1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO NHÓM MÔN KINH TẾ VĨ MÔ Chuyên đề Tăng trưởng kinh tế và cơ cấu GDP của Việt Nam giai đoạn 2018– 2020

38 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO NHÓM MÔN KINH TẾ VĨ MÔ Chuyên đề Tăng trưởng kinh tế và cơ cấu GDP của Việt Nam giai đoạn 2018– 2020 Trong thời kỳ hội nhập kinh tế và phát triển đất nước, Việt Nam tích cực mở rộng quan hệ sản xuất đồng thời hội nhập sâu rộng với nhiều khu vực trên toàn thế giới với mục đích đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế. Trải qua nhiều khó khăn trong những năm vừa qua, điển hình là lạm phát toàn cầu trong những tháng đầu của năm 2018 do giá dầu bình quân tăng mạnh và sự tăng trưởng chậm hơn dự báo của thương mại toàn cầu do ảnh hưởng từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đã tác động tiêu cực đến tổng sản phẩm trong nước (GDP)- chỉ tiêu đánh giá sự tăng trưởng của nền kinh tế của Việt Nam và các quốc gia khác. Bên cạnh đó, nền kinh tế thế giới đã và đang phải đối mặt với những thách thức vô cùng to lớn và được dự báo suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử, tăng trưởng của các nền kinh tế lớn đều giảm sâu do ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh Covid-19 trong những năm gần đây.Trong thời điểm hiện tại, việc tìm hiểu và nghiên cứu về sự tăng trưởng của một quốc gia là vô cùng quan trọng và cần thiết. Hiểu được vấn đề đó, nhóm đã chọn đề tài “TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THẾ VÀ CƠ CẤU GDP CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2018-2020” để phân tích và từ đó đưa ra cái nhìn tổng quan hơn về tình hình kinh tế của nước ta

Trang 1

TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

BÁO CÁO NHÓM MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

Chuyên đề số: 1 Tăng trưởng kinh tế và cơ cấu GDP

của Việt Nam giai đoạn 2018– 2020

Giảng viên hướng dẫn: ThS Đoàn Thị Thủy Lớp Kinh tế Vĩ Mô:

Nhóm : N02 Danh sách sinh viên thực hiện:

Trang 3

1.LỜI MỞ ĐẦU:

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế và phát triển đất nước, Việt Nam tích cực mở rộng quan hệ sản xuất đồng thời hội nhập sâu rộng với nhiều khu vực trên toàn thế giới với mục đích đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế Trải qua nhiều khó khăn trong những năm vừa qua, điển hình là lạm phát toàn cầu trong những tháng đầu của năm 2018 do giá dầu bình quân tăng mạnh và sự tăng trưởng chậm hơn dự báo của thương mại toàn cầu

do ảnh hưởng từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đã tác động tiêu cực đến tổng sản phẩm trong nước (GDP)- chỉ tiêu đánh giá sự tăng trưởng của nền kinh tế củaViệt Nam và các quốc gia khác Bên cạnh đó, nền kinh tế thế giới đã và đang phải đối mặt với những thách thức vô cùng to lớn và được dự báo suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử, tăng trưởng của các nền kinh tế lớn đều giảm sâu do ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh Covid-19 trong những năm gần đây.Trong thời điểm hiện tại, việc tìm hiểu và nghiên cứu về sự tăng trưởng của một quốc gia là vô cùng quan trọng và cần thiết Hiểu được vấn đề đó, nhóm đã chọn đề tài “TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THẾ

VÀ CƠ CẤU GDP CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2018-2020” để phân tích và từ đó đưa ra cái nhìn tổng quan hơn về tình hình kinh tế của nước ta

2.CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1.Khái niệm

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc dân (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định Ngoài ra tăng trưởng kinh tế còn được định nghĩa

là sự gia tăng mức sản xuất mà nền kinh tế tạo ra theo thời gian

Tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (Gross Domestic Products, GDP) là giá trị thị

trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong một phạm vi( thường là quốc gia) trong một thời kỳ nhất định ( thường là một năm) Ngoài ra

