BÁO CÁO NHÓM MÔN KINH TẾ VĨ MÔ Chuyên đề Tăng trưởng kinh tế và cơ cấu GDP của Việt Nam giai đoạn 2018– 2020 Trong thời kỳ hội nhập kinh tế và phát triển đất nước, Việt Nam tích cực mở rộng quan hệ sản xuất đồng thời hội nhập sâu rộng với nhiều khu vực trên toàn thế giới với mục đích đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế. Trải qua nhiều khó khăn trong những năm vừa qua, điển hình là lạm phát toàn cầu trong những tháng đầu của năm 2018 do giá dầu bình quân tăng mạnh và sự tăng trưởng chậm hơn dự báo của thương mại toàn cầu do ảnh hưởng từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đã tác động tiêu cực đến tổng sản phẩm trong nước (GDP)- chỉ tiêu đánh giá sự tăng trưởng của nền kinh tế của Việt Nam và các quốc gia khác. Bên cạnh đó, nền kinh tế thế giới đã và đang phải đối mặt với những thách thức vô cùng to lớn và được dự báo suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử, tăng trưởng của các nền kinh tế lớn đều giảm sâu do ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh Covid-19 trong những năm gần đây.Trong thời điểm hiện tại, việc tìm hiểu và nghiên cứu về sự tăng trưởng của một quốc gia là vô cùng quan trọng và cần thiết. Hiểu được vấn đề đó, nhóm đã chọn đề tài “TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THẾ VÀ CƠ CẤU GDP CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2018-2020” để phân tích và từ đó đưa ra cái nhìn tổng quan hơn về tình hình kinh tế của nước ta.
Trang 1TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÁO CÁO NHÓM MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
Chuyên đề số: 1 Tăng trưởng kinh tế và cơ cấu GDP của Việt Nam giai đoạn 2018– 2020
Giảng viên hướng dẫn: ThS Đoàn Thị Thủy Lớp Kinh tế Vĩ Mô:
Nhóm : N02 Danh sách sinh viên thực hiện:
1 Đỗ Thành Phát MSSV:
2 Lý Thị Hồng Yến
3 Nguyễn Thị Thu Duyên
4 Nguyễn Đức Huy
5 Nguyễn Hoàng Duy Mẫn
6 Nguyễn Xuân Trường
TPHCM, THÁNG 12, NĂM 2021
Trang 2STT Họ và tên Mức độ đóng góp Ký tên
Phát
100%
Trang 31.LỜI MỞ ĐẦU:
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế và phát triển đất nước, Việt Nam tích cực mở rộng quan hệ sản xuất đồng thời hội nhập sâu rộng với nhiều khu vực trên toàn thế giới với mục đích đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế Trải qua nhiều khó khăn trong những năm vừa qua, điển hình là lạm phát toàn cầu trong những tháng đầu của năm 2018 do giá dầu bình quân tăng mạnh và sự tăng trưởng chậm hơn dự báo của thương mại toàn cầu
do ảnh hưởng từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đã tác động tiêu cực đến tổng sản phẩm trong nước (GDP)- chỉ tiêu đánh giá sự tăng trưởng của nền kinh tế củaViệt Nam và các quốc gia khác Bên cạnh đó, nền kinh tế thế giới đã và đang phải đối mặt với những thách thức vô cùng to lớn và được dự báo suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử, tăng trưởng của các nền kinh tế lớn đều giảm sâu do ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh Covid-19 trong những năm gần đây.Trong thời điểm hiện tại, việc tìm hiểu và nghiên cứu về sự tăng trưởng của một quốc gia là vô cùng quan trọng và cần thiết Hiểu được vấn đề đó, nhóm đã chọn đề tài “TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THẾ
VÀ CƠ CẤU GDP CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2018-2020” để phân tích và từ đó đưa ra cái nhìn tổng quan hơn về tình hình kinh tế của nước ta
2.CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1.Khái niệm
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc dân (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định Ngoài ra tăng trưởng kinh tế còn được định nghĩa
là sự gia tăng mức sản xuất mà nền kinh tế tạo ra theo thời gian
Tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (Gross Domestic Products, GDP) là giá trị thị
trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong một phạm vi( thường là quốc gia) trong một thời kỳ nhất định ( thường là một năm) Ngoài ra GDP còn được hiểu được là tổng thu nhập trong nước, đo lường tổng thu nhập của tất
cả các chủ thể trong nền kinh tế GDP cũng đồng thời đo lường tổng chi tiêu
Trang 42.2 Phân loại GDP
GDP danh nghĩa ( GDPn): tổng sản phẩm nội địa theo giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ cuối cùng tính theo giá hiện hành GDP danh nghĩa có điều chỉnh theo lạm phát
