1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THU HOẠCH: THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở HUYỆN M, TỈNH LT

19 23 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 62,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dân chủ hoá đời sống xã hội đã được Đảng ta xác định là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm. Bởi vì, dân chủ hoá đời sống xã hội từ cơ sở nhằm để phát huy tính chủ động, tích cực tham gia giám sát quản lý Nhà nước của người dân, khắc phục được tình trạng quan liêu, tham ô, tham nhũng và mất dân chủ. Thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng, đặc biệt đối với nước ta đang trong thời kỳ đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu trở thành một nước công nghiệp, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Sự nghiệp vĩ đại đó chỉ có thể thành công nếu phát huy được quyền làm chủ thật sự của nhân dân, phát huy được sức mạnh sáng tạo và tiềm năng to lớn của toàn dân. Dân chủ xã hội chủ nghĩa có vai trò quan trọng trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của đất nước, để phát huy đầy đủ và hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân, vì thế ngày 18021998 Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 30CTTW về xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở, góp phần quan trọng trong việc củng cố quyền làm chủ của nhân dân, nhằm phát huy sức sáng tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội, tăng cường đoàn kết toàn dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí. Sau nhiều năm triển khai và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, trên thực tế đã cho thấy kết quả bước đầu có ý nghĩa trong đời sống xã hội, củng cố được niềm tin của nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó việc thực hiện quy chế dân chủ ở một vài địa phương trong đó có huyện M, tỉnh LT vẫn còn bọc lộ một số hạn chế, yếu kém nhất định. Vì thế, để tìm hiểu rõ hơn về việc thực hiện quy chế dân chủ ở huyện M, tỉnh LT hiện nay như thế nào, đó là lý do tôi đã chọn chủ đề “Thực hiện quy chế dân chủ ở huyện M, tỉnh LT” để làm đề tài thu hoạch môn Chủ nghĩa xã hội khoa học.

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC II

BÀI THU HOẠCH LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

HỆ TẬP TRUNG TÊN MÔN HỌC: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

TÊN BÀI THU HOẠCH: THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN

CHỦ Ở HUYỆN M, TỈNH LT

ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

PHẦN II: NỘI DUNG 2

2 1 Những vấn đề lý luận có liên quan đến việc thực hiện quy chế dân chủ 2

2.1.1 Khái niệm về dân chủ… 2

2.1.2 Quá trình hình thành, phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam……… … 3

2.2 Thực trạng việc thực hiện quy chế dân chủ ở huyện M, tỉnh LT……….………7

2.2.1 Kết quả việc thực hiện quy chế dân chủ ở huyện M, tỉnh LT ……… 7

2.2.2 Nguyên nhân kết quả đạt được ……… ……… 11

2.2.3 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân……… ……….………12

2.3 Giải pháp……… 13

PHẦN III: KẾT LUẬN 16

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……17

Trang 3

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dân chủ hoá đời sống xã hội đã được Đảng ta xác định là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm Bởi vì, dân chủ hoá đời sống xã hội từ cơ

sở nhằm để phát huy tính chủ động, tích cực tham gia giám sát quản lý Nhà nước của người dân, khắc phục được tình trạng quan liêu, tham ô, tham nhũng

và mất dân chủ Thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng, đặc biệt đối với nước ta đang trong thời kỳ đổi mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu trở thành một nước công nghiệp, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Sự nghiệp vĩ đại đó chỉ có thể thành công nếu phát huy được quyền làm chủ thật sự của nhân dân, phát huy được sức mạnh sáng tạo

và tiềm năng to lớn của toàn dân

Dân chủ xã hội chủ nghĩa có vai trò quan trọng trong bất kỳ giai đoạn phát triển nào của đất nước, để phát huy đầy đủ và hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân, vì thế ngày 18/02/1998 Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 30CT/TW

về xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở, góp phần quan trọng trong việc củng cố quyền làm chủ của nhân dân, nhằm phát huy sức sáng tạo của nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội, tăng cường đoàn kết toàn dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí Sau nhiều năm triển khai và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, trên thực tế đã cho thấy kết quả bước đầu có ý nghĩa trong đời sống xã hội, củng cố được niềm tin của nhân dân Tuy nhiên, bên cạnh đó việc thực hiện quy chế dân chủ ở một vài địa phương trong đó có huyện M, tỉnh LT vẫn còn bọc lộ một số hạn chế, yếu kém nhất định Vì thế, để tìm hiểu

rõ hơn về việc thực hiện quy chế dân chủ ở huyện M, tỉnh LT hiện nay như

thế nào, đó là lý do tôi đã chọn chủ đề “Thực hiện quy chế dân chủ ở huyện

M, tỉnh LT” để làm đề tài thu hoạch môn Chủ nghĩa xã hội khoa học.

Trang 4

PHẦN II: NỘI DUNG 2.1 Những vấn đề lý luận có liên quan đến việc thực hiện quy chế dân chủ

2.1.1 Khái niệm về dân chủ

Khái niệm về dân chủ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp gồm hai từ

“demos” nghĩa là nhân dân và “kratos” nghĩa là quyền lực Theo cách diễn đạt này, dân chủ trong tiếng Hy Lạp cổ được hiểu là nhân dân cai trị và sau này được các nhà chính trị dịch giản lược là quyền lực của nhân dân hay

quyền lực thuộc về nhân dân.

Đến thế kỷ XVIII, người Anh đã dựa vào ngôn ngữ Hy Lạp cổ để đưa ra thuật ngữ “democracy”, có nghĩa là “chính thể dân chủ”- thể chế dân chủ, một trong những hình thức chính quyền với đặc trưng là chính quyền nhà nước phải thừa nhận quyền tự do và bình đẳng của công dân Điều đó có nghĩa dân chủ là chính thể nhà nước thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của nhân dân Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin thì: “Dân chủ là sự thống trị của đa số” Dân chủ là sản phẩm của lịch sử, là thành quả của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh cho văn minh tiến bộ của loài người qua các giai đoạn lịch sử

Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ dân chủ không phải là sản phẩm của tự nhiên, cũng không phải là bẩm sinh, càng không phải là tặng phẩm của giới siêu nhân nào đó, mà là kết quả của quá trình đấu tranh trong trường kỳ lịch

sử của nhân loại vì sự tiến bộ, văn minh Do đó, đứng trên quan điểm phát

triển biện chứng xem xét thì dân chủ là một giá trị nhân văn, mang tính nhân

loại Mỗi bước tiến của dân chủ phản ánh bước tiến về quyền con người Dân

chủ phát triển càng cao, quyền con người càng được khẳng định; tự do, bình đẳng trong xã hội càng cao Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng khẳng định, trong quá trình phát triển của xã hội loài người, khi xã hội phân chia thành giai cấp và nhà nước xuất hiện, quyền tự do của mỗi cá nhân đều mang tính giai cấp, phản ánh lợi ích giai cấp (trước hết là giai cấp cầm quyền) V.LLênin đã chỉ

rõ không có “dân chủ nói chung”, “dân chủ phi giai cấp” Tính chất giai cấp của phạm trù dân chủ là tiêu chí để phân biệt bản chất khác nhau của các nền

Trang 5

dân chủ

Với tư cách là một chế độ xã hội, dân chủ là một phạm trù lịch sử vì nó

có sự ra đời, tồn tại và phát triển trong một giai đoạn nhất định và sẽ mất đi khi trong xã hội không còn giai cấp Tính lịch sử của dân chủ với nghĩa là một chế độ xã hội còn thể hiện qua quá trình hình thành, phát triển, vận động từ chỗ chưa có dân chủ đến có dân chủ, đến tồn tại, phát triển và tiêu vong Chủ nghĩa Mác- Lênin nêu rõ quá trình phát triển của dân chủ là “từ chuyên chế đến dân chủ tư sản; từ dân chủ tư sản đến dân chủ vô sản; từ dân chủ vô sản đến không còn dân chủ nữa”

