1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC (ĐỀ TÀI :Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô thời kỳ 19211924. Phân tích ý nghĩa của đường lối thực hiện chính sách Kinh tế mới ( NEP ))

13 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 107,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tháng 31921, V.I. Lênin đã vạch ra Chính sách Kinh tế mới (NEP) thay cho Chính sách cộng sản thời chiến, được trình bày đầu tiên trong tác phẩm “Bàn về thuế lương thực”. V.I. Lênin đã xuất phát từ đặc điểm cơ bản về kinh tế xã hội của nước Nga lúc bấy giờ: Một là, sự tồn tại của một cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, như: kinh tế kiểu gia trưởng kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp của nông dân; sản xuất hàng hóa nhỏ; chủ nghĩa tư bản tư nhân; chủ nghĩa tư bản nhà nước; chủ nghĩa xã hội. Tất cả các thành phần kinh tế đó tồn tại xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong đó, kinh tế tiểu nông sản xuất hàng hóa nhỏ chiếm ưu thế, đây là đặc điểm quan trọng nhất. Hai là, nền đại công nghiệp cơ khí, cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội còn vô cùng non yếu; các quan hệ hàng hóa tiền tệ chưa phát triển. Ba là, sự khủng hoảng về kinh tế, chính trị, xã hội trầm trọng sau nội chiến mới kết thúc. Bốn là, nước Nga là nước làm cách mạng xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, phải tự khai phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện vô cùng khó khăn, bị chủ nghĩa tư bản quốc tế bao vây chống phá. Có thể khẳng định, NEP là đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội với sự thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần, phát triển quan hệ hàng hóa tiền tệ, kinh tế thị trường, thực hiện sự trao đổi giữa thành thị và nông thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp, thay chính sách trưng thu lương thực bằng chính sách thuế lương thực, chú trọng kích thích lợi ích vật chất và coi đó là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế, sử dụng các hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước. Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô thời kỳ 19211924. Phân tích ý nghĩa của đường lối thực hiện chính sách Kinh tế mới ( NEP )

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

CHỦ ĐỀ : Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô thời

kỳ 1921-1924 Phân tích ý nghĩa của đường lối thực hiện chính

sách Kinh tế mới ( NEP )

Hà Nội

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

NỘI DUNG

1.Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô thời kỳ 19211924 -Chính sách kinh tế mới

1.1Hoàn cảnh ra đời và Nội dung chủ yếu của Chính sách kinh tế mới 1.1.1 1.1Hoàn cảnh ra đời của Chính sách kinh tế mới

1.1.2 Nội dung chủ yếu của Chính sách kinh tế mới

1.2 Nguyên nhân của sự chuyển biến mạnh mẽ từ chính sách cộng sản thời chiến sang chính sách kinh tế mới

1.3 Chính sách kinh tế mới diễn ra hai giai đoạn nhỏ

1.3.1 Giai đoạn nhỏ thứ nhất từ tháng 3 đến tháng 10 năm 1921

1.3.2 Giai đoạn nhỏ thứ hai từ tháng 10 năm 1921 đến lúc Lênin mất ( 1924 )

2.Ý nghĩa của đường lối thực hiện chính sách Kinh tế mới ( NEP )

KẾT LUẬN

Tài liệu tham khảo

Trang 3

MỞ ĐẦU

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã khai sinh ra chế độ xã hội chủ nghĩa đầu tiên và mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) V I Lênin đã nhận định về ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga 1917: “Chúng ta có quyền tự hào và quả thật chúng ta tự hào là đã có cái hân hạnh được bắt đầu việc xây dựng nhà nước Xô-viết và do đó, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới…”.Cùng với việc dựng cột mốc cho thời đại mới, sự nghiệp xây dựng CNXH đầu tiên trong lịch sử, dưới sự lãnh đạo của V I Lênin cũng được bắt đầu ở nước Nga Xô-viết.Sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước Nga giai đoạn này diễn ra trong bối cảnh hết sức đặc biệt Về bối cảnh chính trị, chính quyền Xô-viết trong những tháng năm đầu tiên, giữa vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, phải liên tục đương đầu với những vụ nổi loạn, can thiệp của “thù trong, giặc ngoài” Thêm vào đó, với những kinh nghiệm chính trị, cầm quyền còn ít ỏi, giai cấp công nhân và hệ thống chính trị Xô-viết gặp rất nhiều khó khăn trong tổ chức và xây dựng chế

