Con người đã khai thác quá mức mà chưa có nhiều các biện pháp hợp lý để bảo vệ đất đai, việc sử dụng đất lâmnghiệp còn nảy sinh nhiều vấn đề, như là gây ra việc tranh chấp trong phân chi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
***
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH
NGHỆ AN
Họ và tên học viên: Lê Thị Quỳnh Trang
Mã học viên: 19BM 0410084 Lớp CH.QLKT.K25B.N6 Chuyên ngành:
Quản lý kinh tế
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Nguyễn Đức Nhuận
Hà Nội - 2021
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Lê Thị Quỳnh Trang
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… ………
1 Tính cấp thiết của đề tài ……… ……… ………… …….….1
2 Tổng quan nghiên cứu ……… .……… 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ……… … ……….… 3
4 Phương pháp nghiên cứu……… …… …… …Error! Bookmark not defined. 5 Kết cấu của đề tài……… … ……… 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP 5
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý sử dụng đất lâm nghiệp 5
1.1.1 Các khái niệm chung……… …… .… 5
1.1.2 Vai trò của ngành lâm nghiệp và công tác quản lý sử dụng đất lâm nghiệp 6
1.1.3 Đặc điểm quản lý sử dụng đất lâm nghiệp 8
1.1.4 Nội dung quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn cấp huyện 9
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng đất lâm nghiệp 20
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý sử dụng đất lâm nghiệp 27
1.3 Bài học kinh nghiệm………… …… 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN … 32
2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội của huyện Diễn Châu … 32
2.1.1 Điều kiện tự nhiên………… ……… …… 32
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội……… …….… 35
Trang 42.1.3 Tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội đến sử dụng đất lâm nghiệp
của huyện Diễn Châu
2.2 Thực trạng quản lý sử dụng đất lâm nghiệp tại huyện Diễn Châu
2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp huyện Diễn Châu
2.2.2 Tình hình quản lý sử dụng đất lâm nghiệp
2.3 Hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Diễn Châu
2.3.1 Hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp
2.3.2 Nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất lâm nghiệp với vấn đề xã hội và phát triển bền vững 2.4 Đánh giá chung công tác quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Diễn Châu
2.4.1 Kết quả đã đạt được
2.4.2 Hạn chế………
2.4.3 Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN DIỄN CHÂU
3.1 Định hướng quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Diễn Châu trong thời gian tới
3.1.1 Một số dự báo về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An
3.1.2 Dự báo về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Diễn Châu
3.1.3 Định hướng, mục tiêu hoàn thiện quản lý sử dụng đất nói chung, đất lâm nghiệp nói riêng trên địa bàn huyện Diễn Châu 3.1.4 Quan điểm hoàn thiện quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Diễn Châu 90
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Diễn Châu
3.2.1 Hoàn thiện bộ máy quản lý
Trang 53.2.2 Hoàn thiện các công cụ, phương pháp quản lý 94
3.2.3 Hoàn thiện việc triển khai các hoạt động quản lý sử dụng đất… 97
3.3 Một số đề xuất, kiến nghị 105
3.3.1 Với Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An 105
3.3.2 Với các bộ, ngành có liên quan 105
3.3.3 Đối với các hộ sử dụng đất 106
KẾT LUẬN……… ………… .107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ………… 109 PHỤ LỤC
Trang 65
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Số hiệu bảng
Trang 86
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Số hiệu
hình
2015-2020
Trang 107
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, lànguồn nội lực và nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng hàng đầucủa môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, kinh tế, xã hội và quốcphòng, an ninh Đất cùng với con người đã đồng hành qua các nền văn minh nôngnghiệp khác nhau, từ nông nghiệp thô sơ vào buổi bình minh của loài người đếnnền nông nghiệp đầy ắp các tiến bộ về khoa học và công nghệ ngày nay Đất là mộtthành phần quan trọng của hệ sinh thái rừng, là một trong những yếu tố hình thànhquần thể rừng Đất có quá trình phát sinh và phát triển phụ thuộc vào nhiều yếu tốtrong đó có khí hậu, đá mẹ, thực vật, tuổi địa chất và hoạt động của con người Đất
và quần thể rừng có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ vì đất vừa là yếu tố hình thànhrừng, có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của rừng, đồng thời chịu ảnhhưởng trực tiếp của thảm thực vật rừng tạo nên độ phì đất rừng Sự phát triển củarừng trồng phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố đất đai ngoài yếu tố khí hậu vàgiống.Việc lựa chọn cây trồng phù hợp ngoài yếu tố kinh tế còn cần phải dựa trênnền tảng của yếu tố khí hậu và đất đai
Địa hình ở nước ta lại chủ yếu là vùng đồi núi với khoảng 2/3 diện tích đất tựnhiên thuộc về miền núi và trung du, có địa hình phức tạp nên tài nguyên đất rất đadạng và phong phú Tuy nhiên, với số dân khoảng gần 100 triệu người, hiện nay,nước ta đã và đang trở thành quốc gia khan hiếm đất trên thế giới Bên cạnh đólượng mưa lớn, tập trung, sự phân hóa giữa hai mùa khô và mưa rõ rệt nên đất dễ bịxói mòn, rửa trôi và bị thoái hóa, tạo nên tầng kết cứng két von và đá ong làm giảmtiềm năng sản xuất của đất Hiện nay, diện tích đất trống đồi núi trọc ngày càngchiếm tỷ lệ cao, nạn đốt phá rừng làm nương rẫy đang diễn ra nhiều nơi làm cho đấtrừng ngày càng cạn kiệt Đồng thời, dưới tác động của cơ chế thị trường và cácchính sách của Nhà nước về đất đai trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước đã và đang đặt ra nhiều vấn đề bức thiết, nhằm sử dụng ngày càng có hiệu
Trang 12quả hơn đất lâm nghiệp.
Huyện Diễn Châu là một huyện phía Bắc của tỉnh Nghệ An có vị trí thuận lợicho sự phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) của tỉnh Nghệ An Việc sử dụng đất lâmnghiệp ở huyện Diễn Châu đang được quan tâm và phát triển Tuy nhiên, do sức épcủa sự gia tăng dân số và nhu cầu phát triển xã hội, đất lâm nghiệp đang đứng trướcnguy cơ bị giảm mạnh về số lượng và chất lượng Con người đã khai thác quá mức
mà chưa có nhiều các biện pháp hợp lý để bảo vệ đất đai, việc sử dụng đất lâmnghiệp còn nảy sinh nhiều vấn đề, như là gây ra việc tranh chấp trong phân chia sửdụng đất lâm nghiệp, các hoạt động chặt phá rừng gây gia tăng nguy cơ xói mòn đấtlâm nghiệp
Trước thực trạng đó, đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp để
từ đó nâng cao hiệu quả đất đai nói chung và đất lâm nghiệp nói riêng đang đượcđặt ra cấp bách có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Với những lý do trên, tôi xin
lựa chọn vấn đề “Quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2 Tổng quan nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu tổng quát
Trên cơ sở lý luận và thực trạng quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bànhuyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, đề xuất những giải pháp nhằm góp phần hoànthiện, nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất lâm nghiệp tạo nền tảng ổn định chophát triển KTXH của địa phương
Trang 13- Đề xuất một số kiến nghị với các cơ quan Nhà nước các cấp đối với việcnâng cao hiệu quả trong công tác quản lý sử dụng đất lâm nghiệp của huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến quản lí sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
- Thời gian: Giai đoạn 2016-2020
4 Phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên cơ sở kế thừa số liệu về tình hình quản lí sử dụng đất lâm nghiệpcủa huyện Diễn Châu, để đánh giá tình hình quản lí sử dụng đất lâm nghiệp củahuyện Ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp quan sát thực tế để có thêm sốliệu và cách nhìn tổng hợp về vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp xử lí số liệu: Dùng phần mềm Excel để xử lí số liệu
- Phương pháp phân tích số liệu:
+Phương pháp thống kê: Dùng để tính toán các chỉ tiêu về số tổng, cơ cấu
+ Phương pháp so sánh: So sánh sự biến động của một số chỉ tiêu theo thời gian; So sánh sự biến động về quy mô diện tích, chi phí, thu nhập
Trang 14Chương 2: Thực trạng quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Chương 3: Một số định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT LÂM NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý sử dụng đất lâm nghiệp
1.1.1 Các khái niệm chung
1.1.1.1 Khái niệm về lâm nghiệp
Lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất độc lập của nền kinh tế quốc dân cóchức năng xây dựng rừng, quản lý bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng rừng, chế biếnlâm sản và phát huy các chức năng phòng hộ văn hóa, xã hội, của rừng
1.1.1.2 Khái niệm về đất lâm nghiệp
Theo Điều 1 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, đất lâm nghiệp baogồm: đất có rừng và đất không có rừng được quy hoạch để gây trồng rừng:
để trồng rừng và đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng)
Để có cơ sở quản lý sử dụng đất lâm nghiệp, việc phân loại đất lâm nghiệprất quan trọng Dựa theo mục đích sử dụng, đất lâm nghiệp được chia thành đấtrừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
Rừng sản xuất: được xác định chủ yếu để xây dựng, phát triển rừng cho mụcđích sản xuất, kinh doanh lâm sản (trong đó đặc biệt là gỗ và các lâm sản rừng) vàkết hợp phòng hộ môi trường, cân bằng sinh thái
Rừng phòng hộ: xác định với mục đích chủ yếu để xây dựng và phát triểnrừng cho mục đích bảo vệ và điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn
Trang 16điều hòa khí hậu, bảo đảm cân bằng sinh thái và an ninh môi trường.