Qua các cách tiếp cận trên, có thể hiểu dân chủ là một giá trị xã hội phản ánh những quyền cơ bản của con người; là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, một chế độ chính trị - xã hội mà ở đó những quyền

cơ bản của con người như: tự do, bình đẳng, tôn trọng sự thống nhất trong đa dạng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; đồng thời, những quyền này được thể chế thành các nguyên tắc như: quyền lực thuộc về nhân dân, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, thiểu số phục tùng đa số, quyền tự do tư tưởng,

ý chí, hành động, bầu cử tự do và công bằng , để quy định quyền lợi, trách nhiệm của nhân dân đối với nhà nước, cộng đồng và ngược lại

2.1.2 Quá trình hình thành, phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Chế độ dân chủ nhân dân được xác lập sau Cách mạng Tháng Tám năm

1945 Đến năm 1976, tên nước được đổi thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhưng trong các Văn kiện Đảng hầu như chưa sử dụng cụm từ

“dân chủ xã hội chủ nghĩa” Từ Đại hội IV, Đảng ta thường nêu quan điểm

“xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa” gắn với “nắm vững chuyên chính vô sản”; trên thực tế, chưa coi dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu của công cuộc phát triển đất nước Bản chất của dân chủ xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa, cũng chưa được xác định rõ ràng Việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là thực hiện dân chủ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như thế nào cho phù hợp với đặc điểm kinh tế,

Trang 6

xã hội, văn hóa, đạo đức của xã hội Việt Nam, gắn với hoàn thiện hệ thống pháp luật, kỷ cương cũng chưa được đặt ra một cách cụ thể, thiết thực Nhiều lĩnh vực liên quan mật thiết đến dân chủ xã hội chủ nghĩa như dân sinh, dân trí, dân quyền chưa được đặt đúng vị trí và giải quyết đúng để thúc đẩy việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

Đại hội VI của Đảng (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, nhấn mạnh phát huy dân chủ để tạo ra một động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước Đại hội khẳng định “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”; “Bài học “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” bao giờ cũng quan trọng Thực tiễn cách mạng chứng minh rằng: ở đâu, nhân dân lao động có ý thức làm chủ và được làm chủ thật sự thì ở đấy xuất hiện phong trào cách mạng” Đại hội VI tiếp tục kế thừa khái niệm “làm chủ tập thể” của các Đại hội IV, V và khẳng định: “Đảng ta coi làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa cần được thể hiện trong

mọi lĩnh vực của đời sống Chúng ta xác định mối quan hệ Đảng lãnh đạo,

nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý thành cơ chế chung trong quản lý toàn

bộ xã hội”

Đại hội VII của Đảng (1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991), trong

đó đã rút ra bài học lớn “sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân

và vì nhân dân” Cương lĩnh năm 1991 đã phác họa sáu đặc trưng của xã hội

xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, trong đó đặc trưng đầu tiên là: Do nhân dân lao động làm chủ Đặc biệt Cương lĩnh năm 1991 đã khẳng định:

“Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hoạt động của nhà nước do nhân dân cử ra

và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm”

Trang 7

Có thể khẳng định, Đại hội VII đã có bước tiến lớn trong nhận thức về dân chủ Đảng ta không sử dụng khái niệm “làm chủ tập thể”, “chế độ làm chủ tập thể” từ Đại hội này

