1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 - TS. Nguyễn Tất Thắng

107 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Kinh Tế Vĩ Mô 2
Tác giả TS. Nguyễn Tất Thắng, THS. Nguyễn Thị Thu Quỳnh, THS. Đoàn Bích Hạnh
Trường học Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại giáo trình
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 3,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 được chủ biên bởi TS. Nguyễn Tất Thắng, được thiết kế gồm 5 chương, với nội dung cụ thể như sau: Tăng trưởng kinh tế; Tiết kiệm, đầu tư và hệ thống tài chính; Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở; Thị trường lao động: thất nghiệp, tiền lương; Chính sách ổn định kinh tế vĩ mô. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

BỘ MÔN KINH TẾ

TS NGUYỄN TẤT THẮNG (Chủ biên) THS NGUYỄN THỊ THU QUỲNH – THS ĐOÀN BÍCH HẠNH

GIÁO TRÌNH

KINH TẾ VĨ MÔ 2

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2

1.1 Khái niệm, bản chất và đo lường tăng trưởng kinh tế 2

1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế 2

1.1.2 Bản chất của tăng trưởng kinh tế 2

1.1.3 Đo lường sự tăng trưởng 5

1.2 Ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế 5

1.2.1.Tăng trưởng kinh tế giúp cải thiện mức sống của người dân 6

1.2.2 Tăng trưởng kinh tế góp phần giải quyết công ăn việc làm, giảm thất nghiệp 9

1.2.3 Tăng trưởng kinh tế góp phần củng cố an ninh, quốc phòng, cải thiện vị thế của quốc gia 10

1.3 Nguồn gốc của sự tăng trưởng kinh tế 10

1.4 Các yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia 12

1.5 Hạch toán tăng trưởng 15

1.6 Cơ chế của sự tăng trưởng 15

1.6.1 Cung và cầu về hàng hóa 16

1.6.2 Trạng thái ổn định dài hạn 17

1.6.3 Ứng dụng phân tích chính sách tiết kiệm và hiệu ứng đuổi kíp 19

1.6.4 Tiến bộ công nghệ và tăng trưởng liên tục 20

1.6.5 Tăng dân số và tăng trưởng kinh tế 21

1.7 Các chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Nhà nước 21

1.7.1 Chính sách khuyến khích tiết kiệm và đầu tư trong nước 22

1.7.2 Chính sách thu hút đầu tư từ nước ngoài 22

1.7.3 Chính sách đầu tư nâng cao chất lượngnguồn nhân lực 22

1.7.4 Chính sách về đảm bảo sự ổn định chính trị và bảo hộ quyền sở hữu tài sản 23

1.7.5 Chính sách thương mại quốc tế 23

1.7.6 Chính sách kiểm soát tăng dân số 23

1.7.7 Chính sách hỗ trợ nghiên cứu và phát triển công nghệ mới 23

1.8 Cái giá của tăng trưởng kinh tế 24

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 24

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1 25

BÀI TẬP ÁP DỤNG CHƯƠNG 1 25

Chương 2 TIẾT KIỆM, ĐẦU TƯ VÀ HỆ THỐNG TÀI CHÍNH 26

2.1 Tiết kiệm và đầu tư 26

2.1.1 Tiết kiệm 26

2.1.2 Đầu tư 29

2.1.2 Mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư 30

2.2 Hệ thống tài chính 31

2.2.1 Trung gian tài chính 31

2.2.2 Thị trường tài chính 33

2.3 Mô hình thị trường vốn 34

2.3.1 Đường cung về vốn 34

2.3.2 Đường cầu về vốn 35

2.3.3 Trạng thái cân bằng trên thị trường vốn 35

2.3.4 Chính sách khuyến khích tiết kiệm và đầu tư 36

2.4 Mô hình IS – LM 39

2.4.1 Thị trường hàng hóa và đường IS 39

2.4.2 Thị trường tiền tệ và đường LM 41

2.4.3 Cân bằng đồng thời trên thị trường hàng hóa và tiền tệ 42

2.4.4 Giải thích biến động kinh tế bằng mô hình IS-LM 42