Rừng đặc dụng: nhằm mục đích bảo tồn thiên nhiên, hệ sinh thái, nguồn genthực vật và động vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóadanh lam thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi, du lịch
Còn theo Luật đất đai năm 1993 và Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998,
2001 thì đất lâm nghiệp được định nghĩa như sau:
Đất lâm nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất lâmnghiệp gồm đất có rừng tự nhiên, đất đang có rừng trồng và đất để sử dụng vàomục đích lâm nghiệp như trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ để phục hồi tự nhiên,nuôi dưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về lâm nghiệp [15]
Theo cách phân loại đất đai của Luật đất đai 2003 thì đất lâm nghiệp đượchiểu là một bộ phận của đất nông nghiệp bao gồm diện tích đất được xác định chủyếu để sử dụng vào sản xuất lâm nghiệp bao gồm đất có rừng tự nhiên, đất rừngtrồng, đất sử dụng vào mục đích lâm nghiệp (trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ, nuôidưỡng làm giàu rừng, nghiên cứu thí nghiệm về đất lâm nghiệp) [16]
1.1.1.3 Khái niệm về quản lý sử dụng đất lâm nghiệp
Quản lý sử dụng đất lâm nghiệp là tổng thể các hoạt động, biện pháp có tínhpháp lý, kinh tế, tổ chức, kỹ thuật của các cơ quan nhà nước, người sử dụng đấtnhằm sử dụng hợp lý và hiệu quả tài nguyên đất một cách bền vững
1.1.2 Vai trò của ngành lâm nghiệp và công tác quản lý sử dụng đất lâm nghiệp
1.1.2.1 Vai trò của ngành lâm nghiệp
Lâm nghiệp là ngành có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Tậndụng những gì thiên nhiên ban tặng, ngành lâm nghiệp đã đóng góp nâng cao GDP,tăng tốc độ phát triển kinh tế, cải thiện đời sống xã hội, bảo vệ môi trường cảnhquan… Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt Nói đến lâm nghiệp trướchết phải nói đến vai trò của rừng trong nền kinh tế quốc dân và trong đời sống xã hội.Trong luật Bảo vệ và phát triển rừng có ghi "Rừng là tài nguyên quý báu của đất nước,
có khả năng tái tạo là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái,
Trang 17có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn liền với đời sống của nhân dânvới sự sống còn của dân tộc.
Rừng vừa có giá trị kinh tế vừa có giá trị bảo vệ môi trường, rừng là hợpphần quan trọng nhất cấu thành nên sinh quyển Về mặt kinh tế, rừng cung cấp gỗxây dựng, củi đun nấu, là nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp nhẹ và côngnghiệp hóa học, cung cấp dược liệu, thịt thú rừng Rừng còn có giá trị bảo vệ môitrường như: chống sói mòn đất, điều hòa nước mặt nước ngầm, điều hòa khí hậu,tạo môi trường sinh thái an toàn cho các loài động thực vật, chắn gió, làm sạchkhông khí Rừng được xem như những nhà máy lọc bụi khổng lồ, trung bình 1 harừng thông/năm có khả năng hút 36.4 tấn bụi từ không khí, rừng có ý nghĩa đặc biệtquan trọng trong việc cân bằng hàm lượng oxy và cacbonic trong khí quyển
1.1.2.2 Vai trò quản lý sử dụng đất lâm nghiệp
Trên cơ sở điều kiện tự nhiên, đặc điểm dân cư, KTXH, mục tiêu phát triển,phương hướng, nhiệm vụ của từng vùng, từng địa phương mà quản lý đất lâmnghiệp có các vai trò sau:
Đảm bảo sử dụng hợp lý, hiệu quả đất lâm nghiệp trên cơ sở xác định loạiđất, hạng đất, công tác chọn giống, gieo trồng, chăm sóc, bảo vệ…, tránh tình trạng
sử dụng lãng phí, chuyển đổi mục đích sử dụng một cách tùy tiện, hạn chế, ngănchặn hiện tượng lấn chiếm, tranh chấp, hủy hoại đất ảnh hưởng đến môi trường, cânbằng sinh thái, kìm hãm sản xuất, ảnh hưởng đến phát triển KTXH
Bảo vệ đất, cải tạo đất, bảo vệ môi trường trong quá trình sử dụng: hướng đến phát triển bền vững tài nguyên đất, bên cạnh những lợi ích trước mắt thì phải đảm bảo tính lâu dài, không ảnh hưởng trong tương lai
Giúp người sử dụng hiểu được quyền và nghĩa vụ của họ trên phạm vi đấtđai mà họ được giao, yên tâm đầu tư, khai thác trên phần đất của mình Vì vậy sẽđảm bảo, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững an ninh quốc phòng, góp phần phủxanh đất trống đồi núi trọc, giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Trang 181.1.3 Đặc điểm quản lý sử dụng đất lâm nghiệp
Quản lý sử dụng đất lâm nghiệp luôn gắn với tính đặc biệt của sản xuất lâmnghiệp được thể hiện qua các khía cạnh:
Đối tượng sản xuất lâm nghiệp là đất rừng với hệ thực vật cây rừng có chu
kỳ sinh trưởng và phát triển rất dài, có thể tới hàng chục có thể hàng trăm năm và
sở hữu đất đai là của chung
Địa bàn sản xuất rộng lớn, phức tạp, đi lại khó khăn, do đó việc quản lý tàinguyên cũng như áp dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật vào trong sản xuấtlâm nghiệp gặp nhiều khó khăn trở ngại
Sản xuất lâm nghiệp không những có ý nghĩa mang lại lợi ích kinh tế, mà nócòn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái
Do đó, quản lý sử dụng đất đai nói chung và quản lý sử dụng đất lâm nghiệpnói riêng mang tính dài hạn Nhằm đáp ứng nhu cầu đất đai để phát triển lâu dàiKTXH, cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thờigian dài cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến dựa trên cơ sở dự báo xu thế biếnđộng dài hạn của các yếu tố KTXH quan trọng như sự thay đổi về nhân khẩu, đô thịhóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiến bộ khoa học công nghệ và kỹ thuật, nhucầu phát triển của các ngành kinh tế, các loại cây trồng lâu năm Từ đó xác định sửdụng trung hạn hay dài hạn về sử dụng đất đai để đề ra các phương hướng chínhsách và biện pháp có tính chiến lược và phù hợp từng loại đất tạo căn cứ khoa họccho việc quản lý sử dụng đất hàng năm
Việc quản lý sử dụng đất đai là để phục vụ cho nhu cầu của con người, phục
vụ nhu cầu của người sử dụng đất và quyền lợi của toàn xã hội, góp phần tích cựcvào sự thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn nhằm sử dụng và bảo vệ đất, nângcao hiệu quả sản xuất cho xã hội.Trong nền kinh tế thị trường, quản lý sử dụng đấtgóp phần thúc đẩy và giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích KTXH vàcác môi trường nảy sinh trong quá trình sử dụng đất đai
Trang 19Với sự tác động của nhiều yếu tố khó có thể dự đoán trước được theo nhiềuphương diện khác nhau, quản lý sử dụng đất đai chỉ là một trong những giải phápbiến đổi hiện trạng, thống kê chính xác số diện tích đất để quy hoạch sử dụng ởtrạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển KTXH trong một thời kỳ nhất định.Với trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, càng tiến bộ, chính sách vàtình hình kinh tế thay đổi các dự kiến ban đầu của quy hoạch sử dụng đất đai khôngcòn phù hợp nữa, do vậy việc chỉnh sửa bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điềuchỉnh biện pháp thực hiện là việc làm hết sức cần thiết Điều này thể hiện tính khảbiến của quản lý sử dụng đất đai.
