1. Tính cấp thiết của đề tài. Đại học Quốc gia Hà Nội là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và chuyển giao tri thức đa ngành, đa lĩnh vực; góp phần xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước; làm nòng cột và đầu tàu trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Định hướng đến năm 2030, Đại học Quốc gia Hà Nội sẽ trở thành đại học định hướng nghiên cứu, đa ngành, đa lĩnh vực có tính hội nhập cao, trong đó, một số trường đại học, viện nghiên cứu thành viên thuộc các lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ cao và kinh tế xã hội mũi nhọn đạt trình độ tiên tiến châu Á. Để đạt được những mục tiêu trên, ngay từ khi học tập và rèn luyện, mỗi sinh viên luôn ý thức phải trau dồi kiến thức và đặc biệt phải thường xuyên rèn luyện thể lực để có sức khỏe tốt nhằm đáp ứng các yêu cầu học tập và công tác sau này. Chính vì vậy, công tác GDTC đã luôn được Ban Giám đốc đặc biệt quan tâm, thông qua các phong trào thi đua sôi nổi, lành mạnh, nhà trường luôn phát huy tốt các môn thể thao thế mạnh, bồi dưỡng cá nhân xuất sắc về TDTT, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Bên cạnh đó trong những năm qua nhà Đại học Quốc gia Hà Nội đã đầu tư về cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động TDTT và môn học GDTC dành cho sinh viên, từng bước đáp ứng nhu cầu tập luyện thường xuyên cho cán bộ, giáo viên, sinh viên trong trường như: sân vận động, nhà thi đấu, sân bãi tập luyện… phục vụ cho các hoạt động nội khoá và ngoại khoá sôi nổi và hiệu quả, bên cạnh đó, công tác tổ chức các hoạt động ngoại khoá cũng được nhà trường quan tâm triển khai thực hiện. Trong chương trình GDTC hiện nay, các môn võ thuật được đưa vào giảng dạy chính khóa và ngoại khóa ở khối các trường Đại học, Cao đẳng nhằm rèn luyện cho sinh viên những kỹ năng vận động cơ bản của võ thuật. Để nâng cao thể lực và khả năng tập luyện cho sinh viên, được sự đồng ý của Ban Giám đốc Đại học Quốc gia, Trung tâm GDTC và Thể thao đã đưa môn Karatedo vào chương trình tập luyện ngoài giờ chính khóa ngay từ năm học thứ nhất theo mô hình câu lạc bộ Karatedo nhằm mục đích phát triển thể lực cũng như làm quen, thích nghi với các bài tập vận động trong võ thuật và theo định kỳ cứ hai năm một lần có tổ chức giải thi đấu trong phạm vi câu lạc bộ, cũng như tham dự các giải thi đấu trong hệ thống thi đấu của học sinh, sinh viên nhằm đánh giá phong trào tập luyện cũng như trình độ thể lực, võ thuật của sinh viên. Việc tổ chức tập luyện ngoại khóa môn Karatedo của Đại học Quốc gia Hà Nội đã được duy trì từ năm 2010 cho đến nay với sự chủ trì, quản lý, tổ chức hoạt động của Trung tâm GDTC và Thể thao. Với tinh thần võ đạo Karatedo kết hợp với truyền thống nhân nghĩa phương Đông của dân tộc Việt Nam, cùng với mục tiêu và yêu cầu của công tác đào tạo hiện nay, các hoạt động tập luyện ngoại khóa môn Karatedo đã được Trung tâm cụ thể hoá mục đích hoạt động, với mục tiêu: Rèn luyện sức khoẻ để học tập tốt; rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật; gìn giữ và phát huy tình yêu quê hương, đất nước, tình cảm gia đình, bạn bè đồng nghiệp và tình thầy trò… Trên cơ sở đó, tạo điều kiện cho sinh viên tham gia các hoạt động từ thiện, các công tác xã hội, từng bước tiếp cận thiên nhiên, bảo vệ môi trường, định hướng nghề nghiệp cho sinh viên trong tương lai. Đến nay, hoạt động tập luyện ngoại khóa môn Karatedo Đại học Quốc gia Hà Nội đã duy trì được gần 10 năm với những thành tựu và kết quả đạt được đã đóng góp một phần không nhỏ trong sự nghiệp giáo dục đào tạo và nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất của nhà trường. Để phát huy những thành tựu đạt được với mục tiêu trở thành mô hình tập luyện ngoại khóa tiêu biểu và phát triển câu lạc bộ Karatedo của nhà trường, thì hiệu quả của hoạt động tập luyện ngoại khóa môn Karatedo đến sự phát triển thể lực của sinh viên cần phải được tổng kết, kiểm tra, đánh giá để từ đó có những bài học kinh nghiệm, khắc phục những tồn tại nhằm phát triển phong trào, thu hút đông đảo sinh viên tham gia tập luyện. Mặt khác, việc tìm hiểu, nghiên cứu sự phát triển thể lực của sinh viên thông qua việc tập luyện môn võ thuật này còn có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn đối với công tác giảng dạy, rèn luyện thể lực chung trong nhà trường. Vấn đề nghiên cứu ảnh hưởng của tập luyện ngoại khóa các môn thể thao đến sự phát triển thể lực của sinh viên đã được nhiều nhà chuyên môn, các nhà quản lý và các nhà sư phạm quan tâm nghiên cứu. Trước hết phải kể đến các tác giả Phạm Khánh Ninh (2001) với đề tài: “Nghiên cứu cải tiến tổ chức và quản lý các hoạt động TDTT ngoại khoá để nâng cao thể lực cho sinh viên Trường Đại học Mỏ Địa chất”; tác giả Trần Thị Thuỳ Linh (2001) với đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả hình thức tập luyện thể dục ngoại khoá bắt buộc phát triển thể chất cho nữ sinh viên Trường Đại học sư phạm Huế”, tác giả Nguyễn Duy Quyết (2006) với đề tài: “Nghiên cứu một số giải pháp tổ chức tập luyện ngoại khoá nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn điền kinh tại trường Đại học sư phạm Thể dục thể thao Hà Tây”; tác giả Nguyễn Dũng Minh (2009) với đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả tập luyện ngoại khoá môn Karatedo của sinh viên trường Đại học Phú Xuân Huế”; tác giả Đào Trung Tú (2014) với đề tài: “Nghiên cứu sự phát triển thể chất nam sinh viên trường Đại học Cảnh sát nhân dân thông qua tập luyện ngoại khóa môn võ Karatedo”… Kết quả nghiên cứu của các tác giả đã đưa ra những mô hình và biện pháp tổ chức tập luyện ngoại khoá dưới các hình thức là bắt buộc và tự chọn cho sinh viên. Có thể nói rằng, các kết quả nghiên cứu nêu trên của các tác giả đều là những tư liệu hết sức đáng quý trong lĩnh vực GDTC cho sinh viên nói chung và cách thức tổ chức tập luyện ngoại khoá cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng nói riêng phù hợp với điều kiện thực tế và đáp ứng nhu cầu của sinh viên hiện nay. Tuy nhiên cho đến nay, việc nghiên cứu ảnh hưởng của tập luyện ngoại khóa môn Karatedo đến sự phát triển thể lực của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội chưa có tác giả nào quan tâm nghiên cứu. Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu sự phát triển thể lực của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội thông qua tập luyện ngoại khóa môn võ Karatedo”. 2. Mục đích nghiên cứu. Thông qua việc đánh giá thực trạng thể lực chung của sinh viên, cũng như thực trạng công tác GDTC của Đại học Quốc gia Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, đề tài tiến hành đánh giá hiệu quả của tập luyện ngoại khoá môn Karatedo đến sự phát triển thể lực của nam sinh viên, trên cơ sở đó đề xuất và bước đầu xác định mức độ phù hợp mô hình câu lạc bộ Karatedo; xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực cho nam sinh viên (tham gia tập luyện ngoại khóa tại CLB Karatedo Đại học Quốc gia Hà Nội) góp phần nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất cho sinh viên 3. Mục tiêu nghiên cứu. Để giải quyết mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định giải quyết các mục tiêu nghiên cứu sau: Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng thể lực và công tác tổ chức tập luyện ngoại khóa môn Karatedo cho nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội. Giải quyết mục tiêu nghiên cứu này, đề tài tiến hành các nội dung nghiên cứu sau: Đánh giá thực trạng thể thể lực (theo tiêu chuẩn rèn luyện thể lực) của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội. Đánh giá thực trạng về phong trào tập luyện ngoại khóa môn Karatedo, nội dung chương trình tập luyện, các yếu tố điều kiện đảm bảo cũng như kết quả học tập môn học giáo dục thể chất của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội. Mục tiêu 2: Xác định hiệu quả của tập luyện ngoại khoá môn Karatedo đến sự phát triển thể lực của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội. Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn của việc tổ chức, quản lý công tác giáo dục thể chất của nhà trường, giải quyết mục tiêu nghiên cứu này, đề tài tiến hành các nội dung nghiên cứu sau: Nghiên cứu hoàn thiện mô hình tổ chức, quản lý tập luyện ngoại khóa môn Karatedo cho sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội. Đánh giá hiệu quả tác động của tập luyện ngoại khóa môn Karatedo đến sự phát triển thể lực của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội thông qua các tiêu chí đánh giá thể lực sau 1 năm tập luyện. Xây dựng và ứng dụng các tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển thể lực của nam sinh viên tham gia tập luyện tại câu lạc bộ Karatedo Đại học Quốc gia Hà Nội. 4. Giả thuyết khoa học của đề tài. Giả thuyết rằng, tập luyện ngoại khóa môn Karatedo sẽ mang lại hiệu quả thiết thực trong việc phát triển thể lực cho người tập. Tuy nhiên vấn đề này cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đánh giá một cách đầy đủ tại Câu lạc bộ Karatedo ngoại khóa tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ khẳng định rõ hơn vấn đề nêu trên; đồng thời nếu được áp dụng sẽ đem lại hiệu quả cao hơn trong việc phát triển phong trào tập luyện ngoại khóa môn Karatedo, góp phần phát triển thể lực chung cho sinh viên.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO HÀ NỘI