Trang 3

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 44

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2 45

BÀI TẬP ÁP DỤNG CHƯƠNG 2 45

Chương 3 KINH TẾ VĨ MÔ TRONG NỀN KINH TẾ MỞ 46

3.1 Luồng chu chuyển hàng hóa và vốn quốc tế 46

3.1.1 Luồng chu chuyển hàng hóa quốc tế 46

3.1.2 Luồng chu chuyển vốn quốc tế 48

3.2 Cán cân thanh toán quốc tế và tỷ giá hối đoái 50

3.2.1 Cán cân thanh toán quốc tế 50

3.2.2 Tỷ giá hối đoái 54

3.3 Mô hình thị trường ngoại tệ và thị trường vốn trong nền kinh tế mở 63

3.3.1 Mô hình thị trường ngoại tệ 63

3.3.2 Mô hình thị trường vốn trong nền kinh tế mở 65

3.3.3 Trạng thái cân bằng đồng thời trên thị trường vốn và thị trường ngoại tệ 68

3.4 Một số chính sách, yếu tố chủ yếu tác động đến thị trường vốn và ngoại tệ 69

3.4.1 Chính sách tài khóa của chính phủ 69

3.4.2 Chính sách thu hút vốn đầu tư 70

3.4.3 Chính sách ngoại thương 71

3.4.4 Bất ổn chính trị và tình trạng thất thoát vốn 72

3.4.5 Ảnh hưởng của lãi suất ngân hàng, giá hàng hoá nội địa và tỉ giá hối đoái tới cân bằng cán cân thanh toán (Balance of Payment - BOP) 73

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 75

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 3 76

BÀI TẬP ÁP DỤNG CHƯƠNG 3 76

Chương 4 THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG, THẤT NGHIỆP VÀ TIỀN LƯƠNG 77

4.1 Thị trường lao động 77

4.1.1 Khái niệm thị trường lao động 77

4.1.2 Đặc điểm của thị trường lao động 77

4.1.3 Cân bằng trên thị trường lao động 80

4.2 Rào cản trong giải quyết vấn đề thất nghiệp 82

4.2.1 Quy đinh về tiền lương tối thiểu 82

4.2.2 Hoạt động của tổ chức công đoàn 82

4.2.3 Bảo hiểm thất nghiệp 83

4.3 Thực trạng thất nghiệp trên thế giới và ở việt nam 83

4.3.1 Thất nghiệp ở Mỹ 83

4.3.2 Thất nghiệp ở các nước Châu Âu 85

4.3.3 Thất nghiệp ở Việt Nam 86

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 4 89

BÀI TẬP ÁP DỤNG CHƯƠNG 4 89

Chương 5 CHÍNH SÁCH ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ 90

5.1 Khái niệm, mục tiêu và nội dung chính sách ổn định kinh tế vĩ mô 90

5.1.1 Khái niệm chính sách ổn định kinh tế vĩ mô 90

5.1.2 Mục tiêu của các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô 90

5.1.3 Nội dung của chính sách ổn định kinh tế vĩ mô 91

5.2 Tranh luận về cơ chế xây dựng chính sách ổn định kinh tế vĩ mô 94

5.2.1 Chính sách nên chủ động hay bị động 94

5.2.2 Chính sách tùy nghi hay theo quy tắc 95

5.3 Chính sách ổn định kinh tế vĩ mô trong thực tế 96

5.3.1 Chính sách tiền tệ trong thực tế 96

5.3.2 Chính sách tài khóa trong thực tế 97

Trang 4

5.3.3 Tác động của các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô trong thực tế 97

Câu hỏi ôn tập chương 5 99

Bài tập chương 5 99

TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 6

MỞ ĐẦU

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc trang bị cho sinh viên các ngành Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Kế toán và các chuyên ngành đào tạo khác của Học viện Nông nghiệp Việt Nam những kiến thức cơ bản về kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở như tăng trưởng; tiết kiệm; đầu tư; vai trò, cách thức can thiệp cũng như tác động của những chính sách ổn định kinh tế vĩ mô của Chính phủ là cần thiết

Nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập của giảng viên và sinh viên, nhóm giảng viên của Bộ môn Kinh tế, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn tiến hành biên soạn giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 với thời lượng giảng dạy 2 tín chỉ (tương đương với 30 tiết quy chuẩn) Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu vận dụng các vấn đề kinh tế vĩ mô

cơ bản đã được giảng dạy trong học phần Kinh tế vĩ mô 1 trong thực tế, giúp sinh viên hình thành kỹ năng liên hệ giữa lý thuyết và thực tế, hiểu được tầm quan trọng của các biến số vĩ

mô quan trọng để phân tích và đưa ra các quyết định kinh tế trong cuộc sống Để đảm bảo thuận lợi cho việc học tập, yêu cầu các giảng viên và sinh viên sử dụng kết hợp giữa giáo trình này với giáo trình Kinh tế vĩ mô 1

Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 được chủ biên bởi TS Nguyễn Tất Thắng, được thiết kế gồm 5 chương, với nội dung cụ thể như sau:

Chương 1: Tăng trưởng kinh tế Chương này đề cập đến các vấn đề liên quan đến tăng

trưởng như: khái niệm, bản chất, ý nghĩa, nguồn gốc, các yếu tố quyết định, cơ chế và các chính sách thúc đẩy tăng trưởng của một nền kinh tế trong bối cảnh hiện nay

Chương 2: Tiết kiệm, đầu tư và hệ thống tài chính Nội dung của chương 2 đi sâu vào

phân tích bản chất, hình thức cũng như các yếu tố tác động đến tiết kiệm, đầu tư và mối quan

hệ của chúng trong hệ thống tài chính

Chương 3: Kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế mở Chương 3 nghiên cứu, phân tích các cơ chế và cách thức đo lường, đánh giá sự tác động của các tác nhân người nước ngoài đến các vấn đề kinh tế vĩ mô trong nước

Chương 4: Thị trường lao động: thất nghiệp, tiền lương Chương 4 đề cập đến bản chất, các khuyết tật, rào cản cũng như giải pháp khắc phục các rào cản trong việc giải quyết vấn đề thất nghiệp cũng nhằm nâng cao mức tiền lương cho người lao động

Chương 5: Chính sách ổn định kinh tế vĩ mô Chương này sẽ khái quát lại nội dung, cơ chế

của các chính sách kinh tế vĩ mô chủ yếu đồng thời bàn luận về các cách thức xây dựng chính sách cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra

Trong đó, phân công biên soạn các chương cụ thể như sau:

- ThS Nguyễn Thị Thu Quỳnh: biên soạn chương 1

- ThS Đoàn Bích Hạnh: biên soạn chương 2,3

- TS Nguyễn Tất Thắng: chủ biên, biên soạn chương 4,5 Kết cấu của giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 được trình bày thống nhất ở các chương với các nội dung cụ thể như sau: (1) Phần giới thiệu chương đề cập đến ý nghĩa và giới thiệu sơ lược các nội dung chính được trình bày trong chương (2) Phần nội dung chính của chương được chia thành các nội dung, bài học, được sắp xếp theo trình tự các vấn đề từ khái quát đến mở rộng trên cơ sở tham khảo các giáo trình Kinh tế vĩ mô đang được sử dụng để giảng dạy ở các trường đại học tiên tiến trên thế giới Đặc biệt ở trong phần này, các nội dung lý thuyết được minh họa bằng các đồ thị, hình, bảng số liệu cập nhật các thông tin thực tế về nền kinh tế vĩ

mô của các nước trên thế giới và ở Việt Nam (3) Phần tóm tắt cuối chương giúp sinh viên có thể dễ dàng tổng hợp lại nội dung các bài học Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng gợi ý một số câu hỏi ôn tập và giới thiệu một số dạng bài tập vận dụng lý thuyết được trình bày trong chương

