ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo pháp luật dân sự Việt TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: HỢP ĐỒNG VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG TÊN ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo pháp luật dân sự Việt Nam.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN:
HỢP ĐỒNG VÀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
TÊN ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo pháp luật dân sự
Việt Nam.
Người thực hiện: Trần Nguyễn Khánh Như MSSV: 2053801011183
Lớp: 122-AUF45
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2022
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả đạt được trong bài Tiểu luận là sản phẩm của cá nhân tôi
Trong toàn bộ nội dung của bài tiểu luận, những điều được trình bày là của cá nhân và được tổng hợp
từ nhiều nguồn tài liệu Tất cả các tài liệu tham khảo đều có xuất xứ rõ ràng và được trích dẫn hợp
pháp
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung bài Tiểu luận của mình./
Người thực hiện
Trần Nguyễn Khánh Như
Trang 3
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 2
I Khái niệm, bản chất và đặc điểm của hợp đồng dân sự: 2
1 Khái niệm của hợp đồng: 2
2 Bản chất của hợp đồng: 2
2.1 Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên: 2
2.2 Hợp đồng là thỏa thuận để tạo ra sự ràng buộc pháp lý giữa các bên: 2
3 Đặc điểm của hợp đồng: 3
II Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng: 3
1 Khái niệm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng: 3
2 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng: 4
2.1 Chủ thể tham gia hợp đồng có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự: 4
2.1.1 Chủ thể tham gia hợp đồng là cá nhân: 4
2.1.2 Chủ thể tham gia hợp đồng là pháp nhân: 6
2.2 Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện: 6
2.2.1 Hợp đồng được xác lập do giả tạo: 7
2.2.2 Hợp đồng được xác lập do bị nhầm lẫn: 7
2.2.3 Hợp đồng được xác lập do bị lừa dối: 8
2.2.4 Hợp đồng được xác lập do bị đe dọa: 9
2.2.5 Hợp đồng được xác lập khi không nhận thức, điều khiển được hành vi: 9
2.3 Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội: 9
2.4 Hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực nếu luật quy định: 11
KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Hợp đồng mà một trong những phương tiện pháp lý chủ yếu để cá nhân, tổ chức trao đổi lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cá nhân, xã hội của mình Hợp đồng cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình vận hành của nền kinh tế, vì nó là hình thức pháp lý cơ bản của sự trao đổi hàng hóa trong xã hội Tuy nhiên, các tranh chấp về hợp đồng dân sự cũng ngày một gia tăng và ngày càng phức tạp hơn do nhu cầu của con người ngày một đa dạng hóa Một trong những khó khăn chủ yếu của việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng dân sự là do các bên không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Chính
vì vậy, những quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh những quan hệ giao lưu dân sự trong nền kinh tế thị trưởng hiện nay Bởi, chỉ khi có đầy đủ các điều kiện để có hiệu lực của hợp đồng thì quyền và nghĩa vụ của các chủ thể mới có thể phát sinh và được pháp luật bảo vệ Căn cứ vào các quy định hiện hành, để hợp đồng có hiệu lực cần được xác định tại nhiều thời điểm khác nhau, tùy thuộc vào hình thức của hợp đồng, vào thỏa thuận của các bên, cũng như những quy định khác của pháp luật chuyên ngành Tuy nhiên, việc xác định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trên thực tế cũng như về mặt lý luận vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn và bất cập Đặc biệt là đối với những loại hợp đồng mà pháp luật buộc phải tuân thủ theo một hình thức nhất định (buộc phải công chứng, hoặc buộc phải công chứng và đăng ký với cơ quan có thẩm quyển) Đối với những loại hợp đồng đó, việc tuân thủ hình thức là một yêu cầu bắt buộc và là một trong những điều kiện để hợp đồng có hiệu lực
Do đó, để hiểu rõ hơn về vấn đề này, tôi xin chọn đề tài: “Điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng theo pháp luật dân sự Việt Nam”
Trang 5NỘI DUNG
I Khái niệm, bản chất và đặc điểm của hợp đồng dân sự:
1 Khái niệm của hợp đồng:
Điều 385 BLDS năm 2015 có quy định cụ thể về định nghĩa của hợp đồng như sau: “Hợp
đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự.”
2 Bản chất của hợp đồng:
2.1 Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên:
Không có hợp đồng nào được xác lập mà không dựa trên sự thỏa thuận và được tạo ra mà
thiểu yếu tố thỏa thuận Có ý kiến cho rằng, “Yếu tố thỏa thuận của các chủ thể là tiền đề
của hợp đồng và được xem là tuyệt đối.”