Trang 4

GDP còn được hiểu được là tổng thu nhập trong nước, đo lường tổng thu nhập của tất

cả các chủ thể trong nền kinh tế GDP cũng đồng thời đo lường tổng chi tiêu

2.2 Phân loại GDP

GDP danh nghĩa ( GDPn): tổng sản phẩm nội địa theo giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ cuối cùng tính theo giá hiện hành GDP danh nghĩa có điều chỉnh theo lạm phát

GDP thực tế ( GDPr) là tổng sản phẩm nội địa tính theo sản lượng hàng hoá và dịch vụcuối cùng của năm nghiên cứu còn giá cả tính theo năm gốc do đó còn gọi là GDP theogiá so sánh GDP thực tế không điều chỉnh theo lạm phát

Trang 5

Tính GDP theo phương pháp chi phí (tính theo thu nhập)

GDP = W + I + Pr + R + Ti + De

W (Wage): tiền lương

I (Interest): tiền lãi

Pr (Profit): lợi nhuận

R (Rent): tiền thuê

Ti (Indirect tax): thuế gián thu (loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ)

De (Depreciation): phần hao mòn (khấu hao) tài sản cố định

Tính GDP theo phương pháp sản xuất

GDP = Giá trị tăng thêm + Thuế nhập khẩu

Ngoài ra người ta còn quy ước, 3 khu vực kinh tế như sau:

Khu vực I: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

Khu vực II: Công nghiệp và xây dựng

Trang 6

Khu vực III: Dịch vụ.

2.2.3Công thức tính cơ cấu GDP

% Khu vực = Tổng GDP khu vực / GDP cả nước x 100

Trong đó:

% Khu vực: tỷ trọng của khu I, II, hoặc III

Tổng GDP khu vực: GDP được tính trong năm của khu vực

GDP cả nước: tổng GDP của 3 khu vực

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng :

2.3.1.Ảnh hưởng tiêu cực :

Với cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đang diễn ra tác động không ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế nước nhà, nhưng nếu tiếp tục leo thang thì sẽ tác động đến nhiều lĩnh vực Bởi vì Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng hóa Việt Nam, còn Trung Quốc là nước chúng ta nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh.Chính

vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam phải chịu chi phí sản xuất tăng lên và áp lực cạnh tranhvới hàng giá rẻ của Trung Quốc khi không xuất khẩu sang Mỹ

Liên quan đến cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung hiện nay doanh nghiệp có thể chủ động cập nhật danh sách ngành hàng bị ảnh hưởng như: máy móc, thiết bị, sản phẩm

cơ khí…Điều này đẩy áp lực cạnh tranh sang thị trường châu Á khi lượng hàng này của Trung Quốc không nhập khẩu được vào Mỹ

Ngoài ra, xu hướng dòng đầu tư FDI rút khỏi các thị trường mới nổi, doanh nghiệp trên toàn cầu thu nguồn vốn tại các thị trường trọng điểm đòi hỏi nền kinh tế Việt Namphải cải cách thể chế.Riêng đối với các doanh nghiệp Việt Nam còn đối mặt với nguy

cơ lạc hậu về công nghệ ứng dụng trong quản lý và sản xuất kinh doanh, nếu không chuẩn bị sẵn sàng tham gia vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Bên cạnh đó hiện nay, Việt Nam có năng suất lao động thấp trong khu vực, năng lực cạnh tranh thấp tuy nhiên điều này cũng cho thấy dư địa cải cách của Việt Nam còn

Trang 7

lớn và đây là chìa khóa cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam Ngoài ra, Chính phủ phải trở thành hành vi của từng cơ quan quản lý mới thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế.

Covid -19 xuất hiện ở Trung Quốc, đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế Trung Quốc

Do Trung Quốc có vai trò rất quan trọng đến nền kinh tế thế giới nên đã lan truyền ảnhhưởng xấu đến nhiều quốc gia Việt Nam là một trong những nước chịu tác động nặng

nề vì là nền kinh tế mở, có mức độ trung chuyển hàng hóa, dịch vụ, con người, đầu tư lớn với Trung Quốc, chịu ảnh hưởng lớn từ kinh tế Trung Quốc như:

Gián đoạn chuỗi cung ứng, sản xuất kinh doanh bị đình trệ: Hầu hết các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của Việt Nam đều phụ thuộc vào nguồn nguyên phụ liệu, vật tư, phụ tùng được nhập khẩu từ Trung Quốc nên khi dịch Covid 19 bùng nổ gây tê liệt nền kinh tế Trung Quốc đã trực tiếp làm suy yếu hoạt động sản xuất và kinh doanh của Việt Nam