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình biên soạn Do vậy, tập thể nhóm giảng viên biên soạn mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các đồng nghiệp, sinh viên và người đọc

Trang 7

Mọi ý kiến góp ý xin gửi về:

Bộ môn Kinh tế, Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Điện thoại: 024 6261 7518 Email: bmkt.hua@gmail.com

Trang 8

Chương 1

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Trong đời sống hàng ngày, con người luôn hướng tới một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn Điều này chỉ được đáp ứng khi nền kinh tế sản xuất ra ngày một nhiều hơn các loại hàng hóa, dịch vụ để thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người Chính bởi lẽ đó, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi mục tiêu sản lượng và tăng trưởng kinh tế là một mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng, quyết định đến khả năng thực hiện và đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác như tạo việc làm, ổn định giá cả, cân bằng cán cân thanh toán, Do đó, cần thiết phải nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế để đánh giá khả năng sản xuất của các nền kinh tế, từ đó giúp đánh giá được mức sống của người dân của các quốc gia này

Mục tiêu nghiên cứu của chương 1 là tập trung phân tích khái niệm và bản chất của tăng trưởng kinh tế; đánh giá ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống của người dân từng quốc gia; giải thích được nguồn gốc của sự tăng trưởng kinh tế; phân tích được các yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế và nghiên cứu cơ chế, mô hình của sự tăng trưởng; đề xuất các chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phân tích các xu hướng mới của sự tăng trưởng của các nền kinh tế trên thế giới

1.1 Khái niệm, bản chất và đo lường tăng trưởng kinh tế

1.1.1 Khái ni ệm tăng trưởng kinh tế

Kinh tế là hoạt động phân bổ nguồn lực đầu vào (có hạn) để sản xuất ra các loại sản phẩm hàng hóa, dịch vụ khác nhau để thỏa mãn nhu cầu đa dạng (vô hạn) của con người Do vậy, thành tựu của nền kinh tế cuối cùng là hướng tới tạo ra càng nhiều sản phẩm để đáp ứng tốt hơn nhu cầu sống ngày một gia tăng của con người

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng mức sản xuất mà nền kinh tế tạo ra theo thời gian Hay cụ thể hơn tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng quy mô, số lượng sản phẩm (sản lượng) hay thu nhập của toàn bộ nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)

Đứng trên góc độ một nền kinh tế mức sản lượng hay thu nhập của nền kinh tế thường được

đo lường thông qua các chỉ tiêu đo lường cơ bản như tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), hay thu nhập quốc dân (NI) Mặc dù đa số các chỉ tiêu này đều phản ánh mặt sản lượng của nền kinh tế, tuy nhiên do yêu cầu hạch toán về cùng một đơn vị tính nên các chỉ tiêu này đều lấy sản lượng nhân với giá của hàng hóa để quy ra đơn vị giá trị (tính bằng đơn vị tiền tệ) Điểm lưu ý ở đây đó là các chỉ tiêu này phải được đo lường theo mức giá

cố định (giá của một năm gốc nào đó) để phản ánh thực tế mức độ gia tăng hoàn toàn về mặt sản lượng, loại bỏ tác động của yếu tố giá hàng hóa, dịch vụ theo thời gian Mức giá của năm gốc được xác định khác nhau ở mỗi quốc gia và ở từng giai đoạn khác nhau (thường được duy trì trong giai đoạn 5-7 năm) Hiện nay ở Việt Nam, Tổng cục thống kê đang sử dụng giá của năm 2010 là giá gốc để tính toán các chỉ tiêu GDP và các chỉ tiêu kinh tế khác