Có thể hiểu, thỏa thuận là sự nhất trí chung được thể hiện ở chỗ không có một ý kiến đối lập của bất cứ ai trong số các bên liên quan đối với những vấn đề quan trọng và thể hiện thông qua quá trình mọi quan điểm của các bên ấy đều phải được xem xét và dung hòa Bản chất của sự thỏa thuận là kết quả của sự thống nhất giữa ý chí với sự bày tỏ ý chí từ mỗi bên chủ thể, tạo thành sự “đồng thuận” của các bên, nhằm đạt được một mục đích
xác định nào đó Bởi thế, cũng có ý kiến cho rằng, “Thỏa thuận là sự trùng hợp ý muốn
của các bên về một điều gì đó mà các bên mong muốn đạt được.”
Tóm lại, thông qua sự thỏa thuận của các bên mà làm nên hợp đồng, tức làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các bên chủ thể trong hợp đồng đó Vì vậy, thỏa thuận vừa là tiền đề làm nên hợp đồng, vừa là yếu tố cơ bản cho sự tồn tại của hợp đồng
2.2 Hợp đồng là thỏa thuận để tạo ra sự ràng buộc pháp lý giữa các bên:
Một sự thỏa thuận chưa thể xem là hợp đồng nếu không tạo nên hiệu lực ràng buộc giữa các bên tham gia xác lập Bởi vậy, dấu hiệu thứ hai thể hiện bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên phải nhằm tạo ra một sự ràng buộc pháp lý, tức là làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ mới, ngoài những quyền và nghĩa vụ mà luật đã định sẵn, hoặc làm thay đổi hay chấm dứt các quyền, nghĩa vụ ấy
Như vậy, mọi hợp đồng đều là sự thỏa thuận giữa các bên, nhưng không phải sự thỏa thuận nào của các bên cũng là hợp đồng Chỉ những thỏa thuận tạo ra một sự ràng buộc pháp lý mới được coi là hợp đồng Cho nên, “sự thỏa thuận” và “sự tạo ra một ràng buộc pháp lý” là hai dấu hiệu cơ bản tạo nên bản chất của hợp đồng Nghiên cứu bản chất hợp đồng là tiền lý luận để xác định các điều kiện có hiệu lực (hay tính hợp pháp) của hợp đồng, nguyên tắc tự do hợp đồng, giá trị pháp lý của hợp đồng, trình tự giao kết hợp
Trang 6đồng, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và các vấn đề pháp lý quan trọng khác của chế định hợp đồng, đặc biệt là hiệu lực của hợp đồng
3 Đặc điểm của hợp đồng:
Hợp đồng là sự biểu lộ và thống nhất ý chí của ít nhất hai chủ thể đứng về các bên có quyền và nghĩa vụ đối ứng nhau trong giao kết hợp đồng dân sự Tuy các bên chủ thể có
sự khác biệt về lợi ích trong thỏa thuận, nhưng đều hướng tới mục tiêu cao nhất là hai bên cùng có lợi Để đạt được điều đó, các chủ thể phải bày tỏ ý chí của mình dưới một hình thức nhất định
Hợp đồng còn là một sự kiện pháp lý tạo lập sự rằng buộc pháp lý giữa các bên nhằm làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự dựa trên ý chí của chính chủ thể giao kết hợp đồng Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng (bao gồm cả trách nhiệm dân sự) do các bên thỏa thuận (trừ các quyền, nghĩa vụ được quy định bởi pháp luật) Sự thỏa thuận giữa các chủ thể là điều kiện cần nhưng chưa đủ nếu không có mục đích làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự Bên cạnh đó, mục đích của thỏa thuận không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội
Thỏa thuận có hiệu lực là nguyên tắc bắt buộc đối với các bên trong hợp đồng, và hiệu lực rằng buộc ấy là hiệu lực mang tính tương đối
II Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:
1 Khái niệm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:
Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là tổng hợp những yêu cầu pháp lý về năng lực chủ thể, mục đích, nội dung của hợp đồng, sự tự nguyện của chủ thể tham gia giao kết và hình thức của hợp đồng nhằm đảm bảo cho hợp đồng được lập ra có giá trị pháp lý và có hiệu lực rằng buộc đối với các bên chủ thể liên quan
Hợp đồng dân sự cũng là một loại giao dịch dân sự nên muốn có hiệu lực và giá trị pháp
lý thì hợp đồng dân sự phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân
sự đã được Bộ luật dân sự năm 2015 quy định cụ thể, rõ ràng tại Điều 117 BLDS như sau:
“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
Trang 72 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.”