độ mới Chỉ trong một thời gian ngắn, V I Lênin đã nhận ra sự khác biệt căn bản là “giành chính quyền đã khó nhưng xây dựng chính quyền còn khó hơn nhiều” Đi sâu tìm hiểu em xin trình bày đề tài Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô thời kỳ 1921-1924 Phân tích ý nghĩa của đường lối thực hiện chính sách Kinh tế mới ( NEP )

Trang 4

NỘI DUNG

1.Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô thời kỳ 19211924 -Chính sách kinh tế mới

1.1Hoàn cảnh ra đời và Nội dung chủ yếu của Chính sách kinh tế mới

1.1.1 1.1Hoàn cảnh ra đời của Chính sách kinh tế mới

Sau cuộc nội chiến, nền kinh tế quốc dân bị tàn phá nặng nề: năm 1920, sản luợng công nghiệp chỉ còn 1/7 mức trước chiến tranh; phần lớn các nhà máy, xí nghiệp ngừng hoạt động, công nhân thất nghiệp ngày càng nhiều; sản lượng nông nghiệp còn khoảng ½, hàng hóa hết sức thiếu thốn, nhiều thành phố và các trung tâm lâm nghiệp lâm vào nạn đói trầm trọng, bệnh dịch lan tràn làm chết hàng triệu người; giao thong vận tải bị tàn phá nặng nề…

Tình hình chính trị, xã hội thêm rối ren, không ổn định Chính sách cộng sản thời chiến trở nên không phù hợp, ngăn cản và kiềm hãm sự phát triển kinh tế: nông dân bất mãn với chế độ trưng thu lương thực, không hào hứng sản xuất; công nhân không có việc làm, ngày càng mệt mỏi do đời sống thiếu thốn… Bọn phản cách mạng tăng cường chống phá, kích động sự bất mãn trong nhân dân, gây bạo loạn ở nhiều nơi Trong nội bộ Đảng Bônsêvich đã xuất hiện các nhóm đối lập chống lại đường lối của Đảng; không ít đảng viên, cán bộ hoang mang, dao động trước tình hình đất nước

Nước Nga Xô viết đang lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị hết sức trầm trọng

Để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, tháng 3/1921, Đại hội thứ X của Đảng Cộng sản (Bônsêvich) Nga đã quyết định thực hiện Chính sách kinh tế mới của V.I.Lênin

1.1.2 Nội dung chủ yếu của Chính sách kinh tế mới

Thay thế chế độ trưng thu lương thực thừa bằng thu thuế lương thực Nông dân được toàn quyền sử dụng số dư thừa, kể cả tự do bán ra thị trường

Công nghiệp: Nhà nước tập trung lực lượng và phương tiện vào việc khôi phục và phát triển những ngành công nghiệp nặng; cho phép tư nhân được thuê (hoặc xây dựng) những xí nghiệp loại nhỏ, khuyến khích tư bản nước ngoài đầu tư kinh doanh ở Nga; Nhà nước nắm các mạch máu kinh tế: công nghiệp, giao thong vận tải, ngân hàng, ngoại thương… Chấn chỉnh, tổ chức lại việc quản lý sản xuất công nghiệp, cải tiến chế độ tiền lương, phần lớn các xí nghiệp chuyển sang chế độ hoạch toán kinh tế Thương nghiệp và tiền tệ: Tư nhân được tự do buôn bán và trao đổi, phát triển thương nghiệp, khôi phục và đẩy mạnh mối liên hệ giữa thành thị và nông thôn; tiến hành cải cách tiền tệ, phát hành đồng rúp mới…