Trung Quốc dừng thông quan tại các cửa khẩu với Việt Nam và tăng cường quản lý, siết chặt các cửa khẩu nhằm ngăn chặn sự lan rộng của dịch Covid-19 khiến hoạt độngxuất khẩu sang Trung Quốc, đặc biệt là hàng nông - lâm - thủy sản của nước ta gặp nhiều khó khăn Chín ngành chịu tác động tiêu cực lớn nhất từ dịch Covid 19, bao gồm: may mặc, bán lẻ, thủy sản, bia, dầu khí, chứng khoán, cảng biển và vận chuyển, dịch vụ sân bay, hàng không Đặc biệt, những ngành sản xuất, xuất khẩu chủ lực của Việt Nam phụ thuộc nguồn nguyên liệu đầu vào từ Trung Quốc chịu tác động mạnh nhất do thiếu nguồn nguyên liệu đầu vào, gián đoạn chuỗi cung ứng do nguồn thay thế

Trang 8

hạn chế Là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, khi sức mua của nền kinh tế Trung Quốc giảm, đóng cửa tạm đường biên do dịch bệnh, kinh tế Việt Nam chịu tổn thương lớn hơn so với các nền kinh tế khác có quy mô tương đương trong khu vực.

Do nhiều ngành sản xuất của Việt Nam phụ thuộc vào nguyên vật liệu nhập từ Trung Quốc nên dù nhiều nhà máy Trung Quốc mở cửa hoạt động trở lại nhưng nhân công không đi làm trở lại vì trở ngại giao thông và lo ngại lây dịch Covid-19 Do vậy, hoạt động sản xuất ở Trung Quốc vẫn đình trệ Việc kiểm dịch hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc cũng chặt chẽ hơn Điều này khiến nhiều ngành của Việt Nam tiếp tục bị thiếu hụt nguồn nguyên liệu cho sản xuất

Tiếp đến là thuế thu sụt giảm do ảnh hưởng dịch Covid-19: Hoạt động bất động sản vàđầu tư cá nhân sụt giảm gây tác động đến tình hình kinh tế và sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp, các nguồn thu giảm và mức tăng trưởng thấp.Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt cũng giảm Mức giảm chủ yếu ở các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàng như bia, thuốc lá, ôtô Thuế thu nhập cá nhân tuy tăng 7,92% nhưng cũng có mức tăng trưởng thấp nhất do tác động ảnh hưởng dịch Covid-19.Cũng vì vậy mà hoạt động đầu tư bị gián đoạn, chậm trễ Không chỉ hoạt động sản xuất - kinh doanh bị đình trệ, mà nhiều kế hoạch tìm kiếm các cơ hội đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài tới Việt Nam đã bị hủy bỏ

Nhiều dự án và doanh nghiệp do Trung Quốc làm chủ thầu hoặc chủ đầu tư sử dụng sốlượng lớn chuyên gia và lao động Trung Quốc Những lao động này đang bị hạn chế trở lại Việt Nam do dịch Covid-19 đã tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các dự án, doanh nghiệp ở Việt Nam, cũng như đời sống của người lao động trong các dự án, doanh nghiệp có liên quan

Không chỉ thu hút FDI gặp khó khăn do thiếu nguyên liệu, nhân lực từ Trung Quốc,

mà những người Trung Quốc làm việc trong các dự án FDI ở Việt Nam và các doanh nghiệp có vốn đầu tư của Trung Quốc và các nước khác cũng bị tác động tiêu cực Do ảnh hưởng của dịch bệnh, các hoạt động tìm hiểu cơ hội đầu tư của các nhà đầu tư tiềmnăng của Trung Quốc nói riêng và các nước khác nói chung cũng bị trì hoãn, bao gồm