2 Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:
2.1 Chủ thể tham gia hợp đồng có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự:
2.1.1 Chủ thể tham gia hợp đồng là cá nhân:
Tư cách chủ thể của cá nhân được xác định thông qua năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của cá nhân đó Trong khi năng lực pháp luật dân sự của mọi cá nhân đều như nhau nên để xác định một cá nhân có đủ tư cách chủ thể để tham gia hợp đồng dân sự hay không, chỉ cần xem xét mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân đó Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình để xác lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự Theo đó, yêu cầu về chủ thể tham gia hợp đổng “có năng lực hành vi dân sự” là một trong những điều kiện tiên quyết để hợp đồng có hiệu lực Tuy vậy, khi cá nhân tham gia một hợp đồng dân sự, cần phải theo từng trường hợp thể để xác định xem cá nhân đó có đủ năng lực hành vi để giao kết hợp đồng
đó hay không Bởi năng lực hành vi dân sự để tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng của các chủ thể khác nhau là không giống nhau
Trước hết, đối với người thành niên (người từ đủ 18 tuổi), BLDS năm 2015 có quy định
cụ thể và rõ ràng tại Điều 20 như sau:
“Người thành niên:
1 Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên
2 Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này.”
Như vậy, người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người không bị mất năng lực hành
vi dân sự và không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có toàn quyền tham gia vào mọi giao dịch dân sự và đồng thời phải gánh chịu mọi trách nhiệm, nghĩa vụ phát sinh từ hành vi pháp lý mà họ thực hiện
Theo quy định tại Điều 19 BLDS năm 2015, cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì được tự mình xác lập, thực hiện các hợp đồng dân sự Cho nên, họ có toàn quyền tham gia vào mọi giao dịch dân sự và đồng thời phải gánh chịu mọi trách nhiệm, nghĩa vụ phát sinh từ hành vi pháp lý mà họ thực hiện Nói cách khác, tư cách chủ thể của cá nhân khi tham gia vào hợp đồng phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi dân sự của họ
Thứ hai, đối với nhóm người chưa thành niên, là những người chưa đủ 18 tuổi, BLDS năm 2015 cũng có quy định cụ thể tại Điều 21 như sau:
Trang 8“Người chưa thành niên:
1 Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi
2 Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện
3 Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi
4 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.”
Có thể thấy, những người chưa thành niên là những người có năng lực hành vi dân sự bị hạn chế, khi xác lập hợp đồng dân sự đòi hỏi phải được xác lập hoặc có sự đồng ý của người đại diện hoặc người giám hộ, nếu không thi hợp đồng sẽ hoàn toàn không có hiệu lực Cụ thể, đối với người chưa đủ 6 tuổi là người không có năng lực hành vi dân sự và không có quyền tham gia xác lập và thực hiện mọi giao dịch dân sự, nên khi giao dịch dân sự phải do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện (khoản 2 Điều 21) Đối với người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi (khoản 3 Điều 21) Còn đối với người từ đủ
15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, nhưng trừ các giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý
(khoản 4 Điều 21)
Thứ ba, đối với người mất năng lực hành vi dân sự do mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi và được Tòa án ra quyết định tuyên
bố trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần thì giao dịch dân sự của họ phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện (Điều 22) Thêm vào đó, đối với người hạn chế năng lực hành vi dân sự như người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác và Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của họ phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác (Điều 24) Như vậy, có thể nói khả năng tham gia hợp đồng dân sự của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự tương đương với khả năng tham gia giao dịch dân sự của người có năng lực hành vi dân sự một phần Nhìn chung, để có thể xác lập, thực hiện các hợp đồng, chủ thể là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự thích ứng với loại giao dịch hoặc loại hợp đồng mà chủ thể đó tham gia
Trang 92.1.2 Chủ thể tham gia hợp đồng là pháp nhân:
Pháp nhân là những tổ chức có đủ các điều kiện được quy định tại Điều 74 BLDS 2015 Các pháp nhân là chủ thể đầy đủ của quan hệ pháp luật dân sự, có năng lực chủ thể mang tính chuyên biệt, được tham gia xác lập, thực hiện các giao dịch phù hợp với mục đích và phạm vi hoạt động của pháp nhân Mục đích và phạm vi hoạt động của pháp nhận được thể hiện trong điều lệ, hoặc quyết định thành lập pháp nhân (Điều 77)
Có thể nói, pháp nhân là những thực thể xã hội chứ không phải là một con người tự nhiên, nên năng lực hành vi dân sự của các chủ thể này không biểu hiện trực tiếp bằng hành vi và ý chí như một con người cụ thể nào đó, mà được thể hiện bởi ý chung của các thành viên và được thực hiện thông qua hành vi của người đại diện hoặc đại diện theo ủy quyền Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể là người đứng đầu pháp nhân, đối với pháp nhân là cơ quan nhà nước, đơn vị hành chính sự nghiệp Còn đối với pháp nhân là doanh nghiệp thì người đại diện theo pháp luật là Chủ tịch Hội đồng quản trị, Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc Giám đốc, Tổng Giám đốc, tùy theo điều lệ và trong giấy phép đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp đó Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tham gia giao kết các hợp đồng trong phạm vi thẩm quyền đại diện được xác định trong quyết định thành lập pháp nhân hoặc trong điều lệ, nội quy hoạt động của pháp nhân Người đại diện theo ủy quyền của pháp nhân là người được đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền, người này đại diện cho pháp nhân để tham gia các hợp đồng dân sự trong phạm vi được ủy quyền Bên cạnh đó, pháp nhân xác lập, thực hiện hợp đồng thông qua người đại diện hợp pháp, nhưng phải đúng phạm vi đại diện và phải phù hợp với giới hạn về lĩnh vực hoạt động của các chủ thể
2.2 Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện:
Chủ thể của hợp đồng dân sự có thể là cá nhân, pháp nhân, nhưng người trực tiếp tham gia hợp đồng bao giờ cũng là con người cụ thể Dù với tư cách cá nhân hay với tư cách đại diện cho pháp nhân thì người tham gia hợp đồng cũng phải hoàn toàn tự nguyện và dùng chính ý chí của mình đề xác lập hợp đồng Chỉ có hoàn toàn tự nguyện trong việc thỏa thuận thiết lập nội dung của hợp đồng thì các chủ thể mới đạt được mục đích từ hợp đồng đó Tự nguyện được hiểu là sự phù hợp, thống nhất giữa mong muốn bên trong với
sự bày tỏ mong muốn đó ra bên ngoài bằng một hình thức nhất định Vì vậy, tự nguyện trong xác lập hợp đồng được hiểu là sự phù hợp giữa mong muốn của một người với việc
họ tham gia một hợp đồng nhất định
Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí, cho nên tự nguyện bao gồm các yếu tố cấu thành là tự do ý chí và bày tỏ ý chí Không có tự do ý chí
và bày tỏ ý chí thì không thể có tự nguyện Nếu một trong hai yếu tố này không có hoặc không thống nhất với nhau cũng không thể có tự nguyện Vì vậy, giao dịch không có sự
tự nguyện sẽ không làm phát sinh hậu quả pháp lý
Trang 10Pháp luật dân sự Việt Nam dựa trên cơ sở tuyên bố ý chí để đưa ra những trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu do xác lập thiếu sự tự nguyên của một trong các chủ thể, bao gồm: a) Hợp đồng được xác lập do giả tạo;
b) Hợp đồng được xác lập do bị nhầm lẫn;
c) Hợp đồng được xác lập do bị lừa dối;
d) Hợp đồng được xác lập do bị đe dọa;
e) Hợp đồng được xác lập khi không nhận thức, điều khiển được hành vi
2.2.1 Hợp đồng được xác lập do giả tạo:
Theo Điều 124 BLDS năm 2015 quy định cụ thể như sau:
“Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo:
1 Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan
2 Trong trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.”
Như vậy, có thể hiểu, hợp đồng giả tạo là hợp đồng được các bên giao kết một cách hình thức, không nhằm làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên mà chỉ nhằm che giấu một hợp đồng có thực khác hoặc hoặc che đậy một hành vi trái pháp luật của một hay nhiều bên, cũng có thể nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba Hợp đồng xác lập do giả tạo không phản ánh đúng bản chất quan hệ đích thực giữa các bên trong hợp đồng Đó là loại hợp đồng mà việc thể hiện ý chí ra bên ngoài khác với ý chí nội tâm và kết quả thực hiện của các bên tham gia Có hai dạng hợp đồng giả tạo, đó là “hợp đồng giả cách” và “hợp đồng tưởng tưởng”
2.2.2 Hợp đồng được xác lập do bị nhầm lẫn:
Theo Điều 126 BLDS năm 2015 có quy định cụ thể như sau:
“Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn:
1 Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này