- -
VŨ THU HUYỀN TRANG
NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CỦA NAM SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI THÔNG QUA TẬP LUYỆN
NGOẠI KHÓA MÔN VÕ KARATEDO
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
HÀ NỘI - 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THỂ DỤC THỂ THAO HÀ NỘI
- -
VŨ THU HUYỀN TRANG
NGHIÊN CỨU SỰ PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CỦA NAM SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI THÔNG QUA TẬP LUYỆN
NGOẠI KHÓA MÔN VÕ KARATEDO
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Mã ngành: 8140101
Hướng dẫn khoa học
TS Nguyễn Ngọc Minh
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Tác giả luận văn
Vũ Thu Huyền Trang
Trang 4DANH MỤC KÝ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG, SƠ ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
Sau 57
3.3
Mức độ tăng trưởng thể lực chung thông qua nội dung, tiêu chuẩn rèn luyện thể lực của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội (thời điểm năm học 2019 - 2020)
Sau 57
3.4
Tổng hợp kết quả nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội đạt tiêu chuẩn rèn luyện thể lực (thời điểm năm học 2019 - 2020)
58
3.5 Nội dung chương trình giáo dục thể chất cho sinh
3.6 Chương trình tập luyện ngoại khóa Karatedo cho sinh
3.7
Khung thời gian chương trình tập luyện ngoại khóa môn võ Karatedo của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 6Thể loại Số Nội dung Trang
3.11
Thực trạng về cơ sở vật chất, sân bãi dụng cụ tập luyện phục vụ công tác giáo dục thể chất tại Đại học Quốc gia Hà Nội
71
3.12
Thực trạng đội ngũ cán bộ phụ trách công tác tổ chức quản lý hoạt động tdtt ngoại khóa cho sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội
74
3.13
So sánh kết quả kiểm tra các nội dung đánh giá thể lực của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội tham gia tập luyện tại câu lạc bộ Karatedo (đối tượng nam sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai)
Sau 87
3.14
Diễn biến nhịp tăng trưởng các nội dung đánh giá thể lực của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội tham gia tập luyện tại câu lạc bộ Karatedo (đối tượng nam sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai)
Sau 87
3.15
So sánh kết quả kiểm tra các nội dung đánh giá thể lực giữa nhóm nam sinh viên không tham gia tập luyện và nhóm nam sinh viên tham gia tập luyện tại câu lạc bộ Karatedo
Sau 87
3.16
Diễn biến nhịp tăng trưởng các nội dung đánh giá thể lực giữa nhóm nam sinh viên không tham gia tập luyện và nhóm sinh viên tham gia tập luyện tại câu lạc bộ Karatedo
Sau 87
3.17
Tiêu chuẩn xếp loại thể lực theo từng nội dung của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội tham gia tập luyện tại câu lạc bộ Karatedo
Sau 89
3.18
Bảng điểm tổng hợp đánh giá thể lực theo từng nội dung của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội tham gia tập luyện tại câu lạc bộ Karatedo
91
Trang 7Thể loại Số Nội dung Trang
3.20
So sánh tiêu chuẩn đánh giá xếp loại tổng hợp trình
độ thể lực của 2 nhóm đối tượng nghiên cứu - năm thứ nhất
92
3.21
So sánh tiêu chuẩn đánh giá xếp loại tổng hợp trình
độ thể lực của 2 nhóm đối tượng nghiên cứu - năm thứ hai
93
3.22 Số lượng đội tuyển Karatedo và số lượng hội viên
câu lạc bộ tham gia tập luyện thường xuyên 96
74
3.2
Cơ cấu tổ chức quản lý câu lạc bộ Karatedo tại Trung tâm Giáo dục thể chất và Thể thao - Đại học Quốc gia Hà Nội
85
Trang 8MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học của đề tài 5
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Khái quát một số vấn đề cơ bản về công tác giáo dục thể chất trong các trường Đại học hiện nay 6
1.2 Các yếu tố và điều kiện đảm bảo cho công tác giáo dục thể chất trong các trường Đại học 12
1.3 Đặc điểm đặc trưng và những ảnh hưởng của môn võ Karatedo đến việc phát triển tố chất thể lực 17
1.3.1 Tính thực dụng của môn Karatedo 17
1.3.2 Đặc điểm của môn Karatedo đến phát triển tố chất thể lực 18
1.4 Những cơ sở lý luận của công tác tổ chức quản lý phong trào tập luyện thể dục thể thao ngoại khóa trong các trường Đại học, Cao đẳng 21
1.4.1 Công tác tổ chức, quản lý phong trào tập luyện thể dục thể thao ngoại khóa 22
1.4.2 Vai trò của công tác tổ chức tập luyện, thi đấu Karatedo ngoại khóa đối với sinh viên 23
1.5 Đặc điểm và vai trò của hoạt động ngoại khoá trong công tác giảng dạy và huấn luyện thể dục thể thao 25
1.5.1 Đặc điểm và các hình thức tổ chức buổi tập thể dục thể thao 25
1.5.2 Vai trò, ý nghĩa của hoạt động ngoại khoá trong công tác giảng dạy và huấn luyện thể thao 31
1.6 Tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan 32
1.7 Nhận xét 39
Trang 9CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN
CỨU 41
2.1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 41
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 41
2.1.2 Khách thể nghiên cứu 41
2.2 Phương pháp nghiên cứu 41
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 42
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn toạ đàm 42
2.2.3 Phương pháp chuyên gia 43
2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm 44
2.1.5 Phương pháp toán học thống kê 50
2.3 Tổ chức nghiên cứu 52
2.3.1 Thời gian nghiên cứu 52
2.3.2 Phạm vi nghiên cứu 53
2.3.3 Địa điểm nghiên cứu 54
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 54
3.1 Đánh giá thực trạng thể lực và công tác tổ chức tập luyện ngoại khóa môn Karatedo cho nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội 54
3.1.1 Thực trạng tố chất thể lực chung của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội 54
3.1.2 Thực trạng việc tổ chức tập luyện ngoại khóa môn Karatedo cho nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội 60
3.1.3 Thực trạng yếu tố và điều kiện đảm bảo phát triển phong trào tập luyện ngoại khoá môn Karatedo tại Đại học Quốc gia Hà Nội 68
3.1.4 Bàn luận về thực trạng thể lực và công tác tổ chức tập luyện ngoại khóa Karatedo cho nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội 76
3.2 Xác định hiệu quả của tập luyện ngoại khoá môn Karatedo đến sự phát triển thể lực của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội 82
3.2.1 Tổ chức kiểm tra sư phạm 82
Trang 103.2.2 Đề xuất ứng dụng thí điểm mô hình tổ chức, quản lý câu lạc bộ
Karatedo Đại học Quốc gia Hà Nội 85
3.2.3 Kết quả kiểm tra sư phạm các nội dung đánh giá thể lực của nam sinh viên tập luyện tại câu lạc bộ Karatedo Đại học Quốc gia Hà Nội.87 3.2.4 So sánh thể lực của sinh viên tham gia tập luyện tại câu lạc bộ Karatedo với sinh viên không tham gia tập luyện 88
3.2.5 Xây dựng và ứng dụng các tiêu chuẩn đã xây dựng để đánh giá trình độ thể lực của sinh viên tập luyện tại câu lạc bộ Karatedo Đại học Quốc gia Hà Nội 89
3.2.6 Bàn luận về hiệu quả tập luyện ngoại khoá môn Karatedo đến sự phát triển thể lực của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội 93
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102
A Kết luận 102
B Kiến nghị 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 1
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đại học Quốc gia Hà Nội là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và chuyển giao tri thức đa ngành, đa lĩnh vực; góp phần xây dựng, phát triển và bảo
vệ đất nước; làm nòng cột và đầu tàu trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam Định hướng đến năm 2030, Đại học Quốc gia Hà Nội sẽ trở thành đại học định hướng nghiên cứu, đa ngành, đa lĩnh vực có tính hội nhập cao, trong đó, một số trường đại học, viện nghiên cứu thành viên thuộc các lĩnh vực khoa học cơ bản, công nghệ cao và kinh tế - xã hội mũi nhọn đạt trình độ tiên tiến châu Á Để đạt được những mục tiêu trên, ngay từ khi học tập và rèn luyện, mỗi sinh viên luôn ý thức phải trau dồi kiến thức và đặc biệt phải thường xuyên rèn luyện thể lực để có sức khỏe tốt nhằm đáp ứng các yêu cầu học tập và công tác sau này
Chính vì vậy, công tác GDTC đã luôn được Ban Giám đốc đặc biệt quan tâm, thông qua các phong trào thi đua sôi nổi, lành mạnh, nhà trường luôn phát huy tốt các môn thể thao thế mạnh, bồi dưỡng cá nhân xuất sắc về TDTT, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm Bên cạnh đó trong những năm qua nhà Đại học Quốc gia Hà Nội đã đầu tư về cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động TDTT và môn học GDTC dành cho sinh viên, từng bước đáp ứng nhu cầu tập luyện thường xuyên cho cán bộ, giáo viên, sinh viên trong trường như: sân vận động, nhà thi đấu, sân bãi tập luyện… phục vụ cho các hoạt động nội khoá
và ngoại khoá sôi nổi và hiệu quả, bên cạnh đó, công tác tổ chức các hoạt động ngoại khoá cũng được nhà trường quan tâm triển khai thực hiện
Trong chương trình GDTC hiện nay, các môn võ thuật được đưa vào giảng dạy chính khóa và ngoại khóa ở khối các trường Đại học, Cao đẳng nhằm rèn luyện cho sinh viên những kỹ năng vận động cơ bản của võ thuật Để nâng cao thể lực và khả năng tập luyện cho sinh viên, được sự đồng ý của Ban Giám đốc Đại học Quốc gia, Trung tâm GDTC và Thể thao đã đưa môn Karatedo vào chương trình tập luyện ngoài giờ chính khóa ngay từ năm học thứ nhất theo mô