Trang 9

các hoạt động tìm hiểu cơ hội đầu tư, các hội thảo, các diễn đàn doanh nghiệp, diễn đàn xúc tiến đầu tư Nhu cầu tiêu dùng, đặc biệt đối với các mặt hàng không thiết yếu

sẽ giảm mạnh, làm cho sản xuất bị trì trệ, hàng tồn kho lớn Các nhà đầu tư mới sẽ do

dự chưa đưa ra các quyết định đầu tư Đối với các dự án đã đầu tư, các nhà đầu tư sẽ hoãn lại việc tăng vốn Thậm chí, các doanh nghiệp FDI lớn, như Samsung, LG, For-mosa, Apple,… cũng gặp khó khăn về nguồn cung nguyên liệu và nhân lực đầu vào nhập từ Trung Quốc

Cùng với đó thị trường chứng khoán Việt Nam giảm mạnh, hoạt động tài chính - tiền

tệ cũng bị suy giảm rất nhiều: Dịch Covid-19 bùng phát khiến nhiều thị trường chứng khoán thế giới lao dốc mạnh, trong đó thị trường chứng khoán Việt Nam giảm mạnh nhất khu vực Châu Á Thậm chí giảm mạnh hơn cả các chỉ số chứng khoán của Trung Quốc - nơi mà dịch Covid-19 được khởi nguồn

Trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng, Covid-19 tác động mạnh đến ngành Ngân hàng như là: làm giảm nhu cầu tiêu dùng, giảm giao dịch ngoại thương, hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp và hộ gia đình hoạt động trong lĩnh vực tài chính giảm, cầu tín dụng giảm do nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp, hộ gia đình thấp hơn,tiềm ẩn nợ xấu tăng, khi các doanh nghiệp, hộ gia đình chịu tác động tiêu cực từ dịch bệnh, dẫn đến hoạt động sản xuất-kinh doanh gặp khó khăn, nhu cầu giao dịch qua ngân hàng số, thanh toán không dùng tiền mặt tăng do khách hàng ngại tiếp xúc, tập trung đông người

Cuối cùng là hoạt động của ngành du lịch khó khăn: Ngành du lịch có vị trí quan trọngtrong nền kinh tế Việt Nam chiếm 8% GDP (2019), dự báo đạt tỷ trọng 10% GDP (2025) Ngành du lịch chịu tác động tiêu cực của dịch Covid 19, cả du lịch quốc tế và

du lịch nội địa Thiệt hại nặng nề nhất là các ngành như: hàng không, khách sạn, lữ hành, nhà hàng do sụt giảm mạnh lượng du khách

Ngành giao thông vận tải, trong đó, vận tải hàng không chịu ảnh hưởng nhiều nhất, bởikhách quốc tế sử dụng hàng không của nước ta chiếm gần 80% Các dịch vụ vận tải đường bộ, đường sắt cũng chịu tác động tiêu cực khi hoạt động thương mại và du lịch

Trang 10

sụt giảm Các dịch vụ hỗ trợ vận tải cũng sẽ giảm theo như: dịch vụ quản lý bay, dịch

Đặc biệt, tận dụng sự đóng góp của những đầu tàu kinh tế tư nhân với tinh thần đổi mới và sáng tạo sẽ tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển Đây là thời điểm các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp tư nhân nói riêng cầnphát huy trong quá trình Chính phủ đã và đang nỗ lực khơi thông chính sách hỗ trợ; trong đó, khu vực doanh nghiệp tư nhân phải chủ động củng cố hoạt động sản xuất kinh doanh trên tinh thần đổi mới sáng tạo, hội nhập như: tận dụng hiệu quả chính sách hỗ trợ của nhà nước, đào tạo nguồn nhân lực, ứng dụng công nghệ, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường

Chủ động kiểm soát rủi ro

Cùng với nguy cơ cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung có thể leo thang trong thời gian tới, vấn đề biến động tỷ giá cũng là yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế nước ta trong những tháng cuối năm 2018 và trong thời gian tới

Mặc dù chính sách điều hành tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước ngày càng linh hoạt và bám sát thị trường, nhưng việc kiểm soát những rủi ro từ việc biến động tỷ giá đối với nền kinh tế nước ta nói chung và doanh nghiệp nói riêng cũng là vấn đề được đặt ra.Trong bối cảnh hiện nay, Chính phủ và các Bộ, ngành cần cải cách và tạo động lực cải cách hơn nữa để từ đó đảm bảo kiểm soát các rủi ro về áp lực gian lận thương mại thông qua sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước

Trang 11

Đồng thời, thúc đẩy các hoạt động hướng đến xây dựng mô hình sản xuất kinh doanh,

có thể thích nghi tốt với những biến động nền kinh tế trong nước và thế giới

Đặc biệt, cần tạo môi trường sản xuất kinh doanh nhằm giúp doanh nghiệp khẩn trương thích ứng với những biến đổi, hình thành năng lực quản lý rủi ro cũng như bámsát thị trường

Một số vấn đề quan trọng khác cần quan tâm có thể kể đến là biến động trong lĩnh vực xăng dầu, xuất khẩu hàng hóa… sẽ gián tiếp ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của cả nước

Nhờ thành công trong việc ngăn chặn sự lây lan của Covid-19, nền kinh tế Việt Nam không những duy trì tăng trưởng GDP dương, mà còn tăng trưởng cao hơn bất kỳ quốcgia Ðông Nam Á khác Bên cạnh việc kiểm soát đại dịch Covid-19 thành công, xuất khẩu phục hồi nhanh giúp Việt Nam trở thành những điển hình cho thương mại toàn cầu

Kinh tế Việt Nam có được mức tăng trưởng dương là nhờ năng lực của cả khu vực kinh tế trong nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Việt Nam không những kiểm soát tốt được đại dịch Covid-19, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao mà Chính phủ còn sử dụng các chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để tháo gỡ khó khăn cho khu vực tư nhân, thúc đẩy phục hồi sản xuất kinh doanh Tăng trưởng kinh tếViệt Nam đạt được năm 2020 là nhờ sự đóng góp của những yếu tố cơ bản sau:

Trang 12

Chính sách phù hợp với thị trường

Chính phủ đã ban hành hàng loạt chính sách, trong đó chính sách tiền tệ đã khẳng địnhđược vai trò lưu thông của nền kinh tế, hỗ trợ doanh nghiệp vượt khó khăn, ổn định sản xuất Các chính sách được Chính phủ ban hành thể hiện sự quyết liệt và sáng tạo của Chính phủ Những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp có nguồn lực để vượt qua khó khăn do tác động của đại dịch Covid-19

Chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, góp phần hạ mặt bằng lãi suất hỗ trợ nền kinh

tế Mục tiêu ưu tiên hàng đầu của các chính sách, trong đó có chính sách tiền tệ là duy trì hoạt động của doanh nghiệp, hạn chế tối đa tình trạng phá sản; duy trì việc làm cho người lao động, hạn chế tình trạng thất nghiệp, mất thu nhập; đảm bảo hệ thống ngân hàng - huyết mạch của nền kinh tế - duy trì được trạng thái ổn định, vận hành tốt, đủ năng lực vực dậy nền kinh tế sau đại dịch Covid-19

Chính sách tiền tệ hỗ trợ khu vực sản xuất, kinh doanh thông qua việc Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ các ngân hàng thương mại cơ cấu lại các khoản nợ hiện hành cho các khách hàng (giảm lãi suất đối với các khoản nợ hiện hành, đảo nợ…); miễn, giảm lãi trong thời kỳ doanh nghiệp không có doanh thu Cùng với hệ thống ngân hàng lành mạnh, dự trữ ngoại hối tăng đã tạo nền tảng tốt để ứng phó những “cú sốc” từ bên ngoài Việc bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước và cán cân thanh toán thặng dư là những điều kiện thuận lợi, hỗ trợ giữ ổn định tỷ giá, bảo đảm an ninh tài chính tiền tệ quốc gia

Tính linh hoạt và khả năng ứng phó của doanh nghiệp

Để khuyến khích hoạt động của doanh nghiệp, Chính phủ đưa ra các biện pháp giảm thuế, hoãn nộp thuế và miễn phí sử dụng đất đối với các doanh nghiệp Việt Nam đã giữ ổn định tăng trưởng trong suốt giai đoạn 2016 - 2019, giúp tạo niềm tin với doanh nghiệp Tập trung phát triển khối doanh nghiệp tạo nền tảng khá bền vững và giúp giữ được ổn định nền kinh tế Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đã dùng nhiều cách để vượt qua khó khăn như: Chuyển đổi sản phẩm, linh hoạt trong tiếp cận với khách hàng, linh hoạt trong hoạt động kinh doanh