Thực chất của Chính sách kinh tế mới là chuyển từ nền kinh tế mà Nhà

Trang 5

nước nắm độc quyền về mọi mặt, dựa trên cơ sở cưỡng bức lao động, trưng thu và cugn cấp theo kiểu “cộng sản thời chiến” (do hoàn cảnh có chiến tranh) sang một nền kinh tế hàng hóa có sự điều tiết của Nhà nước, công nhận sự tồn tại và phát triển của nhiều thành phần kinh tế khác nhau (trong một thời gian nhất định); sử dụng vốn, kỹ thuật vaaq2 kinh nghiệm của tư bản trong và ngoài nước để thúc đẩy nền kinh tế phát triển

1.2 Nguyên nhân của sự chuyển biến mạnh mẽ từ chính sách cộng sản thời chiến sang chính sách kinh tế mới

Thứ nhất, nông dân không thể tiếp tục chịu đựng nổi gánh nặng của chế

độ trưng thu lương thực thừa kiểu cộng sản thời chiến Trong thời gian chiến tranh, nông dân chịu gánh nặng thu mua lương thực thừa là để bảo

vệ chính quyền công nông, để chiến thắng âm mưu phục thù của bọn địa chủ và tư bản, để giữ lấy-đất đai mà mình đã giành được Cuối năm 1920, chiến tranh kết thúc, nông dân không thể tiếp tục chịu đựng chế độ tập trung lương thực thừa, họ đã liên tiếp gửi thư, gặp gỡ các cấp chính quyền Xô viết, gửi trực tiếp cho cả Lênin nữa, bày tỏ sự bất mãn, phản đối chế độ trưng thu lương thực thừa

Thứ hai, kể hoạch mang tính chủ quan duy ý chí của Lênin dùng biện pháp canh tác chung (tức công xã nông nghiệp, hợp tác xã canh tác chung

và các tổ hợp lao động, gọi chung là nông trang tập thể) để quá độ lên một “nền nông nghiệp lớn xã hội chủ nghĩa" đã không thực hiện được

1.3 Chính sách kinh tế mới diễn ra hai giai đoạn nhỏ

1.3.1 Giai đoạn nhỏ thứ nhất từ tháng 3 đến tháng 10 năm 1921

Bước vào giai đoạn nhỏ thứ nhất , trong báo cáo tại Đại hội X Đảng Cộng sản ( b ) Nga và trong tác phẩm “ Bàn về thuế lương thực ” , Lênin

đã luận chúng một cách đầy đủ về những căn cứ và tính tất yếu phải thực hiện chính sách kinh tế mới

Lênin chỉ ra , cơ sở duy nhất để xây dựng chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp , đối với một nước tiểu nông như nước Nga càng phải làm như vậy Nhưng trước kia , đặc biệt là vào cuối năm 1920 đầu năm

1921 , đường lối khôi phục kinh tế bắt đầu từ đại công nghiệp là không thể thực hiện được , đã thất bại , vì thiếu hụt nghiêm trọng về lương thực , nguyên liệu và nhiên liệu Do đó cần đặt xuống hàng thứ yếu vấn đề khôi phục và phát triển đại công nghiệp mà phải bắt đầu từ nông nghiệp , tiểu công nghiệp để khôi phục và phát triển đại công nghiệp

Trong giai đoạn nhỏ thứ nhất này , Lênin đã hoạch định con đường quá

độ lên chủ nghĩa xã hội như sau : Chung sống lâu dài với tiểu nông và sản xuất nhỏ , đi từ nông nghiệp , trên cơ sở ủng hộ kinh tế tiểu nông , làm sống động kinh tế tiểu nông để xây dựng đại công nghiệp xã hội chủ nghĩa , đặt nền móng , cơ sở vật chất cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa

xã hội trên đất nước Nga

Tuy nhiên , Lênin vẫn cho rằng thế lực tự phát của kinh tế tiểu nông là rất đáng sợ , thậm chí ông còn đặt ngang hàng với chủ nghĩa tư bản Do

