Nghị quyết số 29NQTW ngày 4112013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lí luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” Theo đường lối chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định xây dựng chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 theo định hướng phát triển giao tiếp. Nắm bắt được tinh thần đổi mới, mỗi giáo viên đã và đang nghiên cứu đề xuất và thực hiện nhiều giải pháp hiệu quả trong việc đổi mới phương pháp dạy học. Đây là tiền đề vô cùng quan trọng để ngành giáo dục thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dục hiện nay.Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của đơn vị cho thấy sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực của học sinh chưa nhiều. Dạy học vẫn nặng truyền thụ kiến thức, hoàn thành đầy đủ nội dung giáo án đã định sẵn. Việc rèn luyện kỹ năng, hình thành phẩm chất, năng lực có được quan tâm nhưng hiệu quả chưa cao, điều đó dẫn tới việc học sinh thụ động, lúng túng khi giải quyết những vấn đề trong thực tiễn.
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 LỜI GIỚI THIỆU
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI vềđổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đàotạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trìnhgiáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chấtngười học Học đi đôi với hành; lí luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợpvới giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” Theo đường lối chỉ đạo của Đảng và Chínhphủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định xây dựng chương trình giáo dục phổ thôngsau 2015 theo định hướng phát triển giao tiếp
Nắm bắt được tinh thần đổi mới, mỗi giáo viên đã và đang nghiên cứu đề xuất
và thực hiện nhiều giải pháp hiệu quả trong việc đổi mới phương pháp dạy học Đây làtiền đề vô cùng quan trọng để ngành giáo dục thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dụchiện nay.Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của đơn vị cho thấy sự sáng tạo trong việc đổimới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực của học sinh chưa nhiều Dạy họcvẫn nặng truyền thụ kiến thức, hoàn thành đầy đủ nội dung giáo án đã định sẵn Việcrèn luyện kỹ năng, hình thành phẩm chất, năng lực có được quan tâm nhưng hiệu quảchưa cao, điều đó dẫn tới việc học sinh thụ động, lúng túng khi giải quyết những vấn
đề trong thực tiễn
Ngữ văn là môn học có những khả năng đặc biệt, có ưu thế trong việc hìnhthành phẩm chất, năng lực cho HS.Việc khai thác hiệu quả giờ học Ngữ văn là yếu tốquan trọng góp phần đổi mới toàn diện nền giáo dục đào tạo gắn với bốn mục tiêu
quan trọng của giáo dục:“học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình”
Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) thuộc lớp nhà văn chiến sĩ trưởng thànhtrong kháng chiến chống Mĩ Sau 1975, khi văn chương chuyển hướng khám phá trở
về với đời thường, Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn đầu tiên củathời kì đổi mới đã đi sâu khám phá sự thật đời sống ở bình diện đạo đức thế sự Tâmđiểm những khám phá nghệ thụât của ông là con người trong cuộc mưu sinh, tronghành trình nhọc nhằn kiếm tiền hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách…
Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu là một tác phẩm
tiêu biểu cho thời kì đổi mới văn học sau năm 1980 Tác phẩm in đậm phong cách tự
sự - triết lí của Nguyễn Minh Châu, rất tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc
Trang 2độ thế sự của nhà văn ở giai đoạn sáng tác thứ hai.Truyện ra đời trong hoàn cảnh đấtnước ta đang dần đổi mới, cuộc sống kinh tế có nhiều mặt trái , nhiều tồn tại khiến
người ta phải băn khoăn Truyện ngắn lúc đầu được in trong tập Bến quê (1985), sau
được nhà văn lấy làm tên chung cho một tuyển tập truyện ngắn (in năm 1987)
Bản thân tôi là một giáo viên đang trực tiếp tham gia vào công việc “Trồng người” tôi luôn ý thức rằng: việc nâng cao năng lực cho học sinh thông qua các giờ
học trong môn Ngữ văn là vô cùng cần thiết nhằm rèn luyện nhân cách cho học sinh
Xuất phát từ những lí do trên, tôi đã mạnh dạn thực hiện đề tài“Phát triển năng lực cho học sinh trong dạy Ngữ văn ở trường THPT ứng dụng vào thực tiễn dạy bài học
“Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu làm sáng kiến của mình trong năm
6 NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU
Sáng kiến này chính thức được áp dụng lần đầu vào ngày 9/04/2020
7 MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN
7.1 Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tíchcực hóa học sinh về mặt trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắnvới những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệvới hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan
hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triểnnăng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn
Trang 3học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lựcgiải quyết các vấn đề phức hợp.
Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, là tác phẩm thể
hiện tính chất thực tiễn cao, từ nội dung văn bản đề cập giáo viên sẽ giúp học sinh hìnhthành được những quan điểm đúng đắn, hành động cụ thể phù hợp với xu thế phát triểncủa đất nước ở hiện tại và trong tương lai
Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồng nghiệp, quanhiều năm, tôi thấy việc dạy – học các tác phẩm truyện trong chương trình tại đơn vịchưa thật phát huy và khơi dậy tối đa các năng lực của học sinh Điều đó, thể hiện ởnhững tồn tại sau:
- Dạy học đọc – hiểu còn mang nặng tính truyền thụ một chiều Nhìn chung vẫn
là chú trọng dạy kiến thức hơn là hình thành kỹ năng
- Dạy học tích hợp đã được chú trọng, tuy nhiên, dạy học tích hợp vẫn mangtính khiên cưỡng, nội dung tích hợp vào bài học như bảo vệ môi trường, giáo dục kỹnăng sống… một cách cứng nhắc Chưa làm cho học sinh huy động kiến thức, kỹ năngcủa nhiều môn học, nhiều lĩnh vực… để giải quyết các nhiệm vụ học tập Việc tíchhợp nội môn và tích hợp liên môn chưa thực sự hiệu quả, chính vì vậy chưa giúp họcsinh hình thành kiến thức, kỹ năng mới và tất nhiên các năng lực của học sinh chưađược phát triển
- Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực còn mang tínhhình thức Phương pháp thảo luận nhóm được tổ chức nhưng chủ yếu vẫn dựa vào mộtvài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các thành viên còn lại còn dựa dẫm, ỉ lại chưathực sự chủ động Mục đích của thảo luận nhóm chưa đạt được tính dân chủ, mọi cánhân được tự do bày tỏ quan điểm, thói quen bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bấtđồng để hình thành quan điểm cá nhân
- Phương pháp đóng vai thực sự là phương pháp chưa được giáo viên chú trọng.Nếu có thực hiện thì chỉ là dạng bài viết, việc xử lí tình huống giả định, trình bày mộtvấn đề chưa được quan tâm đúng mức Vì vậy mà học sinh ít có cơ hội bày tỏ thái độ,chưa hững thú, chưa hình thành được các kỹ năng và năng lực của người học
Mặc dù đã có giáo viên thực hiện thay đổi phương pháp dạy học, thay đổi cáchthức tổ chức giờ học song kết quả chưa đạt được như mong muốn mà nguyên nhân là:
+ Về phía giáo viên: Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng không được thựchiện một cách triệt để, vẫn còn nặng về phương pháp truyền thống truyền thụ một
Trang 4chiều Bên cạnh đó việc ứng dụng CNTT trong dạy học cũng hạn chế một phần là do
kỹ năng sử dụng máy chiếu hay bảng thông minh của họ hạn chế, vì vậy họ ngại ápdụng vì mất thời gian
+ Về phía học sinh: Học sinh ở trường THPT X đa số là học sinh vùng nôngthôn, thuần nông, kinh tế còn hạn hẹp nên việc tiếp cận và tìm tòi những thông tin thời
sự phục vụ cho bài học còn hạn chế Một số học sinh chưa có phương pháp học tậpphù hợp, chưa tích cực trong việc tìm tòi nghiên cứu bài học
+ Cơ sở vật chất của nhà trường đặc biệt là CNTT còn hạn chế dẫn đến khôngđáp ứng tốt cho việc đổi mới phương pháp dạy học
Yêu cầu đặt ra là phải thay đổi, thay đổi cả ở người dạy và ở người học để saumỗi bài dạy – học học sinh không chỉ có được hiểu biết (kiến thức) mà còn phải pháttriển được năng lực bản thân, có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu về đổi mới giáodục
7.2 Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
7.2.1 Cơ sở lí luận
7.2.1.1 Khái niệm về năng lực
Năng lực (competency, có nguồn gốc tiếng Latinh là "competentia") được hiểutheo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng nghĩa thông dụng nhất là sự thành thạo, khả năngthực hiện của cá nhân đối với một công việc Nội hàm của khái niệm năng lực baogồm các kiến thức, kĩ năng và thái độ mà một cá nhân có thể hành động thànhcông/giải quyết thấu đáo một nhiệm vụ trong các tình huống mới
Theo từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên ) “Năng lực là khả năng, điều
kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó Năng lực làphẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt độngnào đó với chất lượng cao”
Theo Chương trình giáo dục phổ thông, năng lực được quan niệm là thuộc tính
cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính
cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể; phẩm chất là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người.
