1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THU HOẠCH: VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀO VIỆC PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC Ở TỈNH TTH

21 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 59,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triết học Mác – Lênin là một trong ba bộ phận hợp thành hữu cơ không thể tách rời của chủ nghĩa Mác Lênin, là học thuyết về những quy luật phổ biến của sự tồn tại, vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Trong đó, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Lần đầu trong lịch sử triết học C.Mác đã phát hiện ra sức mạnh của lý luận là mối liên hệ của nó trong thực tiễn, cũng như sức mạnh của thực tiễn là ở trong mối quan hệ với lý luận. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống nhất biện chứng. Như chúng ta đều biết mỗi quốc gia, dân tộc muốn phát triển kinh tế nhanh thì trước hết phải xây dựng một nền tảng khoa học kỹ thuật vững chắc. Để thực hiện được mục tiêu này thành công, đòi hỏi phải có các tiền đề cần thiết, phát huy được nội lực vốn có như tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, huy động và sử dụng vốn một cách hiệu quả, mở rộng kinh tế đối ngoại để tranh thủ nguồn vốn từ bên ngoài để học tập khoa học kỹ thuật của họ…, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước và đặc biệt không thể thiếu đó là việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả. Hiểu được vai trò quan trọng của việc phát huy nguồn nhân lực, tỉnh TTH trong những năm qua đã xây dựng chiến lược phát huy và sử dụng nguồn lực có hiệu quả, tạo động lực và góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Hiện nay, TTH là một tỉnh có nhiều bước chuyển mang tính đột phá căn bản trong phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, trước sự mở rộng và phát triển ngày càng nhanh của nền kinh tế hiện nay, việc đào tạo và phát huy nguồn nhân lực ở TTH trong thời gian qua đã bọc lộ một số hạn chế nhất định. Do đó, để góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận khoa học và tổng kết thực tiễn ở tỉnh TTH về phát huy nguồn nhân lực trong thời gian qua, cũng như đưa ra những giải pháp cụ thể để góp phần phát huy hơn nữa về nguồn nhân lực ở TTH trong thời gian tới, vì vậy tôi chọn chủ đề “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn vào việc phát huy nguồn nhân lực ở tỉnh TTH” để làm đề tài thu hoạch môn Triết học Mác Lênin.

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC II

BÀI THU HOẠCH LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

HỆ TẬP TRUNG TÊN MÔN HỌC: TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

TÊN BÀI THU HOẠCH: VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VÀO VIỆC PHÁT HUY NGUỒN NHÂN LỰC Ở TỈNH

TTH

ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021

Trang 2

PHẦN II: NỘI DUNG 2

2.1 Những vấn đề lý luận có liên quan đến nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, vai trò của nguồn nhân lực…

……… 2

2.1.1 Một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn 2

2.1.2 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ………… 4

2.1.3 Khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực ……… 5

2.1.4 Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn vào việc phát huy nguồn nhân lực ở TTH hiện nay……… 7

2.2 Thực trạng việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc phát huy nguồn nhân lực ở tỉnh TTH hiện nay ……… 8

2.2.1 Kết quả đạt được……… ………… 8

2.2.2 Nguyên nhân kết quả ………10

2.2.3 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân……… ………… 10

2.3 Giải pháp……… ………… 13

PHẦN III: KẾT LUẬN 17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……18

Trang 3

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Triết học Mác – Lênin là một trong ba bộ phận hợp thành hữu cơ khôngthể tách rời của chủ nghĩa Mác - Lênin, là học thuyết về những quy luật phổbiến của sự tồn tại, vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy conngười Trong đó, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong nhữngnguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Lần đầu trong lịch sử triết họcC.Mác đã phát hiện ra sức mạnh của lý luận là mối liên hệ của nó trong thựctiễn, cũng như sức mạnh của thực tiễn là ở trong mối quan hệ với lý luận Sựthống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống nhất biện chứng

Như chúng ta đều biết mỗi quốc gia, dân tộc muốn phát triển kinh tếnhanh thì trước hết phải xây dựng một nền tảng khoa học kỹ thuật vững chắc