1.1.4 Nội dung quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn cấp huyện
Nội dung quản lý sử dụng đất lâm nghiệp trên địa bàn cấp huyện bao gồmnhững nội dung cơ bản của quản lý nhà nước (QLNN) về đất lâm nghiệp trên địabàn cấp huyện Trong phạm vi đề tài, tác giả sẽ lựa chọn một số nội dung chính liênquan đến quản lý sử dụng đất lâm nghiệp
1.1.4.1 Chủ thể quản lý
Với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước thực hiện quyền đối với đất đai thông qua hệ thống các cơ quan QLNN về đất đai từ trung ương đến địa phương với mục đích thực hiện sự thống nhất QLNN về đất đai, nhằm đảm bảo đất đai được sử dụng theo đúng pháp luật và quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất, khai thác và sử dụng đất ổn định, lâu dài và đạt hiệu quả cao Trong đó bao gồm cả những nội dung liên quan đến quản lý sử dụng đất lâm nghiệp
Bộ máy QLNN về đất đai của chính quyền huyện là chủ thể quản lý đất đaitrên địa bàn, gồm Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) - đơn
vị hành chính trực tiếp quản lý đất đai trên địa bàn Chính quyền huyện là cấp quản
lý trung gian giữa chính quyền tỉnh, thành phố và chính quyền cấp xã, đồng thời, có
sự tương ứng về các đơn vị quản lý trong bộ máy QLNN giữa chính quyền trungương và các cấp theo ngành dọc Theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN &MT) là cơ quan QLNN về đất đai ở cấp trung ương; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc
Trang 20trung ương có các Sở TN & MT; cấp huyện có phòng quản lý chuyên ngành gồmPhòng TN & MT và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai (VPĐKĐĐ) và cấp xã
có các công chức địa chính
Phòng TN & MT là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, thực hiệnchức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện QLNN về TN & MT gồm: đất đai, tàinguyên nước, khoáng sản, môi trường, biến đổi khí hậu, biển và hải đảo Phòng TN
& MT có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản; chịu sự chỉ đạo, quản lý vàđiều hành của UBND cấp huyện; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn vềchuyên môn nghiệp vụ của Sở TN & MT
1.1.4.2 Công cụ và phương pháp quản lý đất lâm
nghiệp a Công cụ quản lý
* Công cụ pháp luật:
Pháp luật là công cụ không thể thiếu của các cơ quan QLNN từ cấp trungương xuống cấp chính quyền địa phương Cơ quan QLNN luôn thực hiện quyền lựccủa mình bằng các văn bản quy phạm pháp luật để tác động vào ý chí, điều chỉnhhành vi của đối tượng quản lý
Trong công tác quản lý đất đai, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật baogồm:
- Cấp trung ương: Các văn bản luật do Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất nhà nước ban hành theo hình thức và thủ tục được quy định trong Hiến pháp,
đó là những văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất Hoặc các vãn bản dưới luật như Pháp lệnh và Nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội; Lệnh và Quyết định của Chủ tịch nước; Nghị Quyết và Nghị định của Chính phủ; Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Bộ trưởng;
- Cấp địa phương: Các văn bản dưới luật là công cụ có vai trò quan trọngnhất và được sử dụng phổ biến để duy trì trật tự an toàn xã hội trong lĩnh vực đấtđai Các văn bản dưới luật về đất đai của chính quyền địa phương gồm có Nghịquyết của HĐND; Quyết định, chỉ thị của UBND các cấp Các văn bản được ban
Trang 21hành để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan QLNN cấp trung ươnghoặc văn bản do UBND ban hành để thi hành Nghị quyết của HĐND cùng cấp.
Vấn đề đất đai gắn chặt với lợi ích vật chất và tinh thần của mọi đối tượng sửdụng đất nên dễ nảy sinh nhiều mâu thuẫn Trong các mâu thuẫn đó có nhũng vấn
đề phải dùng đến quyết định quản lý mới xử lý được Do đó, các văn bản quy phạmpháp luật được ban hành phải rõ ràng, đồng bộ và phù hợp với nguyện vọng củađông đảo các tầng lớp nhân dân, hệ thống lưu trữ thông tin đất đai chính xác, cùngvới một đội ngũ viên chức chuyên nghiệp mới xử lý và quản lý tốt vấn đề đất đai
* Công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai:
Trong công tác QLNN về đất đai, công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
là công cụ quản lý quan trọng và là một nội dung không thể thiếu được trong côngtác QLNN về đất đai ở tất cả các cấp quản lý
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đảm bảo cho việc lãnh đạo, chỉ đạo củachính quyền địa phương có sự thống nhất trong quản lý về đất đai Quy hoạch, kếhoạch khi được phê duyệt là cơ sở pháp lý để quyết định mục đích sử dụng đất Đây
là công việc khó khăn và tốn kém cần có sự phối hợp thực hiện của nhiều cơ quanquản lý Từ đó, chính quyền địa phương sẽ kiểm soát được mọi diễn biển về tìnhhình đất đai, ngăn chặn được việc sử dụng đất sai mục đích, lãng phí Đồng thời,thông qua quy hoạch, kế hoạch buộc các đối tượng sử dụng đất chỉ được phép sửdụng trong phạm vi ranh giới của mình Quy hoạch đất đai được lập theo vùng lãnhthổ và theo các ngành Quy hoạch đất đai theo vùng lãnh thổ là quy hoạch sử dụngđất đai được lập theo các cấp hành chính gồm: quy hoạch sử dụng đất đai của quốcgia, quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh, quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện vàquy hoạch sử dụng đất đai cấp xã Quy hoạch đất đai theo ngành là quy hoạch sửdụng đất được lập theo các ngành như: quy hoạch sử dụng đất đai ngành nôngnghiệp, công nghiệp, du lịch, giao thông,
Trang 22* Công cụ chính sách:
Từ góc độ QLNN, chính sách là những cách thức tác động của Nhà nước vàocác lĩnh vực của đời sống xã hội để đạt được mục tiêu định hướng Chính sách điềuchỉnh nhũng quan hệ ít mang tính ổn định, mềm dẻo, linh động Chính sách có tácđộng nhanh, kịp thời và toàn diện đến nhận thức, thái độ và hành vi của đối tượng
bị tác động Đặc biệt, chính sách điều chỉnh động cơ, tạo động lực cho hành vi,hoạt động của các cá nhân và từng nhóm đối tượng cụ thể
Chính sách là một công cụ quan trọng để chính quyền địa phương thực hiện quản lý về đất đai sao cho hiệu quả Các chính sách chủ yếu liên quan đến đất đai được áp dụng là chính sách thuế, chính sách giá đất, chính sách đầu tư, Trong đó, chính sách thuế nhằm đảm bảo các nguồn thu từ đất đai, chính sách giá đất phục vụcho việc giải phóng mặt bằng, đấu giá quyền sử dụng đất, chính sách đầu tư tác động đến việc phân phối lại nguồn lực đất đai sao cho hiệu quả Các chính sách liênquan đến đất đai tác động đến các đối tượng sử dụng đất làm cho họ thấy được nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc sử dụng đất đai Đây còn là công cụ quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện quyền bình đẳng giữa các đối tượng sửdụng đất và kết hợp hài hòa giữa các lợi ích Vì vậy, hệ thống chính sách đất đai cần được quy định đơn giản, rõ ràng, minh bạch nhằm nâng cao trách nhiệm và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất
Trang 23quan hệ đất đai Nó đòi hỏi người sử dụng đất phải chấp hành nghiêm chỉnh, nếu viphạm sẽ bị xử lý theo pháp luật.