Trang 5Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướngphát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hành năm 2014 thì
“Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiên thức,
kỹ năng với thái độ tình cảm, giá trị, động cư cá nhân nhằm đáp ứng hiệu quả một yêucầu phức hợp của hoạt động trong bối cản nhất định
Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng tất cảnhững yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua học tập) để giảiquyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống
7 2.1.2 Dạy học phát triển năng lực trong đọc hiểu văn bản môn Ngữ văn ở trường phổ thông.
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trìnhgiáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quantâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việchọc Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối
“truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹnăng, hình thành năng lực và phẩm chất Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mớiquan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm pháttriển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của cácmôn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm pháttriển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạyhọc truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng việc cảitiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Để nâng cao hiệu quả củacác phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu
và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hànhbài lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹthuật làm mẫu trong luyện tập Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống cónhững hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kếthợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thứccủa học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học phát triển năng lực người học được xem như một nội dung giáo dục,một phương pháp giáo dục như phương pháp dạy học nêu vấn đề, phương pháp dạyhọc phát huy tính tích cực của học sinh Điểm khác nhau giữa các phương pháp là ở
Trang 6chỗ dạy học phát triển năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòihỏi người dạy phải có năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây.
Các nhà lí luận và phương pháp học cho rằng: Dạy học phát triển năng lực làphương pháp tích tụ dần dần các yếu tố của năng lực người học để chuyển hóa và gópphần cho việc hình thành, phát triển nhân cách
Dạy học phát triển năng lực người học được xem như một nội dung giáo dục,một phương pháp giáo dục như phương pháp dạy học nêu vấn đề, phương pháp dạyhọc phát huy tính tích cực của học sinh Điểm khác nhau giữa các phương pháp là ở
chỗ dạy học phát triển năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn, đòi
hỏi người dạy phải có năng lực giảng dạy nói chung cao hơn trước đây Điều quan
trọng hơn cả là nếu so sánh với các quan niệm dạy học trước đây, việc dạy học phát triển năng lực sẽ làm cho việc dạy và việc học được tiếp cận gần hơn, sát hơn với mục
tiêu hình thành và phát triển nhân cách con người
7.2.2 Các giải pháp nâng cao năng lực học sinh qua giờ đọc hiểu truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu (Chương trình Ngữ văn 12)
7.2.2.1 Giải pháp 1: Xác định rõ những năng lực cần hình thành cho HS.
Chương trình GDPT mới hướng đến hình thành 10 năng lực cho học sinh Đây
là những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một sốmôn học, hoạt động giáo dục nhất định Đó là:
- Năng lực ngôn ngữ: Sử dụng Tiếng Việt; Sử dụng ngoại ngữ
- Năng lực tính toán: Hiểu biết kiến thức toán học phổ thông cơ bản; Biết cáchvận dụng các thao tác tư duy, suy luận, tính toán, ước lượng, sử dụng các công cụ tínhtoán và dụng cụ đo,…; đọc hiểu, diễn giải, phân tích, đánh giá tình huống có ý nghĩatoán học
7.2.2.2 Giải pháp 2: Xác định rõ các phương pháp, hình thức và kĩ thuật tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát triển năng lực học sinh.
Trang 7Đối với môn Ngữ văn, khi vận dụng các phương pháp dạy học phát huy tínhtích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh như giải quyết vấn đề, dạy học khámphá, dạy học theo dự án,…cần chú ý đến sự khác biệt về năng lực và sở thích của mỗihọc sinh trong tiếp nhận văn bản, nhất là các văn bản văn học để có cách tổ chức dạyhọc phân hóa phù hợp; đặc biệt chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, qua đóhướng dẫn học sinh biết kiến tạo tri thức và nền tảng văn hóa cho bản thân từ nhữngcảm nhận, suy nghĩ và những trải nghiệm của cá nhân trong cuộc sống Tăng cườngtính giao tiếp, khả năng hợp tác của học sinh trong giờ học Ngữ văn qua các hoạt độngthực hành, luyện tập, trao đổi, thảo luận,…vận dụng các phương pháp dạy học theođặc thù của môn học và các phương pháp dạy học chung một cách phù hợp nhằm từng
bước nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn
Để nâng cao năng lực cho HS thông qua giờ đọc hiểu truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu (Ngữ văn 12) Tác giả sáng kiến đề xuất các
phương pháp tổ chức sau:
a) Phương pháp Thảo luận nhóm:
Thảo luận nhóm là PPDH trong đó "HS được phân chia thành từng nhóm nhỏriêng biệt, chịu trách nghiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện thông quanhiệm vụ riêng biệt của từng người Các hoạt động cá nhân riêng biệt được tổ chức lại,liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung"
Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi HS tham gia mộtcách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức,kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung bài học; tạo cơhội cho các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhau hợp tác giải quyết nhữngnhiệm vụ chung
Trong quá trình giảng dạy, để tiết học diễn ra có hiệu quả khi áp dụng phươngpháp thảo luận nhóm, giáo viên cần có sự phân chia khoa học các bước trong khi thảoluận nhóm
a1 Các bước khi thảo luận nhóm
Bước 1: Chia nhóm: GV chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm khoảng từ4-6 người
Bước 2: Giao nhiệm vụ, vấn đề cần giải quyết cho từng nhóm
Bước 3: Giám sát hoạt động của từng nhóm
Trang 8Bước 4: Mỗi nhóm cử đại diện trình bày kết quả thảo luận của nhóm Các nhómkhác có thể phản biện.
