Anh P làm việc tại công ty A theo hợp đồng lao động có thời hạn 24 tháng từ 01012013 đến 31122014. Đến tháng 02 năm 2014, anh P được bầu làm chủ tịch công đoàn cơ sở công ty A, nhiệm kỳ 20142016 ( cán bộ công đoàn không chuyên môn). Ngày 15122014 công ty A thông báo bằng văn bản chấm dứt hợp đồng lao động đối với anh P .Anh P đề nghị công ty gia hạn hợp đồng, nhưng công ty không giải quyết? HỎI: 1.Việc công ty A chấm dứt hợp đồng lao động với anh B đúng hay sai? Nêu rõ căn cứ pháp lý? 2.Anh P phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình? Khi đó, quyền hạn của anh P là gì? B. LÝ THUYẾT: Trước khi giao kết hợp đồng lao động, NSDLĐ và NLĐ có nghĩa vụ gì đối với nhau? Vấn đề thực hiện việc giao kết hợp đồng lao động được pháp luật nước ta quy định như thế nào?
Trang 1A BÀI TẬP
Anh P làm việc tại công ty A theo hợp đồng lao động có thời hạn 24 tháng từ
01/01/2013 đến 31/12/2014 Đến tháng 02 năm 2014, anh P được bầu làm chủ tịch công đoàn cơ sở công ty A, nhiệm kỳ 2014-2016 ( cán bộ công đoàn không chuyên môn) Ngày 15/12/2014 công ty A thông báo bằng văn bản chấm dứt hợp đồng lao động đối với anh P Anh P đề nghị công ty gia hạn hợp đồng, nhưng công ty không giải quyết?
HỎI:
1 Việc công ty A chấm dứt hợp đồng lao động với anh B đúng hay sai? Nêu rõ căn cứ pháp lý?
2 Anh P phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình? Khi đó, quyền hạn của anh P
là gì?
B LÝ THUYẾT:
Trước khi giao kết hợp đồng lao động, NSDLĐ và NLĐ có nghĩa vụ gì đối với nhau? Vấn đề thực hiện việc giao kết hợp đồng lao động được pháp luật nước ta quy định như thế nào?
Trang 2A BÀI TẬP
1 Việc công ty A chấm dứt hợp đồng lao động với anh B đúng hay sai? Nêu rõ căn cứ pháp lý?
Thứ nhất, theo Điều 22 Bộ luật Lao động 2012, quy định về các loại hợp đồng lao
động như sau:
Điều 22 Loại hợp đồng lao động
1 Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:
b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;
Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng
c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới
12 tháng
2 Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng
Căn cứ theo quy định trên, thì khi hết hạn hợp đồng trong thời hạn 30 ngày các bên có trách nhiệm ký kết hợp đồng mới, hết thời hạn này nếu người lao động vẫn làm việc bình thường thì HĐLĐ mới sẽ tự động được xác lập Theo đó, trong thời hạn 30 ngày
kể từ ngày HĐLĐ hết hạn các bên có quyền chấm dứt HĐLĐ
Hợp đồng lao động giữa anh P và công ty A được giao kết theo loại hợp đồng lao động
có thời hạn ( 24 tháng )
Thứ 2, căn cứ vào quy định của BLLĐ 2012 về vấn đề chấm dứt hợp đồng lao động thì
người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động trong một số trường hợp nhất định, đồng thời cũng quy định một số trường hợp, NSDLĐ không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao
động Cụ thể:
Trang 3Điều 38 Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động
1 Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:
a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;
b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục
Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;
c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;
d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của
Bộ luật này
2 Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:
a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;
c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn
Trang 4dưới 12 tháng.