GDP thực tế ( GDPr) là tổng sản phẩm nội địa tính theo sản lượng hàng hoá và dịch vụ cuối cùng của năm nghiên cứu còn giá cả tính theo năm gốc do đó còn gọi là GDP theo giá so sánh GDP thực tế không điều chỉnh theo lạm phát
Trang 5 I (Interest): tiền lãi
Pr (Profit): lợi nhuận
R (Rent): tiền thuê
Ti (Indirect tax): thuế gián thu (loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập và tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ)
De (Depreciation): phần hao mòn (khấu hao) tài sản cố định
Tính GDP theo phương pháp sản xuất
GDP = Giá trị tăng thêm + Thuế nhập khẩu
hoặc
GDP = Giá trị sản xuất – chi phí trung gian + thuế nhập khẩu
2.2.2 Cơ cấu GDP là tỉ lệ phần trăm của 3 khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch
trong tổng sản phẩm quốc nội của quốc gia hay lãnh thổ đó Trong đó, các nước càng phát triển thì tỷ trọng của khu vực dịch vụ càng lớn và ngược lại nước càng kém phát triển thì tỷ trọng của khu vực nông nghiệp càng lớn
Ngoài ra người ta còn quy ước, 3 khu vực kinh tế như sau:
Khu vực I: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
Khu vực II: Công nghiệp và xây dựng
Khu vực III: Dịch vụ
2.2.3Công thức tính cơ cấu GDP
% Khu vực = Tổng GDP khu vực / GDP cả nước x 100
Trong đó:
% Khu vực: tỷ trọng của khu I, II, hoặc III
Trang 6Tổng GDP khu vực: GDP được tính trong năm của khu vực.
GDP cả nước: tổng GDP của 3 khu vực.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng
:
Ảnh hưởng tiêu cực Năm 2018
Trang 7Với cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đang diễn ra tác động không lớn đến nền kinh
tế Việt Nam, song nếu tiếp tục leo thang thì tác động rất lớn đến nhiều lĩnh vực
Chính vì vậy, doanh nghiệp Việt Nam phải chịu chi phí sản xuất tăng lên và áp lực cạnh tranh với hàng giá rẻ từ Trung Quốc khi không xuất khẩu sang Mỹ
Hiện nay, Việt Nam có năng suất lao động thấp trong khu vực, năng lực cạnh tranh thấp…, nhưng điều này cũng cho thấy dư địa cải cách của Việt Nam còn lớn
Do đó, chìa khóa thúc đẩy sự phát triển vẫn là cải cách thể chế và tinh thần của Chính phủ phải trở thành hành vi của từng cơ quan quản lý mới thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế
Ảnh hưởng tích cực
Nền tảng tăng trưởng tốt
Đây là thời điểm cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam nói chung, khu vực doanh nghiệp
tư nhân cần phát huy nội lực, chủ động củng cố hoạt động sản xuất kinh doanh trên tinh thần đổi mới sáng tạo, hội nhập
Chủ động kiểm soát rủi ro
Cùng với nguy cơ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung có thể leo thang trong thời gian tới, việc kiểm soát những rủi ro từ việc biến động tỷ giá đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và doanh nghiệp nói riêng là vấn đề đặt ra
Chính phủ và các Bộ, ngành cần cải cách và tạo động lực cải cách hơn nữa
Đặc biệt, cần tạo môi trường sản xuất kinh doanh nhằm giúp doanh nghiệp khẩn trương thích ứng với những biến đổi
Năm 2019
Ảnh hưởng tiêu cực
Trang 8Covid -19 khởi nguồn từ Trung Quốc, đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế Trung Quốc và lan truyền ảnh hưởng xấu đến nhiều quốc gia Việt Nam là một trong những nước chịu tác động nặng nề từ sự suy giảm của nền kinh tế Trung Quốc:
Một là, gián đoạn chuỗi cung ứng và lưu chuyển thương mại, sản xuất kinh doanh bị đình trệ
Hai là, thuế thu sụt giảm do ảnh hưởng dịch Covid-19
Ba là, hoạt động đầu tư bị gián đoạn, chậm trễ
Bốn là, thị trường chứng khoán Việt Nam giảm mạnh nhất khu vực, hoạt động tài chính - tiền tệ cũng bị suy giảm
Năm là, hoạt động của ngành du lịch khó khăn
Ảnh hưởng tích cực
Đại dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu và mạnh nhất là khu vực dịch vụ Tuy nhiên, nhờ thành công trong việc ngăn chặn sự lây lan của Covid-19, nền kinh tế Việt Nam không những duy trì tăng trưởng GDP dương, mà còn tăng trưởng cao hơn bất kỳ quốc gia Ðông Nam Á khác Bên cạnh việc kiểm soát đại dịch Covid-
19 thành công, xuất khẩu phục hồi nhanh giúp Việt Nam (cùng với Trung Quốc) trở thành những điển hình cho thương mại toàn cầu
Năm 2020
Ảnh hưởng tiêu cực
Trang 9Covid 19 quay trở lại với mức độ lây nhiễm nhiều hơn năm 2019 khiến nước ta rơi vàocảnh khó khăn vì thế cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế của nước ta Nhiều công ty phải giải thể vì không thể cầm cự được lâu hơn Rất nhiều người thất nghiệp vì thế nên khiến GDP nước ta tăng trưởng âm.