Khi sử dụng phương pháp hành chính phải gắn chặt chẽ quyền hạn và tráchnhiệm của các cấp QLNN về đất đai khi ra quyết định, đồng thời phải làm rõ, cụthể hóa chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan Nhà nước tại địaphương và từng cá nhân Mọi cấp quản lý, mọi tổ chức, mọi cá nhân khi ra quyếtđịnh phải hiểu rõ quyền hạn của mình đến đâu và trách nhiệm của mình như thếnào khi sử dụng quyền hạn đó Các quyết định hành chính do con người đặt ra,muốn có kết quả và hiệu quả cao cần phải có tính khoa học, có đầy đủ thông tinliên quan cần thiết, tuyệt đối không thể là ý kiến chủ quan của con người
* Phương pháp kinh tế:
Phương pháp kinh tế về quản lý đất đai là cách thức tác động gián tiếp của cơquan nhà nước vào đối tượng sử dụng đất thông qua các lợi ích kinh tế Mặt mạnhcủa phương pháp kinh tế ở chỗ nó tác động vào lợi ích của đối tượng bị quản lý làmcho họ phải suy nghĩ, tính toán và lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhấtvừa đảm bảo lợi ích của mình, vừa đảm bảo lợi ích chung của xã hội Từ đó, đốitượng chịu sự tác động sẽ tự giác, chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao,không cần có sự tác động thường xuyên như phương pháp hành chính
Chính quyền địa phương tác động lên đối tượng quản lý trên cơ sở các phạmtrù kinh tế, các đòn bẩy kinh tế, các định mức kinh tế - kỹ thuật như miễn giảm tiền
sử dụng đất, ghi nợ tiền sử dụng đất, hạn mức giao đất Vì vây, phương pháp kinh
tế là phương pháp mềm dẻo nhất, dễ thu hút đối tượng quản lý và ngày càng được
sử dụng phổ biến Phương pháp kinh tế giúp nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cánhân đồng thời giúp cho cơ quan QLNN giảm bớt được nhiều công việc hành chínhnhư kiểm tra, đôn đốc có tính chất sự vụ hành chính Vì vậy, sử dụng phương phápnày vừa tiết kiệm được chi phí quản lý, vừa giảm được tính cứng nhắc hành chính,vừa tăng cường tính sáng tạo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
* Phương pháp tuyên truyền, giáo dục:
Trang 24Là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và tình cảm của conngười nhằm nâng cao tính tự giác và lòng nhiệt tình của họ trong quản lý đất đainói riêng và trong hoạt động kinh kế - xã hội nói chung Tuyên truyền, giáo dục làmột trong các phương pháp không thể thiếu trong công tác QLNN bởi vì đối tượngquản lý là con người mà con người là tổng hòa của nhiều mối quan hệ xã hội và ở
họ có nhiều đặc điểm tâm lý đa dạng Do đó, cần phải có nhiều phương pháp tácđộng khác nhau trong đó có phương pháp tuyên truyền giáo dục
Trong thực tế, phương pháp tuyên truyền, giáo dục được sử dụng kết hợp vớicác phương pháp khác, hỗ trợ cùng phương pháp khác để nâng cao hiệu quả côngtác Nếu tách rời phương pháp giáo dục với các phương pháp khác, tách rời giáodục với khuyến khích lợi ích vật chất, tách rời giáo dục với cưỡng chế bắt buộc thìhiệu quả của công tác quản lý sẽ không cao, thậm chí không thể thực hiện được.Nhưng nếu kết họp tốt, kết hợp nhịp nhàng, linh hoạt phương pháp giáo dục với cácphương pháp khác thì hiệu quả công tác quản lý sẽ rất cao
1.1.4.3 Các hoạt động quản lý
a Quản lý quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
Trong công tác quản lý về đất đai, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
là công cụ quản lý quan trọng và là một nội dung không thể thiếu được trong côngtác QLNN về đất đai Vì vậy, Luật Đất đai 2013 quy định “Nhà nước quản lý đấtđai theo quy hoạch và pháp luật”
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đât đai là một nội dung quan trọng trong việc quản lý và sử dụng đất, nó đảm bảo cho sự lãnh đạo, chỉ đạo một cách thống nhất trong QLNN về đất đai Thông qua quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt, việc sửdụng các loại đất được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý Nhà nước kiểm soát được mọi diễn biến về tình hình đất đai Từ đó, ngăn chặn được việc sử dụng đất sai mụcđích, lãng phí Đồng thời, thông qua quy hoạch, kế hoạch buộc các đối tượng sử dụng đất chỉ được phép sử dụng trong phạm vi ranh giới của mình Quy hoạch đất đai được lập theo vùng lãnh thổ và theo các ngành
Trang 25Quy hoạch sử dụng đất đai theo vùng lãnh thổ là quy hoạch sử dụng đất đaiđược lập theo các cấp hành chính, gồm: quy hoạch sử dụng đất đai của cả nước,quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh, quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện, quyhoạch sử dụng đất đai cấp xã.
Quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là quy hoạch sử dụng đất đai được lậptheo các ngành như: quy hoạch sử dụng đất đai ngành nông nghiệp, quy hoạch sửdụng đất đai ngành công nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đai ngành giao thông
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở để thực hiện việc kế hoạch hóaquá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đồng bộ với quá trình chuyển dịch cơ cấulao động, cơ cấu đầu tư, tạo bước đi họp lý cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đối với đất lâm nghiệp,thông qua quy hoạch sẽ tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia, giám sátviệc quản lý sử dụng nguồn tài nguyên đất rừng
Kế hoạch hóa đất đai là xác định các chỉ tiêu về sử dụng đất đai, các biệnpháp và thời hạn thực hiện theo quy hoạch đất đai Trong công tác quản lý đất đai,quy hoạch và kế hoạch hóa đất đai là một công cụ hết sức hữu hiệu nhất là trongnền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Nó giúp cho việc sử dụng đất đai và cácnguồn tài nguyên thiên nhiên khác một cách tiết kiệm, có hiệu quả, giữ gìn cảnhquan môi trường Ngoài ra quy hoạch còn là công cụ để phân bổ nguồn lực (kể cảvốn, lao động và công nghệ) đồng đều ở các vùng miền trong cả nước
Đối với đất lâm nghiệp, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được duyệt là căn
cứ và là điều kiện bắt buộc để thực hiện việc thu hồi đất, giao đất, giao rừng, chothuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất rừng Quy hoạch, kế hoạch là công cụ quantrọng của quản lý đất đai Tuy nhiên, không được lạm dụng quy hoạch, kế hoạchhóa vì dễ dẫn đến tình trạng hành chính hóa các quan hệ về đất đai, điều này tráivới sự vận động của nền kinh tế thị trường
Ngoài quy hoạch sử dụng đất còn có các quy hoạch khác hỗ trợ cho công tác
Trang 26QLNN về đất đai như quy hoạch tổng thể KTXH, quy hoạch ngành, quy hoạch
vùng, quy hoạch xây dựng đô thị và khu dân cư nông thôn b Quản lý việc giao
đất, giao rừng
Giao đất và cho thuê đất là những hình thức nhà nước giao quyền sử dụngđất cho người sử dụng đất Chính quyền địa phương được quyền giao đất và chophép chuyển mục đích sử dụng đất cho các đối tượng sử dụng đất phù hợp với thẩmquyền của từng cấp chính quyền địa phương Giao đất là công việc của chính quyềnđịa phương trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính và bằng giấy chứngnhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất Họ sẽ
là người sử dụng, khai thác trực tiếp đất đai với nhiệm vụ phải sử dụng đất đúngmục đích, đúng thời hạn sử dụng và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với
cơ quan chức năng Việc giao quyền sử dụng đất được đi kèm với một số công cụquản lý khác, đó là hạn mức đất và thời hạn sử dụng đối với từng loại đất và từngnhóm chủ thể sử dụng đất Về bản chất giao đất và cho thuê đất không có gì khácbiệt nhau
Hiện nay nhà nước ta đang áp dụng hình thức giao đất có và không thu tiền
sử dụng đất Trong giao đất có thu tiền sử dụng đất lại có thể thông qua hình thứcthu theo giá nhà nước quy định hoặc thông qua đấu giá đất (giá sàn không thấp hơngiá nhà nước quy định) Đối với hình thức thuê đất thì có thể thuê đất trả tiền thuêđất hàng năm hoặc trả tiền thuê một lần cho toàn bộ thời gian thuê
Đối với đất lâm nghiệp, hoạt động giao đất, giao rừng, khoán rừng cho chủrừng là biện pháp đã được áp dụng từ lâu Thực hiện chính sách giao khoán đấttrồng rừng, các địa phương thường khoán trồng rừng đến hộ gia đình, gồm khoántheo công việc hoặc theo công đoạn; khoán hàng năm, khoán một số năm hoặc theochu kỳ kinh doanh (đến lúc rừng trồng được khai thác)
c Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCNQSDĐ
Lập và quản lý hồ sơ địa chính, tổ chức đăng ký và cấp GCNQSDĐ là biệnpháp nhằm theo dồi tình hình sử dụng và biến động của đất đai, đồng thời thiết lập
Trang 27quyền sử dụng đất hợp pháp cho người sử dụng đất, tạo cơ sở pháp lý cần thiết đểngười sử dụng và cơ quan quản lý đất đai thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụcủa mình Đây là biện pháp quan trọng để xác định quyền sử dụng đất, quản lý biếnđộng đất đai.