Nếu rơi vào một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 38 BLLĐ thì NSDLĐ
có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và phải tuân thủ về thời gian báo trươc quy định tại khoản 2 Điều 38 Nếu không thuộc các trường hợp trên mà NSDLĐ chấm dứt HĐLĐ với NLĐ thì được xem là trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
Thứ ba, do trong quá trình làm việc theo hợp đồng, anh P được bầu làm chủ tịch công
đoàn cơ sở công ty A, nhiệm kỳ 2014-2016 ( cán bộ công đoàn không chuyên môn) nên căn cứ theo Điều 25 Luật công đoàn 2012 quy định về Bảo đảm cho cán bộ công đoàn như sau:
Điều 25 Bảo đảm cho cán bộ công đoàn
“1 Trường hợp hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hết hạn mà người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ thì được gia hạn hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc đến hết nhiệm kỳ
2 Đơn vị sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, sa thải, buộc thôi việc hoặc thuyên chuyển công tác đối với cán bộ công đoàn không chuyên trách nếu không có ý kiến thỏa thuận bằng văn bản của Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở Trường hợp không thỏa thuận được, hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền Sau 30 ngày, kể từ ngày báo cáo cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, đơn vị sử dụng lao động có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình
3 Trường hợp người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách bị cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, buộc thôi việc hoặc sa thải trái pháp luật thì Công đoàn có trách nhiệm yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp; nếu được ủy quyền thì Công đoàn đại diện khởi kiện tại Toà án
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho cán bộ công đoàn; đồng thời hỗ trợ tìm việc làm mới và trợ cấp trong thời gian gián đoạn việc làm theo quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.”
=> Theo những quy định trên khi hợp đồng lao động hết hạn là căn cứ để chấm dứt hợp đồng lao động Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật, vì người lao động là anh P
Trang 5đang giữ chức vụ chủ tịch công đoàn cơ sở (cán bộ công đoàn không chuyên trách) và đang trong nhiệm kì 2014-2016 mà hết hạn hợp đồng lao động thì được gia hạn hợp đồng lao động tới khi hết nhiệm kỳ Vì vậy, việc công ty chấm dứt hợp đồng lao động, không gia hạn hợp đồng lao động với anh P là trái pháp luật
2 Anh P phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình? Khi đó, quyền hạn của anh P là gì?
Căn cứ vào khoản 3 Điều 25 Luật công đoàn năm 2012 quy định Bảo đảm cho cán bộ công đoàn như sau:
Điều 25 Bảo đảm cho cán bộ công đoàn
“3 Trường hợp người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách bị cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, buộc thôi việc hoặc sa thải trái pháp luật thì Công đoàn có trách nhiệm yêu cầu
cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp; nếu được ủy quyền thì Công đoàn đại diện khởi kiện tại Toà án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho cán bộ công đoàn; đồng thời hỗ trợ tìm việc làm mới và trợ cấp trong thời gian gián đoạn việc làm theo quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.” Như vậy, có 2 trường hợp xảy ra:
Nếu anh P đề nghị gia hạn tiếp hợp đồng và công ty A chấp nhận thì công ty
A không phạm luật, anh P sẽ tiếp tục làm chủ tịch công đoàn đến hết nhiệm
kỳ 2014-2016
Nếu anh P đã đề nghị được gia hạn nhưng công ty A vẫn quyết định chấm dứt hợp đồng lao động thì anh P có quyền khởi kiện tại Tòa án, các cơ quan nhà nước về quản lý lao động để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình
- Vì tranh chấp giữa anh phương với công ty là tranh chấp lao động cá nhân nên buộc phải qua thủ tục yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân
- Trong trường hợp hoà giải không thành hoặc một trong hai bên không thực hiện các thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành hoặc hết thời hạn giải quyết mà hoà giải viên lao động không tiến hành hoà giải thì mỗi bên tranh chấp có quyền yêu cầu Toà án giải quyết
Trang 6B LÝ THUYẾT:
Trước khi giao kết hợp đồng lao động, NSDLĐ và NLĐ có nghĩa vụ gì đối với nhau? Vấn đề thực hiện việc giao kết hợp đồng lao động được pháp luật nước ta quy định như thế nào?