Trang 12hình câu lạc bộ Karatedo nhằm mục đích phát triển thể lực cũng như làm quen, thích nghi với các bài tập vận động trong võ thuật và theo định kỳ cứ hai năm một lần có tổ chức giải thi đấu trong phạm vi câu lạc bộ, cũng như tham dự các giải thi đấu trong hệ thống thi đấu của học sinh, sinh viên nhằm đánh giá phong trào tập luyện cũng như trình độ thể lực, võ thuật của sinh viên
Việc tổ chức tập luyện ngoại khóa môn Karatedo của Đại học Quốc gia Hà Nội đã được duy trì từ năm 2010 cho đến nay với sự chủ trì, quản lý, tổ chức hoạt động của Trung tâm GDTC và Thể thao Với tinh thần võ đạo Karatedo kết hợp với truyền thống nhân nghĩa phương Đông của dân tộc Việt Nam, cùng với mục tiêu và yêu cầu của công tác đào tạo hiện nay, các hoạt động tập luyện ngoại khóa môn Karatedo đã được Trung tâm cụ thể hoá mục đích hoạt động, với mục tiêu: Rèn luyện sức khoẻ để học tập tốt; rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật; gìn giữ và phát huy tình yêu quê hương, đất nước, tình cảm gia đình, bạn bè đồng nghiệp và tình thầy trò… Trên cơ sở đó, tạo điều kiện cho sinh viên tham gia các hoạt động từ thiện, các công tác xã hội, từng bước tiếp cận thiên nhiên, bảo vệ môi trường, định hướng nghề nghiệp cho sinh viên trong tương lai
Đến nay, hoạt động tập luyện ngoại khóa môn Karatedo Đại học Quốc gia
Hà Nội đã duy trì được gần 10 năm với những thành tựu và kết quả đạt được đã đóng góp một phần không nhỏ trong sự nghiệp giáo dục đào tạo và nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất của nhà trường Để phát huy những thành tựu đạt được với mục tiêu trở thành mô hình tập luyện ngoại khóa tiêu biểu và phát triển câu lạc bộ Karatedo của nhà trường, thì hiệu quả của hoạt động tập luyện ngoại khóa môn Karatedo đến sự phát triển thể lực của sinh viên cần phải được tổng kết, kiểm tra, đánh giá để từ đó có những bài học kinh nghiệm, khắc phục những tồn tại nhằm phát triển phong trào, thu hút đông đảo sinh viên tham gia tập luyện Mặt khác, việc tìm hiểu, nghiên cứu sự phát triển thể lực của sinh viên thông qua việc tập luyện môn võ thuật này còn có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn đối với công tác giảng dạy, rèn luyện thể lực chung trong nhà trường
Trang 13Vấn đề nghiên cứu ảnh hưởng của tập luyện ngoại khóa các môn thể thao đến sự phát triển thể lực của sinh viên đã được nhiều nhà chuyên môn, các nhà quản lý và các nhà sư phạm quan tâm nghiên cứu Trước hết phải kể đến các tác
giả Phạm Khánh Ninh (2001) với đề tài: “Nghiên cứu cải tiến tổ chức và quản lý các hoạt động TDTT ngoại khoá để nâng cao thể lực cho sinh viên Trường Đại học Mỏ - Địa chất”; tác giả Trần Thị Thuỳ Linh (2001) với đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả hình thức tập luyện thể dục ngoại khoá bắt buộc phát triển thể chất cho
nữ sinh viên Trường Đại học sư phạm Huế”, tác giả Nguyễn Duy Quyết (2006) với đề tài: “Nghiên cứu một số giải pháp tổ chức tập luyện ngoại khoá nhằm nâng cao hiệu quả học tập môn điền kinh tại trường Đại học sư phạm Thể dục thể thao Hà Tây”; tác giả Nguyễn Dũng Minh (2009) với đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả tập luyện ngoại khoá môn Karatedo của sinh viên trường Đại học Phú Xuân Huế”; tác giả Đào Trung Tú (2014) với đề tài: “Nghiên cứu sự phát triển thể chất nam sinh viên trường Đại học Cảnh sát nhân dân thông qua tập luyện ngoại khóa môn võ Karatedo”… Kết quả nghiên cứu của các tác giả đã đưa ra
những mô hình và biện pháp tổ chức tập luyện ngoại khoá dưới các hình thức là bắt buộc và tự chọn cho sinh viên Có thể nói rằng, các kết quả nghiên cứu nêu trên của các tác giả đều là những tư liệu hết sức đáng quý trong lĩnh vực GDTC cho sinh viên nói chung và cách thức tổ chức tập luyện ngoại khoá cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng nói riêng phù hợp với điều kiện thực tế và đáp ứng nhu cầu của sinh viên hiện nay Tuy nhiên cho đến nay, việc nghiên cứu ảnh hưởng của tập luyện ngoại khóa môn Karatedo đến sự phát triển thể lực của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội chưa có tác giả nào quan tâm nghiên cứu
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu sự phát triển thể lực của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội thông qua tập luyện ngoại khóa môn võ Karatedo”
2 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc đánh giá thực trạng thể lực chung của sinh viên, cũng như thực trạng công tác GDTC của Đại học Quốc gia Hà Nội trong giai đoạn hiện
Trang 14nay, đề tài tiến hành đánh giá hiệu quả của tập luyện ngoại khoá môn Karatedo đến sự phát triển thể lực của nam sinh viên, trên cơ sở đó đề xuất và bước đầu xác định mức độ phù hợp mô hình câu lạc bộ Karatedo; xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực cho nam sinh viên (tham gia tập luyện ngoại khóa tại CLB Karatedo Đại học Quốc gia Hà Nội) góp phần nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất cho sinh viên
3 Mục tiêu nghiên cứu
Để giải quyết mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định giải quyết các mục tiêu nghiên cứu sau:
- Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng thể lực và công tác tổ chức tập luyện ngoại
khóa môn Karatedo cho nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội
Giải quyết mục tiêu nghiên cứu này, đề tài tiến hành các nội dung nghiên cứu sau:
Đánh giá thực trạng thể thể lực (theo tiêu chuẩn rèn luyện thể lực) của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội
Đánh giá thực trạng về phong trào tập luyện ngoại khóa môn Karatedo, nội dung chương trình tập luyện, các yếu tố điều kiện đảm bảo cũng như kết quả học tập môn học giáo dục thể chất của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội
- Mục tiêu 2: Xác định hiệu quả của tập luyện ngoại khoá môn Karatedo đến sự
phát triển thể lực của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội
Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn của việc tổ chức, quản lý công tác giáo dục thể chất của nhà trường, giải quyết mục tiêu nghiên cứu này, đề tài tiến hành các nội dung nghiên cứu sau:
Nghiên cứu hoàn thiện mô hình tổ chức, quản lý tập luyện ngoại khóa môn Karatedo cho sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội
Đánh giá hiệu quả tác động của tập luyện ngoại khóa môn Karatedo đến sự phát triển thể lực của nam sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội thông qua các tiêu chí đánh giá thể lực sau 1 năm tập luyện
Trang 15Xây dựng và ứng dụng các tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển thể lực của nam sinh viên tham gia tập luyện tại câu lạc bộ Karatedo Đại học Quốc gia Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học của đề tài
Giả thuyết rằng, tập luyện ngoại khóa môn Karatedo sẽ mang lại hiệu quả thiết thực trong việc phát triển thể lực cho người tập Tuy nhiên vấn đề này cho đến nay chưa có nghiên cứu nào đánh giá một cách đầy đủ tại Câu lạc bộ Karatedo ngoại khóa tại Đại học Quốc gia Hà Nội Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ khẳng định rõ hơn vấn đề nêu trên; đồng thời nếu được áp dụng sẽ đem lại hiệu quả cao hơn trong việc phát triển phong trào tập luyện ngoại khóa môn Karatedo, góp phần phát triển thể lực chung cho sinh viên
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát một số vấn đề cơ bản về công tác giáo dục thể chất trong các trường Đại học hiện nay
Vị trí, vai trò của GDTC trong hệ thống giáo dục:
GDTC là một trong mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà nước
ta, và nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân GDTC được hiểu là: “Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài tuổi thọ của con người” GDTC cũng
như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của
nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh với nguyên tắc sư phạm GDTC chia thành hai mặt tương đối độc lập: dạy học động tác (giáo dưỡng thể chất) và giáo dục tố chất thể lực Trong hệ thống giáo dục nội dung đặc trưng của GDTC được gắn liền với giáo
dục, trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động
GDTC trong trường Đại học được xem là phương tiện có hiệu quả để tăng cường sức khỏe, nâng cao thể lực cho sinh viên, những người chủ tương lai của đất nước Trong quá trình học tập và rèn luyện thân thể, cùng với sự củng cố và phát triển các tố chất thể lực, các phẩm chất ý chí, tính tự tin, lòng dũng cảm, tinh thần tập thể, tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau… chính vì vậy GDTC đã trở thành một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo, đồng thời là một
mặt giáo dục toàn diện nhằm tạo ra lớp người “phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”
GDTC là một lĩnh vực TDTT xã hội với nhiệm vụ là: “Phát triển toàn diện các tố chất thể lực, và trên cơ sở đó phát triển các năng lực thể chất, bảo đảm hoàn thiện thể hình, củng cố sức khoẻ, hình thành theo hệ thống và tiến hành hoàn thiện đến mức cần thiết các kỹ năng và kỹ xảo quan trọng cho cuộc sống” Đồng thời chương trình GDTC trong các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục đó là: “Trang
bị kiến thức, kỹ năng và rèn luyện thể lực cho học sinh sinh viên”