Xây dựng hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai là việc thiết lập ban đầu vàcập nhật biến động hệ thống hồ sơ ở dạng giấy và dạng số về toàn bộ nguồn lực đấtđai, tình hình phân bổ sử dụng, tình trạng pháp lý trong quản lý và sử dụng đất,thông tin về người sử dụng đất, nhằm mục đích phục vụ cồng tác tra cứu, quản lý,hoạch định chính sách
Đăng ký đất đai là quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Sau khi phátsinh quyền sử dụng đất (giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụngđất, ) hoặc có những thay đổi trong sử dụng đất thì người sử dụng đất phải đăng
ký với cơ quan nhà nước để được công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp và làmGCNQSDĐ GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý xác nhận quan hệ hợp pháp giữaNhà nước với người sử dụng đất Được cấp GCNQSDĐ là quyền đầu tiên củangười sử dụng đất, là cơ sở để thực hiện các quyền khác của người sử dụng đất, làcăn cứ để giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất GCNQSDĐ cũng là điềukiện để giao dịch trên thị trường
Cấp GCNQSDĐ là việc ghi nhận quyền sứ dụng đất hợp pháp đối với mộtthửa đất xác định vào hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của người sửdụng đất Công tác cấp GCNQSDĐ phải được thực hiện thường xuyên liên tục để
có thể phản ánh kịp thời những biến động của đất đai Hồ sơ địa chính vàGCNQSDĐ cung cấp thông tin đầy đủ nhất, là cơ sở để bảo vệ các quyền củangười sử dụng đất khi xảy ra tranh chấp cũng như nghĩa vụ tài chính mà họ phảituân thủ theo quy định của pháp luật
Đối với đất lâm nghiệp, đất chưa sử dụng xảy ra lấn chiếm, tranh cấp nhiềunhất, do diện tích được cấp GCNQSDĐ còn hạn chế Nguyên nhân có thể kể đến
đó là các địa phương vân còn để đất hoang hóa hoặc chậm đưa vào sử dụng, quản
Trang 28lý lỏng lẻo, sử dụng kém hiệu quả, bên cạnh đó chính quyền địa phương chưa làmtốt việc quy hoạch sử dụng đất cũng như chậm xử lý, giải quyết tình trạng lấnchiếm đất đai Hay diện tích đất lâm nghiệp bị giao chồng chéo giữa các hộ dântrên địa bàn, không đo đạc, cắm mốc phân định ranh giới rõ ràng, cụ thể khi giaođất cho các hộ Cho nên vẫn còn những diện tích chưa được cấp GCNQSDĐ.
d Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Đảm bảo người sử dụng đất thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo phápluật, đồng thời, hạn chế tính quan liêu thậm chí tiêu cực của cán bộ làm côngQLNN về đai Đây là nội dung hết sức quan trọng, nó diễn ra thường xuyên, liêntục, phản ánh các vận động chủ yếu của các quan hệ về đất đai trong thị trường
Để thực hiện nội dung này trước hết phải ban hành hệ thống văn bản phápquy về quyền hạn và trách nhiệm của nhà nước, quyền và nghĩa vụ của người sửdụng đất, quy định các thủ tục hành chính về quản lý sử dụng đất và các chế tài xử
lý vi phạm Trong nền kinh tế thị trường nhà nước vừa là đại diện chủ sở hữu đấtđai, có quyền định đoạt đối với đất đai, vừa là chủ thể sử dụng đất lớn nhất vừa làngười quản lý giám sát việc sử dụng, nếu quy định về quyền và nghĩa vụ của cácbên không rõ ràng và không được luật hóa thì rất dễ nảy sinh bất bình đẳng giữacác chủ thể sử dụng đất Lúc này quan hệ đất đai sa vào cơ chế xin cho, mang nặngtính hành chính, không theo quy luật thị trường
Theo Luật hiện hành, tuy giữa các nhóm đối tượng sử dụng đất khác nhau thì
có quyền và nghĩa vụ khác nhau, nhưng nhìn chung, người sử dụng đất có cácquyền và nghĩa vụ cơ bản sau:
Người sử dụng đất có các quyền chung như: được cấp GCNQSDĐ; đượchưởng kết quả đầu tư trên đất; được nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạmđến quyền sử dụng đất của mình; được khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành
vi vi phạm quyền sử dụng đất và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.Ngoài ra người sử dụng đất còn có các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, chothuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, quyền thế chấp, bảo lãnh,
Trang 29góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.Đối với đất lâm nghiệp, người sử dụng không có một số quyền như trên.
Về nghĩa vụ, người sử dụng đất có các nghĩa vụ chung sau đây: sử dụng đấtđúng mục đích, đúng quy định về chế độ sử dụng đất và các quy định khác củapháp luật; đăng ký quyền sứ dụng đất, là đầy đủ thủ tục khi thực hiện các quyền củamình; thực hiện nghĩa vụ tài chính; thực hiện các biện pháp bảo vệ đất, bảo vệ môitrường; không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất có sự liênquan Trong tổ chức quản lý sử dụng đất lâm nghiệp, các địa phương sử dụng nhiềuhình thức tổ chức quản lý và áp dụng nhiều hình thức khoán rừng và đất lâm nghiệpcho hộ gia đình, người lao động, cụ thể: tổ chức khoán, liên doanh, liên kết, chothuê, cho mượn Diện tích đất lâm nghiệp hiện nay ngoài một phần do các lâmtrường quản lý và tự tổ chức sản xuất, thì phần lớn được giao khoán cho các hộ giađình Nội dung quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ phần lớn hướngvào việc quản lý mục đích sử dụng đất
Mục đích sử dụng đất lâm nghiệp gồm có đất rừng sản xuất (đất có rừng tựnhiên sản xuất, đất có rừng trồng sản xuất, đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất,đất trồng rừng sản xuất), đất rừng phòng hộ (đất có rừng tự nhiên phòng hộ, đất córừng trồng phòng hộ, đất khoanh nuôi phục hồi rừng phòng hộ, đất trồng rừngphòng hộ) và đất rừng đặc dụng (đất có rừng tự nhiên đặc dụng, đất có rừng trồngđặc dụng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng đặc dụng, đất trồng rừng đặc dụng) Các
cá nhân, tổ chức được Nhà nước giao đất để quản lý, bảo vệ theo quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất đã được cơ quan chức năng phê duyệt, được kết hợp sử dụng đấtvào mục đích khác theo quy định pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
e Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đảnh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