Trang 6

vậy , cùng với việc cho phép tiểu nông được bán lương thực thừa , nhà nước cần hạn chế mậu dịch tự do trong phạm vi địa phương , thông qua các hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước như hợp tác xã để xây dựng một

hệ thông trao đổi trực tiếp giữa nông nghiệp và công nghiệp do | nhà nước chi phối Đó chính là ý tưởng liên kết với chủ nghĩa tư bản nhà nước để chống lại những thế lực tự phát của sản xuất nhỏ

Như vậy , cho đến lúc này , Lênin vẫn chưa thực sự thoát khỏi tư tưởng “ quá độ trực tiếp ” , nhưng việc thực hiện chính sách thuế lương thực , và việc thay đổi tư duy về xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng đã là một bước tiến quyết định trong việc thì tòi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Sau mấy tháng trong giai đoạn nhỏ thứ nhất , thực hiện chính sách kinh tế mới , cho phép trao đổi hàng hóa hạn chế trong phạm vi tư bản nhà nước ,

do nhà nước chi phối đã nảy sinh tình huống : Vì tiểu nông chiếm số đông trong dân cư và kinh tế tiểu nông chiếm tỷ trọng tuyệt đối , nên việc cho phép nông dân tự do mua bán làm cho việc trao đổi hàng hóa phát triển , dẫn đến sự phá vỡ hạn chế mậu dịch tự do trong phạm vi địa phương Trước tình hình thực tế như vậy , Lênin cho rằng cần phải tiếp tục lùi lại tới mức giảm sự chi phối của nhà nước chỉ ở phạm vi điều tiết lưu thông hàng hóa và tiền tệ chứ không thể hạn chế mậu dịch tự do Lênin viết : “ Chúng ta phải thừa nhận rằng rút lui như vậy là chưa đủ , cần kéo dài cuộc rút lui nữa , rút lui xa hơn nữa , để chuyển chủ nghĩa tư bản nhà nước sang chỗ thiết lập chế độ nhà nước điều tiết việc mua bán

và lưu thông tiền tệ ”

1.3.2 Giai đoạn nhỏ thứ hai từ tháng 10 năm 1921 đến lúc Lênin mất ( 1924 )

Giai đoạn nhỏ thứ hai Bước vào giai đoạn nhỏ thứ hai , trong một loạt tác phẩm ,

Báo cáo và diễn văn ,Lênin đã luận chứng đầy đủ về vấn đề rút lui trong thương nghiệp , rút ra một loạt kết luận mới , phát triển mạnh mẽ về mặt

tư tưởng thể hiện nổi bật trên các mặt sau :

Thứ nhất , nhấn mạnh cần phải kết hợp việc xây dựng đại công nghiệp xã hội chủ nghĩa với kinh tế tiểu nông

Trong giai đoạn nhỏ thứ nhất , Lênin đã chứng minh tính tất yếu của việc thực hiện chính sách kinh tế mới , do nền công nghiệp bị phá hoại nặng

nề , nhà nước không có đầy đủ sản phẩm công nghiệp để đổi lấy nông sản phẩm của nông dân , nhưng lại không thể khôi phục đại công nghiệp ngay lập tức Vì vậy cần phải , trước hết , làm sống động kinh tế tiểu nông và tiểu công nghiệp , cho nông dân tự do bán lương thực thừa

Lập luận này , rõ ràng , xuất phát từ những khó khăn về kinh tế , có nghĩa

là chính sách kinh tế mới chỉ là biện pháp tình huống bắt buộc , đối phó với tình hình kinh tế khó khăn trước mắt