Bài làm:
1 Hợp đồng lao động là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động
về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động
2 Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động
1 Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực
2 Tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội
3 Nghĩa vụ giao kết hợp đồng lao động
1 Trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động và người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động
Trong trường hợp người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì việc giao kết hợp đồng lao động phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động
2 Đối với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì nhóm người lao động có thể ủy quyền cho một người lao động trong nhóm để giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản; trường hợp này hợp đồng lao động có hiệu lực như giao kết với từng người
Hợp đồng lao động do người được ủy quyền giao kết phải kèm theo danh sách ghi rõ
họ tên, tuổi, giới tính, địa chỉ thường trú, nghề nghiệp và chữ ký của từng người lao động
*Trước khi giao kết hợp đồng lao động, NLĐ và NSDLĐ có nghĩa vụ cung cấp thông tin trước khi giao kết hợp đồng lao động.Nghĩa vụ cung cấp thông tin trước khi giao kết hợp đồng lao động được quy định cụ thể tại Điều 19 Bộ luật lao động 2012 Theo
Trang 7đó, cả hai bên trong hợp đồng lao động là người sử dụng lao động và người lao động
có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên kia biết các nội dung cần phải biết để quyết định có tiến hành giao kết hợp đồng hay không Theo đó:
Đối với người sử dụng lao động:
Người sử dụng lao động có nghĩa vụ cung cấp các thông tin sau đây cho người lao động trước khi giao kết hợp đồng: công việc, địa điểm làm việc, điều kiện làm việc, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn lao động, vệ sinh lao động, tiền lương, hình thức trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, quy định về bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người lao động yêu cầu
Nói cách khác, người sử dụng lao động phải cung cấp toàn bộ thông tin có liên quan của người sử dụng lao động đến người lao động trước khi họ tiến hành giao kết hợp đồng, làm việc cho người sử dụng lao động Chỉ khi biết tất cả các vấn đề đó, người lao động mới được đảm bảo quyền lợi của mình, quyết định có giao kết hợp đồng hay không một cách đúng với ý chí của mình nhất
Đối với người lao động:
Ngược lại, nếu như người sử dụng lao động thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin cho người lao động để đảm bảo quyền lợi cho người lao động thì việc người lao động cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động sẽ đảm bảo cho người sử dụng lao động được thực hiện quyền của mình Người lao động có nghĩa vụ phải cung cấp cho người
sử dụng lao động các thông tin về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu
Việc cung cấp các thông tin về người lao động cho người sử dụng lao động để đảm bảo các vấn đề về mặt thủ tục hành chính khi người lao động làm việc cho người sử dụng lao động đồng thời nó sẽ là cơ sở để người lao động xem xét xem người lao động đó có đáp ứng được các yêu cầu mà người sử dụng lao động đặt ra hay không?
Trang 8Quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin trước khi giao kết hợp đồng lao động tại Điều
19 Bộ luật lao động 2012 sẽ đảm bảo cho quyền lợi của cả người lao động và người sử dụng lao động để họ biết một cách rõ ràng nhất các thông tin cần thiết của đối phương
có liên quan đến trước hết là quyết định có giao kết hợp đồng hay không, sau đó là quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên sau khi đã giao kết hợp đồng Việc cung cấp thông tin của hai bên đảm bảo cho phía bên kia biết được các thông tin cơ bản nhất
để người lao động xem xét xem người sử dụng lao động có đáp ứng được các yêu cầu của người lao động hay không, đặc biệt là về vấn đề tiền lương và điều kiện làm việc cũng như để người sử dụng lao động đánh giá các điều kiện của người lao động có đáp ứng được các điều kiện mà người sử dụng lao động đặt ra khi tuyển dụng hay không Điều này sẽ đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng sau này đúng theo nguyên tắc giao kết
hợp đồng lao động là “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”.
4 Những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động
1 Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động
2 Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động
5 Giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động
Người lao động có thể giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động, nhưng phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết
Trong trường hợp giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động, việc tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người lao động được thực hiện theo quy định của Chính phủ
Ngoài ra, trước khi giao kết hợp đồng chính thức, NLĐ và NSDLĐ có thể Giao kết hợp đồng thử việc
Khi giao kết hợp đồng này, người lao động cần lưu ý, đối với một công việc thì chỉ được thử việc một lần Với hợp đồng lao động làm theo mùa vụ thì không cần phải thử việc
Tiền lương do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó (Mức lương theo công việc hoặc chức danh là mức lương trong thang lương, bảng lương của doanh nghiệp)
Trang 9Về thời gian thử việc:
- Không quá 60 ngày đối với vị trí công việc yêu cầu trình độ chuyên môn, kỹ thuật
từ cao đẳng trở lên
- Không quá 30 ngày đối với vị trí công việc yêu cầu trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ
- Không quá 06 ngày làm việc đối với các công việc khác