Để thực hiện được mục tiêu này thành công, đòi hỏi phải có các tiền đề cầnthiết, phát huy được nội lực vốn có như tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng

kỹ thuật, huy động và sử dụng vốn một cách hiệu quả, mở rộng kinh tế đốingoại để tranh thủ nguồn vốn từ bên ngoài để học tập khoa học kỹ thuật củahọ…, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước và đặc biệtkhông thể thiếu đó là việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực hiệu quả Hiểuđược vai trò quan trọng của việc phát huy nguồn nhân lực, tỉnh TTH trongnhững năm qua đã xây dựng chiến lược phát huy và sử dụng nguồn lực cóhiệu quả, tạo động lực và góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xãhội ở địa phương Hiện nay, TTH là một tỉnh có nhiều bước chuyển mang tínhđột phá căn bản trong phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, trước sự mở rộng

và phát triển ngày càng nhanh của nền kinh tế hiện nay, việc đào tạo và pháthuy nguồn nhân lực ở TTH trong thời gian qua đã bọc lộ một số hạn chế nhấtđịnh Do đó, để góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận khoa học và tổng kếtthực tiễn ở tỉnh TTH về phát huy nguồn nhân lực trong thời gian qua, cũngnhư đưa ra những giải pháp cụ thể để góp phần phát huy hơn nữa về nguồn

nhân lực ở TTH trong thời gian tới, vì vậy tôi chọn chủ đề “Vận dụng

nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn vào việc phát huy nguồn

nhân lực ở tỉnh TTH” để làm đề tài thu hoạch môn Triết học Mác - Lênin.

Trang 4

PHẦN II: NỘI DUNG 2.1 Những vấn đề lý luận có liên quan đến việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, vai trò của nguồn nhân lực

2.1.1 Một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn

Trước hết, phải khẳng định rằng phạm trù lý luận là một phạm trù mangtính trừu tượng, vì vậy từ trước đến nay đã có rất nhiều quan niệm, quan điểmkhác nhau về lý luận Lý luận ra đời ngay từ thời cổ đại, khi triết học mới rađời lúc đầu chỉ là những tri thức thuần tuý trải qua quá trình nhận thức lâu dàicùng với sự xuất hiện của các ngành khoa học thì tri thức lý luận hình thành

và ngày càng mang tính khái quát hoá, trừu tượng hoá cao Kế thừa từ nhữngyếu tố đó và phát triển một cách sáng tạo, C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựngnên học thuyết biện chứng duy vật về lý luận, cũng từ những chỉ dẫn củaC.Mác, Ph.Ăngghen, Hồ Chí Minh có thể hiểu, “Lý luận khoa học là hệ thốngnhững tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mốiliên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật, hiện tượng đượcbiểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù”

Trang 5

Để hình thành lý luận, con người phải trải qua quá trình nhận thức kinhnghiệm Trong đó, nhận thức kinh nghiệm là quá trình quan sát sự lặp đi lặplại, diễn biến của các sự vật hiện tượng Kết quả của nhận thức kinh nghiệm làtri thức kinh nghiệm Tri thức kinh nghiệm bao gồm tri thức kinh nghiệmthông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học Tri thức kinh nghiệm thôngthường được thông qua quá trình sinh hoạt và hoạt động hàng ngày của conngười, giúp con người giải quyết nhanh một số vấn đề cụ thể, đơn giản trongquá trình tác động trực tiếp đối tượng Còn tri thức kinh nghiệm khoa học làkết quả của quá trình thực nghiệm khoa học, đòi hỏi chủ thể phải tích luỹ mộtlượng tri thức nhất định trong hoạt động sản xuất cũng như hoạt động khoahọc mới có thể hình thành tri thức khoa học Có thể thấy, lý luận là sản phẩmcao nhất của nhận thức, của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộnão con người Vì vậy, bản chất của lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giớikhách quan Trong chủ nghĩa Mác – Lênin lý giải những vấn đề bản chất nhấtcủa nhận thức không thể tách rời những vấn đề của thực tiễn Lênin cũng đãnhấn mạnh rằng quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứnhất và cơ bản nhất của lý luận về nhận thức.