Trong giai đoạn nhỏ thứ hai , trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn , cùng với nhận thức mới về sức mạnh của kinh tế tiểu nông , Lênin khẳng

Trang 7

định chính sách kinh tế mới là biện pháp tất yếu phù hợp với quy luật khách quan Lênin nhấn mạnh :

Thứ nhất , kết hợp việc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với kinh tế tiểu nông là một tất yếu khách quan Lênin viết : “ Nhiệm vụ căn bản , quyết định , và nó chi phối tất cả những nhiệm vụ khác , là sự kiến lập liên minh giữa nền kinh tế mới mà chúng ta đã bắt đầu xây dựng với nền kinh tế nông dân của hàng triệu , hàng triệu nông dân ”

Tại Đại hội XI Đảng Cộng sản ( b ) Nga Lênin nhấn mạnh , cần phải thực hiện sự kết hợp nói trên , phải “ chứng tỏ bằng hành động cho nông dân thấy rằng chúng ta bắt đầu bằng những việc mà hiện nay họ hiểu được , mặc dù họ đang chịu cùng khổ đủ mọi đường , chứ không phải bằng những việc xa xôi , ảo tưởng đối với con mắt của nông dân ; mục đích của chúng ta chính là phải chứng tỏ rằng chúng ta biết giúp đỡ họ Hoặc

là họ sẽ đuổi cổ chúng ta đi Hoàn toàn chắc chắn là như vậy ?

Thứ hai , tìm được hình thức thông qua thương nghiệp để kết hợp công nghiệp lớn xã hội chủ nghĩa với kinh tế tiểu nông Lênin chỉ ra , trong hoàn cảnh nền công nghiệp của nước Nga vô cùng yếu ớt và bị chiến tranh tàn phá nghiêm trọng thì ngoài thương nghiệp ra không còn một mối liên hệ kinh tế nào khác giữa công nghiệp và nông nghiệp , không còn con đường nào khác là phải phát triển thương nghiệp dưới sự lãnh đạo và giám sát của nhà nước công nhân , từng bước nâng cao trình độ công - nông nghiệp Lênin nhấn mạnh đây chính là thực chất chính sách kinh tế mới và rút ra kết luận : “ Bên cạnh hàng chục triệu người tiểu nông không có một nền đại công nghiệp mạnh , cơ khí hóa thì trong trường hợp đó , thương nghiệp là mối liên hệ kinh tế duy nhất có thể có giữa hàng chục triệu tiểu nông với nền đại công nghiệp ” “ Nhà nước vô sản phải trở thành một “ chủ nhân ” thận trọng chu đáo và khôn khéo , trở thành một nhà buôn sỉ đúng mức – nếu không , nhà nước vô sản không thể khôi phục được nước tiểu nông này về mặt kinh tế Ngày nay , trong những điều kiện hiện tại , bên cạnh phương Tây tư bản chủ nghĩa ( lúc này vẫn còn là tư bản chủ nghĩa ) , chúng ta như trên , nghĩa xã hội khác được ” Kết luận để thực hiện sự quả độ từ kinh tế tiểu không thể tiến lên chủ nghĩa cộng sản bằng con đường nào hồng lên chủ nghĩa xã hội không thể vượt qua giai đoạn phát triển kinh tế hàng hóa ( giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa ) hoặc nói khác đi phải thực hiện “ quả độ gián tiếp ” là một “ phát hiện ” , là sự đột phá rất sâu sắc trong nhận thức về chủ

Thứ ba , thay đổi về căn bản cách nhìn nhận đối với tiểu nồng Từ mùa xuân năm 1918 và trong thời gian thực hiện chính sách cộng sản thời chiến , Lênin coi lực lượng tự phát của tiểu nông thật là đáng sợ , và cho rằng sau khi giai cấp vô sản chiến thắng giai cấp tư sản , thì lực lượng tự phát của sản xuất nhỏ sẽ trở thành kẻ thù chủ yếu nguy hiểm nhất , sản xuất nhỏ ở mõi đình , mỗi hộ “ từng ngày , từng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư

Trang 8

bản ” ; cần phải đấu tranh với lực lượng sản xuất đó trong suốt thời kỳ lịch sử dài , cho đến khi thực hiện hoàn toàn chủ nghĩa xã hội

Giai đoạn đầu ( giai đoạn nhỏ thứ nhất ) thực hiện chính sách kinh tế mới , Lênin vẫn cho rằng kẻ thù chủ yếu của giai cấp vô sản là nền sản xuất nhỏ tự phát , và đã chỉ rõ : sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước chính là liên minh với chủ nghĩa tư bản nhà nước để chống nền sản xuất nhỏ Điều này hoàn toàn thống nhất với quan niệm về xây dựng một mô hình mục tiêu xã hội chủ nghĩa , một nền kinh tế kiểu “ đại công xưởng ” , nghĩa là vẫn theo một kế hoạch chặt chẽ , thống nhất trong toàn quốc , “ quá độ trực tiếp ”

2.Ý nghĩa của đường lối thực hiện chính sách Kinh tế mới ( NEP )

V.I Lênin đã bảo vệ và phát triển học thuyết của C Mác và Ph Ăngghen, nâng lên trình độ cao mới trong bối cảnh chủ nghĩa tư bản phát triển lên giai đoạn cao là chủ nghĩa đế quốc trong hoàn cảnh lịch sử cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX Kế thừa học thuyết của C Mác trong điều kiện mới, V.I Lênin đã sáng tạo ra lý luận khoa học về chủ nghĩa đế quốc, khởi thảo lý luận mới về cách mạng xã hội chủ nghĩa Người đã xác định

kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội, đề ra NEP, phác họa những đường nét cơ bản của sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở những nước kinh tế chậm phát triển

Khi vạch ra NEP, V.I Lênin đã khẳng định: “Chúng ta buộc phải thừa nhận là toàn bộ quan điểm của chúng ta về chủ nghĩa xã hội đã thay đổi

về căn bản” Những quan điểm của V.I Lênin trong NEP về phát triển kinh tế nhiều thành phần, phát triển quan hệ hàng hóa tiền tệ, kinh tế thị trường, sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước dường như mâu thuẫn với quan niệm của C Mác và Ph Ăngghen khi cho rằng chủ nghĩa cộng sản xóa bỏ buôn bán, cùng với việc xã hội nắm lấy tư liệu sản xuất thì sản xuất hàng hóa cũng bị loại trừ

Thực ra phải hiểu điều kiện lịch sử cụ thể của những quan điểm của các nhà kinh điển, điều khẳng định ở trên của C Mác và Ph Ăngghen là những dự đoán về giai đoạn cao của chủ nghĩa cộng sản chứ không phải nói về giai đoạn thấp của nó, tức là chủ nghĩa xã hội Điều này C Mác đã khẳng định: Đó là một xã hội vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa,

do đó là một xã hội về mọi phương diện - kinh tế, đạo đức, tinh thần - còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra Các nhà kinh điển đã chỉ ra một cách đúng đắn về mặt phương pháp luận khi cho rằng

cơ sở để xóa bỏ chế độ tư hữu là lực lượng sản xuất phải được phát triển đến một trình độ nhất định với trình độ xã hội hóa cao, chứ không phải chỉ bằng quyết định mệnh lệnh hành chính hay mong muốn chủ quan Biện chứng của lịch sử là ở chỗ để thủ tiêu chế độ tư hữu thì phải phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường và như vậy phải trải qua chế độ tư hữu trong một thời gian dài Đây là quy luật khách quan, biện chứng của sự phát triển mà V.I Lênin đã vận dụng

Trang 9

sáng tạo trong NEP Chính vì không nhận thức và vận dụng được quy luật này, nhiều nước xã hội chủ nghĩa cũ, như Liên Xô và Đông Âu trước đây

đã chủ trương nhanh chóng xóa bỏ chế độ tư hữu, thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung cao độ, không thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, không phát triển quan hệ hàng hóa - tiền tệ và kinh tế thị trường, thực hiện chiến lược công nghiệp hóa theo hướng nội là chủ yếu, không tích cực tham gia vào phân công hợp tác quốc tế, coi nhẹ vai trò của dịch vụ trong nền kinh tế Tư duy này đã kìm hãm sự phát triển dẫn đến khủng hoảng trầm trọng

Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) với quan điểm nhìn thẳng sự thật, đánh giá đúng sự thật và nói rõ sự thật đã đánh dấu bước ngoặt của quá trình đổi mới, nhất là đổi mới tư duy kinh tế của Đảng ta, khẳng định quá trình chuyển từ sản xuất nhỏ đi lên sản xuất lớn của nước ta là quá trình chuyển hóa nền kinh tế còn mang nhiều tính tự cấp, tự túc thành nền kinh

tế hàng hóa, khẳng định sự cần thiết của việc sử dụng quan hệ hàng hóa -tiền tệ dưới chủ nghĩa xã hội, coi tính kế hoạch là đặc trưng số một, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hóa - tiền tệ là đặc trưng thứ hai của cơ chế quản lý kinh tế mới Như vậy, nhận thức của Đại hội VI mặc dù chưa đạt tới nhận thức về kinh tế thị trường, song đã đặt nền tảng cho sự phát triển của Đảng ta ở các đại hội sau

Tại Đại hội VIII, Đảng ta đã nhận thức đầy đủ hơn về mối quan hệ giữa mục tiêu và phương tiện với khẳng định: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa

xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng”

Chỉ đến Đại hội IX (tháng 4-2001), Đảng ta mới chính thức đưa ra khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khẳng định phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đây là mô hình kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển, vừa có những đặc điểm chung của kinh tế thị trường hiện đại, vừa có những đặc điểm riêng phù hợp với những điều kiện đặc thù của Việt Nam Sự khẳng định của Nghị quyết Đại hội IX về mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một bước phát triển mới về nhận thức lý luận so với mô hình nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có

sự quản lý của Nhà nước được xác định tại Đại hội VIII Đại hội XI đã đưa vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) quan điểm về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, lý luận về phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam qua 30 năm đổi mới, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Đại hội XII của Đảng đã bổ sung hoàn thiện và xác định cụ thể hơn khái niệm

Trang 10

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phù hợp với bối cảnh mới Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có quan

hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,

có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác

và cạnh tranh theo pháp luật, thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường Nhà nước đóng vai trò định hướng xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định mục tiêu:

“Đến năm 2020, phấn đấu cơ bản hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường”

Rõ ràng, C Mác và Ph Ăngghen mới chỉ nêu ra những dự báo khoa học

về xã hội cộng sản thông qua sự phân tích hiện thực của chủ nghĩa tư bản, điều này đòi hỏi các đảng cộng sản phải vận dụng phát triển sáng tạo học thuyết của C Mác và Ph Ăngghen trong điều kiện cụ thể của nước mình Chính V.I Lênin xuất phát từ thực tiễn nước Nga đã tổng kết: “Chúng ta không hình dung một thứ chủ nghĩa xã hội nào khác hơn là chủ nghĩa xã hội dựa trên cơ sở tất cả những bài học mà nền văn minh lớn của chủ nghĩa tư bản đã thu được”

Trong việc vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của mỗi nước, cần khắc phục quan điểm chủ quan duy ý chí, giáo điều, tả khuynh làm cho học thuyết tư tưởng của các nhà kinh điển

bị méo mó Thực tiễn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở các nước

Ngày đăng: 28/02/2022, 18:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w