Bước 5: Tổng kết đánh giá
Giáo viên nên nhân xét bài thuyết trình của từng nhóm sau khi các nhóm trìnhbày xong và đã có ý kiến phản biện của các nhóm khác Cuối cùng giáo viên chốt lạicác ý kiến, đưa ra định hướng đúng những vấn đề HS cần nhớ sau khi thảo luận
a 2 Phân loại phương pháp thảo luận
-Thảo luận có hướng dẫn: Toàn lớp hay nhóm nhỏ cùng đề tài thảo luận hoặckhác đề tài thảo luận, nhằm đưa ra nhiều ý kiến kết quả khác nhau từ đó thống nhấtchung lại
- Báo cáo xê-mi-na có thảo luận: Sau khi báo cáo chuyên đề, người nghe sẽ đónggóp ý kiến hoặc nêu thắc mắc, một hoặc nhiều người sẽ trao đổi ý kiến với người nghe,dẫn đến kết luận
Những vấn đề có thể gợi mở cho học sinh thảo luận khi đọc – hiểu Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu:
- Hai phát hiện của Phùng (Tìm điểm giống và khác của hai bức tranh hiện thựckhi chiếc thuyền ở xa và khi vào gần; )
- Những chuyển biến về nhận thức của Phùng và Đẩu
- Ý nghĩa chi tiết “Thằng nhỏ cho đến lúc này vẫn chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vào người đàn ông voà bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những dòng nước mắt” (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu).
- Ý nghĩa chi tiết Tấm ảnh nghệ thuật trong bộ lịch năm ấy…
Tùy vào từng đối tượng học sinh cụ thể, lượng thời gian cho phép và tính chất,mức độ vấn đề thảo luận để giáo viên lựa chọn thảo luận cặp đôi, cặp 3, nhóm trungbình (4 – 6 HS), nhóm lớn (8 – 10 HS)
Trang 9Khi dạy học phát huy năng lực của học sinh trong vận dụng phương pháp thảoluận nhóm, người viết sáng kiến đã vận dụng khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về nhânvật Người đàn bà Cụ thể như sau:
Hướng 1: chia 3 nhóm
Nhóm 1: Tìm hiểu về hoàn cảnh xuất thân của người đàn bà hàng chài?
Nhóm 2: Tìm hiểu về đặc điểm ngoại hình?
Nhóm 3: Tìm hiểu về cuộc sống gia đình?
Như vậy, có thể nói, nhờ áp dụng biện pháp thảo luận GV sẽ tạo cho giờ dạy học
tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu) thêm sôi động, hấp dẫn hơn Từ
đó giúp HS giải quyết vấn đề một cách thấu đáo, đồng thời hiểu sâu sắc hơn những giátrị đặc sắc trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu
b) Phương pháp đóng vai
Đóng vai là phương pháp giáo viên tổ chức cho học sinh thực hành để trình bàynhững suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một “vai giả định” Đây là phương phápgiảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách đứng từ chỗđứng, góc nhìn của người trong cuộc, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các emquan sát được từ vai của mình Phương pháp đóng vai giúp HS rèn luyện thực hànhnhững kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hànhtrong thực tiễn Đặc biệt phương pháp này rất có hiệu quả trong việc phát triển nănglực thẩm mĩ cho HS: Gợi hứng thú và chú ý cho học sinh; HS hình thành kĩ năng giaotiếp, có cơ hội bộc lộ cảm xúc; Tạo điều kiện làm phát triển óc sáng tạo của học sinh;
Trang 10Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo hướng tích cực; Có thể thấyngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn.
Đọc - hiểu văn bản Chiếc thuyền ngoài xa, HS có thể đóng vai:
- Đóng vai nghệ sĩ Phùng: Nhà văn đã trao điểm nhìn trần thuật cho Phùng,nhân vật – người kể chuyện Người kể chuyện đóng vai nhân vật nhảy vào các biến
cố, tham gia trực tiếp vào các diễn biến của cốt truyện, rồi kể lại cho bạn đọc nghe.Đóng vai Phùng, HS như đang kể lại chuyện mình trực tiếp chứng kiến, trực tiếptham gia vào biến cố câu chuyện (săn tìm được cảnh đắt trời cho – chiếc thuyền ngoàixa; chứng kiến cảnh bạo lực gia đình – chiếc thuyền khi ở gần; nói chuyện với Phác – đứa con; đánh lại gã chồng để tránh đòn cho người đàn bà; nghe lời trần tình, giãibày của người đàn bà ở tòa án huyện; hình ảnh Phùng một mình anh lang thang dọc
bờ biển với bao câu hỏi nhức nhối… …) Từ đó, các em trình bày những suy nghĩ vàcảm nhận của mình, suy nghĩ sâu sắc hơn
- Đóng vai người đàn bà; đóng vai chánh án Đẩu,…
Rõ ràng, khi nhập tâm vào nhân vật, hiểu rõ về nội dung tác phẩm, học sinhkhông chỉ thẩm thấu kiến thức, liên hệ rộng hơn về tác giả mà còn gắn kết những câuchuyện ngoài đời Đó chính là sự gắn kết giữa tác phẩm văn học với chất “Đời” gầngũi, từ đó nó giúp học trò hiểu thêm về cuộc sống đa chiều, cùng những giá trị tốt đẹpkhác phải nâng niu, vun xới từng ngày
Đóng vai, hóa thân là phương pháp hữu hiệu để học sinh thực sự sống với tácphẩm, với những rung động, suy nghĩ, trăn trở của nhân vật, người kể chuyện, nhàvăn Qua đó để học sinh cùng liên tưởng, tái tạo, đồng sáng tạo cùng tác giả Đóchính là sự phát triển năng lức thẩm mĩ ở mức độ cao cho người học
c) Phương pháp nghiên cứu tình huống
Phương pháp nghiên cứu tình huống là một phương pháp dạy học, trong đó
trọng tâm của quá trình dạy học là việc phân tích và giải quyết các vấn đề của mộttrường hợp(tình huống) được lựa chọn trong thực tiễn Với phương pháp này, học sinh
tự lực nghiên cứu một tình huống thực tiễn và giải quyết các vấn đề của tình huống đặt
ra, hình thức làm việc chủ yếu là làm việc nhóm Các tình huống được đưa ra là nhữngtình huống xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, tình huống đó đã gặp hoặc có thể gặphàng ngày Những tình huống đó chứa đựng vấn đề cần giải quyết Để giải quyết cácvấn đề đó đòi hỏi có những quyết định dựa trên cơ sở những giải pháp được đưa ra đểgiải quyết Trong nghiên cứu trường hợp, học sinh không phải ghi nhớ lý thuyết mà
Trang 11quan trọng là vận dụng kiến thức đã học vào việc giải quyết những tình huống cụ thể.Trong môn học Ngữ văn, nghiên cứu tình huống thường được thực hiện trong một sốnội dung sau: Phân tích một tình huống giao tiếp, tìm hiểu một văn bản văn học tiêubiểu cho một kiểu loại, tìm hiểu một vấn đề thực tiễn cuộc sống để tạo lập một vănbản.
