1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Làng xã theo đại cương văn hóa việt nam

10 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 36,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay nước ta tiến lên CNH – HĐH thì làng xã vẫn không mất đi vai trò quan trọng của nó. Trong các nguồn lực cung cấp cho việc CNH – HĐH thì nguồn lực không thể thiếu và đóng vai trò quan trọng đó là nguồn lực con người.Nông thôn là nơi cung cấp nguồn lực con người chiếm tỉ trọng lớn. Do đó cho nên ngày nay làng xã vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng cả về kinh tế, quốc phòng và văn hóa. Để không cho một nét văn hóa độc đáo có từ hàng ngàn năm bị phai nhạt và lãng quên. Để cho mọi người thấy được những nét độc đáo mà không đâu trên thế giới ngày nay có và gìn giữ được thì việc nghiên cứu và tìm tòi những nét đẹp độc đáo của văn hóa làng lại cần thiết đến vậy. chính vì lý do này mà em chọn đây là đề tài nghiên cứu cho bài tiểu luận này. Mặt khác, Làng Việt, trong quá khứ và hiện tại, luôn là một cộng đồng về lãnh thổ, kinh tế, văn hóa và là những tế bào sống trong cơ cấu xã hội Việt Nam, nơi lưu giữ và biểu hiện sinh động bản sắc văn hóa Việt Nam. Đề tài này tuy không phải là một đề tài mới và đã được rất nhiều nhà khoa học lớn tìm tòi và nghiên cứu. Nhưng đây là một vấn đề rất rộng lớn mà ở đây em chỉ chọn một khía cạnh nhỏ để mà tìm hiểu thêm về văn hóa làng xã Việt Nam trong truyền thống và sự thay đổi của trong những đặc trưng này của làng xã trước sự nghiệp công nghiệp hoá ở Việt Nam hiện nay.

Trang 1

MỤC LỤC

A. Lý do chọn đề tài

B. Nội dung

1. Khái niệm

a) Làng

b) Xã

c) Thôn

d) Làng xã

2. Phân loại làng xã

a) Theo thời gian hình thành

b) Theo vùng địa lý

c) Theo nghề nghiệp

d) Theo phương thức thành lập

e) Theo tôn giáo

f) Theo đặc điểm văn hóa

3. Đặc trưng của làng xã

a) Tên gọi b) Tổ chức c) Đặc trưng cơ bản

4. Sự thay đổi đặc trưng làng xã truyền thống trước sự nghiệp CNH đất nước

a) Hiện trạng b) Thuận lợi c) Khó khăn

5. Biện pháp xây dựng và phát triển văn hóa làng xã

Trong cuộc sống hiện đại ngày nay khi mà đất nước đang trên đà phát triển ngày một hiện đại và giàu đẹp hơn Không nằm ngoài sự phát triển đó ở các vùng nôn

Trang 2

thôn, các làng quê đã có nhiều sự thay đổi để bắt kịp sự phát triển của đất nước, bằng chứng là ở các vùng nông thôn ngày nay các khu công nghiệp, các khu chế xuất mọc lên ngày càng nhiều và quy mô thì ngày càng lớn hơn Từ những khu công nghiệp, khu chế xuất đó mà đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao hơn: nhà nào cũng có tivi, đài, xe máy.v.v… Các quán hàng thì mọc lên ngày một nhiều cùng với các loại hình dịch vụ giải trí: karaoke, internet.v.v… Nhưng

đó cũng chính là vấn nạn cần quan tâm vì nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa của nhân dân Và quan trọng hơn nó sẽ phá vỡ nét văn hóa “làng” độc đáo khi mà ngày nay mọi người giành thời gian cho những hoạt động của làng

xã ngày càng ít Ngày nay nước ta tiến lên CNH – HĐH thì làng xã vẫn không mất đi vai trò quan trọng của nó Trong các nguồn lực cung cấp cho việc CNH – HĐH thì nguồn lực không thể thiếu và đóng vai trò quan trọng đó là nguồn lực con người.Nông thôn là nơi cung cấp nguồn lực con người chiếm tỉ trọng lớn

Do đó cho nên ngày nay làng xã vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng cả về kinh

tế, quốc phòng và văn hóa Để không cho một nét văn hóa độc đáo có từ hàng ngàn năm bị phai nhạt và lãng quên Để cho mọi người thấy được những nét độc đáo mà không đâu trên thế giới ngày nay có và gìn giữ được thì việc nghiên cứu

và tìm tòi những nét đẹp độc đáo của văn hóa làng lại cần thiết đến vậy chính vì

lý do này mà em chọn đây là đề tài nghiên cứu cho bài tiểu luận này Mặt khác, Làng Việt, trong quá khứ và hiện tại, luôn là một cộng đồng về lãnh thổ, kinh tế, văn hóa và là những tế bào sống trong cơ cấu xã hội Việt Nam, nơi lưu giữ và biểu hiện sinh động bản sắc văn hóa Việt Nam Đề tài này tuy không phải là một