Về cơ bản, lý luận có các đặc trưng: Một là, lý luận có tính hệ thống, tính

khái quát cao, tính lôgic chặt chẽ Bởi lẽ, bản thân lý luận là hệ thống tri thức

được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn; Hai là, cơ sở của lý luận là những tri

thức kinh nghiệm thực tiễn Không có tri thức kinh nghiệm thực tiễn thìkhông có cơ sở để khái quát thành lý luận Tuy nhiên, không phải mọi tri thứckinh nghiệm đều có thể khái quát thành lý luận Từ những tri thức kinhnghiệm thông thường, vụn vặt, cục bộ không thể khái quát thành lý luận khoa

học; Ba là, lý luận có thể phản ánh được bản chất sự vật, hiện tượng Bởi vì,

lý luận phản ánh được mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của

sự vật, hiện tượng Khác với kinh nghiệm - mới phản ánh được từng mặt riêng

lẻ, bề ngoài, thậm chí còn mang tính ngẫu nhiên của sự vật

Còn về thực tiễn, theo quan điểm của triết học Mác – Lênin thì “Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất – cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên” Qua đó, nếu xem xét thực tiễn theo

Trang 6

chiều ngang thì thực tiễn có các đặc trưng: Một là, thực tiễn không phải là

toàn bộ hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất – cảmtính Nghĩa là, con người có thể quan sát trực quan được các hoạt động vậtchất này Trong đó, hoạt động vật chất – cảm tính là những hoạt động mà conngười phải sử dụng lực lượng vật chất, công cụ vật chất tác động vào các đối

tượng vật chất để làm biến đổi chúng; Hai là, thực tiễn là những hoạt động

mang tính lịch sử - xã hội của con người Nghĩa là, thực tiễn là hoạt động chỉdiễn ra trong xã hội, với sự tham gia của đông đảo người trong xã hội Trongthực tiễn, con người truyền lại cho nhau những kinh nghiệm thực tiễn từ thế

hệ này qua thế hệ khác Cũng vì vậy, thực tiễn luôn bị giới hạn bởi nhữngđiều kiện lịch sử - xã hội cụ thể Đồng thời, thực tiễn cũng trải qua các giai

đoạn lịch sử phát triển cụ thể; Ba là, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích

nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ nhân loại tiến bộ Khác với hoạt động

có tính bản năng, tự phát của động vật nhằm thích nghi thụ động với thế giới,con người bằng và thông qua thực tiễn, chủ động tác động cải tạo thế giới đểthỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thếgiới Còn nếu cắt theo chiều dọc thì thực tiễn bao giờ cũng bao gồm mục đích,phương tiện và kết quả Mục đích được nảy sinh từ nhu cầu và lợi ích, nhucầu xét đến cùng được nảy sinh từ điều kiện khách quan Lợi ích chính là cáithỏa mãn nhu cầu Để đạt mục đích, con người trong hoạt động cải tạo thếgiới khách quan phải lựa chọn phương tiện, công cụ để thực hiện Kết quả phụthuộc vào nhiều nhân tố nhưng trước hết là phụ thuộc vào mục đích đặt ra vàphương tiện mà con người sử dụng để thực hiện mục đích Dù xem xét theochiều dọc hay chiều ngang thì thực tiễn là hoạt động thể hiện tính mục đích,tính tự giác cao của con người, chủ động tác động làm biến đổi tự nhiên, xãhội, phục vụ con người, khác với những hoạt động mang tính bản năng thụđộng của động vật, nhằm thích nghi với hoàn cảnh

Có thể thấy, triết học Mác – Lênin đánh giá phạm trù thực tiễn là mộttrong những phạm trù nền tảng, cơ bản của triết học nói chung và lý luận nhậnthức nói riêng Quan điểm đó đã tạo nên một bước chuyển biến cách mạngtrong triết học Khác với hoạt động tư duy, trong hoạt động thực tiễn, con

Trang 7

người sử dụng những công cụ vật chất tác động vào đối tượng vật chất làmbiến đổi chúng theo mục đích của mình Đây là hoạt động đặc trưng và bảnchất của con người Nó được thực hiện một cách tất yếu khách quan và khôngngừng được phát triển bởi con người qua các thời kỳ lịch sử Do vậy, thựctiễn bao giờ cũng là hoạt động vật chất có mục đích và mang tính lịch sử – xãhội.

2.1.2 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn là luận điểm cơ bản của chủ nghĩaMác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nội dung thực chất của mốiquan hệ đó là: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cănbản của chủ nghĩa Mác - Lênin, thực tiễn không được soi đường, dẫn dắt, chỉđạo bởi lý luận khoa học thì thành thực tiễn mù quáng Còn lý luận mà xa rờithực tiễn, không vận dụng vào thực tiễn là lý luận suông”.Vấn đề này, theoChủ tịch Hồ Chí Minh phải hiểu trên tinh thần biện chứng: Thực tiễn cần tới

lý luận khoa học soi đường, dẫn dắt, định hướng để không rơi vào mù quáng,

mò mẫm Còn lý luận khoa học phải dựa trên cơ sở thực tiễn, nảy sinh từ thựctiễn, phản ánh thực tiễn và phải luôn liên hệ với thực tiễn Lý luận khoa họcphải được hình thành, bổ sung, phát triển bằng con đường tổng kết thực tiễn,nếu không lý luận đó chỉ là lý luận suông, giáo điều, xa rời cuộc sống Chúng

ta thấy rằng một lý luận khoa học có thể được nảy sinh từ những luận điểmkhoa học đã có làm tiền đề Nhưng xét đến cùng thì những lý luận đó cũngxuất phát từ thực tiễn Vì vậy, ta có thể khẳng định rằng mọi lý luận đều trựctiếp hoặc gián tiếp bắt nguồn từ thực tiễn Giữa lý luận và thực tiễn có mốiquan hệ thống nhất biện chứng với nhau Sự thống nhất bắt nguồn từ chỗchúng đều là hoạt động của con người, đều nhằm mục đích cải tạo tự nhiên vàcải tạo xã hội để thỏa mãn nhu cầu của con người Lý luận được hình thànhkhông phải ở bên ngoài thực tiễn mà trong mối liên hệ chặt chẽ với thực tiễn.Hai hoạt động này thống nhất không tách rời nhau, gắn bó với nhau và làm cơ

sở, tiền đề cho nhau phát triển Giữa thực tiễn và lý luận vó mối quan hệ biệnchứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau

Trang 8

Qua đó, về bản chất nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đòihỏi: Thực tiễn và lý luận đều cần đến nhau, nương tựa vào nhau, bổ sung chonhau; không có thực tiễn thì sẽ không có lý luận chân chính; ngược lại không

có lý luận khoa học thì thực tiễn sẽ mất phương hướng sớm muộn sẽ mắcbệnh kinh nghiệm hoặc bệnh giáo điều

2.1.3 Khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác địnhcủa một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên phạm vi của một địaphương, một ngành hay một vùng Trong đó, nguồn lực con người là nguồnlực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội trong thời đại hiện nay TạiĐại hội XI, Đảng ta đã nhấn mạnh quan điểm: “Phát triển, nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trongnhững yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước”, “là một độtphá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoahọc, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và làlợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu quả vàbền vững” Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng củanguồn nhân lực chất lượng cao, thông qua quan điểm: “Công nghiệp hóa, hiệnđại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mô hình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức,lấy khoa học, công nghệ, tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao làm độnglực chủ yếu ” Đại hội XII của Đảng cũng đưa ra phương hướng, nhiệm vụphát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới, đòi hỏi cần phải: “Xây dựngchiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnhvực, với những giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung cho giải pháp đào tạo,đào tạo lại nguồn nhân lực trong nhà trường cũng như trong quá trình sảnxuất, kinh doanh, chú trọng nâng cao tính chuyên nghiệp và kỹ năng thựchành” Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Phát huy tối đanhân tố con người; con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu vàmục tiêu của sự phát triển”

Trang 9

Hiện nay, nguồn nhân lực giữ vai trò vô cùng quan trọng trong các hoạtđộng của tổ chức Việc tuyển chọn, sắp xếp, đào tạo nhân viên phải dựa vàocác tiêu chuẩn nhất định nhằm đạt được mục tiêu mà tổ chức đề ra Quản lýnguồn nhân lực xác định rõ vai trò của từng cá nhân, từng thành viên trong tổchức, lên kế hoạch phát triển nguồn nhân lực cho phù hợp với quy mô của tổchức Nguồn nhân lực là nguồn tài sản – tài sản nhân lực; do vậy, phát triểnnguồn nhân lực sẽ không được coi là toàn diện nếu không quan tâm đến vaitrò của nguồn tài sản này; Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, được đánh giábằng mức độ toàn dụng nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng và thờigian được sử dụng; việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực đồng nhấtvới nâng cao hệ số sử dụng số lượng nhân lực nâng cao hiệu suất sử dụngnhân lực, hay giá trị tăng thêm được tạo ra từ việc sử dụng nhân lực và nângcao hệ số sử dụng thời gian lao động Từ đó, có thể thấy nguồn nhân lực cómột vai trò hết sức quan trọng đến sự thành công hay thất bại của mỗi mộtdoanh nghiệp, mỗi địa phương và mỗi một quốc gia, nếu tạo điều kiện chonguồn nhân lực thể hiện tốt vai trò tiên phong của mình thì hiệu quả kinh tế -

xã hội sẽ không ngừng được nâng lên cả về chất và lượng, còn nếu một nguồnnhân lực kém chất lượng thì sẽ làm cho nền kinh tế phát triển chậm hoặc thậmchí kém phát triển và tụt hậu

2.1.4 Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn vào việc phát huy nguồn nhân lực ở TTH hiện nay

TTH là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích tự nhiên

là 2.360,2 km2 TTH có khoảng 1,255 triệu người với 64,5% dân số trong độtuổi lao động Hiện tỉnh có hai trường Cao đẳng, trên 60 cơ sở dạy nghề và 31trường trung học Toàn tỉnh hiện có trên 2.886 doanh nghiệp và hơn 44.000

hộ kinh doanh cá thể đăng ký hoạt động trên các lĩnh vực Trong thời gianqua, TTH đã không ngừng nổ lực, phấn đấu để phát triển kinh tế - xã hội,…góp phần đưa TTH ngày càng đi lên, phát triển về mọi mặt so với các tỉnhkhác và để thực hiện có hiệu quả việc phát triển này thì trong đó việc phát huynguồn nhân lực hiện nay là đòi hỏi tất yếu hàng đầu Để phát huy có hiệu quảnguồn nhân lực, trong thời gian qua, lãnh đạo Đảng và chính quyền tỉnh TTH

Trang 10

đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách, đường lối cho việc vận dụng, phát huynguồn nhân lực trên tất cả các lĩnh vực và trong quá trình xem xét, thực hiệnlãnh đạo tỉnh luôn vận dụng thống nhất giữa lý luận kết hợp với thực tiễn vàoviệc tổ chức thực hiện Cụ thể như khi hoạch định và định hướng phát triểntừng ngành nghề, lĩnh vực như kinh tế, y tế, giáo dục…luôn cân nhắc, xemxét kỹ về tình hình thực tiễn vấn đề đó hiện nay như thế nào, đánh giá toàndiện những mặt được, không được trong việc thực hiện, tìm hiểu rõ lý do,nguyên nhân, điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, nguồn lực conngười… để từ đó đặt ra các chỉ tiêu, cân đối nguồn nhân lực, tài chính, giảipháp cụ thể cho từng tiêu chí để qua đó vận dụng có hiệu quả trong việc thựchiện kế hoạch, nhiệm vụ đề ra Mặt khác, cũng dựa trên chủ trương, đường lối

và kế hoạch chung của tỉnh, các cơ quan, ban ngành, tổ chức, doanh nghiệptrên địa bàn tỉnh và bản thân cán bộ, công chức, người trực tiếp tham gia laođộng đã vận dụng một cách linh hoạt và hiệu quả trong các hoạt động sảnxuất kinh doanh, y tế, giáo dục…kết hợp nhuần nhuyễn giữa thực tiễn với lýluận, từ đó hoàn thành được các yêu cầu, nhiệm vụ, chỉ tiêu đã đề ra

Có thể thấy, việc xây dựng và phát huy nguồn nhân lực là một nhiệm vụ

vô cùng quan trọng và cũng rất khó khăn, phức tạp, do đó đòi hỏi phải pháthuy cao độ vai trò của nhân tố chủ quan và tính năng động chủ quan Phải kếthợp chặt chẽ giữa nhiệt tình cách mạng với tri thức khoa học bởi tri thức khoahọc có được hay không là nhờ ở lòng ham hiểu biết, trí thông minh, ý chíngược lại nếu tri thức khoa học phát huy được tác dụng trong thực tiễn thì nólại trở thành động lực tăng thêm tri thức, nhận thức Sự kết hợp xuất phát từthực tế khách quan và phát huy nỗ lực chủ quan không những đem lại hiệuquả cao trong sự phát triển nhận thức mà còn giúp cho lý luận không bao giờ

xa rời thực tiễn cuộc sống

Hiện nay, việc nắm bắt và vận dụng được có hiệu quả các quy luật tấtyếu khách quan để hoạt động và đem nó vào thực tiễn để kiểm nghiệm làphương châm chủ đạo trong công cuộc phát huy nguồn nhân lực Chỉ có dámnghĩ, dám làm kết hợp với tri thức khoa học được trang bị chúng ta mới thànhcông được Đặc biệt, trong việc phát huy nguồn nhân lực, việc nắm bắt được

Ngày đăng: 02/03/2022, 15:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w