Chẳng hạn, khi dạy truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh
Châu GV đặt HS vào tình huống giả định Nếu em là nhân vật Phùng, em sẽ làm gì khinhìn thấy người đàn bà bị chồng hành hạ, đánh đập? Thằng Phác bảo vệ mẹ nên đãđánh trả lại bố? Em có khuyên người đàn bà bỏ chồng không? Trước các câu hỏi đó,
HS sẽ đặt mình trong tình huống cụ thể để giải quyết vến đề, từ đó tạo cơ sở để việcđọc hiểu có hiệu quả hơn
- Năng lực tìm hiểu tự nhiên: Hiểu biết kiến thức khoa học; Tìm tòi và khámphá thế giới tự nhiên; Vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng xử với tự nhiên phù hợpvới yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường
- Năng lực tìm hiểu xã hội: Nắm được những tri thức cơ bản về đối tượng củacác khoa học xã hội; Hiểu và vận dụng được những cách tiếp cận và phương phápnghiên cứu cơ bản của khoa học xã hội; Nắm được những tri thức cơ bản về xã hội loàingười; Vận dụng được những tri thức về xã hội và văn hóa vào cuộc sống
- Năng lực Công nghệ: Thiết kế; Sử dụng; Giao tiếp; Đánh giá
- Năng lực Tin học: Sử dụng và quản lý các phương tiện, công cụ, các hệ thống
tự động hóa của công nghệ thông tin và truyền thông; Hiểu biết và ứng xử phù hợpchuẩn mực đạo đức, văn hóa và pháp luật trong xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức
Nhận biết và giải quyết vấn đề trong môi trường xã hội và nền kinh tế tri thức;Học tập, tự học với sự hỗ trợ của các hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin và truyềnthông
Giao tiếp, hòa nhập, hợp tác phù hợp với thời đại xã hội thông tin và nền kinh tếtri thức
- Năng lực thẩm mỹ: Nhận biết các yếu tố thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài, cáichân, cái thiện, cái cao cả); Phân tích, đánh giá các yếu tố thẩm mỹ; Tái hiện, sáng tạo
và ứng dụng các yếu tố thẩm mỹ
- Năng lực thể chất: Sống thích ứng và hài hòa với môi trường; Nhận biết và cócác kỹ năng vận động cơ bản trong cuộc sống; Nhận biết và hình thành các tố chất thể
Trang 12lực cơ bản trong cuộc sống; Nhận biết và tham gia hoạt động thể dục thể thao; Đánhgiá hoạt động vận động
Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dụcphổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của họcsinh
- Các năng lực mà môn Ngữ văn hướng đến:
+ Năng lực giải quyết vấn đề
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực hợp tác
+ Năng lực tự quản bản thân
+ Năng lực giao tiếp Tiếng Việt
+ Năng lực thưởng thức văn học / cảm thụ thẩm mỹ
Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là tác phẩm tiêu
biểu cho hướng tiếp cận đời sống từ góc độ thế sự, vì vậy khi hướng dẫn học sinh cảmthụ kiệt tác này, GV cần hướng tới việc hình thành đầy đủ các năng lực mà môn Ngữvăn Hướng tới, đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, cảm thụ thẩmmỹ…
7.2.2.2.2 Kỹ thuật dạy học phát triển năng lực
a) Kĩ thuật đặt câu hỏi
Trong dạy học phát triển năng lực học sinh và giáo viên cùng chủ động thamgia vào bài giảng Trong đó giáo viên đóng vai trò chủ yếu là người tổ chức, cố vấn, hỗtrợ học sinh lĩnh hội kiến thức Vì vậy giáo viên thường phải sử dụng các câu hỏi đểgợi mở, dẫn dắt học sinh tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới… Và đểđánh giá mức độ tiếp nhận kiến thức và kết quả học tập của học sinh Học sinh cũngthường xuyên phải sử dụng các câu hỏi để tìm kiếm sự tư vấn, gợi ý từ giáo viên vàcác bạn khác trong lớp… Do đó chúng ta có thể thấy được vai trò quan trọng của kỹthuật đặt câu hỏi trong dạy học phát triển năng lực
Việc sử dụng các câu hỏi một cách có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhaugiữa học sinh với giáo viên và học sinh với học sinh Kỹ thuật đặt câu hỏi càng tốt thìmức độ tham gia của vào bài học của học sinh càng cao, học sinh sẽ học tập tích cựchơn và được kích tư duy nhiều hơn trong quá trình học
Trang 13Mục đích sử dụng câu hỏi trong dạy học là để
Kích thích, dẫn dắt HS suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo điều kiện và kíchthích học sinh tham gia vào quá trình dạy học; kiểm tra, đánh giá mức độ làm chủ kiếnthức và kỹ năng cũng như sự quan tâm, hứng thú của học sinh đối với nội dung họctập; dẫn dắt, gợi mở và kích thích học sinh tư duy, tìm tòi và khám phá tri thức mới;định hướng, thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức cho học sinh
Các dạng câu hỏi thường dùng trong dạy học
Hiện nay có rất nhiều cách phân loại câu hỏi khác nhau Tuy nhiên, nếu xéttrong lĩnh vực dạy học và dựa trên mục đích, chức năng của câu hỏi thì có thể phân racác loại câu hỏi sau:
Câu hỏi đóng: Là dạng câu hỏi đơn giản chỉ có thể trả lời Đúng – Sai, Có –
Không hoặc có thể trả lời bằng một từ hoặc một câu ngắn Chúng thường được dùng
để thu nhận những thông tin cụ thể và về một sự thật nào đó Dạng câu hỏi này thườngdùng trong phần tổng kết bài học, sau phần giới thiêu bài hoặc sau khi giao nhiệm vụcho học sinh Không nên sử dụng dạng câu hỏi này trong thảo luận để chia sẻ thông tinhoặc để kích thích phát triển tư duy học sinh vì nó sẽ khiến cuộc thảo luận đi vào ngõcụt
Câu hỏi mở: Là dạng câu hỏi có nhiều hướng trả lời hay nhiều đáp án chấp
nhận được thường được dùng để đánh giá và thảo luận Dạng câu hỏi này giúp họcsinh phát hiện, giải quyết vấn đề, đồng thời kích thích trí tưởng tượng để tìm tòi khámphá và tiếp nhận tri thức mới
Câu hỏi mở kích thích học sinh đào sâu suy nghĩ và đưa ra nhiều quan điểm.Không chỉ có một câu trả lời đúng hoặc sai Câu hỏi mở giúp học sinh có cái nhìn tổngquát hoặc đưa ra những boăn khoăn, thắc mắc về tình huống được đưa ra Khi đưa racác câu hỏi mở, giáo viên sẽ thu được nhiều ý tưởng hoặc câu trả lời khác nhau từ họcsinh Điều này cũng giúp cho giáo viên định hướng nội dung và phương pháp phù hợpđối với học sinh
Câu hỏi giả định: Là dạng câu hỏi kích thích học sinh suy nghĩ vượt khỏi
khuôn khổ của các tình huống được giáo viên đưa ra
Câu hỏi hành động: Là dạng câu hỏi giúp học sinh lập kế hoạch và triển khai
các ý tưởng vào tình huống thực tế
Câu hỏi làm rõ: là câu hỏi khai thác, thu thập thêm thông tin Câu hỏi này là
loại được sử dụng nhiều nhất trong sự tương tác trực tiếp giữa giáo viên và học sinh
Trang 14Nó có tác dụng dẫn dắt để hướng tới sự hiểu biết, thúc đẩy trạng thái lắng nghe tíchcực, khuyến khích, tạo hứng thú và thử thách cho học sinh.