đề tài mới và đã được rất nhiều nhà khoa học lớn tìm tòi và nghiên cứu Nhưng đây là một vấn đề rất rộng lớn mà ở đây em chỉ chọn một khía cạnh nhỏ để mà tìm hiểu thêm về văn hóa làng xã Việt Nam trong truyền thống và sự thay đổi của trong những đặc trưng này của làng xã trước sự nghiệp công nghiệp hoá ở Việt Nam hiện nay

B. NỘI DUNG

1 Khái niệm:

a) Làng:

Trang 3

- Làng là một đơn vị cư trú và một hình thức tổ chức xã hội quan trọng của nông thôn ở Việt Nam

- Là đơn vị tụ cư nhỏ nhất nhưng chặt chẽ và hoàn thiện nhất của người Việt

- Đặc điểm:

• Là một sản phẩm của nền nông nghiệp lúa nước

• Là một đơn vị gắn kết cộng đồng tự quản

• Là đơn vị kinh tế quốc gia

 Làng là một đất nước “ thu nhỏ “

b) Xã:

- Xã” là danh từ (theo tiếng Hán) có nơi gọi là Thôn, dùng để chỉ đơn vị hành chính thấp nhất của nhà nước Phong kiến ở các vùng nông thôn Việt Nam xưa Ngày nay tên gọi xã vẫn dùng để chỉ đơn vị hành chính địa phương cở sở ở nông thôn

- Là danh từ chỉ một làng lớn

- Lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam vào đầu thế kỷ VII dưới thời thống trị của nhà Đường

c) Thôn:

- Cũng xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ X Là danh từ chỉ một làng nhỏ thông

thường dưới chế độ phong kiến Việt Nam thì thôn cũng là một đơn vị hành chính

dưới cấp xã

- Cấp thôn ra đời chính là do nhu cầu quản lý hành chính của bản thân cấp xã

Thôn là đầu mối giáp nối, gắn kết và điều hòa hai hệ thống quản lý hành chính và

tự trị, luật pháp và tục lệ, chính trị và xã hội

d) Làng xã:

- “Làng xã” là một đơn vị tụ cư, đơn vị kinh tế, đơn vị tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa cộng đồng, đơn vị hành chính cấp cơ sở

- Cụm từ “làng xã” hết sức thông dụng, thậm chí nhiều người tưởng rằng làng với xã chỉ là một và có cùng nguồn gốc rất lâu đời

- Khái niệm “làng xã” xuất hiện sớm nhất từ thế kỷ VII, đến thế kỷ X, sau khi cấp xã chính thức xuất hiện mới có điều kiện trở thành phổ biến trong xã hội

- Bên trong làng thường chia làm thôn, xóm, ngõ:

+ Ngõ gồm những gia đình ở 2 bên lối đi trong làng

+ Xóm là địa vực cư trú nhỏ của làng

+ Thôn là địa vực cư rú của vài ba xóm Mỗi làng thường có từ vài ba thôn

Trang 4

trở lên, nhưng cũng có khi chỉ một thôn Việc phân chia địa vực trong làng rất

khác nhau và khó tìm được mô hình chung

2 Phân loại làng xã

a) Theo thời gian hình thành:

- Thời gian hình thành làng xã sớm muộn khác nhau đã để lại những dấu ấn không nhỏ trong

làng xã người Việt của các vùng, tạo ra những yếu tố khác biệt về văn hóa làng xã

- “Khu biệt văn hóa” trong tổng thể “không gian văn hóa và thời gian văn hóa

Việt Nam… một Việt Nam thống nhất trong đa dạng”

- Gồm:

• Làng cổ ( làng truyền thống): Điển hình cho văn hóa thời trung và cận đại

• Làng mới ( làng hiện đại): Điển hình cho văn hóa hiện đại

b) Theo vùng địa lý

- Làng miền núi (thường gọi là bản, mường, plây, buôn); làng trung du, làng

đồng bằng (làng, ấp, phum, sóc)

- Những người sống trên một khu vực mặc dù thuộc các dòng họ khác nhau

cũng hợp lại thành một làng Dân làng sống bình đẳng với nhau, tôn trọng người

lớn tuổi Đặc biệt có quan hệ láng giềng gắn bó (Bán anh em xa mua láng giềng

gần)