Đây là một nội dung thể hiện chức năng kiểm tra, giám sát của nhà nước đốivới quản lý sử dụng đất Thanh tra đất đai nhằm đảm bảo cho việc quản lý, sử dụngđất được tuân thủ theo đúng pháp luật Quá trình thanh tra, kiểm tra ngoài việc phát
Trang 30hiện các sai phạm để xử lý còn có tác dụng chấn chỉnh lệch lạc, ngăn ngừa nhữngsai phạm có thể xảy ra Ngoài ra, cũng có thể phát hiện những điều bất hợp lý trongchủ trương, chính sách, pháp luật để kiến nghị bổ sung, chỉnh sửa kịp thời Thanhtra, kiểm tra có thể thực hiện thường xuyên hoặc đột xuất, có thể khi có hoặc không
có dấu hiệu vi phạm
Luật đất đai quy định nhiệm vụ của thanh tra đất đai là thanh tra việc chấphành pháp luật của cơ quan Nhà nước, người sử dụng đất trong việc quản lý và sửdụng đất đai; đồng thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền hoặc kiếnnghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai Đểthực hiện được mục đích và nhiệm vụ, thanh tra đất đai phải tiến hành thanh traviệc QLNN về đất đai của UBND các cấp; thanh tra việc chấp hành pháp luật vềđất đai của người sử dụng đất và của tổ chức, cá nhân khác Theo dõi, đánh giá việcchấp hành quy định của pháp luật về đất đai của người sử dụng đất đây là nội dunghết sức quan trọng, nó diễn ra thường xuyên, liên tục, phản ánh các vận động chủyếu của các quan hệ về đất đai trong thị trường
f Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất
Giải quyết tranh chấp, khiếu nại và tố cáo đất đai là biện pháp nhằm điềuchỉnh các mối quan hệ đất đai theo đúng pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, đemlại công bằng cho chủ sử dụng đất Trong quá trình sử dụng đất không tránh khỏiviệc xảy ra tranh chấp, kiện tụng giữa các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân với nhau.Đặc biệt, là với đất lâm nghiệp, diện tích lớn, khó quản lý, việc cấp GCNQSDĐcòn hạn chế Lúc này, chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong việcgiải quyết các tranh chấp, khiếu nại diễn ra tại địa phương Khuyến khích các bêntranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải ở cơ sởluôn là biện pháp ưu tiên hàng đầu khi thực hiện công tác này
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng đất lâm nghiệp
1.1.5.1 Nhân tố tự nhiên
Trang 31Nhóm các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng đến việc quản lý sử dụng đất lâmnghiệp: vị trí địa lý, địa hình, khí hậu thủy văn, đất đai thổ nhưỡng …
Nước ta nằm trong vùng nội chí tuyến gió mùa mang đặc trưng của khí hậunhiệt đới ẩm gió mùa với nhiệt, ẩm dồi dào, thuận lợi cho thảm thực vật rừng pháttriển đa dạng và phong phú Cho nên hình thành diện tích rừng rộng lớn, bao gồmnhiều loại rừng như rừng cây lá rộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng rụng lá,rừng trên núi đá vôi, rừng hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng lá kim, rừng tre nứa,rừng ngập mặn, rừng tràm, rừng ngập nước ngọt… do đó công tác quản lý rừngtrên phần đất quy định của Nhà nước đặt ra nhiều yêu cầu để bảo vệ và phát triểnvốn rừng phục vụ cho các mục tiêu khác nhau, đặc biệt là nhóm rừng đặc dụng vàrừng phòng hộ như thống kê, đo đạc, rà soát… diện tích rừng và đất rừng
Với địa hình đồi núi đã tạo không ít khó khăn cho các cán bộ quản lý trongviệc đi lại, quản lý và chăm sóc cây rừng, không đi sâu đi sát được tất cả diện tíchđất quản lý, nhất là địa bàn vùng sâu, vùng xa, cho nên một số đối tượng đã lợidụng điều đó để khai thác gỗ lậu trái phép Các hiện tượng thời tiết bất thường nhưhạn hán, gió Tây khô nóng gây ra nạn cháy rừng, ảnh hưởng đến những cánh rừngmới trồng hay một số vùng núi cao do mưa nhiều, có lũ quét, lũ ống… làm sạt lởđất ảnh hưởng tới một phần diện tích rừng Những hiện tượng trên không thể tránhkhỏi nên yêu cầu đặt ra cho các cán bộ quản lý phải đưa ra các giải pháp phòngngừa, hạn chế tổn thất đến mức thấp nhất đặc biệt là nạn cháy rừng rất dễ xảy ravào mùa khô nóng Nước ta có đất feralit rất phổ biến, ngoài ra còn có đất nâu đỏ,đất đen, đất xám chủ yếu được sử dụng để trồng và phát triển rừng Chất lượng đấttốt, đa dạng về chủng loại tạo điều kiện phát triển nhiều cây rừng Bên cạnh đó, đặt
ra việc quy hoạch sử dụng các loại đất phù hợp để sử dụng hợp lý, hiệu quả, tránhchuyển đổi mục đích sử dụng trái phép phá vỡ quy hoạch
Tóm lại, điều kiện tự nhiên của nước ta mang lại những thuận lợi và không ítkhó khăn trong công tác quản lý sử dụng đất lâm nghiệp Điều quan trọng là tậndụng được lợi thế và khắc phục các hạn chế để quản lý hiệu quả
Trang 321.1.5.2 Nhân tố kinh tế
Cơ chế khuyến khích kinh tế có thể đóng vai trò quan trọng khuyến khích các hoạt động hợp pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp Tuy nhiên, mặt khác những cơ chế khuyến khích kinh tế mạnh cũng có thể dẫn đến các hoạt động bất hợp pháp
Lợi ích trực tiếp từ tài nguyên rừng là một cơ chế khuyến khích quan trọngđối với chủ rừng, kể cả hình thức chủ rừng là cá nhân và tập thể để thực hiện cáchoạt động hợp pháp Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và Luật Đất đai cho phépnhững người sử dụng rừng và đất theo quy định của pháp luật được hưởng lợi íchlâu dài từ tài nguyên rừng được giao Cơ chế chia sẻ lợi ích chính thức được xácđịnh trong Quyết định 178
Hình 1.1: Sơ đồ phân tích cơ chế hưởng lợi từ Quyết định 178
(Nguồn: Bảo Huy, Phillips Roth (RDDL/GFA/GTZ), 2006)
Tuy nhiên, do thiếu tính rõ ràng, phương thức tính toán lợi ích áp dụng chocác chủ rừng cụ thể rất phức tạp và khó có thể giám sát trong quá trình phân chialợi ích Vì vậy, quá trình áp dụng thực tế cơ chế này tại cấp hiện trường rất chậm.Mặt khác, việc sắp xếp chia sẻ lợi ích theo truyền thống lại không được luật phápcông nhận và có thể bị coi là bất hợp pháp Ví dụ, luật tục cho phép khai thác gỗ đểlàm nhà khi có giấy phép của cộng đồng nhưng theo hệ thống luật pháp hiện hànhthì người dân phải có giấy phép khai thác do cơ quan chức năng ở địa phương cấp,
Trang 33nếu không thì hành động khai thác gỗ được coi là trái phép Những người có địa vịtrong cộng đồng thường chi phối quá trình ra quyết định theo luật tục và thườngđưa ra kế hoạch phân bổ lợi ích rừng phục vụ cho mối quan tâm của họ.