Câu hỏi mở rộng: Là câu hỏi khuyến khích sự trình bày, phân tích, giải thích,
mở rộng, đào sâu suy nghĩ Dạng câu hỏi này giúp học sinh nhận thức toàn diện hơn,sâu sắc hơn về một vấn đề mà giáo viên đưa ra
Câu hỏi so sánh: Là câu hỏi yêu cầu so sánh, đánh giá, bình luận Dạng câu hỏi
này khuyến khích tư duy phê phán, bình luận, đánh giá, thúc đẩy kỹ năng tư duy bậccao, định hướng suy nghĩ vào các khái niệm và các vấn đề trọng tâm của bài học
Câu hỏi tóm tắt: Là câu hỏi yêu cầu trình bày vắn tắt những nội dung đã học.
Nó là một yếu tố có ảnh hưởng quan trọng và thúc đẩy sự tiến bộ của học sinh Loạicâu hỏi này giúp cho học sinh nhìn nhận nội dung học tập một cách khái quát và logic
từ đó khắc sâu kiến thức đã học Đồng thời giúp học sinh hình thành và phát triển khảnăng tư duy, khái quát và hóa, trừu tượng hóa
Ngoài cách phân loại trên, dựa trên thang nhận thức Bloom chúng ta còn
có thể phân loại thành những dạng câu hỏi sau:
Câu hỏi biết: Là dạng câu hỏi giúp học sinh tái hiện những gì đã biết, đã trải
qua Học sinh dựa vào trí nhớ để trả lời Dạng này thường yêu cầu kể lại, liệt kê, mô
tả, liên hệ, trình bày, cho biết, gọi tên…
Câu hỏi hiểu: Là dạng câu hỏi nhằm kiểm tra học sinh cách liên hệ, kết nối các
dữ kiện, số liệu, các đặc điểm… khi tiếp nhận thông tin Dạng câu hỏi này thường yêucầu giải thích, nêu ý chính, so sánh, tóm tắt, trình bày, mô tả vắn tắt…vv
Câu hỏi vận dụng: Là dạng câu hỏi nhằm kiểm tra khả năng áp dụng những
thông tin, kiến thức đã thu được vào tình huống mới
Câu hỏi phân tích: Là dạng câu hỏi nhằm kiểm tra khả năng phân tích nội
dung vấn đề, từ đó tìm ra mối liên hệ Vận dụng phối hợp những kiến thức đã học từ
đó đưa ra cách giải quyết vấn đề hoặc chứng minh luận điểm, hoặc đi đến kết luận,hoặc đề xuất mang tính sáng tạo
Câu hỏi đánh giá: Là dạng câu hỏi nhằm kiểm tra khả năng suy xét, chọn lọc,
lựa chọn, quyết định, cân nhắc và phán đoán của học sinh trong việc nhận định, đánhgiá các ý tưởng, sự kiện, hiện tượng dựa trên các tiêu chí đưa ra
Câu hỏi tổng hợp: Là dạng câu hỏi thường yêu cầu sự đề xuất, sáng tạo, dự
đoán, lên kế hoạch, tưởng tượng, xây dựng, thiết kế…
Trang 15Quy trình đặt câu hỏi.
Trong kỹ thuật đặt câu hỏi giáo viên cũng cần phải nắm rõ quy trình để đưa racâu hỏi phù hợp đúng thời điểm
Bước 1 Chuẩn bị câu hỏi: xác định nội dung & ý chính của nội dung học tập,
hỏi về những gì, hỏi để làm gì
Bước 2 Đối chiếu và thích ứng các câu hỏi với đặc điểm và trình độ khác nhau
của học sinh Câu hỏi cần đáp ứng các yếu tố sau:
- Tính minh bạch, rõ ràng: Câu hỏi đơn giản, ngắn gọn không đánh đố
- Tính thách thức Câu hỏi không nên quá dễ mà đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ
và nỗ lực nhất định khi đưa ra câu trả lời Đồng thời phải làm cho học sinh cảm thấyhãnh diện và thỏa mãn khi trả lời đúng
- Tính định hướng: Câu hỏi phải hướng đến số đông Câu hỏi phải gây đượcphản ứng ở nhiều học sinh; ai cũng cảm thấy mình có trách nhiệm trả lời, phải suynghĩ; do đó tạo được không khí học tập sôi nổi
- Tính vừa sức: đây là nguyên tắc quan trọng và là yêu cầu chung cho mọiphương pháp dạy học Câu hỏi phải nằm trong giới hạn của khả năng tri giác thông tin,ngôn ngữ, ý trong câu; kinh nghiệm cảm nhận các tình huống giao tiếp, năng lực tưduy, tưởng tượng; khả năng diễn đạt của học sinh
- Tính linh hoạt Câu hỏi cần tổng hợp về kiểu loại, về độ khó, về tính đốitượng Chọn thời điểm thích hợp để hỏi (tình huống cụ thể) để dạy học đạt hiệu quảcao
Bước 3 Lựa chọn ngôn từ diễn đạt phù hợp khi đặt câu hỏi
Câu hỏi đưa ra càng ngắn gọn, ít từ, ít mệnh đề, ít cấu trúc, ít thuật ngữ mới lạ càngtốt
Bước 4 Khích lệ học sinh tư duy để trả lời câu hỏi
Khi đặt câu hỏi, không nên quá dễ, không có tác dụng khích lệ học sinh Giáoviên cũng không nên thừa nhận câu trả lời của học sinh một cách dễ dãi Đối vớinhững câu hỏi khó, giáo viên cần chuẩn bị kỹ để chủ động giải quyết các tình huốngbất ngờ
Bước 5 Duy trì tiến trình hỏi – đáp bằng câu hỏi bổ trợ, mở rộng.