- Gồm: Thượng, Hạ, Đoài, Đông

c) Theo nghề nghiệp

- Làng nông nghiêp, làng chài (vạn), làng thủ công như làng đúc đồng (Đại Bái),

làng dệt lụa (Nghi Tàm), làng gốm (Bát Tràng) Quảng Bình có các làng nghề thủ công như làng dệt chiếu An Xá, làng gốm Mĩ Cương, làng đan lát Thọ Đơn

Những người cùng làm một nghề (không kể trồng lúa) về sau gọi là

phường Những phường này sẽ là mầm mống của thành thị Hà Nội ngày xưa có

36 phố phường, mỗi phố phường nguyên là một làng nghề Ngày nay vẫn còn giữ tên gọi cũ như phố Hàng Bún, Hàng Bông, Hàng Đào, Hàng Cá

d) Theo phương thức thành lập

- Được phản ánh qua tên gọi: Xá

- Làng thành lập dựa trên hình thức di dân khai canh; đồn điền nông

Trang 5

nghiệp chuyển thành trại; điền trang gọi là trấn…

e) Theo tôn giáo

- Gồm: Làng thuần lương, làng công giáo toàn tòng

f) Theo đặc điểm văn hóa

- Làng văn còn được gọi là làng văn vật, ngày nay chúng ta gọi là làng văn

hóa Trong chuyên khảo “Làng văn hóa xứ Thanh” các tác giả định nghĩa “Làng

văn là dạng làng nổi tiếng về văn học được mọi người kính nể, ngày nay con cháu vẫn tiếp tục phát huy Đó là những làng có truyền thống học chữ Nho, nhiều người đỗ đạt cùng sinh hoạt văn hóa của các gia đình Nho học tạo ra nét văn hóa

riêng cho các làng văn”

- Làng võ là những làng có truyền thống thượng võ, dân làng hầu hết mọi

người đều biết võ nghệ, trong làng thường có lò võ Ở Bình Định có 3 làng võ nổi tiếng là An Thái, An Vinh và Thuận Truyền

3 Đặc trưng của làng xã:

a) Tên gọi:

- Các loại làng xã người Việt không những được hình thành theo những con

đường khác nhau, mà tên gọi chung cũng có sự khác nhau qua các thời kỳ lịch sử

- Theo các thời kỳ lịch sử, tên của các làng xã cũng có sự thay đổi do nhiều nguyên nhân khác nhau Có nhiều cách khác nhau được dùng để đặt tên làng xã:

• Được đặt tên theo đặc điểm tự nhiên hay sinh hoạt của làng xã đó

• Đặt theo ý chí, ước nguyện hay một ý nghĩa bóng bẩy

• Đặt theo tên quê gốc

• Đặt theo tên cây trồng hoặc cây dại

• Đặt theo nghề nghiệp

b) Tổ chức:

- Thiết chế tổ chức: được tổ chức theo nhiều nguyên lý khác nhau: huyết thống, địa bàn

cứ trú, nghề nghiệp, tuổi nam giới, đơn vị hành chính,…

Trang 6

- Mô hình làng xã:

• Dân cư: dân chính cư và dân ngụ cư

• Điển thổ: công điền và tư điền

• Thứ hạng: chức sắc, chức dịch, lão, đinh, ti ấu

• Biểu tượng: cây đa, giếng nước, sân đình,lũy tre,…

c) Đặc trưng cơ bản của làng xã truyền thống

- Một nguyên tắc quan trọng hình thành nên làng là tính cộng đồng Tính cộng đồng có vai trò gắn kết các thành viên trong làng lại với nhau thông qua các biểu tượng mang tính truyền thống, như cây đa, bến nước, sân đình Hầu hết, mọi làng của người Việt đều hội tụ cả ba biểu tượng này

- Cùng với tính cộng đồng, tính tự trị cũng là một đặc trưng gốc rễ trong văn hoá làng của người Việt Tính tự trị nhấn mạnh đến sự khác biệt, là nền tảng tạo nên tính độc lập cộng đồng Đối với làng, biểu tượng truyền thống của tính tự trị là luỹ tre làng Do tính chất khép kín dẫn đến làng người Việt luôn mang trong mình tính bảo thủ, địa phương cục bộ như “Trống làng nào làng đấy đánh” , “Thánh làng nào làng nấy thờ”…

Chức

năng Liên kết các thành viên Xác định sự độc lập củalàng

Bản

Biểu

Ưu

điểm

- Tinh thần đoàn kết tương trợ

- Tính tập thể hòa đồng

- Nếp sống dân chủ bình đẳng

- Tinh thần tự lập

- Tính cần cù

- Nếp sống tự cấp tự túc

Hạn chế

- Thủ tiêu vai trò cá nhân

- Thói dựa dẫm, ỷ lại

- Thói cào bằng, đố kị

- Óc tư hữu, ích kỷ

- Óc bè phái, địa phương

- Óc gia trưởng, tôn ti

- Nhà nước chỉ can thiệp vào làng xã trong việc thu thuế, bắt lính; xử lý những vụ

án hình sự, hay những vụ tranh chấp dân sự làng không hòa giải được; can thiệp khi có dịch bệnh lớn…còn lại thuộc quyền tự trị, tự quản của các làng xã

Trang 7

- Do tính chất tự trị, tự quản cao như thế nên người ta đánh giá làng xã cổ truyền Việt Nam “như một nước cộng hòa thu nhỏ”, với những thiết chế chặt chẽ, những quy định bảo đảm “dân chủ làng xã” và cố kết cộng đồng rất cao

 Với đặc trưng vừa mang tính cộng đồng vừa mang tính tự trị cho nên làng của người Việt có tinh thần đoàn kết hỗ trợ lẫn nhau nhưng cũng luôn khép kín bảo thủ Làng là tổ chức xã hội cơ sở đặc biệt của người Việt mà từ đó tạo nên tính cách của người Việt, mà một trong những tính cách mạng, tính truyền thống ngàn đời đó chính là ý thức độc lập và lòng yêu nước Tính cộng đồng làng xóm tạo nên tinh thần đoàn kết toàn dân bởi vậy mới có: Bầu

ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn và cao hơn là Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng Như vậy, tinh thần đoàn kết toàn dân, ý thức độc lập dân tộc và lòng yêu nước được xuất phát và hun đúc từ truyền thống làng của người Việt Nam

Vì vậy, những giá trị đó khiến làng xã xưa bình yên, vững vàng trước các

yếu tố ngoại lai suốt quá trình dựng nước và giữ nước

4 Sự thay đổi của đặc trưng làng xã truyền thống trước sự nghiệp CNH đất nước:

a) Hiện trạng:

- Trong xã hội hiện đại, xét về mặt cấu trúc, kiến trúc, làng Việt Nam đã thay đổi toàn diện về mọi lĩnh vực Trong xu thế đô thị hoá, CNH-HĐH hầu như còn rất ít làng còn giữ được các biểu tượng truyền thống mang tính cổ điển của làng như luỹ tre, cây đa, bến nước, sân đình Tuy vậy, những đặc trưng tốt đẹp trong văn hoá làng của người Việt vẫn tồn tại và được thừa kế, phát huy Những giá trị mang tính bản sắc ấy ở nông thôn bên cạnh những thuận lợi còn đang đứng trước những thách thức rất lớn:

b) Thuận lợi:

- Văn hóa Việt Nam có tính linh hoạt

- Thời điểm: thiên thời, địa lợi, nhân hòa

c) Khó khăn:

Trang 8

- Thói tùy tiện, ỷ lại, đố kỵ

- Làm ăn kiểu sản xuất nhỏ

- Luật pháp: phép vua thua lệ làng

- Bệnh cửa quyền

1 Đô thị, công nghiệp

phát triển

Đô thị bị nông thôn khống chế

Môi trường tự nhiên

Nạn ô nhiễm môi trường

2 cao, tiện nghi đầy đủĐời sống vật chất Sự nghèo nàn,thiếu thốn Lối sống tìnhnghĩa Lối sống thựcdụng

3 Vai trò cá nhân nângcao Thói dựa dẫm,bệnh bảo thủ Tính tập thể,ổn định gia

đình

Lối sống cá nhân chủ nghĩa

4 Tinh thần tự do phêphán Thói gia trưởng Nề nếp, chữ“lễ” đối bằng đầu”Lối sống “ cá

5 Sự liên kết quốc tếrộng rãi Óc địa phươngchủ nghĩa Tính tự trị tượng đồi trụyNhững hiện

5 Biện pháp xây dựng và phát triển văn hóa làng xã

- Bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống:

• Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân dân, dân chủ, tieesnbooj

• Làm cho văn hóa găn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng để phát triển

• Kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp đồng thời đấu tranh chống lại nền văn hóa lạc hậu

- Tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại:

• Biến đổi cái ngoại lai cho phù hợp với văn hóa dân tộc, hướng tới “ chân-thiện- mỹ”

• Lọai trừ những yếu tố văn hóa độc hại

- Tăng cường quản lý văn hóa:

• Kiện toàn hệ thống văn bản pháp uy để bảo vệ văn hóa truyền thống

• Đầu tư thích đáng trong việc xây dựng và phát triển văn hóa

C KẾT LUẬN

Trang 9

Văn hóa làng - nét đặc chưng của người Việt Nam là kết quả của một chế độ xã hội riêng của Việt Nam, một chế độ thống nhất trên cả nước, nảy sinh trên nền tảng sinh hoạt của con người trong khung cảnh làng xã ở nông thôn Do đó, việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt là sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, cũng đặt ra yêu cầu phải thường xuyên quan tâm tới vấn đề văn hóa làng, di sản văn hóa làng - gốc rễ của bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam Sự tồn tại và phát triển của làng luôn luôn như một dòng chảy không ngừng nghỉ Nhu cầu nâng cao chất lượng sống trong làng là đòi hỏi tự nhiên của một

cơ thể sống Như vậy, “tương lai của quá khứ” hay cụ thể hơn là những giá trị của quá khứ có thể hiện diện, biến đổi hay biến mất trong tương lai không diễn ra một cách tự thân mà tùy thuộc vào cách nhìn nhận và nỗ lực điều tiết của chúng ta – những thế hệ đang thừa hưởng, nắm trong tay mình những di sản, giá trị của quá khứ, những năng lực của hiện tại và cả những cơ hội tạo dựng tương lai Sự hiện diện và ý nghĩa của giá trị truyền thống trong cách tiếp cận và phương thức tổ chức, điều tiết sự phát triển tiếp nối của những ngôi làng sẽ giúp chúng ta một cách đắc lực và hữu hiệu trong việc xây dựng một tương lai bền vững mà vẫn bảo tồn được các giá trị truyền thống tốt đẹp Chúng ta hiện đang thiếu quá nhiều thứ Bên cạnh phương thức quản lý phù hợp, chúng

ta còn đang thiếu hụt nguồn lực xã hội để tạo đà cho sự phát triển của các vùng nông thôn Chính vì vậy, con đường để phát triển làng xã theo kịp sự phát triển của đất nước vẫn là con đường rất lâu dài, chứ không thể là ngày một, ngày hai Nhưng trước mắt, cần gấp rút thay đổi cung cách ứng xử với làng xã Để giải quyết vấn đề vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài này, Nhà nước cần có những giải pháp vĩ mô, nhưng vai trò rất quan trọng của mỗi cộng đồng dân cư, làng xã, dòng họ và mỗi cá nhân phải được phát huy, khơi lại những giá trị truyền thống trong trẻo, nâng cao lòng tự hào về truyền thống để thích nghi với xã hội hiện đại mà không mất gốc, mất đi bản sắc văn hóa Việt được đúc kết qua ngàn năm lịch sử đáng tự hào của tổ tiên ta

Trang 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thái Vũ (2019) “Làng xã xưa và nay”, Báo điện tử ĐCS Việt Nam

2. Trần Duy ( 2019) “Văn hóa làng xã Việt’’, NXB Hà Nội

3. Ngô Phương Thảo (2017) “Văn hóa làng xã Việt Nam trong thời hiện đại”, Báo Nhân dân cuối tuần

4. TS Phạm Thái Việt ( Chủ biên), Giáo trình Đại cương về văn hóa Việt Nam (2004), NXB Văn hóa- Thông tin

5. Lễ hội cổ truyền, Lê Trung Vũ (chủ biên ), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992

6. Việt Nam phong tục tái bản, Phan Kế Bính, Nxb TP Hồ Chí Minh,

1990

Ngày đăng: 03/03/2022, 12:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thái Vũ (2019). “Làng xã xưa và nay”, Báo điện tử ĐCS Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã xưa và nay
Tác giả: Thái Vũ
Năm: 2019
3. Ngô Phương Thảo (2017). “Văn hóa làng xã Việt Nam trong thời hiện đại”, Báo Nhân dân cuối tuần Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa làng xã Việt Nam trong thời hiệnđại
Tác giả: Ngô Phương Thảo
Năm: 2017
2. Trần Duy ( 2019). “Văn hóa làng xã Việt’’, NXB Hà Nội Khác
4. TS. Phạm Thái Việt ( Chủ biên), Giáo trình Đại cương về văn hóa Việt Nam (2004), NXB Văn hóa- Thông tin Khác
5. Lễ hội cổ truyền, Lê Trung Vũ (chủ biên ), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992 Khác
6. Việt Nam phong tục tái bản, Phan Kế Bính, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1990 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w