Trang 13

Kinh tế số Việt Nam sẽ trở nên bao trùm khi người tiêu dùng dần thích nghi với nền kinh tế số, các doanh nghiệp cũng được hỗ trợ nhiều hơn bởi các nhà đầu tư cũng như các chương trình chuyển đổi số của Chính phủ Đại dịch Covid-19 đã tạo ra cơ hội thay đổi phương thức phát triển kinh tế Việt Nam theo hướng áp dụng ngày càng nhiềuhơn kinh tế số Sự phát triển nhanh của kinh tế số sẽ mang lại cho Việt Nam cơ hội để cải thiện mạnh mẽ năng suất lao động

Bên cạnh các doanh nghiệp còn có sự góp sức của hàng chục triệu lao động phi chính thức (hộ gia đình, lao động tự do) Khi những hỗ trợ đến từ Chính phủ còn hạn chế thì doanh nghiệp phi chính thức là bệ đỡ tốt, tự bảo đảm được cuộc sống ở mức tối thiểu

Rõ ràng, việc kiểm soát tốt đại dịch Covid-19, sự hồi phục của lĩnh vực chế biến, chế tạo, cùng với thương mại dịch vụ nội địa chính là động lực cho tăng trưởng Bên cạnh

đó, sự thành công của Việt Nam, theo Asia Times, là do nền kinh tế Việt Nam ít phụ thuộc vào ngành dịch vụ du lịch so với các nước Đông Nam Á khác, nên tác động của dịch bệnh Covid-19 đến sự “sụp đổ” của ngành du lịch quốc tế đã không gây nhiều áp lực đối với kinh tế Việt Nam Cùng với việc phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA) (tháng 6/2019) và ký kết Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực - RCEP (tháng 11/2020) giúp tăng trưởng kinh tế của Việt Nam khả quan hơn

Hình 1.Tốc độ tăng trưởng GDP 2018-2020

Trang 14

3 NGHIÊN CỨU CHUYÊN SÂU

3.1 TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG GDP 2018-2020

3.1.1.Tốc độ tăng trưởng năm 2018

Theo như những báo cáo từ Tổng Cục Thống kê, GDP cả năm 2018 tăng trưởng mạnh

mẽ, tăng 7,08%, đây là mức tăng trưởng cao nhất kể từ năm 2008 cho đến nay Điều

đó chứng tỏ rằng hình thái cơ cấu kinh tế Việt Nam tiếp tục phát triển đúng hướng vàkhông có sự biến động mạnh Cũng không thể phủ nhận những công sức, hiệu quảlãnh đạo của Đảng và các cấp đã nổ lực thực hiện

Các khu vực kinh tế:

Nói về các khu vực chuyên biệt trong nền kinh tế, trong năm 2018, ngành nông lâm,ngư nghiệp và thủy sản đạt được mức sản lượng cao nhất trong giai đoạn 2012-2018,chiếm tỷ trọng tận 14,57% GDP Trong đó, dữ liệu từ nguồn Tổng cục Thống kê chothấy ngành nông nghiệp tiếp tục phục hồi rõ nét khi đạt mức tăng 2,89%, là mức tăngcao nhất của giai đoạn 2012-2018, ngành thủy sản đạt kết quả khá với mức tăng 6,46%

và ngành lâm nghiệp tăng ở mức 6,01% Qua những con số đó, đã khẳng định được xuthế chuyển đổi ngành đã phát huy hiệu quả, thị trường xuất khẩu được mở rộng, đạtnhiều kết quả tốt nên đây là bàn đạp, là động lực thúc đẩy khu vực này phát triển mạnhmẽ

Trong khi khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản có những thành thành tựu phát triển vượt bậc thì khu vực công nghiệp và xây dựng trong năm 2018 vẫn duy trì mức tăng trưởng ở mức 8,79% Trong đó, nguồn Tổng cục Thống kê cho thấy, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là điểm sáng và là động lực chính khi tăng trưởng mạnh mẽ tận 12,98% Trong khi ngành xây dựng vẫn duy trì mức tăng ở tốc độ 9,16% thì ngành công nghiệp khai khoáng vẫn tăng trưởng âm( giảm 3,11%)

Trong năm 2018, khu vực dịch vụ đã tăng 7,03%, thấp hơn so với cùng kỳ năm trước Trong khu vực dịch vụ, ngành bán buôn và bán lẻ đang là ngành có đóng góp lớn nhất

Trang 15

vào mức tăng tổng giá trị vào nền kinh tế, khi đã tăng tận 8,5%, các ngành khác trong khu vực dịch vụ vẫn giữ một mức tăng đáng nể ( tài chính ngân hàng, bảo hiểm: 8,21%, dịch vụ lưu trú và ăn uống:6,78%, vận tải, kho bãi: 7,85%).