Trang 17Cùng với sự chăm lo tới đời sống vật chất và tinh thần của sinh viên, GDTC và thể thao với bản chất là vận động, là một phương tiện hữu ích, hợp lý giữa chế độ học tập và nghỉ ngơi tích cực, giữ gìn và nâng cao sức khỏe, năng lực hoạt động trong tất cả các thời kỳ học tập Việc học GDTC còn có tác dụng quan trọng trong quá trình rèn luyện đạo đức, ý chí và thẩm mỹ cho lớp trẻ Đối với thế hệ trẻ, GDTC và thể thao lại càng quan trọng hơn bao giờ hết Vì đây là thời kỳ nhạy cảm nhất để phát triển và hoàn thiện thể chất, nhân cách trong cuộc đời của con người Một phương pháp hiệu quả nhất, nhằm giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, trong hiện tại và cả tương lai của dân tộc
Cùng với sức khỏe, trí tuệ, hoàn thiện các năng lực thể chất là yếu tố cơ bản của con người lao động mới Mỗi người cần phải có một lối sống lành mạnh, một sự phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần, nhất là trong hoàn cảnh nhiều mặt trái của nền kinh tế thị trường như hiện nay
GDTC trong nhà trường có ý nghĩa to lớn trong việc phát huy và bồi dưỡng nhân tố con người Đồng thời góp phần nâng cao thể lực giáo dục nhân cách, đạo đức lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần và phát huy tinh thần dân tộc của con người Việt Nam, tăng cường và giữ vững an ninh quốc phòng, nhất là trong tình hình hiện nay của đất nước
TDTT góp phần làm phong phú đời sống văn hóa và giáo dục con người mới TDTT không chỉ ảnh hưởng đến cơ thể, còn có tác dụng đến nhiều mặt Trong hoạt động này, mối quan hệ hành vi giữa cá nhân và tập thể rất đa dạng, phong phú và biến hóa sinh động, đặt biệt trong thi đấu thể thao thành tích cao Nếu tổ chức tốt công tác GDTC và hoạt động tập luyện TDTT, có thể giáo dục
tư tưởng, đạo đức tốt, có ý chí, lòng yêu nước, tinh thần tập thể, tính kỷ luật, trung thực, dũng cảm… của sinh viên một cách có hiệu quả
Mục đích của GDTC trong trường Đại học
Trong hệ thống giáo dục nội dung đặc trưng của GDTC được gắn liền với giáo dục trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động GDTC là một trong những nội dung quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện học
Trang 18sinh trong nhà trường GDTC trong nhà trường là môn học bắt buộc, thuộc chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho sinh viên các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để rèn luyện sức khỏe, phát triển toàn diện các tố chất thể lực, tầm vóc, tiến tới hoàn thiện đến mức cần thiết các kỹ năng, kỹ xảo quan trọng cho cuộc sống, đồng thời giáo dục văn hóa thể chất, nâng cao sức khỏe tinh thần, biết cách thích ứng và hài hòa với các điều kiện sống, điều kiện môi trường học tập, lao động của bản thân và hoàn cảnh xã hội
Ý nghĩa của GDTC đối sinh viên:
Công tác GDTC học đường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn phát triển của mỗi con người, đặc biệt ở lứa tuổi học sinh, sinh viên Thể hiện ở các mặt: [10], [12], [26], [40]
- GDTC góp phần giữ gìn sức khỏe, nâng cao tố chất thể lực và tầm vóc phù hợp với độ tuổi, giới tính, cũng như đặc điểm sức khỏe cá nhân của từng học sinh, sinh viên Tạo dựng cơ sở cho sự phát triển năng lực thể chất toàn diện, hoàn thiện hình thái, củng cố sức khỏe, hình thành và hoàn thiện hệ thống
kỹ năng, kỹ xảo
- Phát triển thể lực toàn diện, các kỹ năng vận động cơ bản và các năng lực vận động cốt lõi: năng lực tự động, sáng tạo; năng lực giao tiếp ứng xử; năng lực thể lực (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, sự khéo léo); năng lực phối hợp vận động; năng lực vượt chướng ngại vật; năng lực phòng chống đuối nước; năng lực thích ứng với môi trường xã hội… Trên cơ sở đó giáo dục các phẩm chất đạo đức, ý chí, hình thành văn hóa thể chất cá nhân và xây dựng lối sống lành mạnh
Tác dụng của GDTC đối với sự phát triển thể chất:
Tập luyện thể thao có thể thúc tiến quá trình trao đổi chất ở các cơ quan,
tổ chức trong cơ thể, từ đó hoàn thiện nâng cao chức năng các bộ phận, cơ quan trong cơ thể Vì chưa biết đến tác dụng của việc tập luyện TDTT nên nhiều sinh viên chưa coi trọng việc tập luyện TDTT Các nghiên cứu cho thấy rèn luyện thể
Trang 19chất không những có vai trò quan trọng trong sự phát triển của cơ thể mà còn có những tác động tới con người về các mặt trí lực Khoa học và thực tiễn cũng đã chứng minh, chăm sóc và nâng cao sức khỏe thông qua việc rèn luyện thể chất,
là biện pháp chủ động, tích cực nhất, ít tốn kém nhất, có khả năng thực thi cao nhất và phù hợp với quy luật phát triển tâm, sinh lý của cơ thể và lứa tuổi, đóng vai trò quan trọng phòng ngừa bệnh tật, nâng cao sức khỏe, làm đẹp hình thái và phát triển toàn diện các tố chất vận động một cách hoàn thiện nhất [12], [26], [49], [50], [59], [61]
Rèn luyện thân thể bằng việc tập luyện các môn TDTT khác nhau với những đòi hỏi sự nỗ lực cao của bản thân về thể chất và ý chí tinh thần, có thể giúp hình thành và giáo dục được những phẩm chất đạo đức nhân cách của con người một cách tự nhiên như: ý chí, lòng dũng cảm, sự quyết tâm, sự tự tin, tính kiên trì và nhẫn nại; ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tập thể, ý thức đồng đội… Văn hóa thể chất giúp xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xây dựng niềm tin và tinh thần lạc quan cho thế hệ trẻ
Sinh viên là lứa tuổi đang phát triển và hoàn thiện thể chất, hình thành nhân cách Việc rèn luyện thể chất không chỉ giúp thể chất khỏe mạnh mà còn hoàn thiện nhân cách, phát triển các năng lực trí tuệ, nhằm hướng tới sự phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần, đáp ứng được các đòi hỏi của cuộc sống cũng như thích nghi được với các điều kiện môi trường tự nhiên, xã hội trong suốt thời gian học tập cho tới quá trình lao động nghề nghiệp
Rèn luyện thể chất cũng giúp trí não thư thái, giảm bớt những căng thẳng
lo âu Các nghiên cứu cho thấy tập luyện thường xuyên ảnh hưởng đến nhiều chức năng của hệ thần kinh, làm phát triển khả năng hoạt động của não bộ, làm tăng nồng độ β-Endorphin góp phần làm tăng sự sảng khoái, giảm stress, cải thiện giấc ngủ, cải thiện sự tự tin, tăng khả năng nhận thức
Giáo dục rèn luyện thể chất trong nhà trường có ý nghĩa to lớn trong việc phát huy và bồi dưỡng nhân tố con người Đồng thời góp phần nâng cao thể lực,
Trang 20hoàn thiện các năng lực thể chất, phát triển trí lực, giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, văn minh [33], [49], [50], [59], [61]
Nhiệm vụ của GDTC:
Đảm bảo sự phát triển lành mạnh, cân đối về hình thái và chức năng cơ thể của người Nâng cao năng lực thể chất để có khả năng chống đỡ những ảnh hưởng có hại của môi trường xung quanh
Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung và phương pháp luyện tập TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản của một số môn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó bồi dưỡng sử dụng các phương tiện để tự rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt động TDTT của nhà trường và xã hội
Thông qua học tập và rèn luyện TDTT, rèn luyện cho sinh viên có đạo đức, ý chí, lòng dũng cảm, tác phong nhanh nhẹn, tinh thần tập thể, óc thẩm mỹ góp phần phát triển trí tuệ con người mới Thông qua đó mà xây dựng niềm tin, lối sống tích cực, lành mạnh, tinh thần tự giác học tập và rèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ sản xuất và bảo vệ tổ quốc Nhiệm vụ của GDTC là bảo vệ và nâng cao sức khỏe: Thúc đẩy sự phát triển hài hòa của cơ thể, giữ gìn
và hình thành cơ thể cân đối, nâng cao khả năng chức phận cơ thể, tăng cường quá trình trao đổi chất, củng cố và rèn luyện thần kinh vững chắc Phát triển một cách hợp lý các tố chất thể lực và năng lực hoạt động cơ bản, nâng cao khả năng hoạt động trí óc và thể lực
Trên cơ sở phát triển thể chất, tổ chức các hoạt động vui chơi lành mạnh, nghỉ ngơi tích cực, rèn luyện và nâng cao khả năng chịu đựng và sức đề kháng của cơ thể với các ảnh hưởng bất lợi của môi trường bên ngoài, phòng chống bệnh tật
Là một mặt của giáo dục toàn diện nên GDTC góp phần tích cực vào việc hình thành các thói quen đạo đức, phát triển trí tuệ, thẩm mỹ, chuẩn bị thể lực cho thanh niên, sinh viên đi vào cuộc sống, lao động, sản xuất và công tác Đồng thời, phải gắn liền hoạt động GDTC với các yêu cầu cụ thể và các hoạt động
Trang 21chung của nhà trường Trang bị cho sinh viên kiến thức về TDTT, kỷ năng kỷ xảo vận động cần thiết cho các hoạt động khác nhau trong cuộc sống [33], [49], [50], [59], [61]
Cung cấp các tri thức và rèn luyện thói quen giữ vệ sinh môi trường, vệ sinh tập luyện, nếp sống văn minh, lành mạnh Phát triển hứng thú và nhu cầu rèn luyện thân thể cường tráng, hình thành thói quen tự tập luyện Trang bị một
số tri thức về mặt tổ chức và phương pháp tiến hành một buổi tập luyện TDTT GDTC có nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng nhân tài thể thao, năng khiếu trong các trường Đại học, Cao đẳng và trong điều kiện khả năng của minh bồi dưỡng nhân tài thể thao cho đất nước, hoặc phối hợp với các tổ chức, cơ quan có trách nhiệm để kịp thời bồi dưỡng nhân tài thể thao
Thực hiện GDTC trong trường học, tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết sinh viên Hơn nữa, GDTC cho thế hệ trẻ, phục vụ học tập, lao động, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần thực hiện theo chương trình bắt buộc và tổ chức các hoạt động TDTT ngoài giờ học, là một trong những bộ phận quan trọng của giáo dục toàn diện [50], [59], [61]
Chương trình môn học GDTC:
Mục tiêu: Chương trình môn học GDTC nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen luyện tập thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, hoàn thiện nhân cách, nâng cao khả năng học tập, kỹ năng hoạt động xã hội với tinh thần, thái độ tích cực, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện
Khối lượng kiến thức: Theo quy định, khối lượng kiến thức của chương
trình môn học GDTC mà người học cần tích lũy tối thiểu là 3 (ba) tín chỉ Cơ sở giáo dục đại học quy định cụ thể khối lượng kiến thức môn học này phù hợp với yêu cầu của từng ngành đào tạo
Đối với sinh viên trường Đại học Ngoại Thương:
GDTC là môn học điều kiện, cấp chứng chỉ xét tốt nghiệp
Trang 22Môn học GDTC áp dụng theo Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ (theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT, ngày
15 tháng 08 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ) Sinh viên sau khi hoàn thành 150 tiết tương ứng với 05 tín chỉ (gồm 01 tín chỉ bắt buộc và 04 tín chỉ tự chọn) trong 4 học kỳ sẽ được cấp chứng chỉ GDTC (là điều kiện để xét tốt nghiệp)
1.2 Các yếu tố và điều kiện đảm bảo cho công tác giáo dục thể chất trong các trường Đại học
Nguồn nhân lực thể dục thể thao:
Để triển khai hoạt động GDTC trong nhà trường cùng các hoạt động TDTT ngoại khóa khác trong nhà trường thì đội ngũ giảng viên TDTT chính là lực lượng cơ bản trực tiếp tiến hành thực hiện và vị trí, vai trò, nhiệm vụ của người giảng viên, giảng viên TDTT cũng đã được qui định rất cụ thể thông qua
các văn bản pháp quy [33], [42], [59], [61]
Điều kiện đảm bảo chất lượng GDTC trong các trường Đại học chịu ảnh hưởng bởi một trong những nhân tố hết sức quan trọng có tính quyết định đó chính là đội ngũ giảng viên TDTT Do đó, muốn nâng cao hiệu quả công tác GDTC trường học trước hết cần quan tâm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên TDTT Thông qua nghiên cứu, một số nhà khoa học cho rằng số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên TDTT hiện nay còn nhiều bất cập và hạn chế về năng lực chuyên môn, dẫn đến mục tiêu GDTC trong nhà trường chưa đảm bảo Chất lượng giờ học thể dục chưa cao, hình thức hoạt động đơn điệu, lượng vận động thấp, tác dụng rèn luyện thân thể và nâng cao sức khỏe cho học sinh còn hạn chế Để khắc phục tình trạng này, các nhà khoa học cũng cho rằng phải có nhiều giải pháp đồng bộ, giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng viên như quy trình đào tạo, hoàn cảnh và điều kiện công tác, sự quan tâm của lãnh đạo nhà trường, kỹ năng tự học tập nâng cao
chuyên môn nghiệp vụ của bản thân giảng viên…
Trang 23Cơ sở vật chất kỹ thuật và điều kiện tập luyện:
Cơ sở vật chất, trang thiết bị là phương tiện lao động sư phạm của nhà giáo dục và học sinh Đây là một hệ thống bao gồm trường, cơ sở, thiết bị chung, thiết bị dạy học theo các môn học và các thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục khác như giáo dục lao động, giáo dục thẩm mỹ, GDTC… Cơ sở vật chất, trang thiết bị đóng vai trò rất quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học xem người học là trung tâm của quá trình nhận thức Theo hướng đổi mới tích cực này, phương pháp dạy học thể hiện qua một số thay đổi cơ bản sau: Người học chủ động tham gia tích cực vào quá trình học tập, tập luyện; người học trực tiếp tham gia vào khâu tổ chức học tập, được thực hành và làm việc nhiều hơn trong quá trình học tập và tập luyện
Muốn thỏa mãn các thay đổi trên bắt buộc nhà trường phải đảm bảo có đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị tập luyện với việc trang bị đầy đủ và đa dạng các loại phương tiện dạy học (nhà tập, sân bãi, dụng cụ tập luyện và thi đấu và các phương tiện hỗ trợ khác…) Cơ sở vật chất, trang thiết bị tập luyện cũng đóng góp thiết thực vào việc đa dạng hóa các hình thức dạy học Ngoài ra, cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng giúp cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, giúp cho người học hiểu sâu hơn, rõ hơn nội dung dạy học… Cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại góp phần rất nhiều vào việc nâng cao khả năng sư phạm [33],
[42], [51], [52]
Cơ chế, chính sách cho công tác giáo dục thể chất:
Trong tình hình hiện nay để phát triển TDTT trường học nhà nước cần có chính sách cụ thể và tăng cường ngân sách để đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, hướng dẫn viên TDTT; đầu tư cơ sở vật chất, sân bãi và dụng cụ tập luyện cho hoạt động GDTC trong các trường học từ cấp học mầm non trở lên Thực hiện mỗi trường đều có giảng viên TDTT và có sân bãi, dụng cụ tập luyện Nhà nước cần xây dựng và thực hiện các chế độ, chính sách khuyến khích về giáo dục thể chất đối với trường học cũng như đối với giảng viên, học sinh Có thể coi đây là khâu đột phá để phát triển thể thao trường học Trước hết cần tạo sự chuyển biến
Trang 24mạnh mẽ trong nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp về tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ thể chất cho trẻ em, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Chăm sóc sức khỏe thể chất cho trẻ em phải được toàn xã hội quan tâm và tham gia một cách tự giác, tích cực Cần có sự phối hợp thống nhất và đồng bộ giữa các ngành, các cấp, các
tổ chức xã hội trong thực hiện chiến lược chăm sóc sức khỏe cho học sinh [33],
[42], [51], [52]
Nhận thức của sinh viên về công tác giáo dục thể chất:
Khi nói đến mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn, các nhà giáo dục có quan điểm: phải có nhận thức đúng thì mới có hành động đúng Như vậy, để sinh viên có thể đạt được kết quả cao nhất trong học tập thì phải có nhận thức đúng đắn về môn học trên nhiều khía cạnh khác nhau như ý nghĩa giáo dục, ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn…
Sinh viên cần hiểu rõ mục tiêu của GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường Điều đó đã được nêu trong Nghị định số 11/2015/NĐ-CP Quy định về
GDTC và hoạt động thể thao trong nhà trường: “GDTC trong trường là nội dung giáo dục, môn học bắt buộc thuộc chương trình giáo dục của các cấp học
và trình độ đào tạo, nhằm trang bị cho học sinh, sinh viên các kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen tập luyện thể dục, thể thao để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện”
Về hoạt động thể thao trong trường học: hoạt động thể thao trong nhà trường là hoạt động tự nguyện của sinh viên được tổ chức theo phương thức ngoại khóa, câu lạc bộ TDTT, nhóm, cá nhân phù hợp với sở thích, giới tính, lứa tuổi và sức khỏe, nhằm hoàn thiện các kỹ năng vận động, hỗ trợ thực hiện mục tiêu GDTC thông qua các hình thức tập luyện, thi đấu thể thao, tạo điều kiện cho sinh viên thực hiện quyền vui chơi, giải trí, phát triển năng khiếu thể thao; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, tài năng thể thao [33], [51], [52]
Trang 25Dưới những biến động của xã hội trong thời kỳ hội nhập quốc tế, bên cạnh những sinh viên có nhận thức đúng đắn về mục đích, tác dụng của GDTC, thể hiện qua ý thức học tập tốt, chuyên cần, hăng hái tập luyện, tích cực tham gia thi đấu, còn có một số vấn đề đang đặt ra trong nhận thức của sinh viên trong các trường về môn học GDTC như sau: [33], [42], [51], [52]
- Môn học GDTC và một số môn học cơ bản khác được giảng dạy ngay từ những học kỳ đầu tiên nên dẫn đến việc nhiều sinh viên mới vào trường chưa kịp điều chỉnh do thay đổi môi trường giáo dục từ phổ thông chủ yếu là thụ động sang giáo dục đại học với đòi hỏi tính tự giác cao trong học tập Từ đó, dẫn đến tâm lý sợ môn học, ý thức thái độ học tập chưa tốt do chưa nhận thức được tầm quan trọng của môn học đó là tạo nên nền tảng thể lực tốt, có kỹ năng vận động nhằm phục vụ cho việc học tập tốt hơn các môn học cơ sở và chuyên ngành
- Do bị ảnh hưởng tư tưởng từ sinh viên khóa trước và những nhận thức còn chưa đầy đủ về môn học, cho rằng: đó là những môn học với những bài tập thể lực đơn điệu, nhàm chán, mệt mỏi, thiếu thực tế và không cần thiết đối với mình sau này Do đó, nhiều sinh viên có tư tưởng chỉ cần học cho qua
- Một bộ phận sinh viên có quan điểm cho rằng: GDTC là môn học mà kết quả học tập không được tính điểm xét học lực, xếp hạng sinh viên, kết quả môn học mang tính điều kiện, nên khi học chỉ mang tính chất đối phó Cụ thể là: Khi thực hiện các bài tập kỹ thuật hay bài tập thể lực, sinh viên không tích cực tập luyện hoặc tập luyện với nỗ lực không cao nên kết quả thấp; do điểm chuyên cần chỉ chiếm 10%, điểm kiểm tra chiếm 20%, điểm thi chiếm 70% nên nhiều sinh viên nghỉ học tràn lan
Công tác tổ chức, quản lý về giáo dục thể chất trường học:
Trong những năm gần đây quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với công tác TDTT trong giai đoạn mới, lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo và Uỷ ban Thể dục thể thao (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch)
đã tăng cường sự phối hợp chỉ đạo đầu tư cho nhiệm vụ GDTC trong nhà trường, vì vậy công tác GDTC và thể thao học đường đã thu được kết quả đáng
Trang 26khích lệ GDTC và thể thao trong nhà trường phổ thông đã có sự tiến bộ, thể hiện qua các mặt sau: [33], [42], [51], [52]
Hình thành và bước đầu củng cố hệ thống tổ chức quản lý GDTC trong nhà trường phổ thông từ trung ương cho đến địa phương: Vụ Giáo dục thể chất thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, cán bộ chuyên trách về công tác GDTC ở các Sở Giáo dục và Đào tạo, cán bộ kiêm nhiệm ở các Phòng Giáo dục quận, huyện; ở nhiều địa phương đã thành lập Ban chỉ đạo Hội khoẻ Phù Đổng các cấp có tác dụng thống nhất và liên kết chỉ đạo phong trào giữa các ngành và cơ quan hữu quan nhằm động viên, giáo dục và tổ chức quần chúng, khuyến khích dư luận và các hoạt động xã hội ủng hộ thiết thực cho GDTC và thể thao học đường
Nghiên cứu sửa đổi và ban hành mới các văn bản pháp quy chỉ đạo công tác GDTC và thể thao trường học, cải tiến nội dung chương trình thể dục các cấp học, ra Thông tư liên tịch giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo và Tổng cục Thể dục thể thao (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) (số 04-93/GDĐT-TDTT ngày 17 tháng 04 năm 1993) về việc phối hợp chỉ đạo công tác GDTC cho học sinh Xây dựng và ban hành quy chế về công tác GDTC trong trường học các cấp Hai Ngành Thể dục thể thao và Giáo dục - Đào tạo đã phối hợp xây dựng chương trình đồng bộ có mục tiêu về cải tiến, nâng cao chất lượng GDTC, bồi dưỡng tài năng thể thao học sinh trong nhà trường các cấp Nghiên cứu sửa đổi tiêu chuẩn rèn luyện thân thể học sinh phổ thông, đề xuất các điều luật về GDTC trong dự thảo Luật giáo dục
Tuy nhiên cho đến nay, hệ thống tổ chức quản lý công tác GDTC trong nhà trường của Ngành Giáo dục và Đào tạo còn chưa đồng bộ, các cấp Sở Giáo dục và Đào tạo địa phương, Phòng Giáo dục chỉ có một cán bộ chỉ đạo theo dõi nhiều bậc học và còn phải kiêm nhiệm nhiều mặt hoạt động khác Đặc biệt chỉ
có từ 3 - 5% số Phòng Giáo dục các quận, huyện có cán bộ nghiệp vụ chỉ đạo chuyên trách
Chưa có sự phân công chức năng, nhiệm vụ rõ ràng; chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Vụ chức năng quản lý bậc học, các Viện nghiên cứu với Vụ
Trang 27Giáo dục thể chất trong việc chỉ đạo triển khai các hoạt động GDTC một cách đồng bộ Việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ của đội ngũ cán
bộ quản lý GDTC, thể thao học đường ít được quan tâm, do đó chất lượng còn yếu và không đồng đều
1.3 Đặc điểm đặc trưng và những ảnh hưởng của môn võ Karatedo đến việc phát triển tố chất thể lực
Môn Karatedo mang đặc tính biểu hiện sử dụng các kỹ thuật đơn giản, thực hiện đòn thế đơn giản, khoa học, hợp lý Đòn thường tung theo đường thẳng và đơn thuần từng đòn hoặc phối hợp ít đòn, không liên hoàn, chủ yếu là tay… phong phú nhất là việc sử dụng nắm đấm (teken), cạnh bàn tay (shuto) thay lưỡi dao, mũi kiếm Karatedo rất chú trọng luyện tay và chân, nhất là bàn tay có sức công phá như sắt thép Khi mới tập võ sinh phải đấm trụ (maki wara) Đòn chân của Karatedo thường cao nhưng rất nhanh, mạnh liên hoàn nên khó đỡ
và khó phản đòn Quyền Karatedo chú trọng đòn đi theo đường thẳng, kết hợp các thế căn bản hợp lý với nhau Bài quyền tổng hợp các đòn để chiến đấu với đông người Ngoài ra kỹ thuật một đòn còn biến hoá ra nhiều thế, nhiều chiêu khác [21]
1.3.1 Tính thực dụng của môn Karatedo
Karatedo là môn võ mang tính khoa học, đơn giản, dễ tập và nâng cao sức khoẻ cho người tập Tính thực dụng thể hiện ở chuẩn bị thể lực tốt phục vụ cho lao động và Karatedo là môn võ đầy tính chiến đấu thể hiện qua 2 yếu tố phòng thủ và tấn công Karatedo là nghệ thuật chiến đấu tay không, khi tập luyện môn này không chỉ dừng ở việc nắm kỹ thuật căn bản và giành thành tích trong thi đấu Kỹ thuật tự vệ Karatedo là kết quả của sự kế thừa, gạn lọc, hiện đại hoá, khoa học hoá đơn giản và hiệu quả nhất [41]
Tính thực dụng còn thể hiện qua việc phối hợp hài hoà giữa kỹ thuật tay với kỹ thuật chân, và toàn cơ thể Các đòn đánh, đỡ, né tránh đều vận dụng nguyên tắc khoa học theo quy luật đường thẳng và lực xoắn Các kỹ thuật Karatedo yêu cầu hiệu quả cao, dứt điểm nhanh chóng, kết thúc đòn phải có thế
Trang 28thủ (zanshin), vì vậy tấn công nhanh theo đường thẳng là hiệu quả nhất Đường thẳng không những thể hiện trong tấn công mà trong cả quá trình di chuyển khi tấn công hay phản công, thông qua các bước di chuyển ngang, trước, sau, nhưng đường thẳng là chủ yếu Mặt khác còn thể hiện ở kỹ thuật động tác đơn giản, dễ tập và hiệu quả trong thời gian tập luyện tương đối ngắn so với các loại võ khác [41], [36], [37]
1.3.2 Đặc điểm của môn Karatedo đến phát triển tố chất thể lực
Tập luyện và thi đấu Karatedo gồm 2 nội dung: Thi đấu đối kháng (kumite) và thi đấu quyền (kata) được thể hiện thông qua các yếu tố chủ yếu sau đây: Thể lực, kỹ thuật, chiến thuật và tâm lý
Về thể lực:
Giáo dục tố chất thể lực là một quá trình tác động liên tục, thường xuyên
và theo kế hoạch xắp xếp hợp lý bằng những bài tập TDTT nhằm chủ yếu phát triển các mặt chất lượng về khả năng vận động con người Trong quá trình ấy, tác động sâu sắc với hệ thống thần kinh cơ bắp, cũng như với các cơ quan nội tạng của con người Mặt khác, muốn có được thành tích cao trong Karatedo, thì cần có tố chất thể lực tốt phù hợp với yêu cầu của từng nội dung Đương nhiên, trong trường hợp ấy cũng không thể coi nhẹ các mặt khác như: Kỹ thuật, chiến thuật, ý chí, thể lực Thông thường, người ta phân biệt tố chất thể lực như sau: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, sức mềm dẻo và khéo léo
Sức mạnh: Là một trong những tố chất quan trọng của con người Nó là
năng lực khắc phục sức cản bên ngoài nhờ sự nỗ lực của cơ bắp [36] Những hình thức xuất hiện sức mạnh gồm có: Sức mạnh tối đa, sức mạnh nhanh và sức mạnh bền:
- Sức mạnh tuyệt đối (Sức mạnh max): Thành tích của các nội dung trong thi đấu Karatedo ít phụ thuôc vào sức mạnh tuyệt đối Tuy vậy, sức mạnh tuyệt đối vẫn rất cần cho người tập Karatedo, làm cơ sở để phát triển sức mạnh nhanh
Trang 29- Sức mạnh bền (sức bền trong sức mạnh): Phương pháp chính để giáo dục sức mạnh bền là phương pháp lặp lại nhiều lần tới mệt mỏi với những bài tập mang nặng với trọng lượng khác nhau
Sức nhanh: Sức nhanh có thể khái quát là khả năng hoạt động với tốc độ
cực hạn Sự biểu hiện của nó dưới 4 hình thức
- Thời gian tiềm phục của phản ứng động tác
- Tốc độ của động tác đơn
- Tần số của động tác
- Tốc độ ban đầu của động tác [37]
Tốc độ của các động tác phối hợp kỹ chiến thuật phức tạp Karatedo (như các động tác trong thi đấu, trong đi quyền) phân tích cho cùng là sự kết hợp của
4 hình thức biểu hiện sức nhanh Khả năng tăng độ nhanh trong hoạt động nào
đó phụ thuộc vào trình độ hoàn thiện kỹ thuật (kết cấu lực, không gian, thời gian của động tác) Phải nắm vững kỹ thuật mới, thực hiện được động tác nhanh, nhưng quá trình chú trọng đến kỹ thuật mà thực hiện với tốc độ chậm và trung bình thì cũng không có lợi cho việc phát triển sức nhanh sau này Vì vậy, phải giải quyết tốt quan hệ kỹ thuật và phát triển sức nhanh, phải chú trọng cả 2 mặt
Sức bền: Sức bền giúp cho người tập Karatedo, có khả năng trong hoạt
động với thời gian dài Với VĐV Karatedo, sức bền không những rất cần thiết cho thi đấu mà còn cho việc hoàn thành khối lượng huấn luyện lớn Sức bền gồm: Sức bền chung và sức bền chuyên môn Sức bền chung rất cần thiết cho con người, còn đối với VĐV Karatedo là một thành phần trong phát triển thể lực toàn diện, là kết quả của sự biến đổi tốt, thực sự trước tiên ở hệ thống thần kinh trung ương cũng như các hệ thống tim mạch, hô hấp Sức bền chung của võ sinh nam Karatedo, là cơ sở để chịu đựng được các lượng vận động lớn Sức bền chuyên môn cần thiết cho VĐV Karatedo tuỳ theo đặc điểm của từng nội dung thi đấu khác nhau Sức bền chung tích lũy dần dần bằng tất cả các bài tập thể lực quanh năm Đương nhiên, việc huấn luyện chuyên môn cũng giúp cho việc tăng sức bền chung
Trang 30Sức bền chung có tác dụng với khả năng làm việc chung và sức khoẻ của người tập Karatedo, là cơ sở vững chắc của VĐV Karatedo trong huấn luyện chuyên môn, trong phát triển sức bền chuyên môn
Sức mềm dẻo: Sức mềm dẻo (hay còn gọi là khả năng linh hoạt của các
khớp) rất cần thiết cho VĐV Karatedo khi hoàn thành các bài tập với biên độ động tác lớn Nhờ các bài tập chuyên môn, VĐV đạt đựơc độ mềm dẻo tốt hơn khi thực hiện các động tác trong thi đấu hay đi quyền Nếu như không có và độ mềm dẻo thì không thể đạt được sức nhanh tối đa trong động tác, cũng như không đạt được hiệu quả tốt
Độ linh hoạt: Độ linh hoạt trong các động tác và biết giải quyết các nhiệm
vụ huấn luyện một cách nhanh, đúng cần phải có sức mạnh, sức nhanh, sức bền
và có phẩm chất ý chí cao Động tác hoạt động càng phức tạp, càng phải nhanh chóng xử lý linh hoạt, có nghĩa là càng phải hoàn thiện hơn sức linh hoạt Trong quá trình huấn luyện và thi đấu, nhiều hoạt động bên ngoài có thể phá hoại độ chính xác của kỹ thuật Nếu như VĐV Karatedo có sức linh hoạt tốt thì có thể giữ thăng bằng điều chỉnh tư thế động tác
Về kỹ thuật:
Được thực hiện chủ yếu trên đường thẳng gồm: Kỹ thuật tấn, kỹ thuật tay,
kỹ thuật chân Kỹ thuật Karatedo được xây dựng trên nền tảng của những nguyên lý khoa học được dựa trên các công thức chủ yếu sau:
Về chiến thuật:
Trang 31Chiến thuật song đấu trong Karatedo là để đối phương tấn công làm đối phương sơ hở để phản công vào đó, hoặc tấn công đánh lạc hướng đưa đối phương vào phương án phản công của ta làm đối phương không kịp trở tay
Tấn công ở phương án chủ động: Trong phương án này, tâm lý có tác
dụng chính là để đối phương không kiểm soát được kỹ thuật tấn công của ta và
ta dùng cách đánh khôn ngoan, sáng tạo, hiệu quả với những đòn thật sự mạnh
và chính xác Có thể giả mở đòn đấm, đòn tấn công ở hướng trực tiếp; Hay đòn giả nhử đòn ở nhiều hướng khác nhau; Hoặc vô hiệu hoá sự phòng thủ của đối phương bằng tấn công liên tục một hay nhiều hướng; Hay tấn công làm đối phương mất thăng bằng để nắm bắt thời cơ… đánh lạc hướng đối phương
Tấn công ở phương án thụ động: Trong phương án này thường gạt đỡ đòn
tấn công của đối phương rồi phản công, hoặc đối phương tấn công ta tránh né, rồi phản công chỗ hở đối phương, hay chặn đứng đòn tấn công của đối phương Tấn công và đoán đúng phương hướng tấn công của đối phương là 2 điểm chủ yếu sử dụng đúng phối hợp thân pháp tránh né linh hoạt nhịp nhàng để phản công hiệu quả cao [36]
Về tâm lý:
Karatedo là môn tình huống giao đấu đối kháng trực tiếp nên phải linh hoạt về thần kinh (chuyển đổi nhanh giữa quá trình hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh), phải luôn bình tĩnh để phán đoán tình huống kịp thời đưa ra quyết định khi cần thiết Yêu cầu VĐV Karatedo phải thuộc loại hình thần kinh mạnh - cân bằng - linh hoạt VĐV phải có quá trình chuẩn bị tâm lý tốt, đồng thời phải
có kinh nghiệm phong phú trong quá trình thi đấu
Để hiểu môn võ Karatedo việc nắm bắt về đặc điểm và tính chất của môn
võ là vô cùng quan trọng, tuy vậy hiểu quy luật diễn biến thành tích của môn võ cũng là điều rất cần thiết
1.4 Những cơ sở lý luận của công tác tổ chức quản lý phong trào tập luyện thể dục thể thao ngoại khóa trong các trường Đại học, Cao đẳng
Trang 321.4.1 Công tác tổ chức, quản lý phong trào tập luyện thể dục thể thao ngoại khóa
Quản lý thể dục thể thao góp phần đắc lực vào việc thực hiện mục tiêu xã hội của Đảng và Nhà nước, xúc tiến quá trình phát triển xã hội, qua đó xác định các mục tiêu thực tế có nhu cầu cho thể dục thể thao, phối hợp với các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội, bảo đảm các điều kiện cần thiết như: Công tác tư tưởng, cán bộ, vật chất, kỹ thuật để giải quyết các nhiệm vụ, mục tiêu của thể dục thể thao
Tổ chức quản lý phong trào Karatedo phải tiến hành một cách khoa học
và kết hợp chặt chẽ giữa giờ học chính khoá và thể thao ngoại khoá Trong đó, chức năng quản lý và giáo dục trong giờ học thể dục thể thao thể hiện: “Giờ học thể dục thể thao là một phương tiện có hiệu quả để phát triển hài hoà và cân đối
về thể lực và ảnh hưởng tích cực đến những phẩm chất chính trị, tư tưởng đạo đức thẩm mỹ của nhân cách con người” [50] Học ngoại khoá là một bộ phận của nhu cầu và ham thích trong thời gian nhàn rỗi của học sinh sinh viên, góp phần phát triển năng lực thể chất và nâng cao thành tích thể thao của học sinh sinh viên
Khoa học quản lý thể dục thể thao đã chỉ ra công tác tác giáo dục thể chất trong nhà trường và thể dục thể thao trong thế hệ trẻ có mục đích và nhiệm vụ chính là: “Góp phần phát triển năng lực toàn diện và đặc thù của mỗi em Đồng thời góp phần vào việc hoàn thiện khả năng nhằm đạt thành tích về thể chất - thể thao cho các em” [46] Mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về thể chất và thể thao trong trường học là:
- Xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong thể chất và thể thao của học sinh sinh viên
- Phát triển được các tố chất thể lực và trạng thái chức năng của cơ thể
- Phát triển tố chất phối hợp các động tác
- Phát triển năng lực tâm lý cho các em, sẵn sàng tập luyện, phấn đấu trong tập luyện, thi đấu
Trang 33- Tạo cho các em ý thức tập luyện, thể dục thể thao thường xuyên, xây dựng hứng thú bền vững lâu dài cho học sinh sinh viên
- Giáo dục đạo đức thể thao xã hội chủ nghĩa
Do đó nhiệm vụ của công tác tổ chức quản lý phong trào tập luyện thể dục thể thao trong nhà trường phải có một chương trình thống nhất theo đặc điểm của lứa tuổi Việc xác định mục tiêu công tác thể dục thể thao trong thế hệ trẻ không nên chỉ là mục tiêu kiến thức mà phải thống nhất giữa các mặt: Kiến thức, thể lực và kỹ thuật động tác Cần phải đưa chương trình dạy thể dục ở phổ thông đến Đại học thành pháp lệnh, kế hoạch, cần có chế độ thích hợp để động viên việc tổ chức hướng dẫn hoạt động ngoại khoá thể dục thể thao cho sinh viên Trong công tác giáo dục thể chất phải thực hiện tốt công tác tập luyện, huấn luyện, thi đấu thể thao trong học sinh, tổ chức các Câu lạc bộ thể thao, các lớp tự tập luyện, các đội tuyển các môn thể thao Đồng thời, công tác tập luyện huấn luyện thi đấu đóng góp vào hoạt động văn hoá tinh thần của đông đảo học sinh sinh viên
1.4.2 Vai trò của công tác tổ chức tập luyện, thi đấu Karatedo ngoại khóa đối với sinh viên
Tổ chức tập luyện, thi đấu Karatedo có tác dụng giáo dục tích cực nhiều mặt phẩm chất đạo đức, ý chí, nỗ lực của con người và là phương tiện giao lưu giữa các tập thể địa phương, ngành và quốc gia trên thế giới
Quá trình tập luyện, thi đấu là quá trình mà mỗi VĐV thường xuyên gắn
bó với tập thể, qua đó trau dồi và hình thành tình đoàn kết, hạn chế và dẹp bỏ những ham muốn dục vọng cá nhân tầm thường, biết phấn đấu hy sinh vì lợi ích
Trang 34và danh dự lớn lao của tập thể, sẵn sàng cống hiến cho mục đích chung vì mầu
cờ sắc áo và những tấm huy chương Đó là phẩm chất đáng quý mà con người
nổ lực phấn đấu vất vả trong rèn luyện và thử thách mới có được Trong tập luyện mỗi VĐV có yêu cầu riêng, trong thi đấu mỗi VĐV phải đảm nhiệm một
vị trí, nhiệm vụ chiến thuật và trách nhiệm khác nhau nên chỉ tổ chức cao thì các
bộ phận mới phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ và toàn đội mới đi tới mục đích cuối cùng Trình độ thi đấu cao đòi hỏi cá nhân cũng như toàn đội phải có tinh thần khắc phục khó khăn, ý chí chiến đấu ngoan cường, dũng cảm Do thi đấu đối kháng quyết liệt nên đòi hỏi rất cao về thể lực và tâm lý quá trình tập luyện thi đấu khó hơn, thời gian trận đấu kéo dài yêu cầu các VĐV phải dẻo dai bền bỉ có tinh thần khắc phục mệt mỏi, có ý chí chiến đấu ngoan cường Những yếu tố đó giúp cho những đội dù yếu hơn nhưng lại giành được chiến thắng trước đội được coi là mạnh hơn
1.4.2.2 Tổ chức tập luyện và tiến hành các cuộc thi đấu Karatedo nhằm phát triển các tố chất thể lực
Karatedo là một trong những môn thể thao phát triển rộng rãi nhất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, là phương tiện lôi cuốn tuổi trẻ và mọi người tập luyện TDTT hệ thống, chuẩn bị tích cực để kiểm tra và đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể đồng thời cũng là phương tiện nghỉ ngơi tích cực
Tập luyện Karatedo góp phần phát triển hệ vận động, rèn luyện các tố chất thể lực cần cho đời sống như khéo léo, bền bỉ, phản ứng nhanh, tăng cường
hệ hô hấp - tuần hoàn, hệ cơ xương và làm giảm mệt mỏi hệ thần kinh Ngoài tác dụng về vệ sinh nâng cao sức khỏe, Karatedo còn có tác dụng giáo dục tuyên truyền rất lớn Thi đấu thể thao không chỉ hấp dẫn với người tham gia mà cả với khán giả, giúp con người có hoài bảo trở thành mạnh mẽ, khéo léo, gan dạ, biết điều khiển hoạt động của mình phục vụ quyền lợi của tập thể Như một phương tiện GDTC quan trọng, Karatedo phát triển rộng ở mọi tổ chức phong trào thể dục thể thao
Trang 351.5 Đặc điểm và vai trò của hoạt động ngoại khoá trong công tác giảng dạy
và huấn luyện thể dục thể thao
1.5.1 Đặc điểm và các hình thức tổ chức buổi tập thể dục thể thao
Buổi tập TDTT chính khoá (giờ học chính khóa) có những đặc điểm chung của hình thức lớp - bài Dấu hiệu quan trọng nhất của hình thức lớp - bài
là nhà sư phạm (giáo viên TDTT, huấn luyện viên, hướng dẫn viên) giữ vai trò chủ đạo, điều khiển trực tiếp tổ chức hoạt động dạy học Sự tác động tương hỗ giữa người dạy và người học tạo nên điều kiện sư phạm tốt nhất cho quá trình giáo dục thể chất Ưu thế của buổi tập chính khoá còn thể hiện ở chỗ: Buổi tập được tiến hành theo kế hoạch học tập chặt chẽ của trường học, theo thời khoá biểu chung của toàn trường; lớp học gồm một số lượng học sinh ổn định, cùng lứa tuổi, hoạt động đã liên kết học sinh thành tập thể Đó là những điều kiện không kém quan trọng để giải quyết hiệu quả nhiệm vụ giáo dục - giáo dưỡng trong quá trình giáo dục thể chất Giờ học TDTT được tổ chức phù hợp với những nguyên tắc sư phạm chung, với những nguyên tắc giáo dục thể chất Đồng thời việc tiến hành giờ học TDTT phải đảm bảo được những yêu cầu sau: [48]
1 Tác động của giờ học phải toàn diện về các mặt giáo dưỡng, giáo dục
và sức khoẻ
2 Hoạt động dạy học và giáo dục phải được thực hiện từ đầu đến cuối giờ học
3 Trong giờ học cần hết sức tránh khuôn mẫu phương pháp cứng nhắc
4 Đảm bảo bình đẳng trong hoạt động học tập cho tất cả học sinh, đồng thời chú ý đặc điểm cá nhân người tập
5 Các nhiệm vụ đặt ra trong mỗi giờ học phải thật cụ thể, để được giải quyết ngay trong giờ học Nhiệm vụ học tập do giáo viên đề ra có thể thực hiện theo hình thức đồng loạt, các nhóm và cá nhân
Trang 36Đặc điểm của hình thức tổ chức hoạt động đồng loạt là cả lớp được giao một nhiệm vụ chung và nhiệm vụ đó lập tức được học sinh thực hiện dưới sự điều khiển chung của giáo viên
Theo hình thức nhóm, sinh viên được chia thành nhóm nhỏ với các nhiệm
vụ khác biệt phù hợp cho mỗi nhóm Trong trường hợp này giáo viên hướng dẫn chủ yếu ở một nhóm, hoặc lần lượt chuyển từ nhóm này qua nhóm khác Trong hình thức tổ chức hoạt động cá nhân, mỗi học sinh nhận nhiệm vụ riêng cho mình và thực hiện độc lập Giáo viên sẽ hướng dẫn từng người theo sự lựa chọn của mình
Mỗi hình thức kể trên đều có ưu, nhược điểm Ví dụ: Tổ chức hoạt động