Ảnh hưởng tích cực
Kinh tế Việt Nam có được mức tăng trưởng dương là nhờ năng lực của cả khu vực kinh tế trong nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Việt Nam không những kiểm soát tốt được đại dịch Covid-19, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao mà Chính phủ còn sử dụng các chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để tháo gỡ khó khăn cho khu vực tư nhân, thúc đẩy phục hồi sản xuất kinh doanh Tăng trưởng kinh tếViệt Nam đạt được năm 2020 là nhờ sự đóng góp của những yếu tố cơ bản sau:
1 quy-iv-va-nam-2018/
Trang 10Khu vực dịch vụ đã tăng 7,03%, thấp hơn so với cùng kỳ năm trước
Đầu tư và phát triển:
Thu hút FDI năm 2018 đã đạt trên 35,46 tỷ USD2 Vốn FDI thực hiện được trong năm 2018 đạt khoảng 19,1 tỷ USD, tăng khoảng 9,1% so với cùng kỳ năm ngoái,
nguồn vốn dồi dào này đã đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng nền kinh tế
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện trong năm 2018 đạt 1.856,6 nghìn tỷ đồng, tăng ở mức 11,2% so với cùng kỳ nămtrước và bằng 33,5% tổng lượng GDP
2 https://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/kinh-te-viet-nam-nam-2018-but-toc-than-ky-302497.html
Trang 11Lạm phát:
Lạm phát cơ bản bình quân năm 2018 cũng đã tăng 1,48% so với bình quân năm 2017 Tuy nhiên, lạm phát cơ bản vẫn được kiểm soát chặt chẽ
Xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ:
Tính tổng cả năm 2018 thì nền kinh tế tiếp tục đạt mức xuất siêu 7,2 tỷ USD, trong khi khu vực trong nước nhập siêu mức 25,6 tỷ USD thì khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu cũng đạt mức 32,8 tỷ USD
Nói tóm lại, Kinh tế Việt Nam năm 2018 đã có những bước khởi sắc với tăng trưởng đạt mức cao nhất trong 8 năm qua Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đó,thì vẫn tồn đọng những vấn đề, thách thức Cơ cấu nền kinh tế có chuyển biến nhưng vẫn còn khá chậm; năng suất lao động tăng nhưng vẫn không cao, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế vẫn chưa thực sự cao
Năm 2019:
Tiếp nối những thành công trong sự tăng trưởng kinh tế năm 2018, tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2019 vẫn tiếp tục tăng nhưng có phần tăng trưởng chậm hơn
Trang 12Tuy nhiên với những phương hướng, những chính sách đúng đắn của Chính phủ đã một phần giúp kinh tế Việt Nam có những bước tăng trưởng đáng mong đợi.