Trang 16Bước 6 Đánh giá và thu thập thông tin phản hồi về quá trình học tập Các câu
hỏi cần tập trung vào nội dung chính yếu, cơ bản của bài học; nhất là những yếu tốkhái niệm và ứng dụng
Các yêu cầu trong kỹ thuật đặt câu hỏi
Kỹ thuật đặt câu hỏi là một yêu tố quan trọng, là linh hồn và là trung tâm củadạy học phát triển năng lực Điều quan trọng là phải lựa chọn được loại câu hỏi thíchhợp để kích thích tư duy của học sinh và thu hút họ vào các cuộc thảo luận hiệu quả
Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau
Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học
Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu
Đúng lúc, đúng chỗ
Phù hợp với trình độ HS
Kích thích suy nghĩ của HS
Phù hợp với thời gian thực tế
Sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp
Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xính
Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc
Vận dụng khi dạy học tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu theo định hướng phát triển năng lực, GV thiết kế các câu hỏi theo từng mức độ, chẳng hạn như sau:
Câu 1: Nêu hoàn
Câu 1: Nêu ý nghĩa
nhan đề của truyện
ngắn “Chiếc thuyền
Câu 2: Hình ảnh bãi
xe tăng hỏng có ýnghĩa như thế nào?
Câu 3: Lí giải thái độ
và hành động của nhânvật Phùng trong truyệnkhi chứng kiến cảnhngười đàn ông đánh vợ
Câu 1: Phân
tích tình huốngtruyện trongtruyện ngắn
“Chiếc thuyềnngoài xa” củaNguyễn minhChâu?
Câu 2: Phân
tích nhân vậtngười đàn bàhàng chài trongtruyện ngắn
– So sánh cácphương diện nộidung, nghệ thuậtgiữa các tácphẩm cùng đềtài hoặc thể loại;phong cách tácgiả
- Phân tích hìnhtượng “Chiếcthuyền ngoàixa” trong truyệnngắn cùng tên
Trang 17Câu 4: Trong đoạn
từ “con”sang “chị” kh
i giao tiếp với Phùng vàĐẩu ở tòa án huyện?
Câu 5: Vì sao người
đàn bà hàng chài lại xinchồng đánh bà ở trênbờ:
a Vì con cái đã lớn
b Vì trên thuyền quá
c Vì đánh trên thuyềnthì không thể chạy trốnđược
d Đánh trên bờ sẽ cóngười can thiệp
“Chiếc thuyềnngoài xa” củaNguyễn MinhChâu
Câu 3: Phân
tích nhân vậtnghệ sỹ nhiếp
trong truyệnngắn “Chiếcthuyền ngoàixa” của NguyễnMinh Châu
Câu 4: Sự biến
đổi nhận thứccủa nghệ sĩPhùng và chánh
án Đẩu trongtác phẩm
của NguyễnMinh Châu?
- Phân tích giátrị nhân đạotrong tác phẩm
Chiếc thuyền ngoài xa –
Nguyễn MinhChâu?
- Một số dạngđối chiếu sosánh
b) Kĩ thuật “khăn phủ bàn”
Trang 18Kĩ thuật khăn trải bàn là một kĩ thuật dạy học thể hiện quan điểm, chiến lượchọc hợp tác, trong đó có kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm Là kĩthuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân vànhóm nhằm:
- Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực của HS
- Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS
- Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS
Tác dụng của kĩ thuật dạy học khăn phủ bàn:
- HS được tiếp cận với nhiều giải pháp và chiến lược khác nhau
- Rèn luyện kĩ năng suy nghĩ, quyết định và giải quyết vấn đề
- HS đạt được mục tiêu học tập cá nhân cũng như tập thể
- Sự phối hợp làm việc cá nhân và làm việc theo nhóm nhỏ tạo cơ hội nhiều hơncho học tập có sự phân hóa
- Năng cao mối quan hệ giữa HS Tăng cường sự hợp tác, giao tiếp, học cáchchia sẻ kinh nghiệm và tôn trọng lẫn nhau
- Nâng cao hiệu quả học tập
Cách tiến hành kĩ thuật “khăn phủ bàn”:
Để vận dụng hiệu quả PPDH này GV cần:
- Chia HS thành các nhóm (4 người /nhóm) và phát cho mỗi nhóm 1 tờ giấy A0
- Trên giấy A0 chia thành các phần, gồm phần chính giữa và các phần xungquanh, phần xung quanh được chia theo số thành viên trong nhóm( VD: nhóm 4người) Mỗi người ngồi vào vị trí tương ứng với từng phần xung quanh (mỗi ngườingồi vào vị trí như hình vẽ minh họa)
- Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng thời gian quy định, tập trung suynghĩ trả lời câu hỏi/ nhiệm vụ theo cách nghĩ cách hiểu riêng của mỗi cá nhân và viếtvào phần giấy của mình trên giấy A0
- Trên cơ sở những ý kiến của mỗi cá nhân, học sinh thảo luận nhóm, thốngnhất ý kiến và viết vào phần chính giữa của tờ giấy A0 “khăn phủ bàn”
- Đại diện nhóm trình bày kết quả, các nhóm khác nhận xét, bổ sung(nếu có)
Gv đóng vai trò là một trọng tài kết luận chốt lại kiến thức, từ đó giúp các em nhận
Trang 19thấy được những cái làm được và cưa làm được trong hoạt động và sẽ khắc sâu kiếnthến thức hơn.
Kĩ thuật “khăn phủ bàn” được thể hiện dưới dạng sơ đồ như sau:
Vận dụng kĩ thuật dạy học khăn phủ bàn khi dạy học tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
GV sử dụng kĩ thuật khăn trải bàn để chốt lại 2 phát hiện của nghệ sĩ Phùng, kếthợp hướng dẫn HS nắm dẫn chứng trên SGK GV đặt câu hỏi nêu vấn đề: Qua hai pháthiện của nghệ sĩ Phùng, Nguyễn Minh Châu muốn người đọc nhận thức được điều gì
về cuộc đời? HS sẽ viết ý kiến cá nhân trước khi thảo luận, thống nhất cách hiểuchung Khi học sinh tìm iểu, có thể GV nêu tình huống giả định: nếu ai đó muốn canthiệp vào tác phẩm bằng cách đảo vị trí của hai phát hiện này, tức là để người nghệ sĩchứng kiến bi kịch này rồi mới phát hiện vẻ đẹp của cảnh biển Theo em có đượckhông? Vì sao? HS đưa ra nhiều ý kiến và đều thống nhất không thể đảo như thế vì:Đây là dụng ý nhân văn trong việc sắp xếp chi tiết để cái đẹp xuất hiện trước như một
vỏ bọc hòng che giấu bản chất bên trong của đời sống
Từ các ý kiến cá nhân, thậm chí trái chiều, cả nhóm sẽ thống nhất: Cuộc đờikhông đơn giản, xuôi chiều, không phải bao giờ cũng đẹp mà chứa đựng nhiều nghịch
lí, mâu thuẫn giữa cái đẹp - xấu, thiện – ác Phát hiện 1 chỉ là cái vỏ, hình thức bênngoài Phát hiện thứ 2 là hạt nhân, bản chất bên trong, qua đó nhà văn gửi gắm thôngđiệp: Đừng vội đánh giá con người, sự vật qua dáng vẻ bên ngoài, phải phát hiện rabản chất thực sau vẻ ngoài đẹp đẽ của hiện tượng đó; người nghệ sĩ phải tìm hiểu cuộcđời trong mối quan hệ đa chiều; nghệ thuật phải gắn liền với cuộc sống
Một số lưu ý khi tổ chức dạy học theo kĩ thuật khăn phủ bàn:
- Câu hỏi câu thảo luận là câu hỏi mở
Trang 20- Trong trường hợp số HS trong nhóm quá đông, không đủ chỗ trên khăn phủbàn có thể phát cho HS những mảnh giấy nhỏ để HS nghi ý kiến cá nhân, sau đó đínhvào phần xung quanhkhawn phủ bàn.