Bên cạnh đó, cơ chế khuyến khích kinh tế mạnh đi cùng với tính tự giác, ýthức kỷ luật cá nhân kém của một số công chức nhà nước là cơ sở để họ lợi dụngchức quyền, cản trở các hoạt động lâm nghiệp hợp pháp và khuyến khích các hoạtđộng bất hợp pháp Các hoạt động được ghi chép lại thường xuyên bao gồm thu phítrái phép không theo quy định để phê duyệt kế hoạch khai thác hoặc vận chuyểnhợp pháp, hoặc cấp giấy cho khai thác gỗ và hoạt động lâm nghiệp trái phép Trongnhiều trường hợp, cán bộ địa phương, bao gồm cả đội ngũ cán bộ thuộc hệ thốngsản xuất (lâm trường) và trong hệ thống QLNN (như Cục Lâm nghiệp và Cục KiểmLâm) cũng tham gia hoặc dính lứu đến các hoạt động bất hợp pháp
Cho nên,cơ chế khuyến khích kinh tế cần được tính toán thận trọng, cũngnhư các giải pháp để thực thi nó, ngăn chặn các hành vi bất hợp pháp
1.1.5.3 Nhân tố chính sách, pháp luật
Nhằm quản lý sử dụng đất đai có hiệu quả, trong những năm gần đây Nhànước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật và dưới luật có liên quan đến quản lý sửdụng đất đai Trong đó quan trọng nhất phải kể đến văn bản sau:
- Nghị định 01/CP ngày 4 tháng 1 năm 1995 về việc giao khoán đất sử dụngvào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong cácdoanh nghiệp Nhà nước
- Nghị định 02/CP ngày 15 tháng 1 năm 1994 của chính phủ về việc giao đấtlâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mụcđích lâm nghiệp
- Nghị định 163/1999 của CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 về việc giaokhoán, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổnđịnh lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
- Quyết định 178/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về quyền hưởng
Trang 34lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
- Luật bảo vệ và phát triển rừng 2004
- Luật đất đai 2013
Bên cạnh đó, khuôn khổ pháp luật hiện hành thay đổi quá nhanh chóng nên chỉ một số ít người dân hiểu được yêu cầu của luật pháp do vậy gây bối rối cho người dân ở cấp thực thi
Hệ thống luật pháp thiếu các chỉ số thích hợp và cơ chế để huy động ngườidân tham gia vào giám sát việc tuân thủ luật pháp Các quy định về giám sát vàthực hiện luật lỏng lẻo dường như khuyến khích tình trạng lách luật, lạm dụng luật.Thiếu cơ chế phạt áp dụng đối với các hoạt động gây thiệt hại về kinh tế trong quátrình thực hiện các quy định và luật hiện thời cũng khuyến khích sự gia tăng củacác hoạt động bất hợp pháp
Một vấn đề khác là sự thiếu thừa nhận luật tục đã làm cho người dân khôngtích cực tham gia giám sát thừa hành pháp luật Sự bất cập giữa hai hệ thống luậtpháp và luật tục tạo ra mối đe dọa tiềm tàng đối với các hoạt động bất hợp pháp khiluật pháp không thừa nhận các quy tắc truyền thống được người dân tôn trọng quanhiều thế hệ
Trên thực tế, người dân địa phương tuân thủ luật tục lại vi phạm luật pháp và
vì vậy các hoạt động của họ bị coi là bất hợp pháp Khi người dân mất lòng tin vàoquyền hưởng dụng đất đai theo luật tục và quan niệm tài nguyên rừng là tài sản củanhà nước, họ không còn cảm thấy có nghĩa vụ quản lý tài sản đó một cách hợp pháp
và bền vững Thay vào đó, họ cố gắng tận dụng mọi cơ hội có được để tiếp cận tàinguyên rừng vì các lợi ích của mình
1.1.5.4 Nhân tố xã hội
Nhận thức của người dân về vai trò của rừng, đất rừng cũng như công tácbảo vệ rừng và đất rừng ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý sử dụng đất lâmnghiệp Bởi lẽ người dân sẵn sàng chặt phá rừng chỉ để phục vụ lợi ích bản thân
Trang 35mình, khi mà nguồn thu nhập chính chủ yếu dựa vào rừng, đặc biệt với các vùng còn khó khăn, vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.
Các chương trình lâm nghiệp cộng đồng đã gắn liền việc tăng thu nhập cho người dân địa phương với các mục đích về môi trường hay bảo vệ rừng Đây
thường là bước đầu tiên để đưa người dân địa phương vào lĩnh vực quản lý lâm nghiệp Trong một chừng mực nhất định, các hợp đồng khoán bảo vệ ở Việt Nam làmột ví dụ về sự thành công Người dân địa phương, đặc biệt là các nhóm hộ, trực tiếp tham gia vào bảo vệ những khu rừng được giao Họ được hưởng những lợi ích
từ lâm sản ngoài gỗ (rất hạn chế) và nhận một khoản tiền (khá lớn) từ các hoạt độngbảo vệ Một nghiên cứu về mối quan hệ giữa giảm nghèo và ngành rừng ở Việt Nam đã chỉ ra ba quan hệ chính được miêu tả ngắn gọn như sau:
- Đó là những mối quan hệ nhân quả quan trọng giữa sự biến đổi sinh kếnông thôn và những thay đổi mạnh mẽ về độ che phủ rừng bởi hai yếu tố này xuấthiện trên cùng vị trí địa lý và cùng thời gian
- Đời sống của người nghèo ở các vùng sâu vùng xa ở nông thôn phụ thuộc khá nhiều vào nguồn hàng hóa và dịch vụ môi trường từ các rừng tự nhiên
- Mặc dù vẫn phụ thuộc vào rừng, một số người dân nông thôn vẫn có lợi íchlớn từ việc mất rừng thông qua việc chuyển đổi đất rừng thành đất nông nghiệp,khai thác và bán gỗ cũng như các sản phầm từ rừng khác lấy tiền làm vốn
Vậy để quản lý tốt rừng thì cũng cần tìm ra các giải pháp giảm nghèo hay cảithiện sinh kế cho người dân sống gần rừng như tạo việc làm, tạo điều kiện chongười dân được hưởng lợi từ rừng như gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các dịch vụ môitrường (khôi phục độ màu mỡ cho đất, duy trì lượng nước và bảo vệ chất lượngnước…), tránh việc chuyển đổi rừng sang sản xuất nông nghiệp
Trang 36Hình 1.2: Mô hình tứ diện về đời sống con người và độ che phủ rừng
Chất lượng của độ che phủ rừng
- “Được - Được” nghĩa là giảm nghèo và bảo vệ môi trường được thừa nhận
là luôn đi đôi với nhau
- “Được - Mất” nghĩa là thành công trong công tác giảm nghèo gây ra suy giảm rừng và đa dạng sinh học
- “Mất - Được” nghĩa là an toàn sinh kế của người dân không còn nữa vì họ
không được phép sống gần rừng
- “Mất - Mất” nghĩa là cả người dân địa phương và môi trường bị thua thiệt
1.1.5.5 Nhân tố khoa học và công nghệ
Việc tăng cường công tác nghiên cứu khoa học đặc biệt là các nghiên cứuchuyên sâu về các trạng thái rừng, các kiểu rừng, các loài cây có giá trị kinh tế cao,cây đa tác dụng… tạo cơ sở cho các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách có cơ
sở khoa học vững chắc giúp quản lý hiệu quả và nâng cao giá trị sản phẩm từ rừng
Tăng cường quản lý chất lượng về giống song song với việc đầu tư chiều sâucho nghiên cứu thử nghiệm giống mới, giống tốt sinh trưởng nhanh đáp ứng đượcmục tiêu trồng rừng; xây dựng chương trình chọn giống có định hướng cho các loàicây chủ yếu, có giá trị kinh tế cao phục vụ cho chương trình trồng rừng nguyên liệugiấy tập trung giúp tạo ra các cánh rừng trồng phát triển tốt, đem lại hiệu quả cao
Trang 37Xây dựng mô hình nông lâm kết hợp, mô hình canh tác trên đất dốc để chuyển giao
kỹ thuật canh tác bền vững tới các hộ tham gia sản xuất lâm nghiệp Chuyển giao
và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất lâm nghiệp.Đặc biệt áp dụng công nghệ mô tế bào vào sản xuất cây con đối với một số loài câyvừa cho hiệu quả kinh tế, phát huy chức năng phòng hộ và làm đẹp cảnh quan.Từng bước thực hiện quản lý sản xuất theo các tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững
và tiến tới được cấp chứng chỉ rừng bền vững (FSC) tạo điều kiện thuận lợi cạnhtranh hàng gỗ xuất khẩu
Tóm lại, yếu tố khoa học công nghệ ngày càng được chú trọng, có vai trò to lớn giúp cho việc quản lý có cơ sở khoa học để tiến hành cũng như mang lại năng suất hiệu quả đất cao
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý sử dụng đất lâm nghiệp
Thực tế cho thấy chính phủ Việt Nam đã có chủ trương quản lý, sử dụng đấtlâm nghiệp dựa vào cộng đồng thông qua các chính sách giao đất giao rừng, xâydựng các hương ước, quy ước bảo vệ rừng thôn buôn Từ năm 1999 với sự tài trợcủa các dự án phi chính phủ, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã thành lậpnhóm lâm nghiệp cộng đồng quốc gia để đánh giá và đề xuất các mô hình quản lýrừng cộng đồng ở Việt Nam Đồng thời trong vòng 10 năm trở lại đây, các cách tiếpcận có sự tham gia đã được áp dụng trong phát triển nông thôn, đây là cách làm tiến
bộ để xây dựng phương pháp quản lý rừng và đất lâm nghiệp có hiệu quả dựa vàongười dân
Quản lý rừng cộng đồng đã được thực hiện từ trước đây trưong các hệ thốngquản lý rừng truyền thống của các cộng đồng dân tộc miền núi nước ta Ngày nayphương thức này vẫn đang được tiến hành ở nhiều địa phương Yếu tố quyết định
sự thành công của hệ thống quản lý rừng này là sự nhất trí của toàn thể người dânkhi thực thi các điều khoản trong hương ước bảo vệ rừng của cộng đồng, sự tổ chứcchặt chẽ của cộng đồng và sự phân chia quyền lợi các sản phẩm từ rừng trên cơ sởbình đẳng giữa các thành viên trong cộng đồng Phương thức quản lý rừng có sự
Trang 38tham gia của cộng đồng người dân sống gần rừng đã chứng tỏ tính hiệu quả về mặtKTXH và bền vững về mặt sinh thái môi trường, phù hợp với chính sách giao đấtgiao rừng của nước ta hiện nay [7].
