay đổi về nộidung như, những giá trị đề cao tinh thần hy sinh, xả thân vì nước, vì dântrong thời kỳ chiến tranh đã được thay thế bằng nội dung mới là phải làm

Trang 18

tất cả những gì để dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh Các giá trị về ý thức cộng đồng, về truyền thống đoàn kết không chỉđược quan niệm là hy sinh lợi ích của cá nhân mà còn là sự kết hợp giữacác lợi ích tập thể và các cá nhân, coi lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp

để phát triển kinh tế - xã hội Trong lao động sản xuất không chỉ cần cù,chịu khó mà cần phải lao động có tri thức khoa học, có lương tâm tráchnhiệm, có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao Trong cơ chế hiện nay,đòi hỏi con người phải không chỉ dám nghĩ, dám làm mà còn dám chịutrách nhiệm, chấp nhận cạnh tranh, liên doanh liên kết với các cá nhân, các

tổ chức kinh tế dịch vụ trong nước và quốc tế

Thứ hai: Sự thay đổi trật tự ưu tiên trong hệ thống giá trị.

Qua kết quả điều tra 300 sinh viên ở trường ĐHQG Lào, chúng tôi thấycác giá trị sinh viên quan tâm nhất là:

Bảng 1.1 Sự biến đổi một số giá trị cơ bản của sinh viên

trường Đại học quốc gia Lào

Nguồn: Qua điều tra khảo sát 300 sinh viên của trường Đại học Quốc gia Lào tháng 3/2010

Như vậy học để có việc làm, lập nghiệp, để có học vấn và tư duy sángtạo, có cuộc sống gia đình hạnh phúc là những giá trị được sinh viên ĐHQGLào ưu tiên thứ tự

Như trên đã trình bày thì giá trị không hoàn toàn là cái bất biến, mà nó

Trang 19

luôn biến đổi để phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể Sự biến đổi ở đâykhông chỉ về nội dung mà còn về trật tự ưu tiên và xuất hiện thêm những giátrị mới Có sự biến đổi đó của các giá trị là do sự biến đổi của thực tiễn xã hội

và nhận thức của con người Nền kinh tế - xã hội của chúng ta đang có sựchuyển mình ghê gớm, tất yếu dẫn đến sự thay đổi của thang giá trị Từ đódẫn đến việc chúng ta cần phải nhận thức, đánh giá và định hướng cho sinhviên biết kết hợp một cách hài hòa giữa các giá trị, nhằm giảm thiểu nhữnglệch lạc, cực đoan trong việc lựa chọn của các em

Qua kết quả điều tra xã hội học ở trường Đại học quốc gia Lào, chúngtôi thấy thanh niên - sinh viên là những con người về thể chất đã đạt đến độtrưởng thành khá hoàn chỉnh, là thời kỳ phát triển đầy đủ các tố chất của conngười Lào hiện đại Sinh viên trường ĐHQG Lào không nằm ngòai xu hướngchung của sinh viên cả nước trong quan niệm về trật tự ưu tiên các hệ thốnggiá trị

Trong thời bao cấp, các giá trị kinh tế như được sắp sẵn theo nhữngchuẩn mực khung bậc nhất định vì vậy sinh viên ít có khả năng cạnh tranhvươn lên, thời kỳ đó học chủ yếu quan tâm tới các giá trị đạo đức tinh thần.Còn ngày nay trong nền kinh tế thị trường các giá trị việc làm, sự lập nghiệp,học vấn cao, tư duy sáng tạo được sinh viên quan tâm hàng đầu

Từ những điểm trên đã phân tích ở trên chúng ta có thể thấy rất rõ sinhviên với tư cách là chủ thể nhận thức trong học tập là những người trẻ, với độtuổi 18 - 25 là lứa tuổi đẹp nhất trong cuộc đời, đầy ước mơ và khát vọng,tuổi trẻ tương lai, với nghị lực tiềm tàng, tính năng động trong cuộc sống, làmột thế hệ hội đủ các tố chất: Yêu nước, thông minh, sáng tạo, dám nghĩ, dámlàm, có nghị lực, ham học tập để có việc làm và lập nghiệp

1.1.3.2 Những biểu hiện đặc thù của sinh viên Đại học nước CHDCND Lào với tư cách là chủ thể nhận thức trong học tập

Thứ nhất, sinh viên ở trường ĐHQG Lào có nguồn gốc xuất thân rất đa

Trang 20

dạng, từ nhiều gia đình (công nhân, tri thức, bộ đội, nông dân) dân tộc; cóhoàn cảnh sinh hoạt và điều kiện giáo dục khác nhau Họ đến ĐHQG Lào họctập từ những miền quê có truyền thống văn hóa gia đình điều kiện rất khácnhau Họ bao gồm nam nữ và là con em các bộ tộc Lào khác nhau Do vậy,ban đầu khi mới bước chân vào giảng đường đại học, họ còn nhiều bỡ ngỡ.

Họ gặp không ít khó khăn trong cuộc sống tự lập, xa gia đình, người thân vàtrong phương pháp học tập cũng như cách sinh hoạt Họ phải làm quen vớiđời sống tập thể đầy mới lạ Cho nên những ngày đầu học tập ở trường đạihọc, họ gặp không ít khó khăn

Thứ hai, đa số họ đều là học sinh khá, giỏi trong các trường phổ thông

Trung học, được tuyển chọn kỹ lưỡng qua thời kỳ thi tuyển sinh ở tầm cỡquốc gia Họ là đại biểu ưu tú, xuất sắc nhất về học tập trong tầng lớp thanhniên Với chất lượng như vậy nên sinh viên ở trường ĐHQG Lào năm 2008 -

2009 tỷ lệ lên lớp thẳng không phải thi lại môn nào là cao, đạt 70% tăng 8%

so với năm học trước Tỷ lệ sinh viên đỗ tốt nghiệp là 98% [70, tr.8]

Thứ ba, sinh viên ở trường ĐHQG Lào tập trung chủ yếu vào học tập,

nghiên cứu khoa học, rèn luyện kỹ năng vận dụng tri thức khoa học vào thựctiễn để có nghề nghiệp trong tương lai

Thứ tư, Thủ đô Viêng chăn là trung tâm về mặt kinh tế, văn hóa, chính

trị, xã hội nhưng cũng là nền kinh tế thị trường tác động mạnh Vì vậy, sinhviên ĐHQG Lào không những có cơ hội học tập phấn đấu vươn lên; có điềukiện tiếp thu những kiến thức mới hiện đại Đồng thời họ cũng dễ bị tác độngcủa mặt trái kinh tế thị trường Do vậy, đã có một số sinh viên ở trườngĐHQG xa vào các tệ nạn xã hội

Thứ năm, đa số sinh viên ở trong độ tuổi 18 đến 25, lứa tuổi đang

trưởng thành về thể chất: có lý tưởng, hoài bão, niềm tin và khát vọng hướngtới tương lai, tích cực, sáng tạo, chủ động hướng tới những giá trị mới hiện

Trang 21

đại Để chuẩn bị tri thức nghề nghiệp cho tương lai, nhiều sinh viên khôngnhững nỗ lực học tốt chương trình của trường mình mà còn tham gia, họcthêm ngoại ngữ, tin học và nhiều môn khác đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thựctiễn xã hội.

Động cơ học tập của sinh viên trường ĐHQG Lào hiện nay còn đượcphản ánh qua động cơ chọn ngành nghề Qua khảo sát 300 sinh viên trườngĐHQG Lào cho thấy:

- 16% sinh viên chọn ngành nghề theo sở thích

- 36% sinh viên chọn ngành nghề phù hợp với khả năng

- 10% sinh viên chọn ngành nghề có kinh tế phát triển năng lực cá nhân

- 13% sinh viên chọn ngành nghề có thu nhập cao

- 18% sinh viên chọn ngành nghề mà xã hội cần

- 5% sinh viên chọn ngành nghề đem lại sự thành đạt cho cá nhân.Như vậy, có tới 75% số sinh viên ở trường ĐHQG Lào chọn ngànhnghề có động cơ đúng đắn, xuất phát từ nhu cầu nội tại của bản thân, hoàncảnh gia đình và xã hội, ít chạy theo ngành nghề có thu nhập cao nhưngkhông phù hợp với khả năng, điều này tạo ra tâm lý yên tâm, ổn định, hứngthú trong học tập Đây là dấu hiệu tích cực trong lựa chọn ngành nghề củasinh viên ĐHQG Lào

Động cơ học tập của sinh viên ở trường ĐHQG Lào được thể hiện ở ýthức học tập Theo đánh giá của cán bộ giảng dạy và cán bộ quản lý thì 35%sinh viên có ý thức học tập tích cực, 50% sinh viên có ý thức học tập bìnhthường và 12% sinh viên có ý thức học tập kém

Bên cạnh đại đa số sinh viên nhận thức được hoàn cảnh của bản thânđiều kiện gia đình và tình hình chung của xã hội đã xác định được động cơhọc tập đúng đắn, thì còn một số ít những sinh viên học đối phó, học cho qua.Điều này do rất nhiều nguyên nhân: do điều kiện gia đình khó khăn mà một

Trang 22

số sinh viên phải đi làm thêm để kiếm sống, học thêm, dẫn đến quỹ thờigian học hẹp lại, họ buộc phải học tủ, học lệch chỉ tập trung vào các môn thi

cử, xuất hiện tình trạng sinh viên bỏ tiết, đi học muộn đối với những môn học

ít quan tâm nghề nghiệp sau này nhưng lại rất quan trọng trong việc hìnhthành thế giới quan, nhân cách, đạo đức như: Triết học, đạo đức học, xã hộihọc, dẫn đến một bộ phận nhỏ sinh viên ấy chất lượng học tập của họ chưađáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động và yêu cầu mới về phát triểnnguồn nhân lực cho đất nước

Có thể nói, nhận thức và động cơ học tập là yếu tố quyết định tinhthần học tập của những sinh viên khi còn ngồi trên ghế các trường Đại học.Phần lớn sinh viên ở trường ĐHQG Lào có tinh thần học tập chăm chỉ, tậndụng hết thời gian và khả năng cho phép để học Tinh thần học tập đượcthể hiện cả hai mặt: Học tập trên lớp, dưới sự hướng dẫn của thầy cô và tựnghiên cứu ngoài giờ Trong số sinh viên được hỏi (300 sinh viên củatrường ĐHQG Lào) về tinh thần học tập trên lớp, thì có tới 45% có tinhthần học tập tích cực, 40% đồng ý với ý kiến của các bạn tích cực, 10% cho

là có một số sinh viên qúa lười Về thời gian tự học ở nhà, cò 25% sinhviên trả lời học 5 tiếng trở lên trong 1 ngày, 50% học từ 2 – 4 tiếng, 20%học từ 1-2 tiếng và hầu như không học chiếm 5% Số sinh viên được hỏi( theo điều tra 300 sinh viên ở trường ĐHQG Lào )

Kết quả điều tra cho thấy, sinh viên ở trường ĐHQG Lào đã có cố gắnghọc tập, mặc dù vẫn có những hiện tượng lãng phí thời gian và điều kiện họctập… Số sinh viên học tập chưa nghiêm túc này là nguyên nhân của một sốtrường hợp thi cử chưa nghiêm túc, còn có hiện tượng vi phạm quy chế thi.Điều này làm cho qúa trình đào tạo sẽ xuất hiện những sinh viên chỉ "dán mác

" bằng cấp mà không có nội dung tri thức

Khi chúng tôi hỏi 300 sinh viên ở trường ĐHQG Lào có thấy bạn mình

Trang 23

làm những việc sau đây không:

- Mang tài liệu vào phòng thi: 35% sinh viên được hỏi trả lời có

- Trao đổi với nhau khi làm bài: 50% được hỏi trả lời có

- Sử dụng tài liệu trong khi làm bài thi: 15% được hỏi trả lời có Điềunày cho thấy số sinh viên học tập thiếu tự giác, tích cực vẫn còn Những hiệntượng này gây tác động tiêu cực đến việc phát huy vai trò chủ thể nhận thứctrong học tập của sinh viên ở ĐHQG Lào

Sinh viên ở trường ĐHQG Lào còn có những điểm khác với sinh viêncủa các trường đại học khác là ngoài quan hệ với bạn bè trong tỉnh, trongnước thì họ còn nhiệm vụ giao tiếp, quan hệ giúp đỡ sinh viên quốc tế từ nướcViệt Nam , Trung Quốc và Cămpuchia giúp họ giao tiếp với những ngườixung quanh và giúp đỡ họ khi gặp những khó khăn, trở ngại trong học tập vàtrong cuộc sống

1.1.4 Thực chất của việc phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên ở ĐHQG Lào hiện nay

Trong cơ chế thị trường bên cạnh những mặt tích cực thì đâu đó, trongcác lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội vẫn tồn tại những tiêu cực đó len lỏitrong tất cả các mặt, các lĩnh vực trong đó có cả trong giáo dục và đào tạo.Trong những năm qua giáo dục và đào tạo nói chung và giáo dục đại học nóiriêng vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt chất lượng dạy và học vẫn chưa đáp ứngvới yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Sinh viên ra trường với chất lượng, đặcbiệt là kiến thức thực hành còn thấp Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục vàđào tạo đại học nói riêng là vấn đề cấp thiết, là vấn đề mà toàn Đảng toàn dânmong đợi

Vậy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập là gì? Làm thế nào để pháthuy nó Trước hết ta phải tìm hiểu quá trình dạy và học là gì?

Học là một hoạt động với đối tượng trong đó học sinh, sinh viên là chủ

Trang 24

thể, tri thức khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh Học là quá trình tự giác, tíchcực chiếm lĩnh tri thức khoa học là mục đích của việc học, quá trình này đượcthực hiện từng bước như sau:

Trước hết học sinh, sinh viên phải nắm vững nghĩa, đào sâu ý chứađựng trong các khái niệm, các tri thức khoa học đó trong bản thân, và phảithao tác với nó, sử dụng nó giống như một công cụ, một phương pháp đểchiếm lĩnh thêm các khái niệm và tri thức khoa học khác hoặc để mở rộng,đáo sâu, nâng cao thêm chính xác khái niệm, tri thức đó ở trình độ lý thuyếtcao hơn

Khi đã chiếm lĩnh được khái niệm, các tri thức khoa học thì người học

sẽ biến chúng từ trong kho tàng tri thức xã hội thành học vấn của riêng mình

Từ đó hình thành cho mình một thái độ mới trong việc đánh giá các giá trịtinh thần và vật chất của thế giới khách quan Như vậy, khi thực hiện thànhcông quá trình chiếm lĩnh khái niệm tri thức khoa học thì người học sẽ thựchiện được ba mục đích: Nắm vững khái niệm, tri thức, phát triển tư duy lýluận và giáo dục đạo đức Ba mục đích này không tách biệt nhau mà chúnggắn bó, thâm nhập, tác động, quy định lẫn nhau

Về cấu trúc của việc học có hai chức năng thống nhất với nhau Ngoàiviệc lĩnh hội, tiếp thu thông tin dạy của thầy thì quá trình tự điều khiển đểchiếm lĩnh khái niệm, tri thức khoa học của người học sinh, sinh viên (tự giác,tính cực, tự lực) là rất quan trọng

Nội dung của học chính là nội dung của việc chiếm lĩnh các khái niệm,các tri thức khoa học Điều quan trọng của việc chiếm lĩnh nội dung của khoahọc, của các tri thức khoa học và lĩnh hội phương pháp kiến tạo nên các kháiniệm từ đó rút ra phương pháp nhận thức khoa học nói chung

Ngoài ra việc chiếm lĩnh khái niệm, tri thức khoa học, người học cònphải nắm vững quá trình phát triển lôgíc của khái niệm, của tri thức khoa học

Trang 25

Bởi vì, khái niệm khoa học luôn vận động, biến đổi và phát triển cùng sự vậnđộng, phát triển của thực tiễn.

Tóm lại, nội dung của học là một nguyên lý khái niệm của môn học,cấu trúc lôgíc của môn học đó, các phương pháp đặc trưng của khoa học,ngôn ngữ của khoa học đó và biết ứng dụng những hiểu biết đã có vào việchọc tập và lao động của mình Từ đó hình thành khái niệm mới, tri thức mớinhưng đối với bản thân học sinh, sinh viên đó là phương pháp chiếm lĩnh kháiniệm khoa học Như vậy, sinh viên học có nghĩa là nhận thức phương pháphọc cũng là những phương pháp nhận thức

Muốn học tốt thì cần phải thống nhất giữa mục đích, nội dung vàphương pháp học Đó là điều kiện tối ưu quá trình chiếm lĩnh khoa học trên

cơ sở điều khiển và hướng dẫn của người dạy

Dạy - là quá trình điều khiển, tối ưu hóa quá trình học sinh, sinh viênchiếm lĩnh khái niệm khoa học, tri thức khoa học nhằm hình thành và pháttriển nhân cách cho người học Dạy có mục đích là điều khiển sự học tập củahọc sinh, sinh viên

Dạy có hai chức năng tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinhthành ra nhau, đó là truyền đạt thông tin và điều khiển hoạt động học củangười học

Sơ đồ 1.1: Quá trình dạy học

Khái niệm khoa học, tri thức khoa học

Tác

Trang 26

Quá trình học tập của sinh viên thực chất là quá trình nhận thức, tức là đi từ

"trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn",chỉ có điều quá trình đó luôn có sự giúp đỡ, định hướng, hướng dẫn của giáo viên.Đây chính là nét đặc thù của quá trình nhận thức trong học tập của sinh viên

Trong quan hệ với người dạy thì sinh viên là khách thể của quá trìnhgiáo dục và đào tạo, nhưng trong quan hệ với tri thức khoa học và thực tiễn xãhội thì sinh viên lại tồn tại với tư cách là chủ thể của các quá trình nhận thức

và ở góc độ này thì tri thức khoa học là một phần thực tiễn xã hội lại trở thànhkhách thể nhận thức của sinh viên - chủ thể nhận thức

Như vậy sinh viên luôn tồn tại trong mối quan hệ "kép" vừa là khách thể lạivừa là chủ thể của quá trình dạy - học Trong quan hệ với nhà trường, với giáoviên thì sinh viên là khách thể, đối tượng của quá trình giáo dục và đào tạo Nhưngtrong quá trình học tập nghiên cứu khoa học thì họ là chủ thể nhận thức

* Sinh viên với tư cách chủ thể nhận thức trong học tập đóng vai trò hếtsức quan trọng trong qúa trình học tập Như trên chúng ta đã rõ, trong quátrình học tập thì sinh viên là chủ thể nhận thức còn các tri thức khoa học vàmột phần thực tiễn xã hội chính là khách thể nhận thức của sinh viên Quátrình sinh viên học tập chính là quá trình nhận thức dưới sự hướng dẫn củagiảng viên, nhưng có vai trò của sinh viên với tư cách chủ thể nhận thức là hếtsức quan trọng Điều này thể hiện ở điểm cơ bản sau:

- Sinh viên đóng vai trò quyết định trong quá trình học tập, chiếm lĩnhtri thức khoa học và một phần thực tiễn xã hội

Trang 27

- Sinh viên - chủ thể nhận thức đóng vai trò quyết định trong việc hìnhthành tri thức mới từ những tri thức đã lĩnh hội.

- Sinh viên - chủ thể nhận thức đóng vai trò quyết định trong quá trìnhvận dụng các tri thức đã lĩnh hội vào học tập và nghiên cứu khoa học

Từ trên cho thấy, thực chất của việc phát huy vai trò chủ thể nhận thứctrong học tập của sinh viên nói chung, sinh viên ĐHQG Lào nói riêng là phát huytính tích cực, chủ động, sáng tạo của họ trong học tập Trên cơ sở đó biến quátrình học tập thành quá trình tự học tập, biến quá trình giáo dục thành quá trình tựgiáo dục

1.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng tới sinh viên đại học CHDCND Lào

- chủ thể nhận thức trong học tập

Chất lượng giáo dục, đào tạo có liên quan chặt chẽ với các điều kiệnkinh tế - xã hội của đất nước Muốn giáo dục, đào tạo đạt kết quả cao đáp ứngđược những đổi thay to lớn của thời đại (xu hướng quốc tế hóa, tin học -hướng tới xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức) Đảng nhân dân cách mạngLào cần phải tích cực chuyển nền giáo dục, đào tạo sang hệ thống học tậpsuốt đời, tăng cường phát triển các chương trình phù hợp với nền kinh tế - xãhội và yêu cầu của mỗi cá nhân Chuyển giáo dục, đào tạo từ một hệ thốngđồng nhất giáo dục đa dạng và mềm dẻo, hiện đại hóa các phương pháp dạyhọc

Để có thể thực hiện được những yêu cầu trên thì cần phải có một môitrường giáo dục tốt, phải có một đội ngũ các thầy giáo, cô giáo giỏi cùng các

cơ sở vật chất, trang thiết bị, giáo trình, sách giáo khoa, thư viện phục vụgiảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học Từ một hệ điều kiện có liên quan

và ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, đào tạo thì có thể nói có rất nhiều yếu

tố ảnh hưởng tới sinh viên nói chung, sinh viên ĐHQG Lào nói riêng có tư

Trang 28

cách là chủ thể nhận thức trong học tập bao gồm:

1.1.5.1 Mục tiêu, cấu trúc, nội dung chương trình, giáo trình

Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo nhân lực có trình độ cao, cácchuyên gia cho tất cả các lĩnh vực phục vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc.CHDCND Lào chưa có điều kiện để giáo dục đại học thực hiện được mục tiêudân trí, mà trước tiên là phải tập trung vào việc đào tạo nhân lực, trong đónhân tài là nhân lực có năng lực đặc biệt, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước cũng như sự nghiệp đổi mới đất nước Mục tiêuđào tạo đại học ở CHDCND Lào cũng giống như giáo dục đại học ở ViệtNam bao gồm hai bộ phận:

+ Kiến thức giáo dục đại cương.

Bao gồm các học phần gồm sáu lĩnh vực: khoa học xã hội nhân văn, khoahọc tự nhiên, toán học, ngoại ngữ, giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất.Giúp cho con người học có tầm nhìn rộng, có thế giới quan và nhân sinh quanđúng đắn, hiểu biết về tự nhiên, xã hội và bản thân con người, nắm vững những

tư duy khoa học, biết tôn trọng các di sản văn hóa của dân tộc, nhân loại, có đạođức, nhận thức trách nhiệm công dân, biết yêu tổ quốc và có năng lực bảo vệ tổquốc, trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa Các học phần về giáo dục đạicương có thể tồn tại dưới những môn học thích hợp từ một số ngành khoa học

+ Kiến thức giáo dục chuyên nghiệp bao gồm ba nhóm học phần:

Cốt lõi (kiến thức cơ sở và ngành học chuyên ngành, bao gồm các họcphần khoa học cơ bản phục vụ cho chuyên môn, ngoại ngữ chuyên ngành vàkhoa học chuyên ngành)

Nhóm học chuyên môn chính và nhóm học phần chuyên môn phụnhằm củng cố cho người học những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp banđầu

Chương trình đào tạo cao đẳng cấu trúc có thể khác ở cấp này, có hai loại

Trang 29

hình chính là: cao đẳng thực hành như: (cao đẳng nông nghiệp, cao đẳng y tế )

và cao đẳng cơ bản như: (cao đẳng sư phạm và một số cao đẳng nghiệp vụ )

Chương trình cao đẳng thực hành chủ định cung cấp cho người họccác kiến thức và kỹ năng hoạt động nghề nghiệp là chủ yếu, do đó trongchương trình đào tạo khối lượng giáo dục đại cương giới hạn ở mức vừa đủcho người học tiếp thu được các kiến thức nghề nghiệp, một bộ phận kiếnthức về nghề nghiệp được bố trí dưới dạng các học phần thực hành (có thểđến 50% hoặc hơn)

Ngược lại, chương trình của các trường cao đẳng cơ bản có thể xem như

là một bộ phận cấu thành của chương trình đại học thuộc ngành tương ứng Dovậy chương trình của các trường cao đẳng này có thể chứa trọn vẹn hoặc chứamột phần khối lượng kiến thức giáo dục đại cương ở chương trình đại học

Nội dung giáo dục đại học, cao đẳng phải đảm bảo thực hiện nguyêntắc hiện đại, phát triển, kế thừa và phát huy bản sắc dân tộc, hội nhập với trình

độ chung trên thế giới cao đẳng 3 năm, đại học 4 - 5 năm, riêng trường đạihọc Y khoa là 6 - 7 năm

Như vậy, chính mục tiêu, cấu trúc, nội dung của chương trình giáo dục

và đào tạo sẽ quy định sinh viên - chủ thể nhận thức phải lĩnh hội đủ lượng trithức đại cương, tri thức chuyên nghiệp ở từng cấp học, ngành học như thếnào

* Hệ thống giáo trình

Để việc học tập của sinh viên đạt kết quả và chất lượng tốt thì ngoài cáctài liệu phục vụ cho học tập và nghiên cứu, hệ thống giáo trình có vai trò đặcbiệt quan trọng Mỗi giáo trình của một môn học phải đạt được mục tiêu làtrang bị một lượng tri thức khoa học cơ sở của chuyên ngành và chuyên sâu

có tính chất chuyên biệt nhưng không có ý nghĩa là hoàn toàn độc lập, tách rờivới các môn khoa học khác Mỗi giáo trình của môn học là hệ thống cấu trúc

Trang 30

toàn vẹn được tạo bởi hai khối tri thức.

+ Khối tri thức nền tảng: là một hệ thống tri thức thuộc về cơ sở của

khoa học tạo nên môn đó Khối nền tảng được xây dựng, thiết kế như một hệthống toàn vẹn theo lôgíc chặt chẽ và khoa học, đồng thời phải kết hợp vớilôgíc của sư phạm phù hợp với những đặc điểm tâm, sinh lý của lứa tuổi.Khối tri thức nền tảng giữ vai trò quy định chủ đạo của môn học

+ Khối tri thức hỗ trợ: là những kỹ năng của khoa học khác mà ta cần

huy động để hỗ trợ cho việc tiếp thu kiến thức nền tảng

Hai khối kiến thức trên tồn tại trong mối quan hệ biện chứng, tạo sựliên thông môn học như là một chỉnh thể thống nhất

Trong hệ thống giáo dục đại học ở CHDCND Lào hiện nay có rất nhiềugiáo trình cho các môn học, về cơ bản đã phần nào đáp ứng được yêu cầu củagiáo dục và đào tạo Tuy nhiên trên thực tế trong những năm qua cho thấy phầnlớn các giáo trình đại học, cao đẳng còn nặng về lý thuyết, coi trọng tri thứchàn lâm, nhẹ về ứng dụng thực hành, chất lượng giáo trình còn thấp Vì vậyĐảng và nhà nước cần phải quan tâm hơn nữa bằng nhiều biện pháp như: Tăngnguồn kinh phí, có chế độ đãi ngộ hợp lý đối với các tác giả nhằm biên soạn,đổi mới nội dung, chương trình các giáo trình, sách giáo khoa cho phù hợp vớiđiều kiện hiện nay Trên cơ sở hệ thống giáo trình có chất lượng mới có thểphát huy tính chủ động, tích cực của sinh viên trong học tập Nghĩa là hệ thốnggiáo trình cũng tác động tới sinh viên – chủ thể nhận thức trong học tập

1.1.5.2 Đội ngũ giảng viên đại học với trình độ, phương pháp giảng dạy

Giảng viên là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển của sựnghiệp giáo dục, đào tạo, là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng lớn tới chấtlượng học tập và nghiên cứu của sinh viên Trong dân gian vẫn thường nói

"thầy nào trò ấy", hoặc "không có thầy đố mày làm nên" Đã có những giaiđoạn ở CHDCND Lào người thầy luôn đóng vai trò trung tâm của quá trình

Trang 31

dạy học Nói chung, đội ngũ giảng viên đại học đóng vai trò và ảnh hưởng rấtlớn tới sinh viên đại học - chủ thể nhận thức trong học tập.

Theo số liệu thống kê phòng tổng hợp trường ĐHQG Lào:

Trang 32

Bảng 1.2 Trình độ chuyên môn đội ngũ giáo viên công nhân viên của trường ĐHQG Lào

từ năm học 2005 - 2006 đến 2008- 2009

Nữ Tiến sĩ Thạc sĩ Đại học Cao đẳng Trung cấp Sơ cấp Khác

Trang 33

So với yêu cầu của giáo dục và đào tạo thì trình độ giảng viên có học vị

từ thạc sĩ trở lên còn chiếm tỷ lệ thấp, trình độ ngoại ngữ và tin học, nhìnchung cũng còn thấp

Bảng 1.3 Trình độ tin học

Số lượng giáo viên Chứng chỉ A Chứng chỉ B Chứng chỉ C

Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ Số lượng Tỷ lệ

lượng Tỷ lệ

Số lượng Tỷ lệ

Số lượng Tỷ lệ

Số lượng Tỷ lệ

Nguồn: Phòng tổng hợp trường ĐHQG Lào

Hàng năm trường đều tổ chức hội giảng nhằm nâng cao chất lượnggiảng dạy Qua hội giảng cũng như khảo sát thực tế, chúng tôi thấy, phần lớncác giáo viên ít cải tiến phương pháp giảng dạy Chủ yếu vẫn là cách dạy

"thầy đọc trò ghi", giảng viên mỗi người dạy theo một cách vì chưa có giáotrình chuẩn Đông đảo đội ngũ giảng viên không có cơ hội để được đào tạo vàbồi dưỡng thêm kiến thức nên chưa đáp ứng được những yêu cầu mới củathực tiễn đặt mới Số cán bộ giảng dạy tham gia nghiên cứu khoa học - mộtbiện pháp để nâng cao trình độ còn hạn chế, chính sách ưu đãi để khuyếnkhích giảng viên đi học nâng cao trình độ chưa nhiều Những hạn chế về trình

độ, năng lực sư phạm, những bất cập về chính sách đãi ngộ đối với đội ngũgiảng viên, giảng viên đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo, đếnhọc tập và phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của các sinh viên

Trang 34

đại học.

Một số nhân tố quan trọng có ảnh hưởng lớn tới chất lượng giáo dục vàđào tạo, đó là đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đại học Vì vậy, việc xây dựnglực lượng cán bộ quản lý và chuyên gia vững vàng trong giáo dục, đào tạo làhết sức quan trọng Đội ngũ này phải nắm vững được mục tiêu và quan điểmgiáo dục của Đảng, đồng thời phải quan tâm nghiên cứu về khoa học giáo dụcđại học Tổng kết những kinh nghiệm đã có để có thể làm tốt công việc của mình

* Hệ thống các phương pháp.

Hệ thống các phương pháp trong quá trình dạy - học là một trongnhững yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sinh viên - chủ thể nhận thức tronghọc tập Thực chất của phương pháp giáo dục ở trường đại học là khuyến kích

sự chủ động học tập, nghiên cứu khoa học của người học kết hợp với việcgiảng dạy, hướng dẫn của người dạy Phương pháp phải thể hiện được nguyên

lý giáo dục: Học lý thuyết gắn liền với thực hành, thực tập Đặc biệt cần sớmchấm dứt tình trạng xa rời cuộc sống và đề phòng khuynh hướng "phi chínhtrị" trong các trường, cụ thể như sau:

+ Người giảng viên phải sử dụng một loạt các phương pháp để có thểbồi dưỡng năng lực, định hướng trong hoạt động khoa học và đời sống chosinh viên

Quá trình này không phải đến giai đoạn này mới bắt đầu, mà thực tế đãđược hình thành từ trong các trường phổ thông Chẳng hạn ngay từ khi cònngồi trên ghế nhà trường phổ thông, tùy theo năng khiếu và sở thích của mình

mà mỗi học sinh đã xác định hướng đi và nghề nghiệp cho bản thân bằng cáchlựa chọn ngành nghề và các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyênnghiệp phù hợp với khả năng và sở thích của mình

Tuy đã được định hình một số cách cơ bản từ khi còn là học sinh phổthông Song vẫn là cần thiết khi các trường đại học có nhiệm vụ giúp sinhviên của mình định hướng và xác định lại giúp họ tự tin và quyết tâm học tậphơn nữa để có một cơ sở tốt cho tương lai, nghề nghiệp sau này

Trang 35

+ Phát triển tư duy trừu tượng, tư duy lý luận Lượng kiến thức mà mỗisinh viên cần phải lĩnh hội khi học tập và nghiên cứu tại các trường đại học làrất lớn Vì lẽ đó người giảng viên chỉ có truyền đạt một số lượng kiến thức cơbản nhất, việc còn lại là phải dạy cách học cho sinh viên Bởi có tới 1/3 cáckhái niệm, phạm trù là sinh viên phải tự học để hiểu Do đó, dạy phương phápcho sinh viên các trường đại học chính là rèn luyện tư duy lý luận, tư duy trừutượng, rèn luyện ngôn ngữ để nắm được các thuật ngữ mới, sử dụng để diễnđạt, làm bài kiểm tra, bài thi chuẩn xác và lôgíc.

+ Rèn luyện năng lực vận dụng các tri thức và giải pháp hoạt động trítuệ để nắm được các đối tượng và các quá trình mới Bồi dưỡng năng lực dựbáo khoa học

Đây là một năng lực cần thiết của mỗi sinh viên trong quá trình học tập

và nghiên cứu Từ những tri thức cơ bản và chuyên ngành đã có, sinh viên cóthể dự báo được những tiến bộ của nó trong tương lai và những ứng dụng của

nó trong đời sống xã hội

Trong những năm gần đây ngành giáo dục, đào tạo ở CHDCND Lào đãtích cực đổi mới phương pháp dạy học, nhưng do rất nhiều nguyên nhân vàviệc đổi mới phương pháp còn rất nhiều hạn chế làm cho sinh viên chưa thểchủ động trong học tập và chưa phát huy được tính sáng tạo của mình

1.1.5.3 Môi trường đại học

Về tình hình kinh tế - xã hội, văn hóa giáo dục của Thủ đô Viêng chăn nước CHDCND Lào.

Viêng chăn có tổng diện tích 3.920km2, có 650.000người, nữ chiếm49%, gồm 3 bộ tộc lớn như: Lào Lum 98,70%, Lào Thơng 0,05% và LàoSủng 1,25%, dân số 63% sinh sống trong nội thành Thủ đô, còn 37% sốngngoài thành, tính trung bình dân số là 147 người/ km2 Phía Bắc giáp với tỉnhViêng chăn, phía Đông giáp với tỉnh BoliKhămxay và phía Tây giáp với sông

Mê Kông và tỉnh Nóng Khai vương quốc nước Thái Lan Ngoài ra Thủ đôViêng Chăn còn có thế mạnh về sự phát triển nền kinh tế - xã hội, có tài

Trang 36

nguyên thiên nhiên phong phú, diện tích đất nông nghiệp rộng rãi có tới55.318ha, đất xây dựng 27.440 ha Thủ đô Viêng chăn là trung tâm và là nơilàm việc của các cơ quan, văn phòng trung ương, là trung tâm giáo dục, vănhóa, du lịch, kinh tế - xã hội Người dân Thủ đô Viêng chăn có tình đoàn kếtthống nhất, có tinh thần yêu nước, yêu quê hương có truyền thống đấu tranhdũng cảm, cần cù trong lao động sản xuất Đây là môi trường thuận lợi chosinh viên ĐHQG Lào học tập, rèn luyện, phấn đấu Tuy nhiên cuộc sống nơi

đô thị cũng có mặt trái của nó có thể tác động không tốt tới sinh viên ĐHQGLào với tư cách chủ thể nhận thức trong học tập

Về trường ĐHQG Lào:

Trường ĐHQG Lào trực thuộc Bộ Giáo dục nước CHDCND Lào.Trường đại học được gọi là trung tâm giáo dục, văn hóa, đào tạo nguồn nhânlực về các lĩnh vực chuyên môn, giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dụcđại học, nghiên cứu khoa học, giữ gìn và phát triển những di sản và bản sắcvăn hóa dân tộc và phục vụ chuyên môn cho xã hội Thực hiện Quyết địnhcủa Thủ tướng Chính phủ số 50, ban hành ngày 09/06/1995 về việc thành lậptrường ĐHQG Lào tại Thủ đô Viêng chăn và đã mở khóa học đầu tiên vàongày 05/11/1996, các trường đại học, cao đẳng và các trung tâm hợp thànhnhiệm vụ đào tạo từ cấp cao đẳng, đại học, sau đại học, đào tạo cán bộ có chấtlượng cao về chuyên môn nghiệp vụ

Căn cứ vào Điều lệ của trường ĐHQG Lào theo quy định số 87 củaThủ tướng Chính phủ, ngày 20/06/2000 thì trường ĐHQG Lào có vai trò vànhiệm vụ như:

- Tổ chức thực hiện chương trình đào tạo các cấp (cao đẳng, đại học,thạc sĩ) trong các lĩnh vực về tự nhiên và xã hội

- Giáo dục cho con người theo mục tiêu, rèn luyện tư tưởng chính trị,đạo đức

- Thực hiện phát triển kỹ thuật công nghiệp và nghiên cứu khoa học

- Tổ chức quản lý cán bộ của trường ĐHQG Lào theo pháp luật và

Trang 37

- Đến ngày 20/06/2000 theo Quyết định số 87 của Thủ tướng Chínhphủ, trường ĐHQG Lào đã phát triển và mở thêm, từ 7 khoa trở thành 11 và 1trường cao đẳng kỹ thuật cơ sở Trong năm 2000 gồm có những khoa sau đây:Khoa Khoa học tự nhiên, Khoa Ngôn ngữ, Khoa Giáo dục, Khoa Khoa học xãhội, Khoa Nông lâm, Khoa Nông nghiệp, Khoa Y, Khoa Bách khoa, Khoa Kỹthuật kiến trúc, Khoa Kinh tế và Khoa Luật Nhưng từ năm 2005 cho đến nay

đã có 10 khoa

- Về cơ cấu tổ chức quản lý nhà trường

Để nhằm đảm bảo yêu cầu quản lý và hoạt động của trường đại học cóhiệu quả và phát triển toàn diện; thực hiện theo Quyết định số 557, ngày22/07/1998 của Bộ giáo dục, ĐHQG Lào tiếp tục phát triển tổ chức bộ máytrên cơ sở các phòng ban nghiệp vụ, các khoa và tổ chức bộ môn

Sơ đồ 1.2 Tổ chức quản lý trường ĐHQG Lào hiện nay Hiệu trưởng

Phòng

T i ài chính

Phòng

H nh ài chính

Phòng Quản lý

t i s ài ản

Phòng Quan hệ quốc tế

Các khoa v Trung tâmài

Trang 38

A Các đơn vị trục thuộc Ban giám hiệu của trường gồm có 8 phòng

3 Khoa Khoa tự nhiên

4 Khoa Khoa học xã hội

5 Khoa Bách khoa

6 Khoa Kỹ thuật kiến trúc

7 Khoa Lâm nghiệp

8 Khoa Nông nghiệp

9 Khoa Quản lý kinh tế

10 Khoa Luật

C Trung tâm và một số trường năng khiếu

1 Trung tâm Giáo dục dân số (PSC)

2 Trung tâm Đào tạo nguồn nhân lực Lào - Nhật bản (LJC)

Trang 39

3 Trung tâm Giáo dục từ xa.

4 Trung tâm Nghiên cứu châu Á

5 Trung tâm Công nghệ thông tin (ITC)

6 Trung tâm Giáo dục môi trường và sự phát triển (CEDS)

7 Thư viện trung tâm

8 Trường Năng khiếu

D Các trường thực hành sư phạm (Trực thuộc khoa giáo dục)

- Trường mầm non

- Trường tiểu học

- Trường tiểu học cơ sở

- Trường tiểu học phổ thông

Có thể nói, môi trường ĐHQG Lào khá thuận lợi cho sinh viên pháthuy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của mình trong học tập, nghiên cứu,rèn luyện Bởi lẽ, mặc dù đội ngũ giáo viên còn những hạn chế nhất địnhnhưng ở ĐHQG Lào đã tập trung được lực lượng đông đảo các thầy - cô giáo

có trình độ, có phẩm chất đạo đức, yêu nghề Ngoài ra ĐHQG Lào còn cónhững cơ sở vật chất kỹ thuật như thư viện, giảng đường, ký túc xã,v.v khátốt ( so với điều kiện Lào và các trường đại học khác)

Ngoài những yếu tố trên thì hoàn cảnh kinh tế - xã hội, đời sống của giađình sinh viên cũng như phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập,v.v đều trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến sinh viên ĐHQG Lào - chủ thểnhận thức trong học tập

1.2 PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ NHẬN THỨC TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC- YÊU CẦU TẤT YẾU CỦA SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

1.2.1 Đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa với đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực từ sinh viên đại học nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào

Trang 40

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, ĐảngNhân dân cách mạng Lào đã khẳng định thế kỷ XX là thế kỷ khoa học côngnghệ tiến nhanh chưa từng thấy giá trị sản xuất vật chất tăng hàng chục lần sovới thế kỷ trước Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi Khoa học vàcông nghệ sẽ có bước nhảy vọt Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổibật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Từ Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VII Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã chỉ ra rằng để đưanước Lào ra khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu cần phải đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Một trong những tiền đề quan trọng bậc nhất để hoàn thành sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là phải nâng cao dân trí và phát triểnnguồn nhân lực có chất lượng ở mọi trình độ từ công nhân đến cán bộ kỹthuật có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học Các nước trên thế giới, kể

cả các nước phát triển và đang phát triển đều coi giáo dục đào tạo là nhân tốquyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia "Tương lai củacon người hoàn toàn phụ thuộc vào giáo dục" (A Toffler) "Trong trật tự kinh

tế mới, đất nước nào đầu tư nhiều nhất cho giáo dục, nước đó có sức cạnhtranh mạnh nhất" (nhóm Megatrend) Năm 1992, UNESCO cũng chỉ rõ:

"Không có một sự tiến bộ và thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ vàthành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó Và những quốc gia nào coinhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết để làm giáo dụcmột cách có hiệu quả thì số phận của quốc gia đó xem như đã an bài và điều

đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản"

Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đang chuyển từ một xã hộinông nghiệp truyền thống sang xã hội công nghiệp hiện đại, từ nền kinh tế kếhoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa Vì vậy, nguồn lực phát triển được coi trọng, đặc biệt là nguồn lực

Ngày đăng: 04/03/2022, 00:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Như An (1989), Tình hình nghiên cứu và sử dụng phương pháp dạy học đại học, Nxb Đại học sư phạm I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Như An (1989), "Tình hình nghiên cứu và sử dụng phương phápdạy học đại học
Tác giả: Nguyễn Như An
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm I Hà Nội
Năm: 1989
2. Lê Khánh Bằng (1994), Phương pháp giảng dạy đại học, tài liệu dùng cho giảng viên đại học và cao học, Hà Nội , Nxb Đại học sư phạm I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Khánh Bằng (1994), "Phương pháp giảng dạy đại học, tài liệu dùng chogiảng viên đại học và cao học
Tác giả: Lê Khánh Bằng
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm I HàNội
Năm: 1994
3. Lê Khánh Bằng và tập thể tác giả (1980), Lý luận dạy đại học, tập 1, Nxb Đại học sư phạm I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Khánh Bằng và tập thể tác giả (1980), "Lý luận dạy đại học
Tác giả: Lê Khánh Bằng và tập thể tác giả
Nhà XB: NxbĐại học sư phạm I Hà Nội
Năm: 1980
4. Lê Khánh Bằng và tập thể tác giả (1981), Lý luận dạy đại học, tập 2, Nxb Đại học sư phạm I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Khánh Bằng và tập thể tác giả (1981), "Lý luận dạy đại học
Tác giả: Lê Khánh Bằng và tập thể tác giả
Nhà XB: NxbĐại học sư phạm I Hà Nội
Năm: 1981
5. Lê Khánh Bằng và tập thể tác giả (1988), Lý luận dạy đại học, tập 3, Nxb Đại học sư phạm I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Khánh Bằng và tập thể tác giả (1988), "Lý luận dạy đại học
Tác giả: Lê Khánh Bằng và tập thể tác giả
Nhà XB: NxbĐại học sư phạm I Hà Nội
Năm: 1988
6. Béc-cơli "Ba cuộc nói chuyện...." tr. 102 và 84. Trích theo Lịch sử triết học, triết học thời kỳ tiền tư bản chủ nghĩa, Nxb Hà Nội, 1960, tr.247, 248 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba cuộc nói chuyện
Nhà XB: Nxb Hà Nội
7. Bộ Giáo dục (2001), Chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người đến năm 2020, Nxb Giáo dục, Viêng Chăn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục (2001), "Chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người đếnnăm 2020
Tác giả: Bộ Giáo dục
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
8. Bộ Giáo dục (2007), Chiến lược và dự án để phát triển việc giáo dục từ năm 2010 - 2020, Nxb giáo dục, Viêng Chăn.ກະຊວງສຶກສາ (2007), ຍຸດທະສາດ ແລະ ໂຄງການເພື່ອພັດທະນາວຽກງານການສຶກສາແຕ່ປີ 2010 - 2020, ໂຮງພິມສຶກສາ , ນະຄອນຫລວງວຽງຈັນ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục (2007), "Chiến lược và dự án để phát triển việc giáo dục từnăm 2010 - 2020", Nxb giáo dục, Viêng Chăn. ກະຊວງສຶກສາ "(2007), "ຍຸດທະສາດ ແລະ ໂຄງການເພື່ອພັດທະນາວຽກງານການສຶກສາແຕ່ປີ "2010 - 2020
Tác giả: Bộ Giáo dục (2007), Chiến lược và dự án để phát triển việc giáo dục từ năm 2010 - 2020, Nxb giáo dục, Viêng Chăn.ກະຊວງສຶກສາ
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 2007
9. Bộ Giáo dục Lào (2005), Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ VI của Đảng bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục Lào (2005)
Tác giả: Bộ Giáo dục Lào
Năm: 2005
10. Nguyễn Hữu Cát (1998), "Suy nghĩ về phương pháp giảng dạy hiện đại", Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, (5), tr. 16 - 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ về phương pháp giảng dạy hiện đại
Tác giả: Nguyễn Hữu Cát
Năm: 1998
11. Nguyễn Cương (1998), Góp phần tìm hiểu một số quy luật trong giáo dục đại học, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Cương (1998), "Góp phần tìm hiểu một số quy luật trong giáo dụcđại học
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1998
12. Phạm Khắc Chương (1997), "Cái khó đối với dạy thật tốt, học thật tốt trong nhà trường đại học hiện nay", Đại học và giáo dục chuyên nghiệp (9), tr. 12 - 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái khó đối với dạy thật tốt, học thật tốttrong nhà trường đại học hiện nay
Tác giả: Phạm Khắc Chương
Năm: 1997
13. Doãn Chính (1994), Lịch sử triết học phương Đông, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doãn Chính (1994), "Lịch sử triết học phương Đông
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1994
14. Đoàn Minh Duệ (1977), "Bàn thêm về vấn đề định hướng xã hội chủ nghĩa cho sinh viên", Đại học giáo dục và chuyên nghiệp (9), tr. 28 - 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về vấn đề định hướng xã hội chủnghĩa cho sinh viên
Tác giả: Đoàn Minh Duệ
Năm: 1977
15. Trần Thị Anh Đào (1999), "Góp phần đổi mới và nâng cao hiệu quả giáo dục lý luận trong sinh viên", Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, tr. 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần đổi mới và nâng cao hiệu quả giáodục lý luận trong sinh viên
Tác giả: Trần Thị Anh Đào
Năm: 1999
16. Đỗ Ngọc Đạt (1998), Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Ngọc Đạt (1998), "Tiếp cận hiện đại hoạt động dạy học
Tác giả: Đỗ Ngọc Đạt
Nhà XB: Nxb Đại họcquốc gia Hà Nội
Năm: 1998
17. Đảng bộ Trường ĐHQG Lào, Báo cáo chính trị của Đảng ủy tại Đại hội lần thứ II của Đảng bộ.ຄະນະພັກມະຫາວິທະຍາໄລແຫ່ງຊາດ , ບົດລາຍງານການເມືອງຂອງຄະນະ ພັກຕໍ່ກອງປະຊຸມໃຫຍ່ຄັ້ງທີ II ຂອງອົງຄະນະພັກ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ Trường ĐHQG Lào, "Báo cáo chính trị của Đảng ủy tại Đại hộilần thứ II của Đảng bộ".ຄະນະພັກມະຫາວິທະຍາໄລແຫ່ງຊາດ, ບົດລາຍງານການເມືອງຂອງຄະນະ ພັກຕໍ່ກອງປະຊຸມໃຫຍ່ຄັ້ງທີ "II
18. Đảng bộ Trường ĐHQG Lào, Bài tổng kết, đánh giá từ năm 2003 -2008...ຄະນະພັກມະຫາວິທະຍາໄລແຫ່ງຊາດ , ບົດສະຫລຸບຕີລາຄາປີ 2003 – 2008… Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ Trường ĐHQG Lào, "Bài tổng kết, đánh giá từ năm 2003 -2008..."ຄະນະພັກມະຫາວິທະຍາໄລແຫ່ງຊາດ, ບົດສະຫລຸບຕີລາຄາປີ
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1979), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Khóa IV, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1979), "Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 BanChấp hành Trung ương Khóa IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1979
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1989), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Khóa VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam (1989), "Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 BanChấp hành Trung ương Khóa VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1989

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w