Bài giảng Thanh toán điện tử: Phần 1 - TS. Nguyễn Trần Hưng có nội dung trình bày tổng quan về thanh toán điện tử; những vấn đề chung về thanh toán điện tử; hệ thống thanh toán điện tử; hệ thống thanh toán thẻ; hệ thống thanh toán bằng ví điện tử; hệ thống vi thanh toán điện tử; hệ thống thanh toán bằng chuyển khoản điện tử;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
&
NGUYỄN TRẦN HƯNG TRẦN THỊ THẬP
BÀI GIẢNG
THANH TOÁN ĐIỆN TỬ
Tháng 12 năm 2019
Trang 2MỞ ĐẦU
Học phần Thanh toán điện tử là học phần kiến thức chuyên môn trong chương trình đào tạo đại học ngành Quản trị Kinh doanh và ngành Thương mại Điện tử của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Bài giảng Thanh toán điện tử được biên soạn nhằm hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu
và học tập học phần này Bài giảng được kết cấu thành bốn chương
Chương 1: Tổng quan về thanh toán điện tử Chương này trình bày các vấn đề chính như: Cơ sở hình thành và phát triển thanh toán điện tử; Những vấn đề chung về thanh toán điện tử; Tình hình thanh toán điện tử tại Việt Nam và trên thế giới
Chương 2: Hệ thống thanh toán điện tử Chương này giới thiệu các hệ thống thanh toán điện tử điển hình gồm: Thẻ điện tử; Ví điện tử; Vi thanh toán điện tử; Chuyển khoản điện tử; Séc điện tử; Thanh toán bằng thư tín dụng và bao thanh toán; Thanh toán bằng trao đổi dữ liệu điện tử (EDI)
Chương 3: Bảo mật trong thanh toán điện tử Chương này trình bày các vấn đề chính như: Vấn đề bảo mật trong thanh toán điện tử; Các loại hình tấn công; Các biện pháp bảo mật trong thanh toán điện tử;
Chương 4: Lựa chọn giải pháp trong thanh toán điện tử; Chương này bao gồm các nội dung chính: Cổng thanh toán điện tử; Tiêu chí lựa chọn cổng thanh toán điện tử; Một số cổng thanh toán điện tử điển hình
Bài giảng do TS Nguyễn Trần Hưng và TS Trần Thị Thập biên soạn Mặc dù tập thể tác giả đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn bài giảng khó tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc để tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hơn nữa chất lượng bài giảng
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp đã góp ý, giúp đỡ trong quá trình biên soạn bài giảng này
Tập thể tác giả
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN ĐIỆN TỬ 4
1.1 Cơ sở hình thành và phát triển thanh toán điện tử 4
1.1.1 Lịch sử phát triển của các hình thái tiền tệ 4
1.1.2 Quá trình phát triển của thanh toán điện tử 6
1.2 Những vấn đề chung về thanh toán điện tử 9
1.2.1 Khái niệm thanh toán điện tử 9
1.2.2 Lợi ích và hạn chế của thanh toán điện tử 9
1.2.3 Phân loại các hình thức thanh toán điện tử 11
1.2.4 Yêu cầu đối với thanh toán điện tử 12
1.2.5 Các bên tham gia thanh toán điện tử 14
1.3 Tình hình thanh toán điện tử tại Việt Nam và trên thế giới 15
1.3.1 Thanh toán điện tử ở Việt Nam 15
1.3.2 Thanh toán điện tử trên thế giới 18
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG THANH TOÁN ĐIỆN TỬ 26
2.1 Hệ thống thanh toán thẻ 26
2.1.1 Khái niệm thẻ thanh toán 26
2.1.2 Cấu tạo thẻ thanh toán 27
2.1.3 Một số loại thẻ thanh toán 28
2.1.4 Quy trình thanh toán thẻ trực tuyến 34
2.1.5 Rủi ro thường gặp trong thanh toán thẻ 36
2.2 Hệ thống thanh toán bằng ví điện tử 37
2.2.1 Khái niệm ví điện tử 37
2.2.2 Đặc điểm ví điện tử 38
2.2.3 Phân loại ví điện tử 39
2.2.4 Quy trình thanh toán bằng ví điện tử 40
2.3 Hệ thống vi thanh toán điện tử 41
2.3.1 Khái niệm vi thanh toán điện tử 41
2.3.2 Đặc điểm vi thanh toán điện tử 43
2.3.3 Phân loại các loại hình của vi thanh toán 44
2.3.4 Quy trình thực hiện vi thanh toán điện tử 45
2.4 Hệ thống thanh toán bằng chuyển khoản điện tử 48
2.4.1 Chuyển khoản cùng hệ thống 49
2.4.2 Chuyển khoản khác hệ thống 49
2.5 Hệ thống thanh toán séc điện tử 51
2.5.1 Khái niệm séc điện tử 51
Trang 42.5.2 Đặc điểm séc điện tử 51
2.5.3 Một số loại hình thanh toán séc điện tử 52
2.5.4 Quy trình thanh toán bằng séc điện tử 55
2.6 Hệ thống thanh toán bằng thư tín dụng và bao thanh toán 57
2.6.1 Hệ thống thanh toán bằng thư tín dụng điện tử (e-L/C) 57
2.6.2 Bao thanh toán 59
2.7 Hệ thống thanh toán EDI 63
2.7.1 Khái niệm 63
2.7.2 Đặc điểm của EDI 64
2.7.3 Quy trình hoạt động của EDI 64
2.7.4 Thanh toán qua EDI 65
CHƯƠNG 3: BẢO MẬT TRONG THANH TOÁN ĐIỆN TỬ 68
3.1 Vấn đề bảo mật trong thanh toán điện tử 68
3.2 Các loại hình tấn công 70
3.2.1 Phishing 70
3.2.2 Sniffer 73
3.2.3 Keylogger 78
3.2.4 Trojan horse 82
3.2.5 Trộm Cokkies 85
3.3 Các biện pháp bảo mật trong thanh toán điện tử 86
3.3.1 Kiểm soát truy cập và xác thực 86
3.3.2 Mã hóa 87
3.3.3 Chữ ký điện tử 92
3.3.4 Các giao thức đảm bảo an toàn 93
CHƯƠNG 4: LỰA CHỌN GIẢI PHÁP TRONG THANH TOÁN ĐIỆN TỬ 98
4.1 Cổng thanh toán điện tử 98
4.2 Tiêu chí lựa chọn cổng thanh toán điện tử 98
4.3 Một số cổng thanh toán điện tử 101
4.3.1 Cổng thanh toán điện tử trong nước 101
4.3.2 Cổng thanh toán điện tử trên thế giới 104
Trang 5CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN ĐIỆN TỬ
1.1 Cơ sở hình thành và phát triển thanh toán điện tử
1.1.1 Lịch sử phát triển của các hình thái tiền tệ
1.1.1.1 Hóa tệ
Hóa tệ là hình thái cổ xưa và sơ khai nhất của tiền tệ, theo đó một loại hàng hóa nào
đó do được nhiều người ưa chuộng nên có thể tách ra khỏi thế giới hàng hóa nói chung để thực hiện các chức năng của tiền tệ, tức là thực hiện các chức năng mà các hàng hóa thông thường khác không có được Loại hàng hóa trung gian này phải thực sự có giá trị, được nhiều người chấp nhận, được dùng để trao đổi Hàng hóa đặc biệt này đóng vai trò vật ngang giá chung và được sử dụng thường xuyên để trao đổi với những hàng hóa khác Hóa tệ có thể chia
thành hai loại: hóa tệ phi kim loại và hóa tệ kim loại
ü Hoá tệ phi kim loại / hóa tệ phi kim
Trong thời kỳ đầu, khoảng hai nghìn năm trước công nguyên, vật trung gian trao đổi thường được chọn từ một loại hàng hoá có giá trị sử dụng cần thiết chung cho nhiều người, có thể bảo tồn lâu ngày đồng thời mang tính chất phổ biến, đặc trưng cho từng địa phương, nơi diễn ra quan hệ trao đổi
Hoá tệ phi kim là tiền tệ dưới dạng các hàng hoá (trừ kim loại) Đây là hình thái cổ nhất của tiền tệ, rất thông dụng trong các xã hội cổ xưa Trong lịch sử đã có rất nhiều loại hàng hoá khác nhau từng được con người dùng làm tiền tệ Trong cuốn “Primitive money” – Tiền nguyên thủy, của Paul Einzig viết năm 1964, ông đã đưa ra những thống kê khá thú vị sau về những loại tiền cổ xưa mà theo ông nhiều số trong đó vẫn còn được sử dụng cho đến cả ngày nay Đó là: răng cá voi ở đảo Fiji, gỗ đàn hương ở Hawaii, lụa ở Trung Quốc, gạo ở Philippines, nô lệ ở Châu Phi xích đạo, Nigeria, Ailen, tuần lộc ở nhiều nơi thuộc Nga, bơ ở
Na Uy, da ở Pháp và Ý, rượu Rum ở Australia, bộ lông vẹt đỏ ở quần đảo Santa Cruz (vẫn còn cho đến năm 1961), hạt tiêu ở Sumatra, đường ở đảo Barbados, những chuỗi vỏ sò của những thổ dân da đỏ Bắc Mỹ, bò và cừu ở Hy Lạp và La mã, muối ở nhiều nơi…
Hóa tệ phi kim là hình thức sơ khai nhất của hình thái tiền tệ, chính vì vậy nên sau khi được sử dụng, hóa tệ phi kim đã bộc lộ một số hạn chế Việc sử dụng hàng hoá làm tiền tệ gây nhiều khó khăn, bất lợi Mỗi loại hàng hóa làm hóa tệ phi kim có giá trị trong mỗi địa phương nhất định, chính vì thế hóa tệ phi kim có phạm vi trao đổi hạn chế trong vùng, một địa phương nhất định Nhược điểm tiếp theo là dễ hư hỏng, khó bảo quản, thường cồng kềnh, tốn kém chi phí vận chuyển Đặc biệt là khó có thể chia nhỏ theo những tỷ lệ nhất định khi trao đổi mà không làm biến đổi chất lượng của nó Chính điều này đã khiến cho hoá tệ phi kim loại dần bị đào thải và thay thế vào đó là thời kỳ sử dụng hoá tệ kim loại
ü Hóa tệ kim loại
Khi phát hiện ra kim loại, người ta nhận thấy kim loại có thể khắc phục được những nhược điểm của hóa tệ phi kim loại, chẳng hạn như bền hơn, dễ bảo quản hơn, dễ vận chuyển hơn, có thể chia nhỏ Với những thuộc tính ưu việt này, người ta có khuynh hướng nhanh chóng chuyển sang sử dụng kim loại làm tiền tệ Kim loại được sử dụng để làm hóa tệ kim loại đầu tiên là kẽm sau đó đồng rồi đến bạc Đầu thế kỷ thứ mười chín, với những tính chất
Trang 6ưu việt của mình, vàng bắt đầu đóng vai trò là vật ngang giá chung Vàng lúc đó được sử dụng làm loại tiền tệ chính, còn bạc, đồng được sử dụng khi thiếu vàng
Vàng làm hóa tệ kim loại có một số ưu điểm: Không bị giới hạn về phạm vi địa lý Do đặc tính lý hóa của vàng, đây là một kim loại tương đối trơ (hầu như không tác động với các hóa chất trong môi trường), không bị biến đổi dưới tác động của môi trường/ bền, dễ bảo quản, dễ chia nhỏ, dễ dát mỏng Ngoài ra việc chia nhỏ thành đơn vị và nhập những đơn vị nhỏ thành đơn vị lớn hơn rất dễ dàng và hầu như vẫn bảo tồn được giá trị của chúng, không bị biến đổi về màu sắc và chất lượng Dùng vàng, bạc làm tiền tệ thì rất tiện lợi cho lưu thông, không cần khối lượng lớn nhưng có thể trao đổi được với những hàng hóa có giá trị cao…
Bên cạnh đó, vàng rất hấp dẫn, được nhiều người ưa thích Nhu cầu sử dụng vàng xuất
hiện sớm, nhu cầu ngày càng tăng Chúng ta biết rằng, vàng chưa chắc đã là kim loại quý hiếm nhất nhưng nhu cầu của xã hội về vàng đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử và ngày càng tăng làm cho vàng trở thành một thứ hàng hoá rất hấp dẫn, được nhiều người ưa thích Vì vậy, việc dùng vàng trong trao đổi dễ dàng được chấp nhận trên phạm vi rộng lớn Bên cạnh đó, giá trị vàng rất ổn định Giá trị của vàng ổn định trong thời gian tương đối dài, ít chịu ảnh hưởng của năng suất lao động tăng lên như các hàng hoá khác Sự ổn định của giá trị vàng là
do năng suất lao động sản xuất ra vàng tương đối ổn định Ngay cả việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào khai thác cũng không làm tăng năng suất lao động lên nhiều Điều này làm cho tiền vàng luôn có được giá trị ổn định, một điều kiện rất cần thiết để nó có thể chấp hành tốt các chức năng tiền tệ
Tuy nhiên, dùng vàng làm hóa tệ cũng có một số nhược điểm, khi nền kinh tế ngày
càng phát triển, nhu cầu trao đổi hàng hoá ngày càng tăng đòi hỏi cần thêm nhiều tiền hơn thì tiền vàng và bạc không đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế dẫn đến việc thiếu hụt vàng trong lưu thông Bên cạnh đó, nếu trao đổi với một lượng hàng hóa, dịch vụ có giá trị lớn các vùng, quốc gia với nhau thì sử dụng vàng để thanh toán trở nên cồng kềnh, khó vận chuyển,
và rất dễ bị cướp bóc Mặt khác, trong quá trình lưu thông, tiền vàng dần bị hao mòn tự nhiên, hàm lượng vàng pháp định trong đồng tiền bị giảm đi nhưng khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán người dân vẫn chấp nhận những đồng tiền này như những đồng tiền mới đúc Phát hiện ra điều này, sở đúc tiền của các quốc gia đã chủ động giảm bớt hàm lượng vàng trong các đồng tiền này Dần dần, người ta không dùng vàng để làm tiền nữa mà dùng các kim loại rẻ tiền như kẽm, đồng hoặc hợp kim làm ra tiền Xã hội chuyển sang sử dụng một loại
Tín tệ kim loại ra đời giúp sản xuất và trao đổi hàng hoá diễn ra thuận lợi hơn, nhu cầu
Trang 7càng phát triển thì tín tệ kim loại lại bộc lộ những nhược điểm vốn có của kim loại Nếu trao đổi với khối lượng hàng hoá lớn, chủ thể trao đổi cách xa nhau về địa lý thì việc thanh toán rất bất tiện, nặng nề, tốn kém chi phí lưu thông Vòng quay của tiền dài nên cần nhiều tiền hơn nhu cầu thực tế Bên cạnh đó, sử dụng tín tệ là kim loại cũng rất khó lưu trữ, bất tiện trong việc mang đi lại Để giải quyết nhược điểm này, xã hội chuyển sang sử dụng một loại tiền mới
có nhiều ưu điểm hơn đó là tiền giấy
ü Tín tệ là tiền giấy
Tiền giấy là tín tệ phi kim loại Tiền giấy làm tín tệ có một số ưu điểm: Thanh toán dễ dàng, dễ mang theo để làm phương tiện trao đổi hàng hóa, thanh toán nợ; thuận lợi khi thực hiện chức năng dự trữ giá trị Trong phát hành, bằng cách thay đổi các con số trên mặt đồng tiền, một lượng giá trị lớn hay nhỏ được biểu hiện
Bên cạnh đó, tín tệ là tiền giấy cũng có một số hạn chế: Chỉ có ngân hàng nhà nước mới có quyền phát hành ra tiền tệ; thủ tục rườm ra khi gửi tiền, chuyển tiền; bị rào cản giới hạn về không gian và thời gian; bên cạnh đó chi phí quản lý tiền giấy vẫn còn cao dẫn tới khó khăn trong việc quản lý
1.1.1.3 Tiền điện tử
Với sự phát triển của CNTT và viễn thông đã cho phép các ngân hàng thay đổi cách thức truyền thông từ việc xử lý các chứng từ giấy bằng hình thức thông tin hiện đại hơn đó là thanh toán điện tử
Trong thanh toán điện tử, tiền nằm trong các tài khoản của ngân hàng nào được lưu trữ trong hệ thống máy tính của ngân hàng đó Khi tiền được lưu trữ trong hệ thống máy tính gọi
là tiền số hóa hay tiền điện tử Tiền điện tử là tiền tệ tồn tại dưới hình thức dữ liệu điện tử
được số hoá Tiền điện tử ra đời không phủ nhận sự tồn tại của tiền giấy, nó là một mặt biểu
hiện của tiền giấy
1.1.2 Quá trình phát triển của thanh toán điện tử
Tiền điện tử ra đời cũng là lúc đánh dấu sự phát triển của thanh toán điện tử Khi nói đến thanh toán điện tử nói chung, người ta gắn sự phát triển của thanh toán điện tử với thẻ thanh toán
- Năm 1949
Thẻ thanh toán đầu tiên được biết đến, ra đời vào năm 1949 do ông Frank McNamara, một doanh nhân người Mỹ sáng chế Có một lần sau khi dùng bữa tối tại một nhà hàng với đối tác ở New York, ông bỗng phát hiện ra mình không mang theo tiền mặt Ông phải gọi điện cho vợ nhanh chóng mang tiền đến thanh toán Tình trạng khó xử này đã khiến ông mày mò chế tạo một phương tiện chi trả tiền mặt trong những trường hợp tương tự như thế Và quyết tâm một năm sau trở lại, ông sẽ không bị tình trạng khó xử đó nữa Thế là lần đầu tiên Frank McNamara cho ra đời loại thẻ mang tên “Diners Club”
- Năm 1950
Vào đầu những năm 1950, nhờ vật liệu tổng hợp PVC (Polyvinylclorua) giá rẻ, người
ta đã sản xuất hàng loạt thẻ nhựa phù hợp cho việc sử dụng hàng ngày thay cho việc dùng thẻ bằng giấy trước đây Thẻ thanh toán bằng nhựa đầu tiên được phát hành bởi “Diners Club” vào năm 1950 Chính điều đó đã gợi lên một ý tưởng kinh doanh thẻ đối với Frank
Trang 8McNamara, trong vòng một năm đã có 200 người dùng loại thẻ đa công dụng đầu tiên trên thế giới Thẻ cho phép người dùng có thể ghi nợ tại một số nhà hàng và khu giải trí Thời gian đầu chỉ có khoảng 27 nhà hàng và khách sạn chấp nhận những thẻ này
Ban đầu chức năng của những thẻ này khá đơn giản, đó là phương tiện lưu trữ dữ liệu được bảo vệ nhằm tránh giả mạo và sửa đổi Thông tin chung như tên nhà phát hành thẻ được
in trên bề mặt thẻ, trong khi những thông tin cá nhân như tên của chủ thẻ và số thẻ thì được dập nổi Nhiều thẻ có thêm chỗ ký tên để chủ thẻ ký tên dành cho tham khảo Trong thế hệ thẻ phát hành đầu tiên này, việc bảo vệ chống lại sự giả mạo dựa trên những đặc điểm trực quan như phần in trên thẻ và phần ký tên Vì thế sự an toàn của hệ thống phụ thuộc khá nhiều sự tỉnh táo của người chịu trách nhiệm chấp nhận thẻ Sau này việc dùng thẻ phát triển tăng vọt nên những đặc điểm trực quan này không còn hiệu quả, đặc biệt là các mối đe dọa từ các tổ
chức tội phạm đang phát triển nhanh Một số tài liệu gọi còn gọi thế hệ này là thẻ khắc chữ nổi (embossing card)
Tiến bộ đầu tiên của thẻ nhựa là dùng dải từ trên mặt sau của thẻ, cho phép dữ liệu số
được lưu trữ trên thẻ dưới dạng máy có thể đọc được để hỗ trợ thêm vào thông tin trực quan Điều này làm giảm khả năng dùng biên nhận giấy, tuy nhiên đối với loại thẻ này chữ ký khách hàng vẫn được yêu cầu trên ứng dụng thẻ tín dụng truyền thống như là một hình thức định
danh người dùng Một số tài liệu còn gọi thế hệ này là thẻ băng từ (magnetic strip)
Sự phát triển tiếp theo của thẻ là thay thế giao dịch dựa trên giấy bằng xử lý dữ liệu điện tử Vì vậy cần thiết phải có một phương pháp khác được sử dụng để xác thực định danh người dùng Phương pháp được sử dụng rộng rãi liên quan đến một con số định danh cá nhân
bí mật, hay còn gọi là PIN (personal identification number) Những thẻ dập nổi với dải từ vẫn còn là loại thẻ được sử dụng thông thường cho các giao dịch tài chính đến thời điểm hiện nay
Tuy nhiên, công nghệ từ có một điểm yếu quan trọng là dữ liệu lưu trữ trên dải từ có thể bị đọc, xóa và thay đổi bởi bất cứ người nào với thiết bị cần thiết Vì thế không thích hợp cho việc lưu trữ dữ liệu bí mật
- Năm 1974
Thế hệ thẻ cải tiến tiếp theo sau thẻ từ là thẻ thông minh Sự phát triển của thẻ thông minh đi liền với sự phát triển của các hệ thống xử lý dữ liệu điện tử, dẫn đến khả năng sáng chế ra nhiều giải pháp mới Sự phát triển to lớn của vi điện tử những năm 1970 cho phép tích hợp dữ liệu và xử lý logic trong một con chip silicon đơn có kích thước chỉ bằng một vài mili mét vuông Ý tưởng kết hợp một mạch tích hợp vào một thẻ định danh đã được sáng chế bởi hai nhà phát minh người Đức Jurgen Dethloff và Helmut Grotrupp năm 1968 Sau đó, năm
1979 ra đời một sáng chế tương tự của Kunitaka Arimura ở Nhật Bản Tuy nhiên sự phát triển thật sự đầu tiên của thẻ thông minh là khi Roland Moreno đăng ký sáng chế thẻ thông minh ở Pháp năm 1974 Và chỉ lúc đó công nghệ bán dẫn mới có khả năng cung cấp các mạch tích hợp cần thiết với giá chấp nhận được
- Năm 1984
Một bước đột phá lớn của thẻ vào năm 1984 là khi French PTT (post, telegraph and telephone) đã thành công trong việc thử nghiệm thẻ điện thoại Trong lĩnh vực thử nghiệm này, thẻ thông minh đã chứng minh được sự nổi trội về tính an toàn cao, ngoài ra thẻ thông
Trang 9Các mạch tích hợp ban đầu được sử dụng trong thẻ điện thoại là những chip nhớ
(memory chip) nhỏ, đơn giản và không đắt tiền với một sécurity logic chuyên biệt cho phép
số dư thẻ giảm xuống trong khi vẫn chống lại các thao tác bất hợp pháp Những chip vi xử lý sau này thường lớn hơn và phức tạp hơn, lần đầu tiên được sử dụng số lượng lớn ở các ứng dụng truyền thông, đặc biệt trong truyền thông di động
Năm 1988, bưu điện Đức đóng vai trò tiên phong trong việc giới thiệu thẻ vi xử lý
hiện đại dùng công nghệ EEPROM như một thẻ chứng thực cho các mạng điện thoại di động tương tự (analog mobile)
Năm 1991, tại các nước Châu Âu, thẻ thông minh được ứng dụng vào công nghệ di động GSM, thẻ SIM cho điện thoại di động ra đời, đặt nền tảng cho sự phát triển vũ bão của công nghệ di động ở hơn 170 quốc gia như hiện nay
Sự bùng nổ dùng thẻ thông minh bắt đầu trong thập niên 90, khi có sự xuất hiện của SIM dùng trong thiết bị điện thoại di động GSM ở châu Âu Cùng với việc mạng di động mở rộng khắp châu Âu, thẻ thông minh ngày càng trở nên thông dụng
Không giống như thành công rực rỡ của thẻ thông minh trong lĩnh vực truyền thông, việc áp dụng thẻ thông minh trong lĩnh vực tài chính nhằm thay thế thẻ từ gặp khó khăn do đòi hỏi về an toàn và bảo mật thông tin do đặc thù thông tin nhạy cảm của lĩnh vực tài chính
- Năm 1994
Một mốc quan trọng trong việc sử dụng thẻ thông minh cho việc thanh toán trên toàn thế giới trong tương lai là sự hoàn thiện của chuẩn kỹ thuật EMV Đó là một sản phẩm kết quả của nỗ lực liên kết giữa ba tổ chức thẻ lớn nhất thế giới Europay, MasterCard và Visa Phiên bản kỹ thuật đầu tiên là vào năm 1994 Đến năm 1998, một phiên bản khác tin cậy hơn
ra đời EMVco, công ty chịu trách nhiệm bảo trì lâu dài hệ thống này, đã nâng cấp chuẩn kỹ thuật vào năm 2000 và một lần nữa gần đây nhất là năm 2004 Mục tiêu của công ty EMV là phải đảm bảo với các tổ chức tài chính và các đại lý rằng các chuẩn kỹ thuật dù phát triển nhưng vẫn phải giữ được tương thích với phiên bản 1998
Các liên minh này đã khuyến cáo các nước về việc cần thiết phải chuyển đổi từ thẻ từ
có tính bảo mật thấp sang thẻ chíp có tính năng bảo mật cao hơn rất nhiều Khuyến cáo này được đưa ra từ năm 2004, sau những con số thiệt hại do gian lận thẻ ngày càng lớn Sau mốc thời gian quy định, nếu ngân hàng nào còn sử dụng thẻ từ, có thể chịu phạt lên tới 50 nghìn đô
la Mỹ một năm tính theo các vụ gian lận thẻ Mức phạt này áp dụng cho cả ngân hàng phát hành thẻ và ngân hàng chấp nhận thẻ
Chuyển đổi thẻ thanh toán nội địa từ thẻ từ sang thẻ chip là một trong những giải pháp trọng tâm của ngành ngân hàng Việt Nam, được nêu trong Đề án Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2016-2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Tính đến tháng 5 năm
2019, Việt Nam có 48 ngân hàng phát hành thẻ nội địa với số lượng khoảng 76 triệu thẻ, hơn 261.000 máy POS và 18.600 máy ATM, trong đó phần lớn POS đã tuân theo tiêu chuẩn EMV Ngày 28/5, Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam phối hợp với Công ty CP Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) và 07 ngân hàng đầu tiên gồm Vietcombank, VietinBank, BIDV, Agribank, Sacombank, TPBank, ABBank chính thức công bố ra mắt sản phẩm thẻ chip nội địa
Trang 101.2 Những vấn đề chung về thanh toán điện tử
1.2.1 Khái niệm thanh toán điện tử
- Hiểu nguyên nghĩa của e-payment (electronic payment)
Về bản chất, thanh toán điện tử là việc sử dụng, chuyển giao và thanh toán tiền thông qua các phương tiện điện tử thay cho việc trao tay tiền mặt
- Tiếp cận dưới góc độ tài chính
Thanh toán điện tử được hiểu là việc chuyển giao các phương tiện tài chính từ một bên sang một bên khác thông qua việc sử dụng các phương tiện điện tử
- Tiếp cận dưới góc độ viễn thông
Thanh toán điện tử được hiểu là việc truyền tải các thông tin về phương tiện thanh toán qua các mạng viễn thông và các phương tiện điện tử
- Tiếp cận dưới góc độ CNTT
Thanh toán điện tử được hiểu là việc thanh toán dựa trên nền tảng CNTT để xử lý các chứng từ điện tử, các thông điệp điện tử, giúp cho quá trình thanh toán được diễn ra một cách nhanh chóng và hiệu quả, an toàn
- Tiếp cận dưới góc độ phương tiện sử dụng
Thanh toán điện tử được hiểu là việc sử dụng các phương tiện điện tử để tiến hành các hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ, các phương tiện bao gồm: ATM, POS, các website
- Tiếp cận dưới góc độ tự động hóa
Thanh toán điện tử được hiểu là việc ứng dụng công nghệ, chủ yếu là CNTT để tự động hóa các hoạt động tài chính và các kênh thông tin, thanh toán
- Tiếp cận dưới góc độ trực tuyến
Thanh toán điện tử được hiểu là việc chi tiêu cho các hàng hóa và dịch vụ, các thông tin trao đổi trực tiếp trên Internet cùng nhiều loại dịch vụ trực tuyến khác
1.2.2 Lợi ích và hạn chế của thanh toán điện tử
1.2.2.1 Lợi ích của thanh toán điện tử
- Hoàn thiện và phát triển TMĐT
Xét trên nhiều phương diện, thanh toán điện tử là nền tảng của các hệ thống TMĐT
Sự khác biệt cơ bản giữa TMĐT với các ứng dụng khác cung cấp trên Internet chính là nhờ khả năng thanh toán điện tử này Do vậy, việc phát triển thanh toán điện tử sẽ hoàn thiện hóa TMĐT, để TMĐT được theo đúng nghĩa của nó – các giao dịch hoàn toàn qua mạng, người mua chỉ cần thao tác trên thiết bị điện tử của mình để mua hàng, các doanh nghiệp có những
hệ thống xử lý tiền số tự động Một khi thanh toán trong TMĐT an toàn, tiện lợi, việc phát triển TMĐT trên toàn cầu là một điều tất yếu với dân số đông đảo và không ngừng tăng của Internet
- Không bị hạn chế, giới hạn bởi không gian, thời gian
Trong thanh toán trực tuyến với sự số hóa của đồng tiền giao dịch, giúp cho những hoạt động thanh toán được diễn ra theo thời gian thực, bỏ qua những rào cản của không gian
và thời gian mà những hình thức trong thanh toán truyền thống chưa bao giờ có được
Trang 11- Tiết kiệm được thời gian, đơn giản hóa quá trình thanh toán
Lợi ích này đến với cả người mua và người bán, và cả những trung gian thanh toán Tất cả những bên tham gia đều tiết kiệm được thời gian và đơn giản hóa được quá trình thanh toán
Điểm khác biệt lớn nhất so với thanh toán truyền thống là thanh toán điện tử loại bỏ được hầu hết việc giao nhận giấy tờ, sử dụng chữ ký truyền thống cùng việc xem xét tiền thật, tiền giả, thay vào đó là những phương pháp xác thực mới trên các thiết bị điện tử, sự tiện lợi tối đa cho khách hàng sử dụng đồng thời giúp cho quá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng,
dễ dàng và tiết kiệm thời gian
- Tăng tốc độ chu chuyển tiền và tận dụng hiệu quả của đồng tiền
Đối với tiền số hóa thì tiền được chuyển từ tài khoản của người mua sang tài khoản của người bán, hầu như ngay lập tức, người bán có thể nhận được và sử dụng Tiền sẽ rất nhanh chóng được tiêu dùng hoặc tái đầu từ và do đó làm tăng tốc độ chu chuyển của tiền
- Tính an toàn cao đặc biệt là khi mua các sản phẩm có giá trị lớn
Đồng tiền là số hóa chính vì vậy cho phép người dùng có thể tiến hành thanh toán điện
tử mà không cần mang theo một lượng tiền mặt lớn, tính an toàn tăng cao
- Mất phương tiện thanh toán nhưng vẫn giữ được tiền trong tài khoản
Khác với những phương thức thanh toán truyền thống khác, chủ thẻ thanh toán có thể mất phương tiện thanh toán nhưng vẫn lưu trữ được tiền trong tài khoản nhờ việc sử dụng
những hình thức xác thực đặc biệt
1.2.2.2 Hạn chế của thanh toán điện tử
- Nguy cơ bị tiết lộ thông tin tài chính cá nhân
Nguy cơ bị tiết lộ thông tin cá nhân có thể xuất phát từ nhiều nguồn: CNTT ngày càng phát triển, các hacker trình độ ngày càng cao, vì thế nếu không có phương thức đảm bảo an toàn cho tài khoản thanh toán thì nguy cơ bị tiết lộ thông tin của người dùng là rất cao, điều này tạo ra tâm lý hoang mang, lo lắng và hạn chế một số lượng người ko nhỏ tham gia vào hoạt động thanh toán điện tử Lo ngại về sự an toàn trong giao dịch cũng là một trở ngại, từ chỗ lo ngại dẫn đến việc không tiếp cận do vậy không thấy được lợi ích của thanh toán điện
tử
Thông tin tài khoản cá nhân của khách hàng cũng có thể bị bên thứ ba, hoặc người bán
tiết lộ; hoặc lừa đảo khách hàng chuyển tiền tới tài khoản của họ
- Khó kiểm soát được việc chi tiêu trong thẻ tín dụng
Đối với khách hàng được sử dụng thẻ tín dụng, được chi tiêu trước, trả tiền sau, thường không khống chế được sự chi tiêu của mình, khi nhận được sao kê của ngân hàng thì thường là một số tiền lớn, vượt quá khả năng thanh toán cùng một lúc dẫn tới tạo ra cú sốc về thấu chi thẻ tín dụng cho người dùng
Đối với khách hàng mới thường tham gia vào những giao dịch trực tuyến, thường có tâm lý hưng phấn, thích trải nghiệm với hình thức mới này, và đối với người này thì chi tiêu nhiều cho thanh toán trực tuyến
- Kiến thức và khả năng thực hiện của người dùng
Trang 12Để có thể thực hiện giao dịch thanh toán, đòi hỏi người dùng phải có kiến thức và kỹ năng nhất định, tuy nhiên trên thực thế có rất nhiều người dùng không thể thực hiện được hoạt động thanh toán điện tử mặc dù họ có thể sở hữu những phương tiện thanh toán điện tử Bên cạnh đó, số lượng người dùng biết sử dụng thiết bị bảo mật, biết bảo quản mật mã và không giao dịch với tổ chức cá nhân ko rõ danh tính còn rất hạn chế, điều này ngăn cản sự phát triển của thanh toán điện tử
- Tập quán tiêu dùng và thói quen thanh toán
Phần lớn thì người tiêu dùng đều có thói quen sử dụng tiền mặt trao tay, tâm lý thích tiền mặt luôn thường trực, vì thế rất nhiều người thích cầm và sử dụng tiền mặt hơn là sử dụng hình thức thanh toán điện tử
Ngoài ra không thể phủ nhận hoạt động mua sắm truyền thống giúp người mua giải tỏa được áp lực trong cuộc sống, tạo ra sự gắn kết giữa người mua và bạn bè hoặc là người thân vì thế nhiều người mua thích thanh toán truyền thống hơn là thanh toán thông qua những phương tiện điện tử
1.2.3 Phân loại các hình thức thanh toán điện tử
ü Phân loại theo thời gian thực
- Thanh toán trực tuyến: Là tập con của thanh toán điện tử, có đầy đủ các đặc điểm của thanh toán điện tử Tuy nhiên nó ưu việt hơn do phá vỡ phạm vi không gian và thời gian thanh toán
- Thanh toán ngoại tuyến: Là những phương thức thanh toán được diễn ra trên các thiết bị điện tử khác như ATM, POS Chuyển khoản điện tử tại ngân hàng hoặc qua ATM
ü Phân chia theo bản chất giao dịch
- Thanh toán trong TMĐT B2C: Là loại hình thanh toán được diễn ra giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng cuối cùng, phù hợp với những giao dịch vừa và nhỏ Các phương tiện thanh toán phổ biến như: thẻ thanh toán, ví điện tử
- Thanh toán trong TMĐT B2B: Là loại hình thanh toán được diễn ra giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp khác, hoặc giữa doanh nghiệp với các tổ chức kinh doanh khác nhau Phù hợp với những giao dịch có giá trị và khối lượng lớn Một số phương tiện phổ biến như: chuyển khoản điện tử, séc điện tử
ü Phân chia theo cách thức tiếp nhận phương tiện thanh toán
- Thanh toán trên website/điện thoại: Là loại hình thanh toán độc lập diễn ra trên website hoặc điện thoại Quá trình thanh toán chỉ yêu cầu khai báo thông tin về phương tiện thanh toán mà không cần bất kỳ sự xác nhận vật lý nào về phương tiện thanh toán đó
- Thanh toán trên các phương tiện điện tử khác: Sử dụng các thiết bị điện tử như ATM, POS để tiếp nhận, chuyển tải các thông tin về phương tiện thanh toán Quá trình thanh toán yêu cầu sự xác nhận vật lý các phương tiện thanh toán và có thể bao gồm chữ ký xác nhận của chủ phương tiện thanh toán
ü Phân chia theo các phương tiện thanh toán
- Thẻ thanh toán (Thẻ tín dụng – credit card; Thẻ ghi nợ - debit card): là phương tiện thanh toán phổ biến nhất trong TMĐT hiện nay Các loại thẻ thường được sử dụng: thẻ tín
Trang 13- Ví điện tử (e-wallet): là một tài khoản điện tử được sử dụng để mua sắm trên các website có tích hợp thanh toán điện tử Có thể kết nối liên thông với một hệ thống ngân hàng: chuyển tiền từ ví sang ngân hàng và ngược lại
- Vi thanh toán điện tử (micropayment): là loại hình thanh toán được thực hiện đối với các giao dịch dưới 10 đô la Mỹ
- Chuyển khoản điện tử (electronic fund transfer): là nghiệp vụ chuyển tiền thanh toán
từ tài khoản này sang tài khoản khác có thể cùng hệ thống ngân hàng hoặc là khác hệ thống ngân hàng
- Séc điện tử (electronic cheque): là loại hình thanh toán kết hợp giữa tính hiệu quả, thuận tiện, an toàn của các nghiệp vụ điện tử với các bước tiến hành của séc giấy truyền thống
- Thanh toán bằng xuất trình hóa đơn điện tử: đây không phải là loại hình thanh toán độc lập Tạo ra sự chủ động rất lớn cho người thanh toán, cho phép các khách hàng có thể trình bày hóa đơn và xử lý thanh toán
1.2.4 Yêu cầu đối với thanh toán điện tử
Một hệ thanh toán điện tử được gọi là tốt nếu nó thoả mãn các yêu cầu về tính bảo mật, độ tin cậy, tính quy mô, tính ẩn danh, tính chấp nhận được, tính mềm dẻo, tính chuyển đổi được, tính hiệu quả, tính dễ kết hợp với ứng dụng và dễ sử dụng Một mô hình thanh toán điện tử tốt phải đáp ứng càng cao càng tốt các yêu cầu nêu trên, trong đó tính bảo mật đóng vai trò tối thượng
Khả năng có thể chấp nhận được
Để đạt được thành công thì cơ sở hạ tầng của việc thanh toán phải được công nhận rộng rãi, môi trường pháp lý đầy đủ, bảo đảm quyền lợi cho cả khách hàng và doanh nghiệp, công nghệ áp dụng đồng bộ ở các ngân hàng cũng như tại các tổ chức thanh toán Cần xây dựng và không ngừng nâng cao trình độ công nghệ thông qua phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật như mạng máy tính, khả năng tiếp nối của mạng với các cơ sở dữ liệu thông tin toàn cầu, và các phần mềm hỗ trợ ngày càng hoàn hảo, tốc độ đường truyền nhanh để đáp ứng tốt nhất cho việc thanh toán
Tính an toàn và bảo mật
An toàn là yêu cầu hàng đầu cho các giao dịch tài chính qua các mạng mở như Internet
vì đây sẽ là mục tiêu cho các tội phạm, các kẻ sử dụng thẻ tín dụng trái phép, các hacker… do các dịch vụ trên Internet hiện nay được cung cấp toàn cầu với mọi tiện ích phục vụ cho mọi khách hàng, mọi thành phần trong xã hội Một trong những ví dụ đó là hiện tượng chặn và thay đổi nội dung các thông tin truyền đi, như thay đổi địa chỉ nhận đối với một chuyển khoản điện tử của ngân hàng và do vậy chuyển khoản này được chuyển đến tài khoản khác của kẻ xâm nhập gửi Chính vì vậy phải đảm bảo khả dụng nhưng chống lại được sự tấn công để tìm kiếm thông tin mật, thông tin cá nhân hoặc điều chỉnh thông tin, thông điệp được truyền
Để đảm bảo yêu cầu này một số giải pháp công nghệ đang được tiến hành, với các công cụ và kĩ thuật cơ bản như: kĩ thuật mã hóa thông tin (bao gồm mã hóa bí mật và mã hóa công khai), giao thức thỏa thuận mã khóa, chữ kí điện tử, an ninh mạng và tường lửa, nhưng hữu hiệu nhất là chữ kí điện tử và chứng thực điện tử Riêng trong lĩnh vực thanh toán bằng
Trang 14thẻ tín dụng, để đảm bảo yêu cầu này người ta có sử dụng sử dụng giao thức SSL (sécure
socket layer) để cung cấp sự bảo mật và bảo vệ sự riêng tư Nhưng Visa và MasterCard đã
cùng nhau phát triển một giao thức an toàn hơn, được gọi là SET (sécure electronic
transaction) Về lý thuyết, đó là một giao thức hoàn hảo Ví dụ, một sự khác biệt điển hình giữa SET và SSL được sử dụng rộng rãi là SSL không bao gồm một chứng thực khách hàng yêu cầu phần mềm đặc biệt (được gọi là ví số - digital wallet) tại máy tính cá nhân của họ SSL được thiết lập trong trình duyệt, do đó không cần một phần mềm đặc biệt nào Kế hoạch Visa và MasterCard phải chấp nhận các thông điệp chỉ khi chúng tuân thủ giao thức SET Tuy nhiên, SET không phổ biến nhanh như nhiều người mong đợi do tính phức tạp, thời gian phản hồi chậm, và sự cần thiết phải cài đặt ví số ở máy tính của khách hàng
Tính ẩn danh
Không giống với thẻ tín dụng và séc, nếu người mua dùng tiền mặt, rất khó truy tìm dấu tích người mua sau giao dịch, các hệ thống thanh toán điện tử nếu yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân, hình ảnh và những đặc điểm nhận dạng thì đặc điểm nhận dạng hoặc thông tin cá nhân của các chủ thể phải được giữ kín Phải đảm bảo không làm lộ các thông tin cá nhân của khách hàng
Tính chuyển đổi, hoán đổi
Là sự chuyển đổi từ hình thức này sang hình thức khác Ví dụ: tiền số có thể chuyển thành các kiểu loại tiền khác Có thể dễ dàng chuyển từ tiền điện tử sang tiền mặt hay chuyển tiền từ quỹ tiền điện tử về tài khoản của cá nhân Từ tiền điện tử có thể phát hành séc điện tử, séc giấy Tiền số bằng ngoại tệ này có thể dễ dàng chuyển sang ngoại tệ khác với tỷ giá tốt nhất
Tính hiệu quả
Chi phí cho mỗi giao dịch nên chỉ là một con số rất nhỏ (gần bằng 0), đặc biệt với những giao dịch giá trị thấp Trong thực tế, việc thanh toán điện tử giúp cho tất cả các bên tiết kiệm được rất nhiều thời gian và các chi phí giao dịch hữu hình khác, cho nên, dịch vụ thanh toán điện tử hoàn toàn có thể được cung cấp ở mức phí giao dịch thấp nhất
Tính linh hoạt
Nên cung cấp nhiều phương thức thanh toán, tiện lợi cho mọi đối tượng dù khách hàng
là doanh nghiệp hay người tiêu dùng cuối cùng Có thể thanh toán bằng hệ thống thanh toán thẻ tín dụng, hệ thống chuyển khoản điện tử và thẻ ghi nợ trên Internet, ví tiền điện tử, hệ thống séc điện tử, hóa đơn điện tử, thẻ thông minh Các hình thức thanh toán luôn được cập nhật và thay đổi để phù hợp với môi trường công nghệ, xã hội
Tính hợp nhất
Để hỗ trợ cho sự tồn tại của các ứng dụng này thì giao diện nên được tạo ra theo sự thống nhất của từng ứng dụng Khi mua hàng trên bất cứ website nào cũng cần có những giao diện với những bước giống nhau và công nghệ áp dụng đồng bộ ở các ngân hàng cũng như tại
Trang 15động mạnh cho phép khách hàng thực hiện giao dịch chuyển tiền và thực hiện các giao dịch thương mại trực tuyến ở những ngân hàng khác nhau
Tính co dãn
Cho phép khách hàng và những nhà kinh doanh có thể tham gia vào hệ thống mà không làm hỏng cơ cấu hạ tầng, đảm bảo xử lý tốt dù khi nhu cầu thanh toán trong TMĐT tăng Hạ tầng mạng, phần mềm hỗ trợ, ngân hàng và hệ thống phục vụ đáp ứng được các tốc
độ mua bán, thanh toán nhanh cả những thời điểm rất nhiều người thanh toán cùng môt lúc
Tính tiện lợi, dễ sử dụng
Tính tiện lợi dễ sử dụng là cho bất kỳ ai, doanh nghiệp, khách hàng đều có thể sử dụng
dễ dàng Nên tạo sự thuận lợi cho việc thanh toán trên mạng như trong thực tế
1.2.5 Các bên tham gia thanh toán điện tử
Người bán hàng trên website khác, người bán trong trường hợp này sẽ thuê một nền tảng của bên thứ ba để thông qua đó bán hàng hóa, dịch vụ của mình Đối với loại người bán này thì hệ thống thanh toán sẽ do bên thứ ba tự tích hợp Người bán sẽ không phải trả phí thanh toán, nhưng sẽ phải trả phí cho nền tảng bán hàng, phí này có thể là phí đăng ký hoặc phí giao dịch do thỏa thuận giữa người bán và website nền tảng Ví dụ bán hàng trên nền tảng của doanh nghiệp khác như Tiki.vn; Adayroi.com; Lazada.vn
1.2.5.2 Người mua (Buyer)
Người mua là người có phương tiện thanh toán và tiến hành thực hiện những giao dịch điện tử với người bán
Người mua có thể là cá nhân hoặc tổ chức
Những cá nhân mua hàng với khối lượng giao dịch nhỏ, có thể sử dụng một số phương tiện thanh toán như: ví điện tử, vi thanh toán, thẻ thanh toán (thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ)
Tổ chức (thường là doanh nghiệp) mua với khối lượng giao dịch lớn, có thể sử dụng những hình thức như séc điện tử hay chuyển khoản điện tử
1.2.5.3 Các ngân hàng (Bank)
Ngân hàng ở đây bao gồm: ngân hàng của người mua, ngân hàng của người bán, và ngân hàng của tổ chức trung gian thanh toán - là tổ chức tin cậy thứ ba được người mua và người bán tin tưởng, nhằm đảm bảo các giao dịch được xác thực, xử lý chính xác
1.2.5.4 Các tổ chức, trung gian cung cấp dịch vụ thanh toán (PSP - Processing service
Trang 16provider)
Các PSP cung cấp dịch vụ cho các thương nhân và bên bán hàng trực tuyến trên Internet có thể chấp nhận những hình thức thanh toán điện tử mà khách hàng sử dụng khi khách hàng tiến hành thanh toán trên website của những người bán này
Một PSP đầy đủ có thể quản lý các kết nối kỹ thuật, các mối liên hệ với các ngân hàng
và các tổ chức tài chính khác, giúp cho người bán có thể giảm được những chi phí để thiết lập kết nối và tránh được sự lệ thuộc quá lớn vào các tổ chức tài chính
Trên website, đa phần các PSP sẽ tính hai loại phí cơ bản là phí đăng ký định kỳ và phí giao dịch, hoặc có thể cả hai loại phí kết hợp
Ví dụ các PSP ở Việt Nam hiện nay: Napas (napas.com.vn), Ngân Lượng (nganluong.vn), Bảo Kim (baokim.vn), Momo (momo.vn), Vnpay (vnpay.vn) Trên thế giới: Paypal (paypal.com), 2checkout (2checkout.com), Authorize (authorize.net), Payoneer (payoneer.com)…
1.2.5.5 Các tổ chức phát hành phương tiện thanh toán
Tổ chức phát hành phương tiện thanh toán là những tổ chức phát hành ra những phương tiện thanh toán cho người mua, người bán để phục vụ quá trình thanh toán điện tử
Ví dụ: Tổ chức thẻ Visa, tổ chức thẻ Mastercard, công ty thẻ American Express, công
ty thẻ JCB: là hiệp hội các tổ chức tài chính, tín dụng tham gia phát hành và thanh toán thẻ quốc tế
Tổ chức phát hành ví điện tử: Paypal (paypal.com), Momo (momo.vn), Vnpay (vnpay.vn)…là những nhà cung cấp phương tiện thanh toán là ví điện tử cho khách hàng
1.3 Tình hình thanh toán điện tử tại Việt Nam và trên thế giới
1.3.1 Thanh toán điện tử ở Việt Nam
Theo thông tin tại Hội nghị thường niên Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam năm 2017 vừa được tổ chức mới đây, các giao dịch qua ATM vẫn chủ yếu là giao dịch rút tiền mặt, chiếm 86,81% doanh số sử dụng của thẻ nội địa, doanh số rút tiền mặt/ATM/năm vẫn tăng qua các năm (từ 60 tỷ đồng năm 2012 lên 106 tỷ đồng năm 2016), điều đó cho thấy thói quen sử dụng tiền mặt của người dân vẫn còn rất phổ biến
Theo Báo cáo thương mại điện tử 2018, ước tính số lượng người mua sắm trực tuyến trong TMĐT B2C đạt 33,6 triệu người, giá trị mua sắm trung bình mỗi người khoảng 186 USD Phần lớn người mua hàng trực tuyến vẫn lựa chọn hình thức thanh toán tiền mặt khi nhận hàng với 82% đối tượng khảo sát cho biết có sử dụng phương thức này, tiếp theo là 48%
sử dụng phương thức chuyển khoản qua ngân hàng, 19% người tham gia khảo sát cho biết từng sử dụng các loại thẻ thanh toán quốc tế, ví điện tử được sử dụng với tỷ lệ thấp (7%) (Hình 1.1)
Trang 17Hình 1.1: Các hình thức thanh toán phổ biến trong mua sắm
trực tuyến tại Việt Nam 2018
Bên cạnh đó, tỷ lệ những website/ ứng dụng tích hợp thanh toán điện tử năm 2016 là 54% và tăng lên đến 71% vào năm 2017 Thanh toán khi nhận hàng (COD) được tích hợp vào website cũng có xu hướng tăng từ 55% đến 69% (Hình 1.2) Đối với các website có tích hợp giải pháp thanh toán trực tuyến, các nhà cung cấp dịch vụ trung gian thanh toán phổ biến được doanh nghiệp lựa chọn sử dụng là Ngân Lượng (28%), Onepay (22%), Bảo Kim (20%), Paypal (11%), Napas (9%) và còn lại là những trung gian khác (31%) (Hình 1.3)
Hình 1.2: Các hình thức thanh toán website/ ứng dụng di động chấp nhận
Hình 1.3: Tỷ lệ tích hợp các đơn vị trung gian thanh toán năm 2018
Trang 18ü Cơ sở hạ tầng thanh toán điện tử
Tính đến tháng 11/2019, nước ta đã có 48 ngân hàng thương mại, 32 tổ chức trung gian thanh toán, số lượng thẻ cũng được các ngân hàng quan tâm phát triển và vẫn tăng trưởng đều qua các năm, hiện giờ lên đến 164 triệu thẻ thanh toán Số lượng các máy chấp nhận thẻ (POS) có tốc độ tăng trưởng nhanh Theo số liệu từ Ngân hàng nhà nước, đến cuối tháng 11/2019, trên toàn quốc có 18.741 ATM và hơn 259.889 POS được lắp đặt, chưa kể một số lượng lớn các website TMĐT chấp nhận giao dịch thẻ trực tuyến Ngân hàng Nhà nước cũng quan tâm chỉ đạo phát triển thanh toán POS trên thiết bị di động (mPOS), ứng dụng công nghệ hiện đại với chi phí thấp, dễ sử dụng và đảm bảo an toàn bảo mật, mở ra khả năng mới để phát triển nhanh các điểm chấp nhận thẻ quy mô nhỏ, tăng cường khả năng cung ứng dịch vụ cho khu vực nông thôn
Việc sáp nhập thành công Smartlink vào Banknetvn và đổi tên thành Công ty Cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam (Napas) tạo thuận lợi và hiệu quả hơn trong việc kết nối, chuyển mạch thẻ tại Việt Nam Đây là bước đi quan trọng nhằm tạo nền tảng kỹ thuật cho việc phát triển thanh toán thẻ Từ tháng 5/2019, dưới sự chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam (VBCA) phối hợp với Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) và 7 ngân hàng đầu tiên gồm: Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Agribank, Sacombank, TPBank, ABBank chính thức công bố ra mắt sản phẩm thẻ chip nội địa của các ngân hàng Lần đầu tiên thị trường thanh toán Việt Nam triển khai áp dụng một tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất tương thích với tiêu chuẩn quốc tế EMV, khẳng định tính tự chủ và ứng dụng kịp thời những thành tựu tiến bộ của CMCN 4.0 trong hoạt động thanh toán của ngành ngân hàng ; giúp cho các giao dịch thanh toán an toàn, bảo mật hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng phát triển tính năng thanh toán mới, hiện đại cho sản phẩm thẻ nội địa ; mở ra cơ hội để thẻ nội địa tham gia hội nhập quốc tế Theo kế hoạch đặt ra, đến 31/12/2019, các ngân hàng thương mại thực hiện chuyển đổi ít nhất 30% số lượng thẻ từ nội địa, 35% số lượng ATM và 50% số lượng POS hiện có sang công nghệ chip tiếp xúc và không tiếp xúc Toàn bộ máy ATM và POS trên thị trường đảm bảo tuân thủ Tiêu chuẩn VCCS vào 31/12/2020 Chậm nhất vào 31/12/2021, toàn bộ thẻ từ nội địa đang lưu hành của
tổ chức phát hành thẻ tuân thủ TCCS về thẻ chip nội
Cơ sở hạ tầng và công nghệ phục vụ thanh toán điện tử, thanh toán thẻ tiếp tục được chú trọng đầu tư, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
đã có quyết định nâng cấp Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng áp dụng theo các thông
lệ, chuẩn mực, tiến bộ về thanh toán và công nghệ của các nước phát triển trên thế giới, bảo đảm phù hợp với lộ trình độ CNTT của các ngân hàng Việt Nam Các giao dịch thanh toán đã chuyển dần sang phương thức xử lý tự động, sử dụng chứng từ điện tử, đến việc các giao dịch thanh toán được xử lý điện tử chiếm tỷ trọng lớn, thời gian xử lý hoàn tất một giao dịch được rút ngắn xuống còn vài phút, thậm chí chỉ trong vòng vài giây hoặc tức thời
ü Cơ sở pháp lý thanh toán điện tử
Cho đến nay, chưa có một văn bản pháp lý riêng quy định đầy đủ về những hoạt động liên quan tới thanh toán điện tử nói chung để tạo dựng khuôn khổ pháp lý chặt chẽ, thống nhất cho việc ứng dụng thanh toán điện tử trong hoạt động TMĐT Hoạt động thanh toán điện tử
sẽ được điều chỉnh dựa trên một số căn cứ vào: Luật các Tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng
Trang 19Nhà nước, Luật giao dịch điện tử, Luật công nghệ thông tin
Bên cạnh đó chịu sự hướng dẫn của một số nghị định và thông tư:
- Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về Thanh toán không dùng tiền mặt, nghị định đã đưa ra các quy định mang tính khuôn khổ về các dịch vụ trung gian thanh toán và điều kiện cung ứng dịch vụ cũng như quy trình, thủ tục, hồ sơ cấp, thu hồi và cấp lại Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tại Điều 5.3; Điều 15 và Điều 16
- Nghị định số 64/2001/NĐ-CP về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán)
- Thông tư số 23/2010/TT-NHNN quy định về việc quản l., vận hành và sử dụng Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng
- Thông tư số 46/2014/TT-NHNN hướng dẫn về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt
- Thông tư số 39/2014/TT-NHNN hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán
Thanh toán điện tử ở Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định nhưng vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức, rào cản lớn, môi trường pháp lý chưa hoàn thiện, đầy đủ và đồng bộ, các chính sách và điều kiện hỗ trợ phát triển dịch vụ thanh toán điện tử còn yếu và thiếu, trình độ phát triển kinh tế, xã hội còn chưa cao, trình độ công nghệ còn nhiều hạn chế, thói quen thanh toán tiền mặt và sự thiếu tin tưởng của xã hội đối với thanh toán điện tử
1.3.2 Thanh toán điện tử trên thế giới
1.3.2.1 Các hình thức thanh toán điện tử phổ biến trên thế giới
Báo cáo của WorldPayvề hoạt động thanh toán toàn cầu (World Payments Report) công bố hàng năm cho thấy nhịp độ khai thác các dịch vụ thanh toán điện tử tăng lên rất nhanh Nếu như năm 2015, thị trường TMĐT toàn cầu có giá trị 1,66 nghìn tỷ USD - tăng 14% so với năm 2014 thì đến năm 2019 con số này là 2,4 nghìn tỷ USD với 23% trong số này được thực hiện chỉ qua các thiết bị di động Trong số các phương thức thanh toán điện tử, mặc
dù thanh toán qua thẻ ghi nợ (Debit Card) vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhưng có mức tăng trưởng không cao, chỉ từ 573 tỷ USD vào năm 2014 và dự báo lên đến 577 tỷ USD vào năm 2019 Thanh toán qua ví điện tử (eWallet) sẽ là phương thức thanh toán dẫn đầu với 674 tỷ USD vào năm 2019 Tuy nhiên hình thức trả trước (PrePay) qua thẻ hoặc phiếu mua hàng (Voucher) là hình thức thanh toán có mức tăng trưởng vượt bậc, từ 55 tỷUSD năm 2014 lên đến 175 tỷUSD vào năm 2019
Trang 20Hình 2… Các hình thức thanh toán điện tử phổ biến trong tương lai
(Nguồn: Global payments report preview, WorldPay 2015)
1.3.2.2 Các hình thức bảo hiểm và cơ chế an toàn bảo mật
Bảng so sánh dưới đây (bảng 1.1) cho thấy hầu hết các quốc gia có trình độ phát triển TMĐT cao đều có quan tâm tâm hợp lý tới vấn đề rủi ro thanh khoản đối với các định chế tài chính tham gia TTĐT và phát hành tiền điện tử ở mức độ quản lý quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh doanh số thanh toán điện tử tăng trưởng liên tục trong những năm vừa qua Đây là lý do chính của việc 11/17 quốc gia được khảo sát đưa ra các chế tài bắt buộc các định chế tài chính tham gia TTĐT và phát hành tiền điện tử phục vụ TMĐT phải có những biện pháp bảo hiểm tiền gửi (ở các mức độ và giải pháp tùy thuộc vào từng quốc gia) Tuy nhiên các chế tài này cũng tạo ra cản trở nhất định đối với việc phát triển TTĐT trong TMĐT do chi phí lưu thông tiền tệ tăng cao, vì vậy những quốc gia như Thái lan, Malaysia, Indonesia vv… với trình độ phát triển TMĐT và doanh số mậu dịch còn thấp thì chế tài về bảo hiểm cho các loại hình thanh toán điện tử vẫn chưa đặt ra
Liên quan tới bảo vệ quyền lợi khách hàng thì quan điểm của các chính phủ là khách hàng cần được lựa chọn sử dụng một sản phẩm dịch vụ nào đó khi mà họ đã hiểu thấu đáo về đặc điểm, chi phí, rủi ro có liên quan của sản phẩm đó Vì vậy cần phải có sự công khai các thông tin về quyền lợi của người sử dụng, thông tin về nhà phát hành, nghĩa vụ của nhà phát hành đối với người sử dụng và ngược lại, các hình thức thanh toán và đảm bảo khả năng thanh toán, những yêu cầu và khả năng bảo mật thông tin cá nhân
Bảng 1.1: Hình thức bảo hiểm và cơ chế an toàn bảo mật tại một số quốc gia trên thế
giới Nước Bảo hiểm tiền gửi và các
hình thức bảo hiểm khác Bảo mật thông tin cá nhân
Trang 21Bỉ
Áp dụng chương trình bảo hiểm tiền gửi đối với các sản phẩm tiền điện tử
Luật Bỉ đồng nhất với định hướng EC về bảo vệ các dữ liệu cá nhân
Canada
Áp dụng chương trình bảo hiểm tiền gửi đối với các sản phẩm tiền điện tử
Các quy chế ban hành năm 1997 đối với các định chế tài chính chịu sự quản lý của trung ương Pháp luật công bố thông tin cá nhân ở cấp trung ương được xây dựng năm 2000 Quebec đã thông qua luật bảo mật thông tin cá nhân áp dụng cho khu vực tư nhân
Các định chế tài chính thông qua các điều luật bảo mật thông tin cá nhân của hiệp hội tiêu chuẩn Canada năm 1997 Hiệp hội thanh toán Canada
áp đặt các nghĩa vụ chung về bảo mật thông tin
cá nhân
Pháp Chương trình bảo hiểm áp
dụng cho gửi tiền điện tử
Áp dụng chung cho bộ luật dân sự Áp dụng luật ngân hàng Pháp Phải có sự chấp thuận của người tiêu dùng đối với việc chuyển giao thông tin cá nhân
CHLB Đức Các quy tắc đối với các tổ
chức tín dụng Áp dụng chung cho bộ luật dân sự
Các tập đoàn của ngành đã phát hành những hướng dẫn chi tiết về bảo mật thông tin cá nhân của người tiêu dùng đối với các định chế tài chính
Luật bảo mật thông tin cá nhân có hiệu lực
Hà lan
Áp dụng chương trình bảo hiểm tiền gửi đối với các sản phẩm tiền điện tử
Các ngân hàng tham gia vào
hệ thống tiền điện tử đã phát triển chia sẻ rủi ro trong trường hợp một thành viên của nhóm bị mất khả năng chi
Luật Hà lan về việc đăng ký các dữ liệu cá nhân
và định hướng EC áp dụng đối với tiền điện tử
Trang 22trả
Thụy điển
Các công ty bảo hiểm đã xác định chương trình bảo hiểm tiền gửi được áp dụng đối với các thẻ hiện hành do các ngân hàng phát hành
Các luật chung về bảo mật thông tin áp dụng cho các tổ chức tín dụng và ngân hàng
Thụy sĩ
Các ngân hàng tham gia vào
hệ thống tiền điện tử đã phát triển chia sẻ rủi ro trong trường hợp một thành viên của nhóm bị mất khả năng chi trả
Luật liên bang về bảo vệ dữ liệu, luật an toàn ngân hàng, Bộ luật hình sự Thụy sĩ về tội phạm máy tính, Bộ luật dân sự Thụy sĩ có thể áp dụng đối với tiền điện tử
Vương
quốc Anh
Việc áp dụng bảo hiểm tiền gửi đối với tiền điện tử là không rõ ràng
Luật bảo vệ dữ liệu
Australia N/A
Theo luật bí mật các nhân 1988, Luật thực hành chuyển tiền điện tử được sửa đổi vào tháng 4/2001 bao gồm các loại hình tài chính điện tử,
kể cả telephone banking và internet banking, thẻ tiết kiệm và thẻ tín dụng điện tử đều quy định đảm bảo bí mật cá nhân
Indonesia N/A Chưa có luật bảo vệ khác hàng riêng mà áp dụng
luật bảo vệ khách hàng nói chung
Hàn quốc N/A
Áp dụng luật về sử dụng bảo mật thông tin tín dụng Quy chế của các tổ chức tài chính quy định việc bảo vệ bí mật của khách hàng từ năm 2001
Malaysia N/A
Ngân hàng trung ương Negara ban hành hướng dẫn về Bảo mật khách hàng trong chuyển tiền điện tử từ năm 1989
Đang soạn thảo Luật bảo mật dữ liệu cá nhân mới
Trang 23Mỹ
Tập đoàn bảo hiểm tiền gửi liên bang đã xác định rằng bảo hiểm tiền gửi không áp dụng cho hầu hết các thẻ lưu trữ tiền do các định chế nhận tiền gửi phát hành
Các bảo vệ về mặt pháp lý của liên bang có hạn chế và các luật của từng bang đối với các định chế tài chính có thể áp dụng
1.3.2.3 Rủi ro và an toàn hệ thống tài chính
An toàn về tài chính của bất cứ nhà phát hành và hệ thống thanh toán nào đều dựa trên
sự an toàn về khả năng thanh toán, về vốn, kiểm soát nội bộ và độ ổn định hệ thống Việc quản lý phải đảm bảo các chính sách, trình tự quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ để bảo vệ sự toàn vẹn tài chính của định chế tài chính đó Các biện pháp đảm bảo an toàn về mặt kỹ thuật đóng vai trò rất lớn đối với sự tin cậy và chắc chắn về tài chính và việc triển khai xây dựng một hệ thống phát hành và thanh toán điện tử
Bảng 1.2: Đánh giá rủi ro và an toàn hệ thống tài chính tại một số quốc gia trên thế giới
Australia
Rủi ro hoạt động, ảnh hưởng danh tiếng, rủi ro sử dụng đối tác bên ngoài, rủi
ro chiến lược, rủi ro pháp lý, rủi ro mất khả năng thanh toán Nhận thức của khách hàng về nhà cung cấp dịch vụ cũng như người phải chịu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp có xung đột về lợi ích là chưa rõ ràng
Canada Dự thảo về hành vi pháp lý đối với các hệ thống giao dịch thay thế của nước
ngoài
Trung quốc N/A
Hồng Kông
Rủi ro chiến lược, hoạt động, an toàn và danh tiếng
Vấn đề bảo vệ người sử dụng và thông tin cho người sử dụng trong môi trường Internet
Indonesia Vấn đề bảo vệ dữ liệu giao dịch khi sử dụng mạng Internet
Hàn quốc Các tổ chức phi tài chính gặp vấn đề khi gia nhập vào hoạt động dịch vụ
thanh quyết toán Vấn đề công nhận chữ ký điện tử Malaysia Rủi ro trong bảo vệ dữ liệu và vấn đề hạ tầng CNTT
Mehico Vấn đề an toàn hệ thống điện tử và rửa tiền
New Các rủi ro thông thường đối với hoạt đông tài chính đều có thể xảy ra
Trang 24Zealand
Singapore Vấn đề khuôn khổ pháp lý liên quan tới việc mở rộng dịch vụ qua mạng
Internet Đài loan N/A
Thái lan
Vấn đề an toàn cho hệ thống và dữ liệu, quản lý rủi ro, phòng ngừa và kiểm soát nội bộ, bảo vệ người sử dụng và bảo mật thông tin giao dịch trong môi trường mạng mở, các hoạt động gian lận kể cả rửa tiền
Mỹ Những thiệt hại tài chính hoặc trong trường hợp gây rối quan trọng
1.3.2.4 Những trở ngại và thách thức trong việc triển khai hệ thống thanh toán điện tử
Mức độ trở ngại và thách thức trong việc triển khai hệ thống thanh toán điện tử phụ thuộc vào điều kiện đặc thù và trình độ phát triển của từng quốc gia, tuy nhiên nội dung các trở ngại chính được các quốc gia quan tâm đề cập tới là:
- Hạ tầng pháp lý liên quan tới tranh chấp thương mại, bảo vệ người tiêu dùng, an toàn
dữ liệu, chữ ký điện tử
- Hạ tầng cơ sở viễn thông đối với các quốc gia đang phát triển
- Vấn đề an toàn hệ thống, quản lý rủi ro
Đối với các quốc gia mới tham gia TMĐT, các doanh nghiệp còn đề cập tới thách thức trong việc tăng tốc độ phổ cập TMĐT, giảm khoảng cách với các quốc gia phát triển mà ở đó chính phủ các nước đang phát triển chưa đề ra được những chính sách khuyến khích hỗ trợ rõ ràng, liên tục
Bảng 1.3: Những trở ngại và thách thức trong việc triển khai hệ thống thanh toán điện
tử tại một số quốc gia trên thế giới Nước Trở ngại và thách thức
Australia
Rủi ro hoạt động, ảnh hưởng danh tiếng, rủi ro sử dụng đối tác bên ngoài, rủi ro chiến lược, rủi ro pháp lý, rủi ro mất khả năng thanh toán Nhận thức của khách hàng về nhà cung cấp dịch vụ cũng như người phải chịu trách nhiệm pháp lý trong trường hợp có xung đột về lợi ích là chưa
rõ ràng
Canada Dự thảo về hành vi pháp lý đối với các hệ thống giao dịch thay thế của
nước ngoài Trung quốc N/A
Hồng Kông
Rủi ro chiến lược, hoạt động, an toàn và danh tiếng Vấn đề bảo vệ người sử dụng và thông tin cho người sử dụng trong môi trường Internet
Trang 25Indonesia Vấn đề bảo vệ dữ liệu giao dịch khi sử dụng mạng Internet
Hàn quốc
Các tổ chức phi tài chính gặp vấn đề khi gia nhập vào hoạt động dịch vụ thanh quyết toán
Vấn đề công nhận chữ ký điện tử Malaysia Rủi ro trong bảo vệ dữ liệu và vấn đề hạ tầng CNTT
Mehico Vấn đề an toàn hệ thống điện tử và rửa tiền
New Zealand Các rủi ro thông thường đối với hoạt đông tài chính đều có thể xảy ra
Singapore Vấn đề khuôn khổ pháp lý liên quan tới việc mở rộng dịch vụ qua mạng
Internet Đài loan N/A
Thái lan
Vấn đề an toàn cho hệ thống và dữ liệu, quản lý rủi ro, phòng ngừa và kiểm soát nội bộ, bảo vệ người sử dụng và bảo mật thông tin giao dịch trong môi trường mạng mở, các hoạt động gian lận kể cả rửa tiền Chính sách quốc gia về TTĐT
Mỹ Những thiệt hại tài chính hoặc trong trường hợp gây rối quan trọng
CÂU HỎI CHƯƠNG 1
[1] Trình bày cơ sở hình thành và phát triển thanh toán điện tử?
[2] Trình bày lịch sử phát triển của các hình thái tiền tệ?
[3] Trình bày quá trình phát triển của thanh toán điện tử?
[4] Nêu khái niệm thanh toán điện tử?
[5] Phân tích lợi ích và hạn chế của thanh toán điện tử?
[6] Phân loại các hình thức thanh toán điện tử?
[7] Trình bày yêu cầu đối với thanh toán điện tử?
[8] Trình bày về hoạt động và vai trò của các bên tham gia thanh toán điện tử?
[9] Liên hệ thực tế tình hình thanh toán điện tử tại Việt Nam?
[10] Liên hệ thực tế tình hình thanh toán điện tử trên thế giới?
Trang 26TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 1
[1] Nguyễn Văn Hồng và Nguyễn Văn Thoan, Giáo trình TMĐT căn bản, NXB Bách Khoa – Hà Nội, 2013
[2] Nguyễn Văn Hùng (chủ biên), TMĐT - cẩm nang, NXB Kinh tế TP Hồ Chí Minh
TIẾNG NƯỚC NGOÀI
[5] Andreas Meier & Henrik Stormer, eBusiness & eCommerce - Managing the Digital Value Chain, Springer, 2009
[6] Dave Chaffey, E-business and E-commerce Management: Strategy, Implementation and Practice – 6th, Pearson Education, 2015
[7] Arch G Woodside & Peter J LaPlaca, Handbook of Strategic e-Business Management, Springer-Verlag Berlin Heidelberg, 2014
[8] Kenneth C Laudon & Carol Guercio Traver: E-commerce Business, Technology, Society: 13th edition: Pearson Publishing House, 2017
Trang 27CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG THANH TOÁN ĐIỆN TỬ
2.1 Hệ thống thanh toán thẻ
2.1.1 Khái niệm thẻ thanh toán
Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán tiện dụng và tiên tiến trên thế giới Thẻ thanh toán ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển và việc ứng dụng công nghệ tin học vào hoạt động của các ngân hàng thương mại Đối với thẻ thanh toán có rất nhiều khái niệm
để diễn đạt Sau đây là một số khái niệm về thẻ thanh toán:
- Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ hoặc có thể được dùng để rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động
- Thẻ thanh toán là một loại thẻ giao dịch tài chính được phát hành bởi ngân hàng, các
tổ chức tài chính hay các công ty
- Thẻ thanh toán là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt mà người chủ thẻ
có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ
Trong nội dung này, chúng tôi tiếp cận thẻ thanh toán là loại thẻ do ngân hàng phát hành Thẻ thanh toán là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ hoặc để rút tiền mặt ở các máy rút tiền tự động hay tại các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư của tài khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ
Sử dụng thẻ thanh toán trong giao dịch thể hiện một số nổi trội:
Sự tiện lợi: Là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, thẻ cung cấp cho
khách hàng sự tiện lợi mà không một phương tiện thanh toán nào có thể mang lại được Bằng việc sở hữu một chiếc thẻ khách hàng có thể thanh toán ở bất cứ nơi nào mà không cần phải mang theo tiền mặt hay séc du lịch, và không phụ thuộc vào khối lượng tiền họ cần thanh toán đặc biệt đối với những người hay phải đi ra nước ngoài đi công tác hay là đi du lịch Thẻ được coi là phương tiện thanh toán ưu việt nhất trong số các phương tiện thanh toán phục vụ tiêu dùng
Sự linh hoạt: Với nhiều loại đa dạng, phong phú, thẻ thích hợp với mọi đối tượng
khách hàng, từ những khách hàng có thu nhập thấp (thẻ thường) cho tới những khách hàng có thu nhập cao (thẻ vàng), khách hàng có nhu cầu rút tiền mặt (thẻ rút tiền mặt), cho tới nhu cầu
du lịch giải trí… thẻ cung cấp cho khách hàng độ thỏa dụng tối đa, thoả mãn nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng
Sự an toàn và nhanh chóng: Chủ thẻ có thể hoàn toàn yên tâm về số tiền của mình
trước nguy cơ bị mất cắp Thậm chí, dù thẻ có thể bị lấy cắp, ngân hàng cũng bảo vệ tiền cho chủ thẻ bằng số PIN và chữ ký trên thẻ… nhằm tránh khả năng rút tiền của kẻ ăn trộm
Hơn thế nữa, hầu hết các giao dịch thẻ đều được thực hiện qua mạng kết nối trực tuyến
từ cơ sở chấp nhận thẻ hay điểm rút tiền mặt tới ngân hàng thanh toán, ngân hàng phát hành
và các tổ chức thẻ Quốc tế Việc ghi Nợ - Có cho các chủ thể tham gia quy trình thanh toán được thực hiện một cách tự động do đó quá trình thanh toán dễ dàng, tiện lợi và nhanh chóng
Trang 282.1.2 Cấu tạo thẻ thanh toán
Các loại thẻ thường có đặc điểm chung là được làm bằng plastic, có kích thước theo tiêu chuẩn quốc tế là 85,60 × 53,98 x 0,76 (mm) Trên thẻ có in các thông số nhận dạng như: nhãn hiệu thương mại của thẻ, tên và logo của nhà phát hành thẻ, số thẻ, tên chủ thẻ và ngày
có hiệu lực của thẻ và một số đặc tính khác tùy theo quy định của các tổ chức thẻ quốc tế hoặc hiệp hội phát hành thẻ…
Mặt trước của thẻ:
Hình 2.1: Mặt trước của thẻ thanh toán
- Biểu tượng: mỗi loại thẻ có một biểu tượng riêng, mang tính đặc trưng của tổ chức phát hành thẻ, đây được xem như một đặc tính mang tính an ninh nhằm chống giả mạo Ví dụ:
+ VISA: hình chữ nhật ba mầu: xanh, trắng, vàng có chữ Visa chạy ngang giữa màu trắng, trên hình chữ nhật ba mầu là hình chim bồ câu đang bay in chìm
+ MASTERCARD: có hai hình tròn lồng nhau nằm ở góc dưới bên phải (một hình mầu da cam, một hình mầu đỏ) và dòng chữ Mastercard nằm ở giữa; trên hai hình tròn lồng nhau là hai nửa quả cầu lồng nhau in chìm
+ JBC: biểu tượng ba mầu xanh công nhân, đỏ xanh lá cây, có chữ JBC chạy ngang giữa
+ AMEX: biểu tượng hình đầu người chiến binh
- Số thẻ: số này dành riêng cho mỗi chủ thẻ, được dập nổi trên thẻ và được in lại trên hóa đơn khi chủ thẻ thanh toán bằng thẻ Tùy theo từng loại thẻ mà chữ số khác nhau và cách cấu trúc theo nhóm cũng khác nhau
- Thời gian có hiệu lực của thẻ: là thời gian mà thẻ được phép lưu hành Tùy theo từng loại thẻ mà có thể ghi ngày hiệu lực cuối cùng của thẻ hoặc ngày đầu tiên đến ngày cuối cùng được sử dụng thẻ
- Họ và tên chủ thẻ: in chữ nổi, là tên của cá nhân nếu là thẻ cá nhân, tên của người được ủy quyền sử dụng nếu là thẻ công ty Ngoài ra, có thẻ còn có cả ảnh của chủ thẻ
Mặt sau của thẻ:
Trang 29Hình 2.2: Mặt sau của thẻ thanh toán
- Dải băng từ có khả năng lưu trữ các thông tin như: số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ, ngân hàng phát hành
- Dải băng chữ ký: trên dải băng này phải có chữ ký của chủ thẻ để cơ sở chấp nhận thẻ có thể đối chiếu chữ ký khi thực hiện thanh toán thẻ
- Mã bảo mật của thẻ: thẻ Visa, MasterCard, JCB gọi là CVV, là một dãy gồm ba chữ
số nằm ở mặt sau của thẻ, đối với thẻ Amercian Express gọi là CSC, là một dãy gồm bốn chữ
số nằm ở mặt trước của thẻ
2.1.3 Một số loại thẻ thanh toán
2.1.3.1 Thẻ tín dụng
ü Khái niệm
Thẻ tín dụng là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức
tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ Đây là loại thẻ được sử dụng
phổ biến nhất trong thanh toán trực tuyến hiện nay, theo đó người chủ thẻ được sử dụng một hạn mức tín dụng tuần hoàn để mua sắm hàng hoá, dịch vụ tại những cơ sở chấp nhận loại thẻ
này
Về bản chất đây là một dịch vụ tín dụng thanh toán với hạn mức chi tiêu nhất định do ngân hàng cung cấp cho khách hàng căn cứ vào khả năng tài chính, số tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp của khách hàng Hiện tại, trên thế giới Visa và MasterCard là hai tổ chức thẻ lớn nhất cung cấp chịu trách nhiệm phát hành thẻ quốc tế
Visa International (Tổ chức thẻ quốc tế Visa): thẻ Visa, tiền thân là Bank Americard
do Bank of America phát hành vào năm 1960, hiện nay là loại thẻ có quy mô phát triển lớn nhất trên toàn cầu Tính đến tháng 9/2019, doanh thu của Visa Inc tăng 11,49% trong năm tài chính 2019 so với năm tài chính 2018 lên thành 22,98 tỷ đo la Mỹ, thu nhập ròng tăng 17,18
% lên thành 11,65 tỷ đô la Mỹ 1
Master Card International (Tổ chức thẻ quốc tế Mastercard): MasterCard ra đời vào năm 1966 với tên gọi là Master Charge do hiệp hội thẻ liên Ngân hàng ICA (Interbank Card Association) phát hành thông qua các Ngân hàng thành viên trên thế giới Năm 1990, một hệ
1https://www.msn.com/vi-vn/money/stockdetails/financials/fi-a256cw Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2019
Trang 30thống ATM lớn nhất thế giới được sử dụng phục vụ cho những người dùng thẻ MasterCard Cũng năm này, MasterCard đã phát hành được hơn 178 triệu thẻ, có 5.000 thành viên phát hành và 9 triệu điểm tiếp nhận thẻ Doanh thu của Master Card Inc tăng 19,63 % trong năm tài chính 2018 so với năm tài chính 2017 lên thành 14,95 tỷ đô la Mỹ, thu nhập ròng tăng 49,66 % lên thành 5,86 tỷ đô la Mỹ (nguồn (1) đã dẫn)
ü Phân loại thẻ tín dụng
- Phân loại theo hạn mức
Tùy vào từng loại ngân hàng sẽ cấp những hạn mức khác nhau cho khách hàng, về cơ bản sẽ là thẻ thường (thẻ chuẩn), thẻ vàng, thẻ kim cương (bạch kim); và cũng tùy vào từng ngân hàng mà mỗi hạng thẻ sẽ có mức tín dụng là khác nhau
Ví dụ đối với ngân hàng Agribank: Thẻ chuẩn (hạn mức tín dụng tối đa là 50 triệu đồng), thẻ vàng (hạn mức tín dụng tối đa từ 50 triệu đồng đến 300 triệu đồng), thẻ bạch kim (hạn mức tín dụng tối đa từ 300 triệu đồng đến 500 triệu đồng)
Còn đối với ngân hàng Techcombank: Có ba loại tương ứng với ba hạn mức khác nhau: hạng chuẩn (hạn mức tín dụng tối đa 40 triệu đồng), hạng vàng (hạn mức tín dụng tối đa
80 triệu đồng), thẻ visa platinum (hạn mức tín dụng lên tới 1 tỷ đồng)
- Phân loại theo khu vực
+ Thẻ tín dụng nội địa
Đây là loại thẻ tín dụng chỉ có thể thanh toán các dịch vụ hoặc hàng hóa trong nước
Ưu điểm của loại thẻ này là phí quản lý và phí dịch vụ không quá cao Tuy nhiên thẻ tín dụng nội địa có hạn mức không lớn, thấp hơn thẻ tín dụng quốc tế Điều này có thể đưa đến một số trở ngại khi khách hàng sử dụng Đối với loại thẻ tín dụng nội địa không nhiều ngân hàng cung cấp, và mức phí thường niên cũng như một số mức phí khác rẻ hơn, điều kiện tạo lập thẻ cũng không đòi hỏi cao như đối với thẻ tín dụng quốc tế Ví dụ: Thẻ tín dụng nội địa Sacombank family, hoặc thẻ tín dụng nội địa của ACB là ACB Express
+ Thẻ tín dụng quốc tế
Đây là loại thẻ có thể thanh toán trong và ngoài nước, đưa đến sự thuận tiện cho khách hàng đặc biệt khi mua sắm hoặc đi du lịch ở nước ngoài Khách hàng có thể thanh toán trực tiếp bằng các loại thẻ tín dụng quốc tế mà không cần đổi tiền mặt Đặc biệt, hạn mức của thẻ tín dụng quốc tế có thể lên đến vài tỷ đồng Tuy nhiên, cũng như thẻ tín dụng nội địa, phí rút tiền mặt của thẻ tín dụng quốc tế khá cao, vào khoảng 3 đến 5% số tiền giao dịch tùy từng ngân hàng Bên cạnh đó, với loại thẻ này người dùng cũng có thể gặp trường hợp không kiểm soát được tài chính khi chi tiêu quá nhiều Hầu hết các ngân hàng hiện nay đều cung cấp thẻ tín dụng quốc tế với những thương hiệu thẻ lớn như Visa, MasterCard, American Express
ü Đặc điểm của thẻ tín dụng
Thẻ tín dụng là loại thẻ mà chủ sở hữu thẻ tạo lập được bằng cách sử dụng uy tín
cá nhân của mình hoặc tài sản thế chấp
+ Sử dụng uy tín cá nhân: Với hình thức tín chấp uy tín cá nhân càng cao thì hạn mức càng cao Cách thức phổ biến nhất mà các ngân hàng hay sử dụng để xem xét điều kiện tín chấp đó là bảng lương, thu nhập
+ Sử dụng tài sản thế chấp: Thông thường hiện nay các ngân hàng cho phép thế chấp
Trang 31bằng sổ tiết kiệm là chủ yếu Tuy nhiên vấn đề mở thẻ tín dụng bằng tài sản thế chấp cũng khá khó khăn, không phải cứ có tài sản thế chấp/sổ tiết kiệm là có thể mở thẻ tín dụng ngay lập tức Ví dụ: Ngân hàng Sacombank quy định tài khoản tiền gửi hoạt động ít nhất 6 tháng và số
dư tối thiểu là 32 triệu đồng/tháng Có thu nhập ổn định đảm bảo khả năng trả nợ 4 triệu
đồng/tháng Khi tiến hành thủ tục mở thẻ tín dụng thế chấp bằng sổ tiết kiệm khách hàng phải
ký giấy xác nhận phong tỏa tài sản tiền gửi Hoặc nếu sử dụng bất động sản làm tài sản thế chấp thì khách hàng phải ký hợp đồng cầm cố tài sản
Đặc biệt một số ngân hàng nước ngoài ví dụ ANZ, điều kiện còn khó khăn hơn: sổ tiết
kiệm trị giá ít nhất phải từ 50 triệu đồng trở lên với kỳ hạn từ 2 tháng trở lên và hạn mức tối
đa là 80% tài sản thế chấp
Chi tiêu trước trả tiền sau
Đây là đặc trưng của thẻ tín dụng, cho khách hàng chi tiêu trước để mua hàng hóa và dịch vụ, sau đó khách hàng sẽ phải thanh toán tiền Khách hàng khi có thẻ tín dụng sẽ được chi tiêu trong hạn mức của thẻ, đến hạn khách hàng sẽ nhận được bản sao kê của ngân hàng
về các khoản đã mua và phải thanh toán những khoản đó
Chủ thẻ không phải trả bất kỳ một khoản lãi nào nếu việc thanh toán khoản tiền
là đúng thời hạn
Thông thường các ngân hàng sẽ cho phép khách hàng thanh toán tiền là 15 ngày kể từ ngày gửi sao kê hoặc là được hưởng tối đa là 45 ngày không phải chịu lãi suất (nếu ngày giao dịch trùng với ngày đầu tiên trong chu kỳ của tháng sau) Tuy nhiên cũng tùy vào từng hạng thẻ mà thời hạn thanh toán là khác nhau Ví dụ thẻ bạch kim hoặc thẻ premier của ngân hàng HSBC sẽ được hưởng tối đa 55 ngày không phải chịu lãi suất
- Thẻ tín dụng quốc tế có thể chi tiêu bằng tất cả các loại tiền
- Thẻ tín dụng mất phí cao khi rút tiền mặt
- Chủ thẻ có thể thanh toán toàn bộ số dư phát sinh trong hóa đơn hoặc một phần số dư trong hóa đơn tuy nhiên, phần số dư trả chậm sẽ phải chịu lãi suất và cộng dồn vào hóa đơn tháng tiếp theo
2.1.3.2 Thẻ ghi nợ
ü Khái niệm
Thẻ ghi nợ là loại thẻ cho phép chủ sở hữu thẻ chi tiêu trực tiếp trên tài khoản tiền gửi của mình tại ngân hàng phát hành thẻ Với loại thẻ này, chủ thẻ có thể chi trả tiền hàng hoá, dịch vụ dựa trên số dư tài khoản tiền gửi của mình tại ngân hàng phát hành thẻ Thẻ thanh toán không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ Số tiền chủ thẻ chi tiêu sẽ được khấu trừ ngay vào tài khoản của chủ thẻ thông qua những thiết bị điện tử đặt tại cơ sở chấp nhận thẻ Trong một số trường hợp, chủ thẻ cũng có thể được ngân hàng cấp cho một mức thấu chi, tuỳ theo sự thoả thuận giữa chủ thẻ và ngân hàng
Trang 32Đó là một khoản tín dụng ngắn hạn mà ngân hàng cấp cho chủ thẻ
ü Phân loại thẻ ghi nợ
Phân loại theo phương thức khấu trừ tài khoản
- Thẻ ghi nợ trực tuyến (online): Là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ Những thông tin về giao dịch được kết nối trực tiếp từ thiết bị điện tử đặt tại cơ sở chấp nhận thẻ hoặc điểm rút tiền mặt tới ngân hàng phát hành Giá trị những giao dịch được khấu trừ trực tiếp và lập tức vào tài khoản của chủ thẻ Với thẻ ghi nợ online thì khi thanh toán đòi hỏi được cấp phép ngay lập tức
- Thẻ ghi nợ ngoại tuyến (offline): Là loại thẻ mà giá trị những giao dịch được khấu
trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày Thông tin giao dịch được lưu tại máy điện tử của cơ
sở chấp nhận thẻ và được chuyển đến ngân hàng phát hành muộn hơn (không có kết nối trực tiếp vào thời điểm thanh toán) Giá trị những giao dịch sẽ được khấu trừ vào tài khoản của chủ
thẻ sau đó vài ngày, thường là từ hai đến ba ngày
Phân loại theo phạm vi khu vực
- Thẻ ghi nợ nội địa: Là loại thẻ được sử dụng để giao dịch ở trong nước, hiện nay đa phần chúng ta đều sử dụng thẻ ghi nợ nội địa Các thẻ nội địa ở Việt Nam đa phần vẫn được làm bằng công nghệ thẻ từ
- Thẻ ghi nợ quốc tế : Là loại thẻ được sử dụng để giao dịch ở nước ngoài, số lượng người sử dụng thẻ ghi nợ quốc tế thì ít hơn Hiện nay tất cả các thẻ ghi nợ quốc tế ở Việt Nam đều sử dụng công nghệ chip thông minh
ü Đặc điểm của thẻ ghi nợ
Chi tiêu tới đâu, khấu trừ tài khoản luôn tới đó
Thẻ ghi nợ đơn giản là một tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng, khách hàng chi tiêu dựa trên chính số dư của mình vì thế đối với thẻ ghi nợ khách hàng chi tiêu tới đâu sẽ bị khấu trừ tiền luôn tới đó
Chi tiêu bằng tất cả các loại tiền
Đây là đặc điểm đối với thẻ ghi nợ quốc tế, đối với thẻ ghi nợ quốc tế chủ thẻ có thể chi tiêu bằng tất cả các loại tiền, tuy nhiên sẽ phải mất phí chuyển đổi ngoại tệ
Không phải mất phí hoặc mất một khoản phí rất nhỏ khi rút tiền
Đó là sự khác biệt rất lớn giữa thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng sẽ phải mất phí cao do tiền chủ thẻ sử dụng chính là tiền đi vay của ngân hàng, còn đối với thẻ ghi nợ, chủ thẻ
sẽ chi tiêu bằng chính số dư trên tài khoản tiền gửi của mình
Số dư trong tài khoản được hưởng lãi suất không kỳ hạn
Trang 33với dung lượng của các thông tin có thể lưu trữ trên một thẻ tín dụng thông thường Thẻ thông minh có khả năng lưu trữ và xử lý thông tin với độ an toàn cao nên được sử dụng trong rất nhiều ngành như ngân hàng, tài chính, y tế hay bưu chính viễn thông Hiện nay, thẻ thông minh được sử dụng tại rất nhiều nước Công nghệ thẻ thông minh được khởi đầu tại Pháp nhưng ít thông dụng hơn ở Mỹ, nơi mà người ta hay sử dụng thẻ tín dụng là chủ yếu
Hình 2.3: Thẻ thông minh
ü Phân loại
Dựa trên phương thức đọc thẻ, người ta chia thẻ thông minh thành hai loại cơ bản:
Thẻ tiếp xúc vật lý (thẻ có khả năng liên kết) – Contact smart card
Thẻ tiếp xúc vật lý là thẻ thông minh mà trên mạch vi xử lý có gắn một miếng kim loại nhỏ mạ vàng Thẻ sẽ được kích hoạt khi đưa thẻ này vào thiết bị đọc thẻ Khi đưa thẻ tiếp xúc với thiết bị đọc thẻ, thông tin dữ liệu trên thẻ sẽ được truyền từ chip qua miếng kim loại nhỏ mạ vàng sang thiết bị đọc thẻ
Để đọc, ghi thông tin, bề mặt con chip phải tiếp xúc trực tiếp với đầu đọc thẻ Loại thẻ này được sử dụng nhiều trong tài chính (công nghệ của thẻ tiếp xúc phi vật lý thường được sử dụng để tạo ra thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng) Truyền thông (sim điện thoại) vì ưu điểm giá cả không quá đắt, đáp ứng nhiều tiêu chuẩn về công nghệ, độ bảo mật cao Khi được đưa vào máy đọc, chip trên thẻ sẽ giao tiếp với các tiếp điểm điện tử cho phép đọc các thông tin từ chip và viết thông tin lên nó Thẻ thông minh loại này không có pin, năng lượng làm việc sẽ được cấp trực tiếp từ máy đọc thẻ
Thẻ phi tiếp xúc (thẻ có khả năng liên kết ở phạm vi gần) – Contactless smart card
Thẻ phi tiếp xúc là loại thẻ thông minh mà trên mạch vi xử lý có gắn anten Khi đưa thẻ lại gần thiết bị đọc thẻ, thông tin dữ liệu trên thẻ sẽ được truyền từ chip qua anten sang anten của thiết bị đọc thẻ Hiện nay với công nghệ thẻ phi tiếp xúc được ứng dụng ở nhiều quốc gia và thanh toán cực nhanh (dưới 2 giây), ví dụ như thẻ thông minh của IBM
Tốc độ xử lý của thẻ phi tiếp xúc là cao hơn so với các thẻ tiếp xúc Vì vậy thẻ phi tiếp xúc thường được ứng dụng tại những nơi cần phải xử lý nhanh như các hệ thống quá cảnh, trên các phương tiện giao thông công cộng, siêu thị, tàu điện ngầm Thẻ phi tiếp xúc đắt hơn nhưng lại không an toàn bằng thẻ tiếp xúc
Thẻ lưỡng tính (thẻ lai ghép) - Hybrid smart card
Trang 34Là thẻ kết hợp các đặc điểm của thẻ tiếp xúc và thẻ không tiếp xúc Dữ liệu được truyền hoặc bằng phương pháp tiếp xúc trực tiếp thẻ với đầu đọc hoặc qua tín hiệu vô tuyến Thẻ lưỡng tính đắt hơn rất nhiều so với hai loại thẻ trên Đối với loại thẻ lưỡng tính, một số phần thẻ không tiếp xúc hay dùng để quản lý ra vào, thanh toán cước phí giao thông; còn phần thẻ có chip tiếp xúc thường để quản lý một số thông tin bảo mật khác liên quan đến chủ thẻ
Ví dụ như thẻ giao thông nhiều ứng dụng của Porto, gọi là Andante, mà dùng một chip cho cả tiếp xúc và phi tiếp xúc
Đối với tất cả các loại thẻ, thiết bị đọc thẻ là rất quan trọng trong sự hoạt động của hệ thống Thiết bị đọc thẻ bản chất là một thiết bị đọc và ghi Mục đích chủ yếu của thiết bị đọc thẻ là hoạt động như thiết bị liên kết giữa thẻ và hệ thống chủ lưu giữ dữ liệu ứng dụng và xử
lý dữ liệu Có hai loại thẻ cơ bản nên có hai loại thiết bị đọc thẻ (tiếp xúc và phi tiếp xúc) phù hợp với các loại thẻ riêng
ü Ứng dụng của thẻ thông minh
Sự thay đổi trong cách sử dụng thẻ thông minh được định hướng bởi những ứng dụng của nó Sau đây là những ứng dụng quan trọng nhất:
Thanh toán trong mua bán lẻ
Ứng dụng cơ bản nhất của thẻ thông minh là tích hợp trong thẻ thanh toán quốc tế (thẻ ATM) để thực hiện những giao dịch thanh toán Người mua hàng sử dụng thẻ để mua hàng tại tất cả các điểm thanh toán chấp nhận thanh toán Thẻ thông minh cũng có thể dùng như ví điện tử dùng trả tiền tại các trạm đỗ xe và các máy bán hàng tự động
Trong lĩnh vực bán lẻ, nhiều loại dịch vụ này hướng đến những thị trường mà thanh toán thường được thực hiện bằng tiền mặt và tốc độ, sự tiện lợi là rất quan trọng, ví dụ các cửa hàng tiện dụng, trạm xăng, nhà hàng dịch vụ nhanh và thức ăn nhanh, rạp chiếu phim Thanh toán phi tiếp xúc là ví dụ cho loại hình dịch vụ giá trị gia tăng này
Chuyển tiếp phí trong giao thông công cộng
Trong những thành phố lớn ở Mỹ nhiều nước khác, người đi làm thường phải lái xe tới nơi đậu xe, lên tàu và sau đó di chuyển qua một hoặc nhiều xe điện ngầm, xe buýt để tới nơi làm việc Nếu quá trình đó đòi hỏi sự kết hợp của tiền mặt và nhiều loại vé khác nhau thì nó
sẽ rất phức tạp và rắc rối Sự bất tiện này đã không khuyến khích người đi làm sử dụng phương tiện công cộng Để loại bỏ sự bất tiện này, hầu hết người vận hành chuyển tiếp chính
ở Mỹ đang thực hiện những hệ thống vé phí thẻ thông minh Chính phủ Liên bang Mỹ cũng cũng khuyến khích những người chủ trợ cấp cho nhân viên sử dụng giao thông công cộng Các nhà vận hành chuyển tiếp của nhiều thành phố lớn trên thế giới đang chuyển từ hệ thống phí không hợp nhất, phức tạp sang hệ thống đòi hỏi chỉ một thẻ phi tiếp xúc duy nhất, dù có bao nhiêu kiểu giao thông hoặc có bao nhiêu hãng giao thông và các công ty liên quan tham gia
Một số nhà vận hành chuyển tiếp ở Mỹ đang tìm kiếm đối tác là các đại lý bán lẻ và các tổ chức tài chính để kết hợp thẻ chuyển tiếp của họ với thẻ thanh toán có thể được sử dụng
để mua hàng hóa và dịch vụ như bữa ăn nhỏ, phí qua cầu, phí đỗ xe, mua thức ăn trong nhà hàng hoặc cửa hàng tạp phẩm gần trạm chuyển tiếp
Định dạng điện tử (electronic identification – e-ID)