Đầu tư và phát triển:

Thu hút FDI năm 2018 đã đạt trên 35,46 tỷ USD Vốn FDI thực hiện được trong năm

2018 đạt khoảng 19,1 tỷ USD, tăng khoảng 9,1% so với cùng kỳ năm ngoái, nguồn vốn dồi dào này đã đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng nền kinh tế

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện trong năm 2018 đạt 1.856,6 nghìn tỷ đồng, tăng ở mức 11,2% so với cùng kỳ năm trước và bằng 33,5% tổng lượng GDP Bên cạnh đó, năng suất lao động của Việt Nam cũng có những chuyển biến theo chiều hướng gia tăng và một phần giúp Việt Nam vươn lên trở thành quốc gia có tốc độ tăng năng suất cao trong khu vực ASEAN

Trang 16

Lạm phát:

Lạm phát cơ bản trong tháng 12 năm 2018 tăng nhẹ ở mức 0,09% so với tháng trước

và tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước Lạm phát cơ bản bình quân năm 2018 cũng đãtăng 1,48% so với bình quân năm 2017 Tuy nhiên, lạm phát cơ bản vẫn được kiểm soát chặt chẻ

Trang 17

Xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ:

Từ nguồn Tổng cục thống kê, con số cho thấy rằng kim ngạch xuất khẩu tăng nên xuấtsiêu tháng 11 tăng tận 153 triệu USD; tháng 12 ước tính nhập siêu khoảng 200 triệu USD Tính tổng cả năm 2018 thì nền kinh tế tiếp tục đạt mức xuất siêu 7,2 tỷ USD, trong khi khu vực trong nước nhập siêu mức 25,6 tỷ USD thì khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu cũng đạt mức 32,8 tỷ USD

Ngoài ra, từ những báo cáo từ Tạp chí Tài Chính, tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp trong tăng trưởng GDP năm 2018 đạt mức 43,5%, cao hơn rất nhiều

so với mức bình quân từ giai đoạn 2011-2015 Thêm vào đó, Hiệu quả đầu tư được cải thiện đáng kể với năng lực sản xuất mới bổ sung cho nền kinh tế Hệ số ICOR (chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, khi hệ số ICOR kỳ này cao hơn chứng tỏ thời kỳ đó hoặcnền kinh tế đó sử dụng vốn kém hiệu quả hơn) đã giảm từ mức 6,42 năm ở 2016 xuống 6,11 vào năm 2017 và tiếp tục giảm 5,97 năm 2018

Kinh tế Việt Nam năm 2018 đã có những bước khởi sắc với tăng trưởng đạt mức cao nhất trong 8 năm qua Lạm phát được kiểm soát, cơ cấu kinh tế chuyển biến theo hướng tăng trưởng, chất lượng được cải tiến, 3 khu vực kinh tế trọng điểm cũng đạt được những mức tăng đáng kể Tiêu dùng được tăng cao, xuất khẩu và thu hút khách

Trang 18

du lịch quốc tế đạt mức khá Tình hình giải quyết việc làm và vấn đề an sinh xã hội được quan tâm thực hiện Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đó, thì vẫn tồn đọngnhững vấn đề, thách thức Bên cạnh những vấn đề về thiên tai, khí hậu, dịch bệnh thì

cơ cấu nền kinh tế có chuyển biến nhưng vẫn còn khá chậm; năng suất lao động tăng nhưng vẫn không cao, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế vẫn chưa thực sự cao 3.1.1.Tốc độ tăng trưởng năm 2019:

Kinh tế Việt Nam trong năm 2019 diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang trong quá trình tăng trưởng chậm lại Sự đối đầu, chiến tranh thương mại thương mại Mỹ-Trung trong năm 2019 đã tác động, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hệ thống

thương mại toàn thế giới Ở Việt Nam nói riêng, tiếp nối những thành công trong sự tăng trưởng kinh tế năm 2018, tăng trưởng kinh tế năm 2019 vẫn tiếp tục tăng nhưng

có phần tăng trưởng chậm hơn do những vấn đề diễn biến khí hậu, dịch bệnh làm ảnh hưởng đến một số ngành chủ lực của nước ta

Tuy nhiên với những phương hướng, những chính sách đúng đắn của Chính phủ về việc xác định năm 2019 là năm “bức phá”, là năm để phấn đấu,thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trong 5 năm giai đoạn từ 2016-2020 với phương châmhành động “Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, bứt phá, hiệu quả”, đã một phần giúp kinh tế Việt Nam có những bước tăng trưởng đáng mong đợi

Cụ thể những dữ liệu từ Tổng cục thống kê cho thấy rằng, tổng sản lượng GDP ước tính tăng được 6,97% so với cùng kỳ năm trước, tốc độ tăng trưởng kinh tế đã đạt được 7,02% Mức tăng trưởng tuy có thấp hơn so với năm 2018 (7,08%) nhưng vẫn cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng trong giai đoạn từ năm 2011-2017 Đây là năm thứ hai liên tiếp nền kinh tế Việt Nam có tốc độ tăng trưởng đạt trên mức 7%

Trang 19

tăng năng suất, chịu thiệt hại từ dịch tả lợn từ Châu Phi, gây khó khăn cho ngành nông nghiệp về giá xuất khẩu và thị trường tiêu thụ Trong năm 2019, ngành nông nghiệp đạt mức tăng trưởng thấp nhất trong giai đoạn từ năm 2011-2017, khi chỉ đạt mức 0,61%, chỉ đóng góp một mức nhỏ trong sự tăng trưởng của nền kinh tế Ngành lâm nghiệp và thủy tuy có sự tăng trưởng nhưng chỉ ở mức khá.(ngành lâm nghiệp:4,98%, ngành thủy sản:6,3%) Tuy ngành thủy sản là điểm sáng của khu vực trong năm 2019 nhưng vẫn còn thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm 2018

Ngành công nghiệp và xây dựng trong năm 2019 vẫn duy trì ở mức tăng trưởng cao, đạt mức 8,86%, đã có sự tăng trưởng so với năm 2018, góp một phần không nhỏ vào mức tăng chung của nền kinh tế Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn làmột điểm sáng trong khu vực với mức tăng trưởng cao khoảng 11,29% Tiếp nối ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, trong khi ngành xây dựng vẫn duy trì mức tăng tích cực với tốc độ 9,1%, thì ngành công nghiệp khai khoáng đã có mức tăng nhẹ trở lại ở mức 1,29% sau 3 năm tăng rồi lại giảm liên tiếp

Riêng về khu vực dịch vụ, năm 2019 đã có sự tăng trưởng nhẹ so với năm 2018 khi đạtmức tăng 7,3%, chỉ thấp hơn mức 7,47% của năm 2011 và 7,44% của năm 2017, đóng góp một phần tỷ trọng không nhỏ vào mức tăng của nền kinh tế Trong khu vực dịch

vụ, ngành bán buôn và bán lẻ có một mức tăng trưởng mạnh thứ hai trong khu vực, khităng tận 8,82% so với năm 2018, tuy chỉ đứng thứ hai về mức tăng trưởng nhưng đây

là ngành đóng góp lớn nhất nhất vào mức tăng của nền kinh tế Ngành kho bãi, vận tải nắm giữ mức tăng cao nhất trong khu vực, khi tăng tận 9,12%, đây là năm mà khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng rõ rệt so với năm 2018, ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và ngành dịch vụ cư trú, ăn uống cũng có một mức tăng cao đáng kể lần lượt là 8,62% và 6,71%

Đầu tư và phát triển:

So với năm 2018, thì vốn đầu tư toàn xã hội năm 2019 đã tăng vào mức 10,9%, và trong đó thì khu vực kinh tế ngoài Nhà nước đạt mức tỷ trọng lớn nhất từ trước đến nay trong tổng vốn đầu tư , tận 46%, tăng tận 17,3% Ngoài ra, trong khi vốn đầu tư từ nước ngoài vẫn theo chiều hướng tăng mạnh mẽ so với nhiều năm trở lại đây, thì vốn

Ngày đăng: 03/03/2022, 18:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w