của học sinh đồng loạt tạo ra khả năng bao quát và điều khiển hoạt động của tất
cả lớp học nhưng việc đối đãi cá biệt bị hạn chế Ngược lại, sử dụng hình thức nhóm và cá nhân thì việc tăng cường đối đãi cá biệt cho cá nhân hoặc nhóm cá nhân tăng cường, nhưng hạn chế khả năng bao quát toàn bộ học sinh Nói chung, trong các giờ học chính khoá, thường sử dụng tổng hợp cả 3 hình thức tổ chức hoạt động kể trên Trong phần chuẩn bị, hoạt động của học sinh thường đồng loạt Trong phần cơ bản, học sinh tập theo nhóm hoặc cá nhân Phần kết thúc thường lại được tổ chức theo hình thức đồng loạt
Việc lựa chọn phương pháp thực hiện bài tập trong giờ học tuỳ thuộc vào nhiệm vụ và tính mới lạ của nội dung học tập Theo của nội dung, giờ học chính khoá được chia thành giờ học chuẩn bị thể chất chung, giờ học thể thao và giờ giáo dục chuẩn bị thể chất nghề nghiệp
- Giờ học chuẩn bị thể chất chung: Được áp dụng chủ yếu trong các trường học: mẫu giáo, phổ thông, đại học và trung học chuyên nghiệp Đặc điểm của giờ học loại này là nội dung học tập phong phú, tổng hợp, lượng vận động vừa phải
- Giờ học thể thao: Áp dụng trong giảng dạy - Huấn luyện một môn thể thao lựa chọn mang tính chất chuyên môn Các giờ loại này tiến hành theo
Trang 37phương pháp riêng, đặc biệt chú ý tới định mức lượng vận động và phòng ngừa chấn thương
- Các giờ học chuẩn bị tính chất nghề nghiệp được tiến hành cho các đối tượng thanh thiếu niên và người trưởng thành Đặc điểm tiêu biểu của nội dung giờ học loại này là giảng dạy các động tác thực dụng mang tính chất thể lực chuyên môn phù hợp với lao động nghề nghiệp
- Theo đặc điểm hoạt động dạy học, còn chia giờ học chính khoá thành các loại: Giờ học nội dung mới, giờ học củng cố, hoàn thiện, giờ học kiểm tra và giờ học hỗn hợp
Đặc điểm của giờ học nội dung mới là mật độ vận động tương đối thấp do mất nhiều thời gian cho làm mẫu, giảng giải, sửa chữa lỗi sai Trong giờ học hoàn thiện và củng cố, mật độ vận động tăng tới mức tối đa
Giờ học kiểm tra thường được tiến hành dưới hình thức thi đấu thể thao Trong các giờ học này cần phải đảm bảo trật tự nghiêm ngặt, tuân thủ luật thi đấu, xác định chính xác thành tích Giờ học hỗn hợp các nội dung mới, củng cố - hoàn thiện, kiểm tra nội dung cũ được sử dụng rộng rãi hơn cả trong thực tiễn giáo dục thể chất
Giáo dục thể chất còn tiến hành theo hình thức buổi tập ngoại khoá Vì thời gian học tập chỉ chiếm một khoảng tương đối ngắn trong cuộc sống của con
người Ví dụ: Trong 12 năm học phổ thông, học sinh chỉ được học khoảng 700
giờ học TDTT chính khoá Trong khi đó thời gian tập luyện TDTT ngoại khoá nhiều hơn
Tập luyện TDTT ngoại khoá là hình thức tập luyện tự nguyện nhằm củng
cố sức khoẻ, duy trì và nâng cao khả năng hoạt động thể lực, rèn luyện cơ thể và chữa bệnh, giáo dục các tố chất thể lực và ý chí, tiếp thu các kỹ năng kỹ xảo vận động [48]
Các buổi tập ngoại khoá thường có cấu trúc đơn giản và nội dung hẹp hơn
so với buổi tập chính khoá Hình thức tập luyện này đòi hỏi ý thức tập luyện, tự giác, độc lập và sáng tạo cao Nhiệm vụ cụ thể và nội dung buổi tập ngoại khoá
Trang 38chủ yếu phụ thuộc vào sở thích và hứng thú cá nhân Cũng như buổi tập chính khoá, cấu trúc buổi tự tập phải đảm bảo cho cơ thể dần dần bước vào hoạt động tạo điều kiện tốt nhất để thực hiện phần cơ bản và phần kết thúc buổi tập Người tập thường sử dụng nhiều quy tắc, thủ thuật đã được giáo viên hướng dẫn trong giờ học chính khoá để định mức lượng vận động, giúp đỡ và bảo hiểm (khi tập theo nhóm) và tự tổ chức
Do nội dung buổi tập ngoại khoá có nét khác biệt nên cách tổ chức tập luyện có đặc trưng riêng Theo tính chất hướng dẫn các buổi tập ngoại khoá được chia thành: Các buổi tự tập cá nhân, các buổi tập theo nhóm tự nguyện, các buổi tập theo nhóm có tổ chức
Thường được tổ chức dưới dạng thể dục buổi sáng, thể dục vệ sinh và dạo chơi hàng ngày, các buổi tự tập theo xu hướng huấn luyện chung và huấn luyện thể thao
Thể dục vệ sinh là một hình thức tự tập đơn giản nhất Nó thường bao gồm: Đi bộ, chạy và một số bài tập phát triển chung được thực hiện trong 8 phút
- 10 phút Tập thể dục vệ sinh có tác dụng giúp cơ thể nhanh chóng bước vào hoạt động hàng ngày, duy trì khả năng hoạt động thể lực, nghỉ ngơi tích cực Các buổi tập thể dục vệ sinh thường thể hiện với lực đối kháng như tạ tay, tạ bình vôi, dây đàn hồi… có thể tập trong nhà hoặc ngoài trời Cần phải lựa chọn bài tập và định mức lượng vận động sao cho cơ thể dần dần bước vào hoạt động
và các nhóm cơ lớn đều tham gia vận động Dần dần cần đổi các bài tập và nâng cao độ phức tạp Mỗi người đều có thể và cần phải tập thể dục vệ sinh trong suốt cuộc đời Các hình thức tập luyện cá nhân này được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và rất quan trọng trong phong trào TDTT [56]
Tự tập thể lực cá nhân như tập thể lực chung, thể lực chuyên môn, thể lực thực dụng là hình thức tập cá nhân có cấu trúc tương đối phức tạp Đặc điểm của các buổi tự tập thể lực thể hiện ở tính hệ thống chặt chẽ trong xác định nhiệm vụ
và lựa chọn bài tập đòi hỏi nhiều thời gian, tuân thủ chế độ sống đặc biệt, nhìn chung buổi tự tập thể lực phải có cấu trúc như giờ học chính khoá
Trang 39Điển hình là trò chơi, du lịch, thi đấu và các hình thức tập luyện khác dưới
sự hướng dẫn của một người được các thành viên của nhóm bầu ra hoặc được chỉ định Hình thức tập theo nhóm tự nguyện phổ biến nhất là trò chơi vận động Theo xu hướng tập luyện, các trò chơi có thể được chia thành: Trò chơi học tập, trò chơi nâng cao sức khoẻ, trò chơi giải trí, trò chơi thi đấu
Ở các nước kinh tế văn hoá phát triển hình thức du lịch tích cực được phát triển rộng rãi Đó là những cuộc tham quan dạo chơi, hành quân được tổ chức có
kế hoạch và tự nguyện, tập luyện theo hình thức du lịch có tác dụng làm phong phú chi tiết kỹ năng kỹ xảo thực dụng tôi luyện cơ thể và giáo dục tố chất thể lực trong điều kiện khí hậu và địa hình thay đổi
Hiệu quả tập luyện theo nhóm tự nguyện phụ thuộc rất nhiều vào việc lựa chọn chính xác người chỉ đạo, có uy tín về nhân cách, có kiến thức cơ bản về phương pháp tổ chức tập luyện, hiểu biết luật thi đấu, có kinh nghiệm tổ chức dưới sự điều khiển của những người làm công tác chuyên môn Tập luyện theo nhóm tổ chức thường là các cuộc thi đấu thể thao, các buổi tập nâng cao sức khoẻ, trong các cơ quan, xí nghiệp, các ngày hội thể thao…
Chức năng của các cuộc thi đấu rất phong phú Thi đấu thể thao được tổ chức vì nhiều mục đích khác nhau: Xác định thành tích của VĐV, tuyên truyền, trao đổi kinh nghiệm, củng cố tình đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc, mở rộng quan hệ Quốc tế… đồng thời còn là phương pháp giáo dục thể chất độc đáo Tham gia thi đấu theo hệ thống có tác dụng kích thích mạnh sự phát triển trình
độ thể lực chuẩn bị của VĐV Các hình thức tập luyện đã nêu là các khâu của quá trình giáo dục thể chất nếu chúng được liên kết với nhau thành chỉnh thể Cơ
sở để liên kết các buổi tập là các nguyên tắc giáo dục thể chất, mà trước nhất là
hệ thống, vừa sức, tăng tiến Đồng thời, trật tự liên kết các hình thức tập luyện khác nhau còn phụ thuộc vào xu hướng của chúng trong các giai đoạn của quá trình giáo dục thể chất nhiều năm; đặc điểm người tập; chế độ hoạt động cơ bản
và điều kiện sinh hoạt của người tập
Trang 40Như vậy mục đích của tập luyện TDTT ngoại khoá là tổ chức thời gian nhàn rỗi của các em học sinh có nội dung; giáo dục những hiểu biết và những kiến thức sử dụng một cách tự giác các phương tiện giáo dục TDTT khác nhau trong đời sống và hoạt động hàng ngày Những buổi tập ngoại khoá có nội dung khác nhau giúp cho học sinh nắm được nội dung trong chương trình học tập về TDTT, chuẩn bị cho họ tham gia thi đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể Ngoài ra giúp cho việc hoàn thiện các môn thể thao tự chọn Giáo dục TDTT ngoại khoá giúp cho em hình thành được những phẩm chất ý chi đạo đức giúp cho việc phát triển những kỹ năng chung và giáo dục tinh thần trách nhiệm đối với việc học tập ở nhà trường
Giữa hình thức tập luyện chính khoá và ngoại khoá có mối liên hệ lẫn nhau Tập luyện ngoại khoá giữ vị trí là bổ sung và củng cố hiệu quả của công tác giáo dục thể chất trong nhà trường, góp phần tạo nếp sống mới lành mạnh, sôi nổi, phong phú, tươi vui, lạc quan loại bỏ được cuộc sống trống rỗng vô vị, chơi bời, lêu lổng của học sinh trong các giờ nhàn rỗi, đặc biệt là học sinh thành thị [46], [51]
Việc kết hợp tốt giữa tập luyện TDTT nội khoá với ngoại khoá giúp con người có sức khoẻ tốt tạo điều kiện nâng cao thành tích học tập của học sinh Qua nhiều năm nghiên cứu thực nghiệm, một nhóm các nhà khoa học của Viện nghiên cứu khoa học TDTT (Liên xô cũ) do X.X.Groshenkốp phụ trách đã kết
luận: “Kết quả học tập của nhóm học sinh tham gia tập luyện TDTT tăng 12%, trong khi đó kết quả học tập của nhóm học sinh khác chỉ tăng 6%”
Tập TDTT có tác dụng rất tốt với sức khoẻ, vì muốn có sức khoẻ phải thường xuyên tham gia tập luyện TDTT, thể dục buổi sáng, thể dục trước giờ học, thể dục giữa giờ và ngoại khoá Nếu không tổ chức được tập thể dục buổi sáng cho học sinh nên làm tốt thể dục trước giờ học vì thể dục trước giờ có tác dụng tích cực chuẩn bị trạng thái sinh lý, tâm lý cho học sinh bước vào học tập, đặc biệt là tăng khả năng chú ý cao trong học tập Thể dục giữa giờ và một số