- Trong quá trình tảo luận thống nhất ý kiến vào giữa khăn phủ bàn, những ýkiến trùng nhau có thể đính chồng lên nhau
- Những ý kiến không thống nhất, cá nhân có quyền bảo lưu và giữ lại ở phầnxung quanh của khăn phủ bàn
c) Kĩ thuật mảnh ghép
Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm vàliên kết giữa các nhóm nhằm:
- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp
- Kích thích sự tham gia tích cực của HS : nâng cao vai trò của cá nhân trongquá trình hợp tác (Không chỉ nhận thức hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phảitruyền đạt kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 2)
Vòng 1 :
Hoạt động theo nhóm 3 hoặc 4 người, …
Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ (Ví dụ : nhóm 1 : nhiệm vụ A; nhóm 2:nhiệm vụ B, nhóm 3: nhiệm vụ C, …)
Đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trongnhiệm vụ được giao
Mỗi thành viên đều trình bày được kết quả câu trả lời của nhóm
Trang 21Vận dụng Kĩ thuật các mảnh ghép để dạy học tác phẩm Chiếc thuyềnngoài xa
của Nguyễn Minh Châu
Khi giảng dạy tôi vận dụng kĩ “các mảnh ghép” để hướng dẫn học sinh tìm hiểu
về các nhân vật trong truyện: nhân vật Phùng, nhân vật người đàn bà và người đànông Hình thức học tập này là sự kết hợp giữa các cá nhân, nhóm nhằm khám phá trithức Cụ thể chúng tôi xây dựng phiếu học tập liên quan đến các nhân vật trong truyện
để học sinh tìm hiểu, phân tích Lớp học gồm 4 tổ, mỗi tổ chia làm 2 nhóm khoảng 5hoặc 6 học sinh.Các nhóm sẽ xen kẽ tìm hiểu về ba nhân vật (Phùng, người đàn bà,người đàn ông) ở các phương diện ngôn ngữ, hành động, diễn biết tâm trạng, đặc điểmtính cách trong 5 phút, sau đó cử đại trình bày sản phẩm trên máy chiếu Các nhómkhác cùng theo dõi, góp ý bổ sung, giáo viên củng cố khắc sâu kiến thức cần nhớ vềnhân vật để học sinh học tập
Kĩ thuật mảnh ghép sẽ mang lại hiệu quả rất tích cực, một mặt học sinh trongcác nhóm sẽ chủ động tiếp cận, tìm hiểu kiến thức, sau đó được bày tỏ suy nghĩ hiểubiết của mình trước tập thể một cách chủ động Một mặt với kĩ thuật mảnh ghép, giáoviên sẽ phát huy tốt các năng lực của học sinh
7.2.2.3 Giải pháp 3: Xây dựng cách thức tổ chức và thiết kế giờ dạy đọc hiểu hướng tới phát triển năng lực học sinh.
Trang 22a) Cách thức tổ chức giờ đọc hiểu
Một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động,sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡng năng lựchợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡng phương pháp tự học, tácđộng tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người học
Để phát triển năng lực của học sinh trong giờ Ngữ văn cấp THPT, cần đổi mớimạnh mẽ việc thiết kế bài học từ phía giáo viên Trong thiết kế, giáo viên phải chothấy rõ các hoạt động của học sinh chiếm vị trí chủ yếu Với giáo viên, phương phápthuyết trình nên giảm thiểu tới mức tối đa, thay vào đó là tổ chức hoạt động cho họcsinh bằng việc nêu vấn đề, đề xuất các tình huống, dự án
Trong giờ dạy, giáo viên tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức giải quyếtcác vấn đề về lý thuyết cũng như thực tiễn, qua đó giúp học sinh khắc sâu hơn kiếnthức mới Theo tinh thần đó, thiết kế bài học được biên soạn theo các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị bài dạy
Trong kế hoạch bài dạy giáo viên cần xác định rõ các yêu cầu về Kiến thức, kỹnăng, thái độ và các năng lực hướng đến Bằng việc xác định mục tiêu này trong quátrình dạy học giáo viên sẽ có thể lựa chọn được phương pháp giảng dạy phù hợp, cáchthức tổ chức lớp học theo đúng mục tiêu đã định
Do yêu cầu mở rộng hiểu biết để thấm thía các nội dung tác phẩm đặt ra, từ đótăng cường ý thức công dân của mỗi học sinh đã khiến việc chuẩn bị kiến thức hỗ trợtruyện ngắn này mang một ý nghĩa tích hợp rộng hơn.Yêu cầu đó đòi hỏi giáo viênphải chuẩn bị kỹ các nhiệm vụ giao cho HS, GV giao cho các nhóm HS cùng sưu tầm
các tư liệu ngoài văn bản liên quan đến chủ đề trên các nguồn thông tin đại chúng
(phát thanh, truyền hình, mạng Internet, báo chí, sách vở, tranh ảnh, âm nhạc ) làm
chất liệu cho dạy đọc hiểu truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu phản ánh cuộc
sống mưu sinh lam lũ, vất vả của một gia đình hàng chài mấy mươi năm về trước.Từ
đó đặt ra nhiều vấn đề có ý nghĩa sâu sắc: cuộc sống mưu sinh của con người, vẻ đẹpngười lao động, nạn bạo hành gia đình…Vì vậy, để có một tâm thế tốt, nguồn kiếnthức minh họa sâu rộng giáo viên và học sinh chuẩn bị các hình ảnh, các video liên uanđến bài học như: tranh ảnh về vẻ đẹp của thiên nhiên trên biển, tranh ảnh, video vềcuộc mưu sinh trong các gia đình hàng chài, về an toàn trẻ em, nạn bạo hành giađình…
Trang 23Bước 2: chuyển giao nhiệm vụ
GV đặt ra các vấn đề, các câu hỏi, giao nhiệm vụ cho HS (cho nhóm HS), từ đó
sẽ hình thành các phẩm chất năng lực mà người học hướng tới Chẳng hạn khi giao
nhiệm vụ cho HS để đọc hiểu truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh
Châu, GV nêu vấn đề: Tìm những từ ngữ, hình ảnh về bức tranh thiên nhiên dưới sựchứng kiến của nghệ sĩ Phùng? Tâm trạng và hành động của Phùng khi chứng kiếncảnh đó? Qua cảnh này, tác giả muốn nói điều gì? Từ việc giải quyết vấn đề đó các em