Thực hiện Nghị định 163 và Quyết định 178 của Chính phủ, cho đến thờiđiểm năm 2003, ước tính người dân đã tham gia quản lý khoảng 2,5 triệu ha đấtlâm nghiệp, trong đó một số tỉnh đã thí điểm và triển khai giao rừng cho cộng đồng,
đi tiên phong là tỉnh Đăk Lăk giao 8.000 ha, tỉnh Sơn La giao 105.000 ha rừng tựnhiên cho hộ, nhóm hộ, cộng đồng thôn bản quản lý Từ đây đã bước đầu rút rakinh nghiệm ở các tỉnh về giao rừng tự nhiên cho các cộng đồng thôn bản, kết quảcho thấy phương thức này đã được người dân ủng hộ vì đã gắn lợi ích của họ vớirừng và hài hòa giữa lợi ích của nhà nước với lợi ích cộng đồng [9]
Các tỉnh đã tiến hành giao rừng tự nhiên bao gồm Đăk Lăk, Thừa Thiên Huế,Sơn La, các khu rừng, đất lâm nghiệp được giao ở các tỉnh phía bắc chủ yếu là đấttrống, rừng non, trong khi đó ở Tây Nguyên đã thử nghiệm giao cả các khu rừngtốt Từ đây đã tổng kết được kinh nghiệm bước đầu của tiến trình này
Hiệu quả quản lý rừng và đất rừng bởi cộng đồng đã được khẳng định:
- Thực tế cho thấy rừng giao cho cộng đồng được quản lý tốt hơn, người dân
có niềm tin và ý thức được rừng là tài sản của mình, kết quả này được khẳng định ởhầu hết các địa phương giao rừng
- Người dân đã quan tâm đầu tư vào các khu rừng của mình, một số khu rừng
giao đã được cộng đồng đầu tư chăm sóc, làm giàu rừng, áp dụng kiến thức bản địa
để kinh doanh, ở tỉnh Đăk Lăk, hoạt động sau giao đất giao rừng đã được triển khai
ở một số nơi như cộng đồng đã tổ chức phân công bảo vệ rừng, đặc biệt là hoạtđộng kinh doanh rừng với sự tham gia trực tiếp của cộng đồng, tạo ra thu nhập từrừng thông qua công tác lâm sinh như tỉa thưa [1]
- Quản lý rừng cộng đồng dựa trên luật tục truyền thống và các quy ước,hương ước được phát triển bởi chính cộng đồng đã tỏ ra có hiệu lực trong đời sống
Trang 39cộng đồng và góp phần thu hút lực lượng nhân dân trong bảo vệ rừng, họ không còn đứng ngoài cuộc với tình trạng phá rừng.
* Nghiên cứu về kiến thức bản địa và phương pháp tiếp cận trong phát triểncông nghệ có sự tham gia nghiên cứu về tập quán, truyền thống quản lý tài nguyênthiên nhiên của các cộng đồng dân tộc thiểu số đã được nhiều nhà nghiên cứu về xãhội đề cập [12], Việt Nam với 54 dân tộc sinh sống trên các điều kiện tự nhiên khácnhau đã tạo ra sự đa dạng về văn hóa, tập tục và kinh nghiệm truyền thống khácnhau, nó đóng góp quan trọng trong đời sống của các cộng đồng, đặc biệt là cộngđồng dân tộc thiểu số vùng cao Đến nay, kiến thức bản địa đã được thừa nhận như
là một nguồn tài nguyên quan trọng làm cơ sở để phát triển bển vững
Trong bối cảnh phát triển xã hội vùng cao, đã có nhiều tác động đến truyềnthống, luật tục của người bản địa Giữa các dân tộc luôn có sự giao thoa văn hóa,học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm lẫn nhau Trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, thaycho kiến thức bản địa thì khái niệm kiến thức sinh thái địa phương được hình thành,
nó bao gồm kiến thức bản địa và kiến thức mới được chấp nhận trong cộng đồng,tập trung vào khía cạnh kỹ thuật, sinh thái để quản lý tài nguyên thiên nhiên; đâychính là một phương hướng cần được nghiên cứu để làm cơ sở phát triển công nghệthích ứng [4]
Trên cơ sở kiến thức sinh thái địa phương, phương pháp tiếp cận có sự thamgia để phár triển công nghệ, kỹ thuật kinh doanh, quản lý tài nguyên đã được pháttriển Đây là phương pháp lồng ghép kiến thức địa phương và kiến thức khoa học
để phát hiện công nghệ mới, và công nghệ này phải phù hợp với điền kiện cộngđồng Có thể kể ra nhiều kiểu dạng khác nhau trong nghiên cứu có sự tham gia nhưnghiên cứu có sự tham gia của nông dân (Farmer participatory research), nghiêncứu hướng đến nông dân (Farmer-led research), nghiên cứu hành động có sự thamgia (Participatory action research), nghiên cứu trên nông trại có sự tham gia(Participatory on-farm research), tất cả những phương pháp nghiên cứu này đềunhằm phát hiện những điều mới và thử nghiệm thích ứng với những điều kiện cụ
Trang 40thể với hệ thống canh tác của nông dân Đặc biệt là nó phải thừa nhận kiến thức địaphương như là một điều cốt yếu để phát triển các đổi mới hữu ích [25].
Cũng với định hướng như nghiên cứu có sự tham gia bao gồm việc kết hợpkiến thức địa phương với khoa học để phát hiện ra cái mới trong sản xuất, quản lý;phương pháp phát triển công nghệ có sự tham gia mang tính thực tiễn hơn, nóhướng đến các hoạt động phát triển công nghệ do nông dân lựa chọn và quản lý, nóbảo đảm cho việc lan rộng các thử nghiệm thành công để cải thiện đời sống nôngdân và quản lý tài nguyên thiên nhiên Participatory Technology Development(PTD) là dự án hỗ trợ lâm nghiệp “Phát triển công nghệ có sự tham gia” được giớithiệu vào Việt Nam trong vòng bốn năm trở lại đây và được thử nghiệm ở các hiệntrường của dự án Hỗ trợ lâm nghiệp xã hội do chính phủ Thụy Sĩ thuộc các tỉnhHòa Bình, Thừa Thiên - Huế, Đăk Lăk, Lâm Đồng, các kinh nghiệm đã được tổngkết để phát triển thành “Sổ tay hướng dẫn” [2] Gần đây tỉnh Hòa Bình đã đánh giácao phương pháp này và đã thể chế hóa nó vào hệ thống khuyến nông lâm của tỉnh.Tuy nhiên PTD được áp dụng trong giai đoạn qua ở các địa phương chủ yếu tậptrung vào việc thử nghiệm đổi mới canh tác nông lâm nghiệp, chưa gắn với tiếntrình phát triển phương thức và lập kế hoạch quản lý rừng dựa vào cộng đồng Cónghĩa PTD cần được xem xét ứng dụng trong tiến trình phát triển, lập kế hoạchquản lý rừng dựa vào cộng đồng: bao gồm tiến hành PTD theo từng chủ đề trêntừng đối tượng trạng thái rừng, đất rừng khác nhau để làm cơ sở xác lập hệ thốnggiải pháp lâm sinh tổng hợp dựa vào kiến thức sinh thái địa phương và lồng ghép
nó vào kế hoạch quản lý kinh doanh rừng sau khi giao đất giao rừng Vì kế hoạchquản lý rừng cộng đồng không chỉ là kế hoạch khai thác gỗ củi mà nó còn phải tổchức phát triển rừng để nâng cao năng suất, hiệu quả và đa dạng hóa sản phẩmtrong kinh doanh rừng
1.3 Bài học kinh nghiệm
Từ kết quả triển khai, một số kỹ thuật và phương pháp tiếp cận giao đất giaorừng được tổng kết và rút kinh nghiệm: