LỊCH SỬ NGÀY NHÀ GIÁO Tháng 7 năm 1946, một tổ chức quốc tế các nhà giáo tiến bộ được thành lập ở Paris đã lấy tên là Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục.. Nǎm 1949, tại một hội ng
Trang 3LỊCH SỬ NGÀY NHÀ GIÁO
Tháng 7 năm 1946, một tổ chức quốc tế các nhà giáo tiến bộ được thành lập ở Paris
đã lấy tên là Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục
Nǎm 1949, tại một hội nghị ở Warszawa (thủ đô của Ba Lan), Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục đã ra bản “Hiến chương các nhà giáo” gồm 15 chương với nội dung chủ yếu là đấu tranh chống nền giáo dục tư sản, phong kiến, xây dựng nền giáo dục trong đó bảo vệ những quyền lợi của nghề dạy học và nhà giáo, đề cao trách nhiệm và
vị trí của nghề dạy học và nhà giáo
NGÀY NHÀ GIÁO Ở MỘT SỐ QUỐC GIA
Ngày Nhà giáo là ngày lễ được tổ chức tại một số quốc gia với mục đích tôn vinh
các giáo viên Tùy theo mỗi quốc gia, ngày Nhà giáo vẫn được tổ chức trong những ngày làm việc bình thường, hoặc ngày Nhà giáo có thể là một ngày nghỉ
Việt Nam:
- Ngày 20 tháng 11- Ngày Nhà giáo Việt Nam hay còn gọi là ngày lễ Hiến chương Nhà giáo Việt Nam - ngày lễ hội của ngành giáo dục và là ngày “tôn sư trọng đạo” nhằm mục đích tôn vinh những người hoạt động trong ngành này
- Đây là một ngày lễ rất lớn ở Việt Nam nói chung và trong ngành Giáo dục Việt Nam nói riêng Trên thực tế ở Việt Nam, ngày Nhà giáo được các cấp chính quyền Nhà nước rất quan tâm và tham gia chủ trì Hầu như mỗi trường đều tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao chào mừng ngày Nhà giáo Ngoài ra, trong ngày này các học sinh, sinh viên và các cựu sinh viên cũng thường tổ chức tặng hoa, tặng quà cho thầy cô giáo, đến thăm trường cũ và đến thăm các thầy cô cũ của mình
- Nguồn gốc của Ngày Nhà giáo Việt Nam là việc Tổ chức Liên hiệp quốc tế các Công đoàn giáo dục, trong đó Công đoàn giáo dục Việt Nam là một thành viên, trong kỳ họp năm 1958 đã lấy ngày 20 tháng 11 làm ngày “Quốc tế Hiến chương các nhà giáo” Đến ngày 28 tháng 9 năm 1982, theo quyết định 167-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam, ngày 20 tháng 11 chính thức trở thành Ngày Nhà giáo Việt Nam
Brasil: 15 tháng 10
Một sắc lệnh điều chỉnh các trường tiểu học ở Brasil Lễ kỷ niệm nhanh chóng được phổ biến rộng rãi trên toàn quốc và ngày 15 tháng 10 năm 1963 được chính thức xem là ngày Nhà giáo Brasil
Hàn Quốc: 15 tháng 10 (Ngày Nhà giáo không được tổ chức trên toàn Hàn Quốc trong giai đoạn 1973-1982).
- Ngày Nhà giáo Hàn Quốc bắt nguồn từ việc một nhóm thanh niên là thành viên của Hội Chữ thập Đỏ đến thăm các thầy cô giáo cũ đang ốm tại một bệnh viện
- Trong ngày này, buổi học thường kết thúc sớm và các học sinh sinh viên thường tặng cho thầy cô của mình những bông hoa cẩm chướng xinh đẹp Một số trường cho cho
Trang 4thầy cô và học sinh nghỉ vào ngày này Một số trường khác lại tổ chức các chuyến đi chơi xa cho các thầy cô giáo
Hồng Kông: Ngày 10 tháng 9
Trước sự kiện Hồng Kông được trao trả về Trung Quốc, Ngày Nhà giáo được tổ chức vào ngày 28 tháng 9 theo truyền thống của Trung Hoa Dân Quốc từ năm 1950 Sau khi được trao trả về cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào năm 1997, Hồng Kông tổ chức ngày Nhà giáo cùng thời điểm với CHND Trung Hoa
Malaysia: Ngày 16 tháng 5
Ngày này được chọn vì vào tháng này năm 1956, Hội đồng Lập pháp liên bang Malaysia nhận được nhiều văn bản đề nghị quan tâm tới ngày giáo viên từ Ủy ban Giáo dục, xem như nền tảng của nền giáo dục quốc gia Văn bản Razak Report quyết định chọn ngày giáo viên Malaysia kể từ đó Dù đây không phải là ngày nghỉ học nhưng lễ chào mừng vẫn được tổ chức chính thức vào 16 tháng 5 hoặc sớm hơn nếu ngày này rơi vào thứ 7 hoặc chủ nhật
Nga: Ngày 5 tháng 10
Trong các năm 1965 - 1994, ngày Nhà giáo là ngày Chủ nhật đầu tiên của tháng 10
Từ năm 1994, ngày Nhà giáo Nga được lấy theo ngày Nhà giáo Quốc tế 5 tháng 10
Singapore: Ngày 1 tháng 9
Đây là một ngày nghỉ lễ chính thức Còn buổi lễ mừng ngày Nhà giáo được tổ chức vào ngày 8 tháng 10, hôm mà hoc sinh sinh viên được nghỉ nửa ngày
Thái Lan: Ngày 16 tháng 1
Vào ngày 21 tháng 11 năm 1956, Thái Lan quyết địng chọn ngày Nhà giáo là ngày 16 tháng 1 Ngày Nhà giáo đầu tiên được tổ chức vào năm 1957
Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan): Ngày 28 tháng 9
- Ngày Nhà giáo của Trung Hoa Dân Quốc vinh danh đức hạnh, những đóng góp của của thầy cô giáo cho xã hội cũng như những khó nhọc mà họ phải chịu đựng khi đã theo đuổi nghề “đưa đò” cho học sinh Người dân thường nhân ngày này bày tỏ sự kính trọng của họ đối với các thầy cô giáo, ví dụ thăm hỏi hoặc tặng thầy cô các tấm thiệp mừng Ngày Nhà giáo được tổ chức để kỷ niệm ngày sinh của Khổng Tử, người thầy đáng kính của nền giáo dục Trung Hoa cổ điển Thật ra, vào năm 1939, theo quyết định của Bộ Giáo dục Trung Hoa Dân Quốc, ngày Nhà giáo là ngày 27 tháng 8 vì thời đó người ta cho rằng Khổng Tử sinh vào ngày này Đến năm 1952, ngày Nhà giáo mới được Hành chính viện đổi lại như hiện nay, theo ngày sinh chính xác của Khổng Tử
- Ngày Nhà giáo tại Trung Hoa Dân Quốc là một ngày lễ rất lớn, được tổ chức ở hầu khắp các đền thờ Khổng Tử trên toàn hòn đảo Đài Loan Chính vì vậy ngày lễ này còn
được gọi là Tế Khổng Đại Điển Buổi lễ bắt đầu vào lúc 6 giờ sáng bằng một tiếng
trống Sau đó 54 nhạc công mặc áo choàng, thắt lưng xanh cùng với 36 (hay 64) vũ công mặc áo vàng, thắt lưng màu lục bắt đầu biểu diễn các điệu nhảy mừng ngày lễ này
Trang 5Tất cả những việc này được tổ chức bởi người đứng đầu dòng họ Khổng của Khổng Tử (hiện nay là ông Khổng Đức Thành) cùng với các quan chức khác Trong buổi lễ, các
súc vật như bò, dê, lợn được hiến tế Bộ lông của những con vật này được gọi là Bộ lông của sự Thông thái Và trong buổi lễ còn có phần trao giải thưởng cho các nhà
giáo có nhiều cống hiến quý giá cho nền giáo dục Trung Hoa Dân Quốc
MỘT SỐ NHỮNG ĐƯỜNG PHỐ VIỆT NAM MANG TÊN CÁC NHÀ GIÁO
Chu Văn An người huyên Thanh Trì - Hà Nội Nổi tiếng chính trực, học vấn
uyên thâm Ông đậu Thái học sinh và ở nhà dạy học Gần xa theo học rất đông Những người nổi danh đương thời như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát đều từng thụ giáo ông Chu Văn An còn làm tư nghiệp Quốc Tử Giám Đời Trần Dụ Tông, gian thần làm nhiều điều vô đạo, Chu Văn An dâng sớ xin chém 7 tên Vua không nghe Ông lui về ở ẩn Sau khi mất (1370) Chu Văn An được thờ tại Văn Miếu, ngang hàng với các bậc hiền triết
Hà Nôi ngày nay có phố mang tên Chu Văn An
Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm 1491, mất năm 1585, quê làng Cổ Am (nay thuộc
Hải Phòng) Học giỏi, đỗ đầu 3 khoa (thi Hương, thi Hội, thi Đình) Là Trạng Nguyên, ông cũng chỉ làm quan 8 năm rồi về dạy học ở quê hương (bên dòng sông Tuyết Giang), được tôn xưng là ‘Tuyết Giang phu tử’ Ông là thầy học của nhiều danh thần, danh sĩ: Lương Hưu Khánh, Phùng Khắc Khoan (trạng Bùng), Nguyễn Dữ (tác giả “Truyền kỳ mạn lục”) v.v Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại nhiều thơ văn (Hán, Nôm) ca ngợi đạo đức của con người chân chính và tố cáo sự thối nát của xã hội phong kiến đương thời
Thủ đô Hà Nôi có phố Nguyễn Bỉnh Khiêm; Thành phố Hồ Chí Minh có tới 3 con đường mang tên ông (ở quận I, quận Gò Vấp, quận Thủ Đức) và nhiều tỉnh thành khác
Nguyễn Đình Chiểu sinh năm 1822, mất năm 1888 Là nhà thơ lớn của dân tộc,
là một trong những nhân vật tiêu biểu cho tinh thần bất khuất của miền Nam tại thời kỳ đầu thực dân Pháp xâm lược, nhưng Nguyễn Đình Chiểu cũng là một nhà giáo (nhân dân thường gọi là Cụ Đổ Chiểu) Hầu như ai cũng nhớ hai câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
Nhiều tỉnh thành đã lấy tên Nguyễn Đình Chiểu đặt cho đường phố, cho trường học (Nha Trang, vừa đặt tên đường phố, vừa đặt tên trường học)
Võ Trường Toản người huyện Bình Dương cũ (nay thuộc TP HCM) ông học
rộng đức cao, không cầu danh, chỉ ở ẩn dạy học Võ Trường Toản là người thầy đã có công đào tạo nên một loạt danh sĩ đất Gia Định xưa Nguyễn ánh (sau là vua Gia Long) thường triệu ông đến giảng sách ý muốn trọng dụng nhưng ông nhất định không nhận quan chức Ông mất năm 1792 được ban mỹ hiệu: "Gia Định xử sĩ Sùng Đức Võ tiên sinh" Môn sinh của ông đã có đôi liễn tưởng niệm thầy Dịch nghĩa là:
Khi sống, giáo huấn được người, không con như có con
Lúc chết thanh danh để lại, tuy mất mà không mất
Trang 6Võ Trường Toản rất xứng đáng với danh xưng “Bách niên sư biểu” mà học giới Gia Định thời ấy đã dành cho ông
Võ Trường Toản được đặt tên cho hai con đường (ở quận 5 và quận Bình Thạnh TP HCM)
Nguyễn Văn Ngọc sinh năm 1890, mất nằm 1942 Nguyên quán: Hải Dương.
Trên 30 năm (bằng hơn nửa cuộc đời ông) Nguyễn Văn Ngọc đứng trong giáo giới Ông dạy học ở nhiều trường (tiểu hoc, cao đẳng tiểu học rồi trường Hậu bổ, trường sư phạm) Từng làm thanh tra các trường sơ học; phụ trách cục tu thư của nha hoc chính; Hội trưởng Hội ái hữu các nhà giáo Năm 1934 được bổ nhậm đốc học tỉnh Hà Đông Nguyễn Văn Ngọc còn biên soạn sách giáo khoa và sách nghiên cứu có giá trị Ông rất quan tâm khai thác những vốn quý trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam
Hà Nội và TPHCM đều có tên đường phố Nguyễn Văn Ngọc
Cao Xuân Huy (1900 - 1983), người Diễn Châu (Nghệ An) Cao Xuân Huy xuất
thân trong một gia đình khoa bảng Ông nội (Cao Xuân Dục) đỗ cử nhân, làm đến thượng thư bộ Học, tổng tài quốc sử quán Cha (Cao Xuân Tiếu) làm giáo thụ Diễn Châu, sau thi đậu phó bảng - gia đình ông có một thư viện lớn vào bậc nhất nước Cao Xuân Huy tốt nghiệp trường cao đẳng sư phạm năm 1925 - Ông đã dạy học ở Sài Gòn, Huế đồng thời nghiên cữu triết học Sau Cách mạng tháng Tám 1945 ông làm hiệu trưởng trường trung học Nguyên Xuân Ôn (Nghệ An) Ông còn giảng dạy tại nhiều trường đại học - làm giáo sư chính lớp Hán Nôm: Lại dạy các lớp chuyên tu sau đai học Giáo sư Cao Xuân Huy đã làm công việc cao quý của người thầy giáo suốt hơn nửa thế kỷ Nhiều thế hệ hoc trò đã có hạnh phúc được thụ giáo người thầy uyên bác, tân tụy: giáo sư Cao Xuân Huy
Ở TPHCM có đường Cao Xuân Huy (tên người cháu) và đường Cao Xuân Dục (tên người ông)
Trường hợp hơi hiếm với giáo giới ta là: một gia đình ba anh em ruột cùng có tên trong sách giới thiệu “Đường phố thành phố Hồ Chí Minh” (Nhà xuất bản Văn hóa thông tin - tháng 7/2001) Ba anh em Dương Bá Trạc, Dương Quảng Hàm, Dương Tụ Quán, người làng Phú Thị, tỉnh Hưng Yên Thân phụ (Dương Trọng Phổ) là một cụ đồ,
có những hoạt động yêu nước nên năm 1909, cụ bị Pháp đầy ra Côn Đảo Được tha về,
cụ tiếp tục dạy học
Dương Bá Trạc sinh năm 1884; nổi tiếng hay chữ; mới 16 tuổi đã đỗ cử nhân.
Không muốn làm quan mà chỉ lo sao nước nhà thoát khỏi vòng nô lệ Năm 1906 (22 tuổi) Dương Bá Trạc đã cùng Phan Chu Trinh tìm cách lên Yên Thế, gặp Hoàng Hoa Thám bàn kế hoạch đánh Pháp Tiếp đó, Dương Bá Trạc tham gia Đông Kinh nghĩa thục, nhận các việc dạy học, diễn thuyết cổ động tân học, hô hào duy tân, tự cường Lại được cử vào ban tu thư của nhà trường Năm 1908, Dương Bá Trạc bị Pháp bắt, kết án
15 năm biệt xứ, đầy đi Côn Đảo Được mấy năm, chúng đưa về an trí tại Long Xuyên Tới 1917 mới tha, cho ra Bắc Toàn quyền Pháp nhiều lần mua chuộc, bổ ông làm tri huyện nhưng ông vẫn khảng khái từ chối Ông viết báo, làm sách Một số tác phẩm đã được xuất bản Tháng 10/1943, ông bị quân Nhật ở Đông Dương đưa sang Singapore -năm sau (1944), ông bệnh nặng, mất ở đó
Dương Bá Trạc được đặt tên cho một con đường ở quận 8 TP HCM
Dương Quảng Hàm là một nhà giáo liệt sĩ Ông đã hy sinh tại Hà Nội trong
những ngày đầu toàn quốc kháng chiến (tháng 12/1946) Sinh năm 1898, đến năm 1920,
Trang 7Dương Quảng Hàm đỗ đầu trong kỳ thi tốt nghiệp trường cao đẳng sư phạm Từ đó, liền
25 năm, ông là giáo sư trung học Cách mạng tháng Tám thành công, giáo sư được cử làm thanh tra trung học vụ rồi hiệu trưởng trường Chu Văn An (tức trường Bưởi cũ) Dương Quảng Hàm là người thầy mẫu mực, được tôn kính về nhân cách, về học vấn Ông còn là nhà tu thư, đã viết nhiều sách giáo khoa (từ bậc tiểu học đến bậc trung học
-có sách bằng tiếng Pháp) Chỉ riêng cuốn “Việt Nam văn học sử yếu” đã là một công trình làmm cho tên tuổi Dương Quảng Hàm được cả giáo giới và văn giới ngưỡng mộ
từ hơn nửa thế kỷ qua Cuốn “Việt Nam văn học sử yếu” ra đời năm 1941, đến nay đã được tái bản 14 lần Trong những năm vừa qua, đã có nhiều buổi lễ kỷ niệm và hội thảo khoa học về giáo sư Dương Quảng Hàm nhằm ghi nhận công lao đào tạo và trước tác của giáo sư
TP HCM và thủ đô Hà Nội đều có đường phố Dương Quảng Hàm
Dương Tụ Quán (1901 - 1969) là người em út Thuở nhỏ học chữ Nho sau
chuyển qua Tây học Từ 1921, làm thầy giáo dạy nhiều trường (ở Thái Bình, Hải Phòng,
Hà Nội, Sơn Tây)
Dương Tụ Quán cũng vừa dạy học vừa soạn sách Có cuốn sách giáo khoa được dùng trong các trường tiểu học từ 1926 đến 1945 Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cuốn
“80 bài thơ ca yêu nước” của ông soạn, đã được Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cho xuất bản để các trường kịp sử dụng ngay năm 1946
Năm 1929, ông thôi dạy học, về lập nhà in, xuất bản sách và làm báo Ông đã chủ trương các tờ “Văn học tạp chí”, “Đông tây báo” (tờ này bị thực dân Pháp cấm năm 1935), “Ngày mới” Ông cũng là người sáng lập tạp chí Tri Tân Học trò ông (là nhà văn Nguyễn Huy Tưởng) và các bạn của ông (như Hoàng Thúc Trâm, Nguyễn Văn Tố, Trần Văn Giáp ) đều là những cây bút thường xuyên cộng tác với tạp chí Tri Tân Qương Tụ Quán còn là tác giả một số sách nghiên cứu văn, sử và dịch thuật
Ở huyện Bình Chánh - TP HCM, có một con đường mang tên Dương Tụ Quán
Hoàng Ngọc Phách (1896 - 1973), người huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh), ông là nhà
giáo, là nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng sư phạm Đông Dương, ông dạy học ở nhiều nơi, Cách mạng tháng Tám thành công, ông làm giám đốc học khu Bắc Ninh, rồi giám đốc giáo dục khu 12 (1945 đến 1951); giám đốc trường cao đẳng sư phạm trung ương Lại ở trong ban tu thư của Bộ Giáo dục
Nhiều tác phẩm của ông đã được xuất bản:
- Tố Tâm (1925), tái bản nhiều lần
- Thời thế với văn chương (1941)
- Thơ văn Nguyễn Khuyến (hợp soạn 1957)
- Giai thoại văn học Việt Nam (1965)
Quận Tân Bình (TP HCM) và quận Đống Đa (Hà Nội) có đường phố Hoàng Ngọc Phách
Đặng Thai Mai (1902 - 1984) quê: huyện Thanh Chương (Nghệ An), thân phụ là
cụ Đặng Nguyên Cẩn, đỗ phó bảng, từng làm đốc học, nhưng do hoạt động yêu nước nên bị Pháp đầy ra Côn Đảo
Đặng Thai Mai tốt nghiệp cao đẳng sư phạm năm 1928 Sau đó, ông dạy trường quốc học Huế Hai lần, ông bị chính quyền thực dân cầm tù vì tham gia Đảng Tân Việt (một trong các tổ chức tiền thân của Đảng cộng sản Đông Dương) - ra tù, ông dạy học ở Hà Nội Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông được nhận nhiều chức vụ (Chủ tịch ủy
Trang 8ban kháng chiến tỉnh Thanh Hóa, Bộ trưởng Bộ Giáo dục ) lại là đại biểu Quốc hội, là Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật, Viện trưởng Viện văn học Việt Nam Ông còn để lại nhiều tác phẩm có giá trị
Quận Phú Nhuận (TP HCM) và quận Tây Hồ (Hà Nội) có đường, phố Đặng Thai Mai
Ca Văn Thỉnh (1902 - 1987), người huyện Mỏ Cày (Bến Tre).
Sau khi tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm, ông dạy học một thời gian rồi làm đốc học Bến Tre, đồng thời nghiên cứu văn học, sử học Nam Bộ kháng chiến, ông là ủy viên
Uỷ ban kháng chiến, hành chính Nam Bộ Năm 1946, tham gia phái đoàn Nam Bộ ra Trung ương, nhận nhiệm vụ quyền Bộ trưởng Bộ Giáo dục - năm 1952 trở về làm ủy viên tuyên huấn Trung ương cục miền Nam Sau 1954, tập kết ra Bắc, từng làm công tác ngoại giao rồi giám đốc thư viện khoa học xã hội Miền Nam hoàn toàn giải phóng (tháng 4/1975), ông tiếp tục làm Viện trưởng Viện khoa học xã hội (tại TP HCM) Ông
là thân sinh nhà thơ liệt sĩ Ca Lê Hiến (bút danh Lê Anh Xuân)
Ca Văn Thỉnh là tên một con đường ở quận Tân Bình (TP HCM)
Đào Duy Anh (1904 - 1988) nguyên quán Tả Thanh Oai (Hà Đông cũ), từ đời
ông nội, chuyển cư vào Thanh Hoá Có bằng Thành chung (1923), ông làm giáo học tại Đồng Hời (Quảng Bình) Từ 1926, ông thôi dạy học, cộng sự với báo Tiếng dân (của cụ Huỳnh Thúc Kháng, 1927 tham gia Đảng Tân Việt; 1929 bị Pháp bắt; 1930 được trả tự
do Từ đó ông dạy tư ở Huế Trong kháng chiến chống Pháp, ông làm việc tại Chi hội Văn nghệ liên khu 4, rồi lên Việt Bắc phụ trách Ban văn sử địa thuộc Bộ Giáo dục Năm
1953 dạy lớp dự bị Đại học ở Thanh Hóa - Năm 1954 ra Hà Nội giảng dạy ở Đại học sư phạm và Đại học tổng hợp
Sự nghiệp trước tác của ông cũng rất đồ sộ Ông đã làm các bộ Từ điển (Hán Việt, Pháp Việt, Từ điển Truyện Kiều) cùng nhiều công trình nghiên cứu sử học, văn học và các lĩnh vực khác
Quận Phú Nhuận (TP HCM và quận Đống Đa (Hà Nội) có đường, phố Đào Duy Anh
Hoàng Minh Giám (1904 - 1995) người làng Đông Ngại (nay thuộc Hà Nội) Cụ
thân sinh là Hoàng Tăng Bí, tham gia Đông kinh nghĩa thục, sau đỗ phó bảng nhưng không ra làm quan
Hoàng Minh Giám tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm Đông Dương rồi làm giáo sư ở Huế, ở Phnom Pênh (Campuchia) Sau ông từ chức, về dạy tư và làm phó hiệu trưởng trường tư thục Thăng Long ở Hà Nội Dưới chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa, ông được giao nhiều trọng trách trong Chính phủ và Quốc hội (Thư ký hội đồng Chính phủ, Thứ trưởng Bộ ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Văn hóa )
TP HCM có đường Hoàng Minh Giám ở quận Phú Nhuận
Lê Văn Chí (1907 - 1993) quê Đồng Tháp Tốt nghiệp cao đẳng sư phạm Đông
Dương, ông về dạy học tại Mỹ Tho rồi chuyển lên Sài Gòn dạy trường Pétrus Ký Nam
Bộ kháng chiến, ông ra vùng tự do, tiếp tục dạy học và làm hiệu trưởng các trường trung học Nguyễn Văn Tố, Thái Văn Lung Trong chống Mỹ cứu nước, ông làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam; uỷ viên Tiểu ban giáo dục thuộc Ban tuyên huấn Trung ương cục miền Nam
Trang 9Đường Lê Văn Chí nằm ở quận Thủ Đức (TP HCM)
Hoàng Xuân Nhị (1914 - 1990) quê Đức Thọ (Hà Tĩnh) Thuở nhỏ, học ở Vinh
(Nghệ An), Hà Nội 1935: du học tại Pháp Tốt nghiệp cử nhân triết học năm 1937 Năm 1946 về nước tham gia kháng chiến chống Pháp - từng làm giám đốc Sở Giáo dục Nam bộ - Viện trưởng Viên Văn hóa Nam Bộ Sau tháng 7/1954, ông tập kết ra Bắc làm giáo sư đại học, chủ nhiệm khoa Ngữ văn trường đại học Tổng hợp Hà Nội Ông đã biên soạn một số tác phẩm nghiên cứu văn hoc và dịch thuật