đã hình thành năng lực: Tự chủ và tự học; Giao tiếp và hợp tác; Giải quyết vấn đề vàsáng tạo; Năng lực ngôn ngữ…
Bước 3: Thực hiện nhiệm vụ: HS làm bài tập, thực hiện nhiệm vụ GV đã giao
cho (Thực hiện ở nhà)
Bước 4: Báo cáo kết quả học tập: Trên các nhiệm vụ được giao HS sẽ báo cáo
kết quả trước lớp, các bạn khác cho ý kiến
Bước 5: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ: Trên cơ sở nội dung báo cáo
– Giúp học sinh tạo hứng thú để bước vào bài học mới
– Giúp giáo viên tìm hiểu xem học sinh có hiểu biết như thế nào về những vấn
đề trong cuộc sống có liên quan đến nội dung bài học
* Nội dung, hình thức khởi động
– Câu hỏi, bài tập: có thể là quan sát tranh/ảnh để trao đổi với nhau về một vấn
đề nào đó có liên quan đến bài học; hoặc trực tiếp ôn lại kiến thức đã học ở cấp/lớpdưới, thiết kế dưới dạng kết nối hoặc những câu hỏi đơn giản, nhẹ nhàng
– Thi đọc, ngâm thơ, kể chuyện, hát…: một số hoạt động yêu cầu học sinh đọcdiễn cảm, ngâm thơ, kể chuyện hoặc hát về chủ đề liên quan đến bài học Các hoạtđộng này trong một số trường hợp được thiết kế thành các cuộc thi, nhằm tạo ra khôngkhí sôi nổi, hứng thú trước khi tiến hành học bài mới
Trang 24– Trò chơi: một số trò chơi trong hoạt động khởi động giúp tạo ra hứng thútrước khi vào bài học mới Các trò chơi này cũng cần có nội dung gắn với mỗi bài học.
Hoạt động khởi động khi dạy tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn
Minh Châu
GV Sử dụng kĩ thuật động não (làm việc nhóm đôi).GV trình chiếu 2 bức hình,
HS quan sát và rút ra Thông điệp từ 2 bức hình HS suy nghĩ trong 2 phút, GV gọi 2
HS trình bày, GV nhận xét, chốt ý Từ đó, GV giới thiệu: Văn học thời kỳ đổi mới với
sự thay đổi cơ bản là quan niệm về con người đã thể hiện một cái nhìn cuộc sống vàcon người đa diện, ở nhiều chiều kích khác nhau, tạo nên sức hấp dẫn riêng của vănhọc thời kỳ này Tổ chức hoạt động khởi động dưới hình thức trên, sẽ hình thành tốtnăng lực tư duy và năng lực ngôn ngữ cho HS
b.2 Hoạt động hình thành kiến thức mới
* Mục đích của hoạt động
Hoạt động này giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua hệ thốngcác bài tập/nhiệm vụ
* Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ
Các tri thức ở hoạt động này thuộc các phân môn Văn học, Tiếng Việt và Tậplàm văn trong sách giáo khoa hiện hành được tiến hành theo trình tự sau:
Đọc hiểu văn bản
Bước này yêu cầu học sinh đọc văn bản và chú thích Giáo viên có thể giaonhiệm vụ cho học sinh đọc trước ở nhà Đến lớp chỉ đọc một đoạn hoặc bài ngắn vàmột vài lưu ý trong chú thích Sau đó giáo viên thiết kế những hoạt động hướng dẫnhọc sinh tìm hiểu văn bản bằng việc sử dụng một số câu hỏi tập hợp thành một bài tập/nhiệm vụ lớn hơn; thiết kế các bài tập trắc nghiệm, kết hợp tự luận; thiết kế các hoạtđộng kích thích, sáng tạo… Nội dung các bài tập/nhiệm vụ trong mục này nêu lên cácyêu cầu tìm hiểu về đặc điểm thể loại, nội dung, nghệ thuật của văn bản
Tích hợp kiến thức kỹ năng Tiếng Việt
Tích hợp với nhiệm vụ tìm hiểu văn bản Giáo viên đưa ra một số bài tập/nhiệm
vụ yêu cầu học sinh tìm hiểu các kiến thức Tiếng Việt Các khái niệm thuộc ngôn ngữhọc được giảm tải, chuyển hóa thành dạng kỹ năng, giúp học sinh dễ tiếp nhận hơn
Tích hợp kiến thức, kỹ năng làm văn
Trang 25Các kiến thức làm văn cũng được dạy tích hợp với Đọc hiểu và Tiếng Việt.Cũng như phần kiến thức Tiếng Việt, những nội dung lý thuyết Làm văn được giảm tải
và chuyển hóa thành kỹ năng
Lưu ý:
- Giáo viên cần dự kiến những trường hợp học sinh không làm được bàitập/nhiệm vụ để có phương án giải quyết Có thể kích thích lại hứng thú hoặc ra bàitập/nhiệm vụ khác, từ những bài tập dễ hơn, phù hợp hơn, rồi từ đó nâng dần hiểu biếtcủa các em
- Các hoạt động của học sinh trong mục này gồm: Hoạt động cá nhân, hoạtđộng nhóm Kết thúc hoạt động nhóm, học sinh phải trình bày kết quả và thảo luận vớigiáo viên
- Với truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu Khi hướng
dẫn HS đọc hiểu, GV lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học và PPDH phù hợp vớiđặc trưng thể loại Khi tổ chức Hoạt động hình thành kiến thức, GV lựa chọn các hìnhthức, phương pháp, kí thuật dạy học phù hợp
Với nội dung 1: Hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng khi đến vùng biển GV sử
dụng các Kĩ thuật dạy học sau:
Kĩ thuật đóng vai: Yêu cầu 1 HS đóng vai nghệ sĩ Phùng sẽ giới thiệu cho
người xem về những bức hình mình chụp
Kĩ thuật đặt câu hỏi:
? Nghệ sĩ phát hiện ra điều gì trong buổi sáng tinh sương?
? Cảnh được miêu tả thế nào?
? Vì sao Phùng gọi đây là một “cảnh đắt trời cho”?
? Người nghệ sĩ đã có những cảm nhận gì khi được chiêm ngưỡng bức ảnh nghệthuật của tạo hoá?
? Vì sao trong lúc cảm nhận vẻ đẹp của bức tranh, Phùng lại nghĩ đến câu nói:
“bản thân cái đẹp chính là đạo đức”?
? Người nghệ sĩ đã thấy điều gì khi thuyền cập bến?
? Thái độ, hành động của người nghệ sĩ lúc này như thế nào?
Kĩ thuật khăn phủ bàn để tổng kết và chốt lại ý nghĩa của tình huống mang tính
khám phá và phát hiện này