Các khu vực kinh tế:
Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản có mức tăng trưởng thấp trong năm
2019, chỉ đạt 2,01% Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản trong năm 2019 đã chịu ảnh hưởng từ việc biến đổi khí hậu Ngành nông nghiệp đạt mức tăng trưởng thấp nhấttrong giai đoạn từ năm 2011-2017 Ngành lâm nghiệp và thủy chỉ ở mức khá (ngành lâm nghiệp:4,98%, ngành thủy sản:6,3%)
Ngành công nghiệp và xây dựng trong năm 2019 đạt mức 8,86%, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có mức tăng trưởng khoảng 11,29% Ngành xây dựng duy trì mức tăng với tốc độ 9,1%, ngành công nghiệp khai khoáng tăng nhẹ trở lại ở mức 1,29%
Riêng về khu vực dịch vụ, năm 2019 đã có sự tăng trưởng nhẹ so với năm 2018 khi đạt mức tăng 7,3%
Trang 13Đầu tư và phát triển:
So với năm 2018, thì vốn đầu tư toàn xã hội năm 2019 đã tăng vào mức 10,9%, Ngoài ra, vốn đầu tư từ Nhà nước chỉ tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2018
Vốn đầu tư toàn xã hội thực đạt được 2.046,8 nghìn tỷ đồng Trong đó, vốn khuvực Nhà nước ước tính đạt 634,9 nghìn tỷ đồng, khu vực ngoài Nhà nước ước tính đạt
Trang 14được mức 942,5 nghìn tỷ đồng, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài ước đạt được 469,4 nghìn tỷ đồng.
Xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ:
Xuất nhập khẩu hàng hóa dịch vụ năm 2019 ước tính đạt 516,96 tỷ USD, trong
đó, kim ngạch xuất khẩu ước tính đạt được 263,45 tỷ USD, tăng tận 8,1% so với năm
2018, kim ngạch nhập khẩu cũng đạt mức tăng tương tự khi tăng 7% so với năm 2018,ước tính đạt 253,51 tỷ USD3
Vào năm 2006, Việt Nam chỉ đang xếp hạng thứ 50 trên thế giới về xuất khẩu
và 44 về nhập khẩu
Nhưng khi đến năm 2018, nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, xếp hạng thứ
26 về xuất khẩu và đứng thứ 23 về nhập khẩu
3 nam-2019/
Trang 15Năm 2020:
Năm 2020 được xem là một năm của những khó khăn và thách thức lớn đối với kinh tế thế giới nói chung, nhưng nhờ có sự tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đã được đưa vào nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực và thế giới
Các khu vực kinh tế:
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, sản lượng có mức tăng trưởng đạt 2,68%, Ngành nông nghiệp; ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản vẫn giữ được mức tăng lần lượt là 2,55%, 2,82% và 3,08% Trái ngược với ngành lâm sản, xuất khẩu
Trang 16thủy sản lại có mức xuất khẩu thấp hơn khi kim ngạch xuất khẩu năm 2020 chỉ đạt 8,4
tỷ USD, giảm 1,8% so với cùng kỳ năm trước
Nói về từng khu vực riêng biệt thì trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp năm 2020 đã tăng 3,36%, chỉ có ngành khai khoáng có tốc độ tăngtrưởng âm (giảm 5,62%,)
Khu vực dịch vụ là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong năm 2020 bởi đại dịch Covid-19, nên có tốc độ tăng rất thấp (2,34%)
Xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ:
Xuất khẩu vẫn duy trì mức tăng trưởng dương; xuất siêu hàng hóa đạt mức cao
kỷ lục (19,1 tỷ USD) và cán cân thương mại duy trì xuất siêu 5 năm liên tiếp
Đầu tư và phát triển:
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện được trong năm 2020 cũng có mức tăng trưởng đạt mức 5,7% so với năm 2019, đây là mức thấp nhất trong giai đoạn 2011-
2020
Nhìn chung cả năm 2020, vốn đầu tư toàn xã hội đạt được 2.164,5 nghìn tỷ đồng, tăng nhẹ 5,7% so với năm 2019, chiếm 34,4% GDP
Trang 17Ngoài ra, quy mô nền kinh tế được nâng lên, năm 2020 đã đạt khoảng 343 tỷ USD, cao hơn so với những năm trước Xếp hạng về sự phát triển bền vững của Việt Nam đã tăng từ thứ hạng 88 vào năm 2016 lên thứ hạng 49 vào năm 2020.
Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tồn đọng nhiều vấn đề cần phải giải quyết Do vậy, nước ta cần tập trung thực hiện mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch bệnh hiệu quả, vừa tận dụng tốt các cơ hội, nỗ lực phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội trong trạng thái bình thường mới”; đồng thời khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế để đưa nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao nhất trong năm 2021
So sánh Trung Quốc
Trong năm 2020, theo số liệu mới nhất từ Ngân hàng thế giới thì tổng sản phẩmquốc nội (GDP) của Trung Quốc vào năm 2020 đạt được 14.722,73 tỷ USD, tốc độ tăng trường GDP của Trung Quốc là 2.30% Tuy mức tăng trưởng kinh tế giảm so với cùng kỳ năm trước nhưng Trung Quốc là quốc gia có nền kinh tế duy nhất đạt mức tăng trưởng dương trong thương mại toàn cầu
Số liệu của Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GAC) cho thấy rằng, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Trung Quốc năm 2020 đạt mức cao kỷ lục
Trong năm 2020, ASEAN là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc với tổng kim ngạch mậu dịch hai chiều đạt 684,6 tỷ USD, tăng tận 7%, nối tiếp đó là Liên minh châu Âu (EU) và Mỹ
Cũng theo số liệu của Trung Quốc, Việt Nam lần đầu tiên vượt Đức, trở thành đối tác thương mại lớn thứ 6 của Trung Quốc trên toàn cầu
ASEAN
Năm 2020, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN tuy có sụt giảm nhưng vẫn đạt mức 53,6 tỷ USD, tăng 15,4 lần so với năm 1995, chiếm 9,8% tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu của cả nước
Trang 18Trong số 6 quốc gia ASEAN, Việt Nam là quốc gia duy nhất có kim ngạch xuấtkhẩu tăng 7% trong năm 2020.
3.2 Các giải pháp tăng trưởng kinh tế :
Cải cách chính sách trọng yếu
Chú ý nhiều hơn các vấn đề xã hội
Giảm lãi suất để kích thích nền kinh tế
Cải cách thuế
Thúc đẩy xuất nhập khẩu, phát triển thương mại bền vững
Huy động tối đa các nguồn vốn cho tăng trưởng
Tăng cường huy động vốn đầu tư nước ngoài
Tập trung cao độ trong công tác phòng chống dịch Covid-19
Nâng cao chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục
Đổi mới và cập nhật những kiến thức mới
Phân bổ và sử dụng hợp lý Ngân sách Nhà nước
Tập trung khai thác hiệu quả các nguồn lực
Tăng cường quản lý nguồn nhân lực
Phát triển kinh tế bền vững
Tăng cường xây dựng, kết cấu hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo
Kết luận: Bằng việc tích cực thực hiện các giải pháp trên sẽ phần nào đưa nền kinh tế
Việt Nam không chỉ tăng trưởng một cách mạnh mẽ, bền vững mà còn là tiền đề để đưa Việt Nam từng bước thực hiện hóa trở thành 1 trong những nước có GDP cũng như tỉ lệ FDI cao nhất trong thời gian tới
Trang 19Ngoài ra, để có một nền kinh tế vững mạnh thì bao quanh nó cũng có những vấn đề cần phải giải quyết triệt để, hoặc hạn chế nhằm tránh cản trở những mục tiêu kinh tế trong thời gian sắp tới
4 KHÁI QUÁT LẠI VẤN ĐỀ
Tăng trưởng kinh tế là thước đo cho sự tiến bộ, phát triển trong mỗi giai đoạn của một quốc gia dựa trên sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP) trong một thời gian nhất định Tổng sản phẩm quốc dân (GDP) là chỉ
số đánh giá tình hình kinh tế cũng như chất lượng cuộc sống của một quốc gia Mặc dùnăm 2020 kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh Covid-19 nhưng với những giải pháp quyết liệt và hiệu quả trong việc thực hiện mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế - xã hội”, kinh tế Việt Nam vẫn đạt kết quả tích cực với việc duy trì tăng trưởng
5.KẾT LUẬN:
Mặc dù bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nhưng tăng trưởng kinh tế là vấn đề thiết yếu vàquan trọng đối với mỗi quốc gia Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần, là phương tiện, động lực để thúc đẩy sự tiến bộ nền kinh tế quốc gia với mục đích đảm bảo các vấn đề
xã hội như tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Bằng những sự nỗ lực trong nhiều năm qua, Việt Nam đề ra các giải pháp đồng thời áp dụng vào thực tiễn và đem lại những kết quả đáng ghi nhận, tạo bước tiến cho nền kinh tế nước nhà.Thông qua đề tài, nhóm có cơ hội được học tập và tiếp cận sâu hơn với sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam Dựa trên vốn kiến thức nền tảng đã được giảng viên trau dồitại trường, sau khi khái quát được vấn đề từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp với mong muốn nền kinh tế nước nhà ngày một phát triển hơn Trong khuôn khổ bài tiểu luận vẫn còn sự thiếu sót, rất mong nhận được đóng góp ý kiến từ thầy cô và các bạn