Đại hội VIII của Đảng (1996) nhấn mạnh việc phát huy vai trò làm chủ của nhân dân và chỉ rõ cần phải thực hiện tốt các cơ chế làm chủ của nhân dân như: làm chủ thông qua đại diện là các cơ quan dân cử và các đoàn thể; làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng các quy ước, hương ước tại cơ sở phù hợp với luật pháp của Nhà nước Đảng và Nhà nước tiếp tục đổi mới phong cách, bảo đảm dân chủ trong quá trình chuẩn bị ra quyết định

và thực hiện các quyết định Đại hội VIII đề ra mục tiêu của cách mạng là

“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” Có nghĩa là, Đại hội VIII cũng chưa có nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của dân chủ

Đại hội IX của Đảng (2001) đã tổng kết 15 năm đổi mới, rút ra bốn bài học chủ yếu, trong đó có bài học đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo” Đặc biệt, Đại hội IX

đã bổ sung nội dung “dân chủ” vào mục tiêu chung của cách mạng nước ta:

“Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Một trong những điểm mới của Đại hội IX là đã bổ sung nội dung “dân chủ” vào mục tiêu chung của cách mạng nước ta Đây là một bước tiến về nhận thức “dân chủ”

Đại hội X của Đảng (2006) đã có bước phát triển mới nhận thức về dân chủ thể hiện qua việc: bổ sung “dân chủ” vào đặc trưng thứ nhất của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam - đó là: dân giàu, nước mạnh, công bàng, dân chủ, văn minh; Điều chỉnh trong diễn đạt về đặc trưng thứ hai - đó là “do nhân dân làm chủ” Đây là bước tiến về mặt nhận thức khi khẳng định xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là do tất cả nhân dân làm chủ; Đại hội X đã

chỉ rõ “Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo

đảm quyền lực thuộc về nhân dân”; Khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa

vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Nhà

Trang 8

nước đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân”

Đại hội XI của Đảng (2011) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước

trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011).

Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định “xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vãn minh; do nhân dân làm chủ; ” Đổi mới của Đại hội XI so với Đại hội X là chuyển cụm từ “dân chủ” lên trước cụm từ “công bằng” Đây không đơn thuần là chuyển vị trí, mà thực chất là nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn, chính xác hơn vị trí, vai trò của dân chủ Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định rõ: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ

ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện” Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã hình thành và phát triển qua các thời kỳ cách mạng Qua mỗi kỳ đại hội của Đảng, dân chủ ngày càng được nhận thức, phát triển và hoàn thiện đúng đắn, phù hợp hơn với điều kiện cụ thể của nước ta

Tại Đại hội XII (2016), vấn đề dân chủ đã được Đảng ta đưa vào chủ đề của Đại hội, đồng thời, trở thành một mục độc lập trong phần XIII của Báo cáo chính trị với tiêu đề: “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân”, đồng thời bổ sung thành tố “hoàn thiện, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân” trong mục tiêu, nhiệm vụ của Đại hội Điều này thể hiện sự nhận thức sâu sắc, đầy

đủ của Đảng không chỉ về bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, mà còn

về vai trò to lớn của dân chủ, vì không phát huy dân chủ, phát huy quyền làm

Trang 9

chủ của nhân dân sẽ không có chủ nghĩa xã hội.

Với phương châm: Đoàn kết - dân chủ - kỷ cương - sáng tạo - phát triển, Đại hội XIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế

thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ

quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp

năm 2013, bảo đảm tất cả các quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở Thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”

2.2 Thực trạng việc thực hiện quy chế dân chủ ở huyện M, tỉnh LT 2.2.1 Kết quả việc thực hiện quy chế dân chủ ở huyện M, tỉnh LT

Ở huyện M, tỉnh LT hiện nay tổng số cơ quan, đơn vị thực hiện quy chế dân chủ theo các loại hình cơ sở gồm có 61 đơn vị, trong đó: Thực hiện theo Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 có 18 đơn vị; Thực hiện theo Nghị định số 04/2015/NĐ-CP có 39 đơn vị và thực hiện theo Nghị định số 149/2018/NĐ-CP có 04 đơn vị Trong đó:

Về việc thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn: Các cấp ủy,

chính quyền tập trung thực hiện tốt quy chế dân chủ, đảm bảo thực hiện đúng quy trình và gắn chặt chẽ với các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế

-xã hội tại địa phương, cụ thể ở các nội dung như:

Việc thực hiện quy chế dân chủ đối với chính sách người có công cách mạng, giải quyết việc làm, xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh Kết quả đã giải quyết việc làm thông qua phát triển kinh tế các xã, thị trấn với 2.510/4.800 lao động, đạt tỷ lệ 52,29%, chuyển tỉnh giải quyết 198 hồ sơ về: thờ cúng liệt sỹ, mai táng phí, trợ cấp người có công với cách mạng, hồ sơ chi tiền trợ cấp liệt sỹ; tham mưu Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt 222 hồ sơ cấp bảo hiểm y tế người có công và thân nhân người có công, xây dựng 10 căn nhà tình nghĩa và 42 căn nhà tình thương; rà soát hộ nghèo có thành viên thuộc đối tượng chính sách người có công với cách mạng năm 2021 trên địa bàn huyện (tổng số có 11 hộ chính sách người có công với cách mạng, qua khảo sát các hộ này không khả năng thoát nghèo) Xây dựng nông thôn mới

Trang 10

tiếp tục được triển khai thực hiện Đến nay, đã có 06 xã trên địa bàn huyện M, tỉnh LT được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới gồm Đại điền, Quới Điền,

An Nhơn, Thới Thạnh, Giao Thạnh và Phú Khánh; hỗ trợ xây dựng các tiêu chí xã nông thôn mới Thạnh Phong, Bình Thạnh, An Thuận (15 tiêu chí), Tân Phong, Hòa Lợi (14 tiêu chí), các xã còn lại đạt từ 11-13 tiêu chí

Việc thực hiện quy trình dân chủ trong công khai đối với các công trình,

dự án được thực hiện khá tốt, một số công trình do Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng khu vực thông báo công khai một số thông tin cơ bản Đối với các công trình, dự án liên quan đến giải phóng mặt bằng, nhân dân đóng góp tiền vốn phần lớn được triển khai lấy ý kiến nhân dân nhằm tạo sự đồng thuận cao trong tổ chức thực hiện như dự án điện gió, hệ thống Thủy lợi Nam LT giai đoạn 2, xây dựng đê bao ngăn mặn kết hợp đường giao thông nối liền 03 huyện biển Bình Đại - Ba Tri - M tỉnh LT giai đoạn 1, 2 đoạn qua địa bàn huyện M cơ bản được nhân dân đồng tình

Về hoạt động của ban giám sát đầu tư cộng đồng, Ban Thanh tra nhân dân xã, thị trấn: Ngay từ đầu năm 2021, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện M đã có văn bản kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của ban thanh tra nhân dân và ban giám sát đầu tư cộng đồng các xã, thị trấn Qua giám sát, nhìn chung các đơn vị đều thực hiện tốt nhiệm vụ của mình và đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Riêng đối với hoạt động giám sát của Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư cộng đồng các xã, thị trấn đã giám sát được 106 vụ, việc Nhìn chung, qua giám sát chưa phát hiện những vấn đề vi phạm

Công tác phối hợp trong việc tổ chức tọa đàm về thực hiện dân chủ trong xây dựng nông thôn mới và xã nông thôn mới nâng cao cũng được các đoàn thể các cấp quan tâm, đã tổ chức 37 cuộc tọa đàm, với 1.719 lượt người dự Nội dung tọa đàm bàn các giải pháp về xây dựng nông thôn mới, trong đó chú trọng các tiêu chí về “giao thông” và “môi trường”, Thông qua công tác tọa đàm vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ngày càng thể hiện rõ hơn qua các phần việc cụ thể, thiết thực để huy động các nguồn lực trong xã hội tập trung xây dựng các tiêu chí nông thôn mới Công tác huy động các

Ngày đăng: 02/03/2022, 15:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w