1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một số biện pháp giúp học sinh yếu vươn lên trong học tập môn toán ở lớp 2 năm học 2022 2023

33 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Yếu Vươn Lên Trong Học Tập Môn Toán Ở Lớp 2 Năm Học 2022 - 2023
Trường học Trường Tiểu học Phú Thọ 1
Chuyên ngành Toán
Thể loại sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2022 - 2023
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vậy phải làm thế nào để tất cả học sinh trong lớp đềutích cực học tập, tự giác tiếp thu bài, nắm chắc kiến thức một cách hệ thống,phát huy tốt khả năng của các loại đối tượng học sinh tr

Trang 1

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Chúng ta đang ở thế kỷ 21, thế kỉ của khoa học công nghệ hiện đại Vì vậyđòi hỏi con người phải có tri thức mới đáp ứng kịp thời những đòi hỏi ngày càngphát triển cao của đất nước nhằm công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà Đểphù hợp và đáp ứng với sự đi lên của khoa học và công nghệ, hơn bao giờ hếtchúng ta cần đào tạo thế hệ tương lai của đất nước phải thực sự là những conngười có đủ đức - đủ tài và khả năng tham gia vào nền công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước Để có được những con người toàn diện đó thì ngành giáo dục ViệtNam nói chung và giáo dục Tiểu học nói riêng có nhiệm vụ cực kì quan trọng

Vì trong hệ thống giáo dục quốc dân thì giáo dục Tiểu học là nền móng đầu tiên,móng vững chắc là cơ sở ban đầu đảm bảo cho việc xây dựng ngôi nhà tri thức Lứa tuổi Tiểu học là cấp học đầu tiên có vai trò quyết định trong việc pháttriển nhân cách toàn diện Thông qua các môn học ở Tiểu học, đặc biệt là môntoán, theo tâm lý lứa tuổi mà phát triển các năng lực trí tuệ, rèn các thao tác tưduy, các kĩ năng, kĩ xảo ban đầu tạo cho việc học tập các kiến thức khoa học có

hệ thống

Vì vậy môn toán là môn học không thể thiếu trong các môn học ở Tiểu học.Đây là môn học được coi là khó đối với lứa tuổi các em Môn học này yêu cầuhọc sinh phải hiểu được cách tính các dạng toán từ đơn giản đến phức tạp, các

em phải tư duy nhiều hơn, tự tìm ra cách giải của bài

Đối với học sinh Tiểu học nói chung, Đặc biệt là học sinh lớp 1, lớp 2, phạm

vi giao tiếp còn hạn hẹp, vốn từ ngữ, vốn sống còn quá ít thì mỗi bài học, mỗitiết học đối với các em còn rất mới lạ Chương trình toán lớp 2 là một bộ phậncủa chương trình toán Tiểu học và là sự tiếp tục của chương trình toán lớp1.Khối lượng kiến thức ở chương trình mới đòi hỏi học sinh tiếp thu ở mức caohơn nhiều so với chương trình cũ Cụ thể ở chương trình mới yêu cầu học sinhcộng trừ ( có nhớ ) trong phạm vi 100, không nhớ trong phạm vi 1000, học bảngnhân, bảng chia 2,3,4,5

Trang 2

Thực tế dạy học môn toán ở trường về phía giáo viên trực tiếp giảngdạy rất nhiệt tình nhưng có thể nói mỗi bài dạy toán là một hệ thống mở nhằmphát huy tối đa khả năng sáng tạo nghệ thuật sư phạm của mỗi giáo viên trongtừng giờ dạy Giáo viên học hỏi nghiên cứu tài liệu nhiều nhưng hiệu quả giờdạy chưa cao Bên cạnh đó nhiều học sinh chưa ý thức được việc học là cầnthiết, còn lơ là chưa chủ động học tập, do vậy không tiếp thu được lượng kiếnthức thầy cô truyền đạt, kể cả kiến thức đơn giản nhất, gây rất nhiều khó khăncho việc học lên lớp trên Vậy phải làm thế nào để tất cả học sinh trong lớp đềutích cực học tập, tự giác tiếp thu bài, nắm chắc kiến thức một cách hệ thống,phát huy tốt khả năng của các loại đối tượng học sinh trong lớp nhất là đối vớihọc sinh yếu Tôi muốn trao đổi với đồng nghiệp biện pháp khắc phục rèn họcsinh yếu trong môn toán, đáp ứng yêu cầu dạy theo chuẩn kiến thức kĩ năng vàthực hiện nghiêm túc các cuộc vận động 2 không với 4 nội dung của ngành đề ra.Qua nhiều năm nghiên cứu tìm tòi tôi áp dụng nhiều hình thức tổ chức trong giờhọc Đưa ra nhiều việc làm cụ thể thiết thực phối hợp cùng gia đình nhà trường

và xã hội để giáo dục các em học sinh yếu môn toán Vì thế tôi chọn đề tài:“ Một số biện pháp giúp học sinh yếu vươn lên trong học tập môn Toán ở lớp 2”.

II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

1 Đối tượng nghiên cứu: Học sinh yếu lớp 2 trường Tiểu học Phú Thọ 1

2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chương trình Toán

III: MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Tìm ra biện pháp dạy học tối ưu giúp học sinh học yếu học tốt môn toán

IV: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi đã sử dụng các phươngpháp sau đây:

- Phương pháp lí luận: Đọc tài liệu, sách tham khảo

- Phương pháp toạ đàm trao đổi (đối thoại)

- Phương pháp điều tra

Trang 3

- Phương pháp thống kê, đối chiếu.

- Phương pháp thực nghiệm: trực tiếp giảng dạy lớp 2

- Phương pháp tổng kết, đánh giá đúc rút kinh nghiệm

V THỰC TRẠNG:

Học sinh tôi đang dạy ở lóp 2/2 của Trường Tiểu học Phú Thọ 1 một trường

vùng ven thị xã nên đối tượng học sinh đều là con công nhân, con của nhữngngười nhập cư (tạm trú) nay đây mai đó nên họ không có thời gian lo cho concái học hành Vì phải lo toan cho miếng cơm manh áo hằng ngày Nên họ đã phómặc chuyện học hành của con cái mình cho cô giáo chủ nhiệm Chính vì thế làgiáo viên chủ nhiệm tôi luôn trăn trở dạy học làm sao cho các em mọi để hiểu

bài kể cả những em học sinh yếu cũng tiếp thu được nên tôi đã chọn đề tài: Một

số biện pháp giúp học sinh yếu vươn lên trong học tập mônToán ở lớp 2”.

PHẦN 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Điều tra thực trạng:

Việc dạy học trong nhà trường hiện nay đã có nhiều khởi sắc, điều kiện cơ

sở vật chất và thiết bị dạy học đã được trang bị tốt hơn, đội ngũ giáo viên chuẩnhoá cao Đặc biệt phong trào đổi mới phương pháp dạy học được đẩy mạnh, đa

số giáo viên có sáng tạo, biết lựa chọn phương pháp phù hợp phát huy tính tíchcực của học sinh Song trong thực tế chất lượng trong môn Toán Một số em tínhtoán còn chậm, phụ thuộc vào đếm đốt ngón tay; khi giải toán có lời văn: câu trảlời chưa đúng, phép tính làm sai ; nhất là những bài toán về cộng trừ có nhớtrong phạm vị 100 Trong giờ học toán các em này dường như không thấy phátbiểu ý kiến xây dựng bài, các em chưa hiểu và chưa thực sự chủ động học tậpdẫn đến kết quả học tập chưa đạt yêu cầu Xuất phát từ thực trạng trên tôi đã tiếnhành khảo sát chất lượng 2/1 và 2/2 Với bài cụ thể như sau

Đề bài: Toán 2 (Thời gian 40 phút)

Câu1: (1 điểm) Số

79, … ; 81; … ; … ; 86; …… ; 88; …… 90

Trang 4

Qua đề khảo sát chất lượng, tôi thu đựoc kết quả như sau: kh o sát ch t lảo sát chất lượng, tôi thu đựoc kết quả như sau: ất lượng, tôi thu đựoc kết quả như sau: ượng, tôi thu đựoc kết quả như sau:ng, tôi thu đựoc kết quả như sau:oc k t qu nh sau:ết quả như sau: ảo sát chất lượng, tôi thu đựoc kết quả như sau: ư

Xuất phát từ thực trạng trên việc nghiên cứu rèn học sinh yếu trong dạy

Toán 2 là một việc làm cần thiết nhằm nâng cao chất lượng giờ học toán.

Từ kết quả khảo sát trên tôi đã biết được em nào yếu Toán thì tôi chú ýnhiều hơn đến em đó Đó là: Nghĩa, Trung, Minh, Nhi

II Biện pháp thực hiện:

Trang 5

Việc dạy học toán cho học sinh Tiểu học ngay từ lớp đầu cấp là một vấn đềrất khó Các em bước đầu làm quen với việc học số và chữ số, biết làm các phéptính cộng, trừ trong phạm vi 100, giải toán đơn, và một số loại toán khác Đểgiúp các em nắm chắc kiến thức một cách có hệ thống, đặc biệt là học sinh yếukém trong quá trình giảng dạy tôi đã kết hợp sử dụng nhiều phương pháp phùhợp với nội dung từng bài, phù hợp với từng đối tượng học sinh như sau:

1 Sử dụng đồ dùng trực quan vào dạy bài mới với học sinh yêú kém:

Để giúp học sinh cả lớp hiểu bài Không những giáo viên cần phải hiểuđươc đặc điểm tâm sinh lí từng em học sinh lớp mình mà còn phải biết vận dụngphương pháp phù hợp với nội dung của từng bài Qua thực tế giảng dạy ở lớp 2,tôi nhận thấy các em nhận thức tốt từ “ Trực quan sinh động đến tư duy trừutượng” Các em hiểu được bài từ cái cụ thể gần gũi với cuộc sống hàng ngày Dovậy khi dạy bài mới cho học sinh tôi thấy cần có đồ dùng trực quan giúp các emhiểu bài nhanh, nhớ lâu và gây hứng thú học tập cho các em Đặc biệt là đối vớihọc sinh yếu kém thì việc dạy bằng đồ dùng trực quan ở bài mới là không thểthiếu Các dạng bài tôi dạy bằng que tính thì bài này tôi đổi sử dụng bằng ôvuông

Chẳng hạn khi dạy bài: 8 cộng với một số ( trang 15)

Bước 1: GV nêu bài toán: Có 8 ô vuông (gài 8 ô vuông lên bảng đồng thời chocác em lấy ô vuông để trên bàn) thêm 5 ô vuông nữa (đính 5 ô vuông ở dưới 9 ôvuông) Hỏi có tất cả bao nhiêu ô vuông?

Trang 6

- 8 ô vuông gộp với mấy ô vuông để được 10 ô vuông: ( 1 chục ô vuông)

- 1chục ô vuông gộp với 3 ô vuông còn lại được bao nhiêu ô vuông (13 ô vuông)Vậy: 8+ 5 = 13

Với học sinh yếu ở bước 2 này tương đối khó tôi hướng dẫn các em đếm 8 ôvuông với 5 ô vuông để được 13 ô vuông Sau đó tôi hướng dẫn các em làmchậm như trên để các em tự nhận biết thông qua các thao tác với ô vuông

Khi hình thành bảng 8 cộng với một số: Giáo viên gài 8 ô vuông và 2 ôvuông hỏi tương tự như trên, học sinh nhận ra ngay cách làm và thực hiện bằng

ô vuông của mình để tìm ra kết quả

Những học sinh yếu tôi có thể cho học sinh hình thành như sau: Chẳng hạn vớiphép tính 8 + 3, học sinh lấy 8 ô vuông, các em đếm tiếp 8 ô vuông với 2 ôvuông là 10 ô vuông, 10 ô vuông thêm 1 ô vuông là 11 ô vuông Sau đó yêu cầu

Trang 7

các em nói kết quả: 8 + 3 = 11, với các phép tính khác tôi hướng dẫn các emtương tự Đếm xog rồi tôi hướng dẫn các em đổi 10 ô vuông thành 1 chục ôvuông với 3 ô vuông rời là 13 ô vuông.

- Cho học sinh đọc bảng 8 cộng với một số

- Luyện đọc bằng cách giáo viên xoá một vài số hạng thứ hai và một vài kết quả.Học sinh tự điền và luyện đọc thuộc bảng cộng

* Lưu ý học sinh tránh học vẹt bằng cách giáo viên chỉ cho học sinh đọc không theo thứ tự.

Qua sử dụng đồ dùng vào việc thành lập bảng 8 cộng với một số, các em đềunắm chắc cách thực hiện phép cộng đúng Đây là một trong những kiến thức sơđẳng, đơn giản nhưng rất quan trọng Nó là bước để các em học các bảng cộngtiếp theo như bảng 7 cộng với một số, bảng cộng 6 với một số và xuyên suốttrong quá trình học các phép cộng có nhớ trong phạm vi 100.( 49 + 5; 49 + 25;

28 + 5; 38 + 25 ; …… ) Mặt khác trong quá trình giảng dạy sử dụng đồ dùngcũng phải được đưa ra đúng lúc, đúng thời gian, phù hợp với nội dung bài dạy.Câu hỏi đặt ra phải ngắn gọn, chính xác, có hệ thống để giúp học sinh độc lậpsuy nghĩ và tự chiếm lĩnh tri thức mới

Ví dụ: Khi dạy bài kilôgam (trang 32)

Trang 8

Đây là bài dạy hình thành và phát triển cho học sinh các biểu tượng về đạilượng, cụ thể là đơn vị kilôgam Đây là một bài khó đối với học sinh, nhất là họcsinh yếu Để học sinh hiểu được biểu tượng về đơn vị kilôgam Tôi tăng cườngcho học sinh thực hành Sau khi giới thiệu vật “ nặng hơn” , vật” nhẹ hơn”, quahoạt động so sánh học sinh dần dần có biểu tượng về đại lượng (khối lượng).Giáo viên giới thiệu cái cân đĩa thật (loại cân có hai đĩa hai bên và kim thăngbằng ở giữa) và hướng dẫn học sinh sử dụng cách cân với cân đĩa: Khi đặt cácvật lên hai đĩa cân, nêu mũi tên chỉ sang đĩa cân nào thi đĩa cân đó có vật nặnghơn Nhưng khi thực hành tôi sẽ cho học sinh thực hành cân trên cân đồng hồ vìhiện nay các em chỉ còn thấy cân đồng hồ, cân bàn, cân xách tay chứ không biếtcân đĩa nên sẽ rất khó.

Giáo viên cho một số em lần lượt đặt quyển vở lên một đĩa cân, quyển sáchlên đĩa cân, quan sát kim của cân quay ở mặt cân rồi cho học sinh nhận xét: “Quyển sách nặng hơn quyển vở hoặc quyển vở nhẹ hơn quyển sách.”(khi cân vậtnào nặng hơn kim sẽ quay về phía dưới.)

- Giáo viên có thể cho học sinh so sánh sự nặng hơn, nhẹ hơn của một số vậtsau khi cân xong

- Giáo viên cho học sinh quan sát khi cân quyển sách kim sẽ quay theo chiềukim đồng hồ, kim dừng lại vạch chỉ số trên cân sẽ biết quyển sách nặng baonhiêu.Quyển sách nhẹ hơn 1 kg hay 1 kg nặng hơn quyển sách

- Giáo viên cho học sinh đặt lên đĩa cân một túi đường( nặng 1kg)cân sẽ quayvào số 1 thì các em biết ngay gói đường đó nặng 1kg

Trang 9

Học sinh thực hành cân

Với học sinh yếu tôi cho các em trực tiếp tham gia thực hành và nhận xét

để các em có biểu tượng ban đầu về kilôgam(kg) Giờ dạy diễn ra với nhiều hoạtđộng khác nhau nhằm hình thành và phát triển ở học sinh biểu tượng về đơn vị

Trang 10

kilôgam Ngoài ra tôi còn hướng dẫn cho các em cân sức khỏe của bản thânmình rồi tự xem cân xem mình nặng bao nhiêu kg.

Học sinh thực hành cân

Với bài dạy sử dụng đồ dùng trực quan như trên, tôi thấy tất cả các đốitượng học sinh trong lớp đều hiểu bài, lớp học sôi nổi Song để giúp học sinhyếu nhớ bài lâu, biết vận dụng kiến thức ở bài mới vào thực hành thành thạo,điều không thể thiếu là củng cố qua các bài luyện tập

2 Rèn học sinh yếu kém qua bài luyện tập:

Qua thực tế giảng dạy ở lớp 2, tôi thấy các em nhanh nhớ lại nhanh quênnhất là học sinh yếu Do đó việc học tập của các em phải được rèn luyện thườngxuyên liên tục qua các tiết luyện tập Đặc biệt với học sinh yếu kém cần được sựđộng viên quan tâm giúp đỡ nhiều của thầy cô giáo, bạn bè, giúp các em lựachọn tìm ra cách giải các bài một cách ngắn gọn Dễ hiểu nhất, phù hợp vớinhận thức của các em nhưng vẫn đảm bảo được kiến thức cơ bản trong tâm củabài

Ví dụ: Khi dạy Bài: Luyện tập (trang 70)

Bài 1: Tính nhẩm

Trang 11

Bước 2: Với học sinh yếu giáo viên phải gợi lại cho học sinh các bảng trừ đãhọc, cách trừ Nếu học sinh vẫn chưa thực hiện được, giáo viên có thể cho họcsinh dùng que tính để thực hiện Chẳng hạn như phép tính 12 – 3 học sinh xếp

12 que tính: lấy đi 2 que, lấy tiếp 1 que tính nữa ( 2 + 1= 3) Giáo viên hỏi họcsinh : “ Có 12 que tính , lấy đi 3 que tính , còn lại mấy que tính? “ Học sinh sẽtrả lời được: “ 12 que tính lấy đi 3 que tính còn lại 9 que tính “ Để học sinh yếu

có thể tính nhẩm được thi giáo viên phải thường xuyên kiểm tra việc học thuộccác bảng cộng, trừ Bài tính nhẩm là tiền đề cho ba bài còn lại, nếu là thành thạobài này các em có thể dễ dàng làm được bài tiếp theo dưới hình thức khác

Trang 12

làm của học sinh, giáo viên viết lên bảng: 72 – 34 ( theo cột dọc), số 3 hàngchục được viết bằng phần màu để các em nhận rằng cần nhớ vào số đó Sau đóhọc sinh yếu nêu miệng cách làm: “ 2 không trừ được 4, ta lấy 12 trừ 4 bằng 8,viết 8 nhớ 1 3 thêm 1 bằng 4 7 trừ 4 bằng 3 viết 3.”

Học sinh dưới lớp nhận xét bổ sung dưới sự hướng dẫn của giáo viên Nhưvậy khi học thực hành làm vào vở, các em đều đặt tính và thực hiện chính xác Qua nhiều năm giảng dạy ở lớp 2 tôi nhận thấy dạng bài tìm tìm số bị trừ và

số trừ là các em hay mắc nhất, đặc biệt là học sinh yếu Để khắc phục tình trạng

này, tôi đã chủ động dạy tốt bài” Số bị trừ, số trừ, hiệu” để các em nắm được tên

gọi thành phần, kết quả phép trừ Trong các bài tập tôi luôn ôn lại cho học sinhcác tên gọi thành phần, kết quả phép trừ để các em không nhầm lẫn giữa số bịtrừ và số trừ Đồng thời giúp các em nắm tốt các phương pháp tìm số trừ và số bịtrừ Khi các em làm sai tôi cho các em tự nhận ra lỗi sai bằng cách nêu tên gọithành phần, kết quả phép trừ, xác định cần phải làm gì? ( Số bị trừ hay số trừ) đểhọc sinh ôn lại cách làm và thức hiện lại cho đúng Do vậy đối với các em họcsinh, nhất là học sinh yếu, việc làm bài tập để củng cố và ôn lại kiến thức là cầnthiết

3 Tổ chức cho học sinh yếu , kém học nhóm:

Việc rèn học sinh yếu kém phải tổ chức nhiều hình thức phong phú khácnhau, giáo viên luôn chú ý hoà đồng học sinh cả lớp, luôn động viên, khích lệkịp thời tránh để các em mặc cảm về mình, không mạnh dạn trước đông người,không dám thể hiện mình trước các bạn Do vậy cần tổ chức cho các em học tậptheo nhóm Sắp xếp nhóm có cả học sinh khá, giỏi giúp học sinh luôn có ý thứcthi đua phần đấu học như bạn luôn lấy gương học tập của các bạn để noi theo

Ví dụ: Khi dạy bài” Luyện tập” ( trang 37)

Bài 3: S ? ố ?

1016

Trang 13

Giáo viên chia lớp làm nhóm 4, yêu cầu trong nhóm tự tìm ra cách làmtrong thời gian nhất định, nếu bạn chưa tìm ra cách làm thì nhóm sẽ giúp đỡ.Sau khi học sinh hoạt động nhóm xong giáo viên cho học sinh nhận xét mẫu, tựnói cách làm Yêu cầu các nhóm lên bảng điền kết quả, giáo viên động viên các

em học sinh yếu tham gia vào điền kết quả ở những phép cộng đơn giản, vừasức Qua hoạt động nhóm, tôi nhận thấy các em đều hứng thú học tập, cố gắnghết mình không để nhóm mình là nhóm làm sai Do đó bài tập các em làm nhanh

và đạt kết quả cao Với việc rèn học sinh yếu qua học nhóm có thể đưa ra nhiềudạng bài tập khác nhau và nâng dần ở mức độ bài tập từ đơn giản đến phức tạpgiúp học sinh nắm chắc bài có hệ thống hơn

Tổ chức đôi bạn giúp nhau học tập ở lớp cũng như ở nhà Ở lớp vào những giờ ra chơi các em khá giỏi kiểm tra các bảng cộng, trừ, nhân, chia giảng cho bạn những bài bạn chưa hiểu Ở nhà các bạn gần nhau có thể đến nhà nhau cùng học tập giúp nhau cùng tiến bộ

4 Tổ chức trò chơi cho học sinh yếu trong từng tiết học toán:

Với học sinh Tiểu học, tâm lí lứa tuổi các em học mà chơi, chơi mà học.Chơi là nhu cầu cần thiết đối với các em Được chơi các em sẽ tham gia hết sức

Trang 14

tự giác và chủ động Khi chơi các em biểu lộ tình cảm rất rõ ràng như niềm vuikhi thắng lợi, buồn bã khi thất bại Vì tập thể mà các em khắc phục khó khăn,phấn đấu hết khả năng để mang lại thắng lợi cho tổ, nhóm trong đó có mình.Đây chính là đặc tính thi đua rất cao của các trò chơi.

Trò chơi học tập làm thay đổi hình thức hoạt động của học sinh, giúp học sinhtiếp thu kiến thức một cách tự giác tích cực, khích lệ học sinh, giúp học sinhmạnh dạn hơn Do vậy trong quá trình dạy cần tổ chức trò chơi cho học sinh đểtất cả các em cùng được tham gia một cách vui vẻ, thoải mái trong tiết học

Ví dụ: Dạy bài “ Bảng chia 4” ( tiết 118) nhằm củng cố phép chia trong bảng

chia 4

Trò chơi: Có tên là “ Cùng leo dốc”

Hai bảng phụ ghi nội dung sau:

Trang 15

Qua trò chơi học sinh luôn hứng thú học tập, luôn có sự cố gắng thi đuavươn lên, tiết học nhẹ nhàng mà đạt hiệu quả cao Ngoài ra trong quá trình giảngdạy có thể thay đổi tên trò chơi khác nhau như: “ Ai nhanh, ai đúng, truyền điện,que tính thông minh, ai nhiều điểm nhất, tìm lá cho hoa,….” Giúp học sinh nhớlâu, hiểu sâu kiến thức đã được học, nâng cao dần nhận thức.

Ví dụ: Dạy bài 1 tiết luyện tập trang 39

6 + 5 = 6 + 6 = 6 + 7 = 6 + 8 =

5 + 6 = 6 + 10 = 7 + 6 = 6 + 9 =

8 + 6 = 9 + 6 = 6 + 4 = 4 + 6 = Tôi đặt tên cho trò chơi là: “ Ai nhanh, ai đúng”, và yêu cầu chơi như sau:

Tôi yêu cầu các em chuẩn bị lấy các số trong bộ đồ dùng toán lớp 2:

0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 Sau đó cho các em biết thể lệ cuộc chơi:

1 Khi cô giáo đọc dến phép tính nào các em sẽ tìm kết quả của phép tính đó

2 Dùng số trong bộ đồ dùng để báo cáo kết quả của phép tính Nếu kết quả là

số có hai chữ số phải chọn hai chữ số ghép lại

3 Ai chọn nhanh, đúng giơ lên đầu tiên bạn đó sẽ thắng cuộc chơi

* Chú ý khi chơi kết quả phải đúng không lộn số, không giơ ngược

Ví dụ: 6 + 5 = 11 6 + 6 = 12

Trang 16

Chọn hai số 1 ghép lại giơ lên nhanh, hoặc số 1 và số 2 ghép lại số 1 đứng trước

5 Tổ chức kèm học sinh yếu tại nhà

Trên lớp học thời gian kèm cho các em không nhiều vì giáo viên cũng cần quantâm đến nhiều đối tượng học sinh vì thế các ngày thứ hai, tư, sáu sau giờ họctrên lớp các em lại đến nhà tôi để tôi phụ đạo thêm Để công tác phụ đạo manglại kết quả người giáo viên cần phải kiên trì có tấm lòng yêu nghề mến trẻ coihọc sinh như con mình mà tận tâm, tận lực, gần gũi, giúp đỡ động viên các em

Ngày đăng: 04/03/2022, 00:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w