TP HCM có đường Hoàng Xuân Nhị ở quận Tân Bình
Nguyễn Văn Dưỡng (1923 - 1962) là nhà giáo liệt sĩ Quê ông, nay thuộc quân
Phú Nhuận - TP HCM Ông du học ở Pháp từ trước từ chiến thế giới thừ 2; đậu tiến sĩ luật hoc Về nước làm giáo sư Đại học Luật - Sài Gòn Sau 1954, ông ở trong ban lãnh đạo phong trào hòa bình Sài Gòn - Gia Định, cùng luật sư Nguyễn Hữu Thọ đấu tranh đòi chính quyền Sài Gòn thi hành hiệp định Genève Năm 1955, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam: ông hy sinh ngày 21 tháng 7 năm 1962
Tại quận Tân Bình (TP HCM) có đường Nguyễn Văn Dưỡng
Nguyên Thị Diệu (1926 - 1955), nhà giáo liệt sĩ Quê huyên Đức Phổ (Quảng
Ngãi) Nguyễn Thị Diệu từng học ở Sài Gòn - đậu tú tài - sau Cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp quay trở lại, bà tham gia kháng chiến ngay Được bầu vào ban chấp hành Hội Phụ nữ cứu quốc Nam bộ Tuy xuất thân từ gia đình quan lại triều đình Huế cũ nhưng bà sống giản dị, hòa mình với quần chúng Năm 1950 bà xuống miền Tây hoạt động, học bơi xuồng để một mình đi công tác tới các vùng nông thôn hẻo lánh Năm
1952 bà phụ trách công tác thuế nông nghiệp Sau hiệp định Genève, bà về Sài Gòn dạy học tại trường tư thục Đức Trí để hoạt động bí mật Bọn tay sai Ngô Đình Diệm phát hiện; bà bị bắt ngày 6-7-1955 giữa lúc đang đứng trên bục giảng Chúng tra tấn bà đến chết, lúc đó bà đang mang thai
TP HCM có đường Nguyễn Thị Diệu (được đặt tên từ 1985)
Nhất Chi Mai (1934 - 1967), nhà giáo liệt sĩ Tên thật: Phan Thị Mai, sinh tại xã
Thái Hiệp Thành (Tây Ninh) Sau khi tốt nghiệp trường quốc gia sư phạm, cô làm giáo viên tiểu học ở trường Tân Định (Sài Gòn) Cô còn học Đại học văn khoa và cao đẳng Phật học Vạn Hạnh Cô đã tham gia nhóm "Thanh niên phụng sự xã hội" (một hội đoàn thanh niên ở Sài Gòn lúc bấy giờ) - là người chị của hàng trăm trẻ em mồ côi, là người bạn của bao người nghèo tại các xóm lao động ngay nội ô Sài Gòn Trước sự bạo tàn của quân xâm lược cô quyết lấy thân mình làm cây đuốc rực lửa, thúc đẩy đấu tranh chống Mỹ, Ngụy
Ngày 8 tháng 4 Đinh Mùi (tức 16-5-1967), cô đã ngồi tự thiêu tại chùa Từ Nghiêm (Sài Gòn) để lại thư tuyệt mệnh và nhiều di bút
Đường Nhất Chi Mai nằm ở quận Tân Bình (TP HCM)
Việc những đường phố mang tên các nhà giáo xuất hiện ngày càng nhiều đã làm rạng rỡ hơn bao giờ hết truyền thống của nhà giáo Việt Nam trong thời đại mới
Theo Liên Hoa (Báo GD&TĐ)
Trang 105 NHÀ GIÁO XUẤT SẮC NHẤT LỊCH SỬ VIỆT NAM
1 CHU VĂN AN (1292 - 1379)
Nhà giáo Chu Văn An tên thật là Chu An, hiệu là Tiều Ân, tên chữ là Linh Triệt Ông
là một trong những nhà giáo ưu tú nhất trong lịch sử Việt Nam Thầy Chu Văn An vốn
là người chính trực nên không thích việc quan trường luôn ẩn chứa nhiều điều thị phi Ông mở trường dạy học ở làng Huỳnh Cung bên sông Tô Lịch (Hà Nội ngày nay) Sau này, ông được chính vua Trần Minh Tông mời đến dạy tại Quốc Tử Giám và làm thầy riêng cho thái tử Trần Vượng, tức vua Trần Hiến Tông sau này