1.1.2 B ản chất của tăng trưởng kinh tế

a Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về mặt sản lượng của nền kinh tế

Khi nói đến tăng trưởng kinh tế, người ta không chỉ đơn thuần nói đến mức độ gia tăng sản lượng hàng hóa được tạo ra mà quan trọng hơn cả đó là khả năng sử dụng những hàng hóa đó

để thỏa mãn nhu cầu của người dân, đem lại mức sống tốt hơn cho đại đa số người dân trong

xã hội (Benjamin M Friedman, 2006) Thực tế cho thấy sự gia tăng sản lượng có thể sẽ không

có ý nghĩa khi mà dân số tăng rất nhanh trong khi GDP thực tế lại tăng trưởng chậm, dẫn đến

số sản phẩm mà mỗi người dân có thể tiếp cận và tiêu dùng giảm, mức sống bị ảnh hưởng Điều này dẫn đến phải có một định nghĩa khác thích hợp hơn về tăng trưởng kinh tế nhằm phản ánh được sự cải thiện mức sống của người dân Do vậy, tăng trưởng kinh tế cần phản ánh được sự gia tăng của sản lượng bình quân trên đầu người (bằng tổng sản lượng hàng hóa

và dịch vụ được tạo ra trong năm chia cho tổng dân số)

Số liệu từ bảng 1-1 dưới đây cho thấy mặc dù Mỹ luôn được biết là quốc gia có nền kinh tế

Trang 9

lớn nhất trên thế giới nhưng GDP thực tế bình quân trên đầu người của Mỹ lại chỉ đứng thứ

13 trên toàn thế giới Tương tự, Trung Quốc là nền kinh tế đứng thứ hai nhưng GDP thực tế bình quân trên đầu người của nước này chỉ đứng thứ 81 trên thế giới Trong khi đó, Quatar có GDP đạt 152,469 tỷ USD, đứng thứ 52 trên toàn thế giới nhưng lại là quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao nhất (IMF, 2017; GREGSON, 2017)

Bảng 1-1 Thứ hạng các quốc gia, vùng lãnh thổ theo GDP thực tế/người năm 2016

Thứ hạng Quốc gia GDP/người tính theo PPP*(USD)

 Sự gia tăng của sản lượng tiềm năng Trên giác độ lý thuyết, có quan điểm cho rằng tăng trưởng kinh tế được thể hiện ở sự gia tăng của sản lượng tiềm năng Nói cách khác, là sự dịch chuyển ra phía bên ngoài của đường giới hạn khả năng sản xuất (đường PPF) Điều này đã được chỉ rõ tính ổn định của sự tăng trưởng

đó là luôn làm cho sản lượng duy trì được ở mức sản lượng tiềm năng Còn tăng trưởng là đẩy nhanh sự gia tăng của sản lượng tiềm năng, nâng cao mức giới hạn khả năng sản xuất của nền kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế phải ổn định trong dài hạn và tránh được những biến động

từ bên ngoài Điều này là cần thiết bởi lẽ nếu tốc độ tăng trưởng không ổn định thì thể hiện mức sống của người dân cũng không ổn định và chịu nhiều tác động từ điều kiện bên ngoài

 Sự gia tăng về nguồn lực đầu vào và kết quả đầu ra của nền kinh tế theo thời gian Tăng trưởng kinh tế theo quan điểm của Paul A Samuelson (1947) đã chỉ ra đây là một xu hướng thay đổi nhanh chóng trên cả góc độ về mặt phương tiện (nguồn lực) và cả kết quả (khả năng đáp ứng nhu cầu) theo thời gian Như vậy, theo quan điểm của Samuelson thì “kinh

tế học là một môn hoa học xã hội, nó nghiên cứu sự lựa chọn của mỗi xã hội trong việc phân

bổ và sử dụng nguồn lực của nó cho các mục đích sử dụng cạnh tranh, để sản xuất ra hàng hóa

và dịch vụ cho tiêu dùng hiện tại và tương lai” Do vậy bản chất của tăng trưởng kinh tế theo Samuelson sẽ tập trung vào những tiêu chí chính như sau:

◦ Nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực

◦ Tạo ra sự linh động (nhạy bén về mặt thời gian)

◦ Là một sự lựa chọn

◦ Không thể áp dụng một cách đại trà

Trang 10

◦ Giúp giải quyết các vấn đề hiện tại của cuộc sống Tóm lại, theo quan điểm của Samuelson, thì tăng trưởng kinh tế là một khái niệm hoàn thiện

và cải tiến vì nó đã lồng ghép được 2 khái niệm về phúc lợi xã hội với sự khan hiếm về nguồn lực Điều này giải thích tại sao quan niệm của ông nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà khoa học và vận dụng rộng rãi trong các nghiên cứu sau này

Bên cạnh đó, Benjamin M Friedman (2006) thì lại cho rằng tăng trưởng kinh tế phải tạo ra sự cải thiện đáng kể về cơ hội, sự đa dạng, sự linh động trong xã hội, sự cam kết về công bằng và ủng hộ sự dân chủ trong sản xuất và tiêu dùng

b Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng sản lượng theo thời gian

Khi các nhà kinh tế nghiên cứu tăng trường kinh tế, họ quan tâm đến tăng trưởng của sản lượng thực tế (hay sản lượng trên mỗi đầu người) qua một thời kỳ dài để có thể xác định được các yếu tố làm tăng GDP thực tế tại mức tự nhiên trong dài hạn

Bảng 1-2 trình bày số liệu về GDP thực tế bình quân đầu ngườicủa 13 nền kinh tế trên thế giới Với mỗi nước, số liệu bao quát thời gian khoảng 100 năm Cột thứ nhất và thứ hai của bảng ghi tên nước và khoảng thời gian (khoảng thời gian giữa các nước có khác nhau đôi chút

vì lý do số liệu) Cột thứ ba và thứ tư ghi thu nhập thực tế bình quân đầu người cách đây một thế kỷ hoặc năm gần nhất Cột cuối cùng của bảng trên ghi tỷ lệ tăng trưởng của mỗi nước Tỷ

lệ tăng trường phản ánh mức độ tăng nhanh hay chậm của GDP thực tế bình quân đầu người trong một năm

Phân tích cụ thể các số liệu về thu nhập thực tế bình quân đầu người và tỷ lệ tăng trưởng của các nước cho thấy mức sống của người dân ở các nước khác nhau trong cùng khoảng thời gian xem xét rất khác nhau Thu nhập bình quân ờ Mỹ gấp 8 lần ở Trung Quốc, và khoảng 15 lần ở Án Độ Những nước nghèo nhất có thu nhập bình quân đầu người rất thấp, chi bằng mức của nước Mỹ vài chục năm về trước

Bảng 1-2 Tăng trưởng kinh tế của một số nước trên thế giới

Thu nhập thực tế bình quân đầu người đầu kỳ (USD)

Thu nhập thực tế bình quân đầu người cuối kỳ (USD)

Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm (%)

Trang 11

động ngắn hạn xung quanh xu thế dài hạn và biểu hiện tỷ lệ tăng trường bình quân của GDP thực tế đầu người trong nhiều năm

Các nước trong Bảng 1-2 được sắp xếp theo thứ tự tốc độ tăng trưởng từ cao (tăng nhanh) đến thấp (tăng chậm) Nhật đứng đầu bảng với tốc độ 2,82% mỗi năm Cách đây khoảng một trăm năm, Nhật không phải là nước giàu Khi đó, thu nhập bình quần của người Nhật chi cao hơn người Mexico một chút và thấp hơn hẳn người Áchentina Nhìn từ góc độ khác, thu nhập của người Nhật vào năm 1890 thấp hơn thu nhập của người Ẩn Độ vào năm 1997 Nhưng với tốc

độ tăng trường thần kỳ của nó, Nhật giờ đây đã trở thành siêu cường kinh tế với thu nhập bình quân đầu người chỉ thua Mỹ Đứng cuối bảng là Bănglađét với tốc độ tăng trưởng bình quân

là 0.78%/năm trong một thế kỳ qua Kết quả là, người dân Bănglađét vẫn tiếp tục sống trong cảnh nghèo khó

Vì sự khác biệt về tốc độ tăng trưởng, vị trí xếp hạng của các nước theo thu nhập thay đổi mạnh mẽ theo thời gian Như chúng ta đã thấy, Nhật là nước đã vươn lên trên nhiều nước khác Một nước tụt lại phía sau là Anh Vào năm 1870, Anh là nước giàu nhất thế giới với thu nhập bình quân đầu người cao hơn Mỹ khoảng 20% và xấp xỉ gấp đôi Canada Ngày nay, thu nhập bình quân đầu người của Anh đã thấp hơn hai nước này

Số liệu trên cho thấy những nước giàu nhất không hề được bảo đảm sẽ giữ nguyên vị trí ấy và các nước nghèo nhất cũng không mãi mãi trong cảnh nghèo Nhưng điều gì lý giải cho sự thay đổi ấy? Vì sao một số nước tăng trường rất nhanh, trong khi một số khác lại tụt hậu? Đó chính

là vấn đề mà chúng ta phải giải quyết trong các phần tiếp theo

1.1.3 Đo lường sự tăng trưởng

Tăng trưởng kinh tế có thể được biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc số tương đối (tốc độ tăng trưởng) Tuy nhiên chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế thường được sử dụng phổ biến hơn

Tăng trưởng kinh tế được định nghĩa là sự gia tăng mức sản xuất mà nền kinh tế tạo ra theo thời gian Do đó, tốc độ tăng trường kinh tế thường được tính bằng phần trăm thay đổi của tổng sản lượng quốc nội GDP thực tế

%100

*1 1

Y

Y Y g

Trong đó: g - là tốc độ tăng trưởng của thời kỳ t

Yt - là GDP thực tế của thời kỳ t

Yt-1 - là GDP thực tế của thời kỳ trước đó t-1 Quan tâm đến mục đích của sự tăng trưởng là đem lại mức sống tốt hơn cho đa số người dân nên chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế thường được tính bằng phần trăm thay đổi của GDP thực tế (hoặc thu nhập thực tế) bình quân trên đầu người

%100

*1 1

pc

y

y y g

Trong đó: gpc - là tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân đầu người của thời kỳ t

yt - là GDP thực tế bình quân đầu người, bằng GDP thực tế chia cho tổng dân

số của một nước (hay tính bằng Yt/POP)

POP – là tổng dân số của một nước Tốc độ tăng trưởng kinh tế của các quốc gia theo các thời kỳ có thể được chia ra thành các mức độ khác nhau:

- Tăng trưởng chậm: g ≈1 - 2%/năm: các nước kinh tế phát triển (G7, OECD)

- Tăng trưởng trung bình: g ≈3 - 6%/năm: các nước đang phát triển

- Tăng trưởng nóng: g >7%/năm: Trung Quốc, Việt Nam (2006 - 8,17%; 2007 - 8,3%)

1.2 Ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế

Trang 12

Thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia thường được đánh giá theo những dấu hiệu chủ yếu như: ổn định, tăng trưởng, và công bằng xã hội Trong đó, tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện hàng loạt vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội

Tăng trưởng kinh tế thể hiện bằng sự tăng lên về số lượng, chất lượng hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất ra nó, do đó tăng trưởng kinh tế là tiền đề vật chất để giảm bớt tình trạng đói nghèo Tăng trưởng kinh tế nhanh là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi quốc gia trên con đường vượt lên khắc phục sự lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng

Những câu hỏi thường được đặt ra như: Tại sao có sự phân hóa thu nhập bình quân người dân các quốc gia trên thế giới như Hình 1-1 dưới đây? Vì sao một số nền kinh tế lại nhanh chóng giàu lên theo thời gian còn một số nền kinh tế khác vẫn cứ nghèo Chẳng hạn những người dân Quatar lại có có mức thu nhập cao hơn gấp 100 lần người dân ở những nước nghèo như Mozambique như bảng 1-1 dưới đây (Gregson, 2017) Mức chênh lệch lớn về thu nhập cũng gây ra chênh lệch đáng kể về chất lượng cuộc sống khi người dân ở những nước giàu có nhiều tiện nghi cho cuộc sống của họ hơn, được chăm sóc y tế tốt hơn và có tuổi thọ cao hơn so với người dân ở các nước nghèo

Hình 1-1 Bản đồ thu nhập bình quân trên đầu người của các quốc gia trên thế giới năm 2017

1.2.1 Tăng trưởng kinh tế giúp cải thiện mức sống của người dân

Tăng trưởng kinh tế làm cho mức thu nhập của dân cư tăng, phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của cộng đồng được cải thiện như: kéo dài tuổi thọ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em, giúp cho giáo dục, y tế, văn hoá phát triển Hình 1-2 dưới đây đã

Trang 13

cho thấy có mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa thu nhập bình quân đầu người với tỷ lệ % dân số sống nghèo khổ (mức chi tiêu dưới 2USD/ngày) Hàn Quốc (S.Korea) có mức thu nhập thực

tế bình quân đầu người là rất cao (gần 15.000USD) nên tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo khổ của họ gần như không có Trong khi đó, các nước như Ấn Độ (India), Nepal, Bangladesh thì thu nhập bình quân đầu người chỉ khoảng xấp xỉ 1000USD, nhưng tỷ lệ dân số sống nghèo khổ rất cao (trên 75%)

Hình 1-2 Mối quan hệ giữa mức thu nhập và mức sống của người dân các nước

Nguồn: WB(2007) Tuy nhiên, vấn đề đói nghèo trên của các nước đang phát triển sẽ được giải quyết theo khuyến nghị của các chuyên gia kinh tế Các nghiên cứu được thực hiện với các số liệu thống kê thực

tế trong một khoảng thời gian dài cho thấy, một sự gia tăng nhỏ trong tốc độ tăng trưởng kinh

tế sẽ dẫn đến một sự cải thiện đáng kể trong mức sống của người dân ở các nước

Bảng 1-3 GDP thực tế bình quân/đầu người giai đoạn 1870 – 2003

Đơn vị: tính theo PPP international dollars

Nguồn:Frank & Bernanke (2009)

Nhìn vào bảng 1-3 có thể thấy tại thời điểm năm 1870 GDP của Nhật chỉ bằng 1/3 so với Đức nhưng đến năm 2003, Nhật đã đuổi sát Đức Điều này có thể được giải thích dựa vào số liệu

về tốc độ tăng GDP thực tế bình quân/đầu người của 2 nước theo số liệu bảng 1-4 dưới đây

Trang 14

không chênh nhau đáng kể Nếu như Đức có tốc độ tăng trưởng chậm dần lại thì tốc độ tăng trưởng của Nhật lại tương đối nhanh Thậm chí tốc độ tăng trưởng của Nhật cao hơn của Đức Tuy nhiên mức chênh lệch không đáng kể, chỉ dao động ở 0,8% giai đoạn 1870 – 2003, và 0.7% ở giai đoạn 1979 – 2003 Do vậy, câu hỏi đặt ra là tại sao một sự khác biệt nhỏ về tốc độ tăng trưởng lại có thể giúp Nhật đuổi kịp Đức như vậy Câu trả lời được giải thích thông qua

cơ chế lãi gộp dưới đây

Bảng 1-4 Tốc độ tăng GDP thực tế bình quân/đầu người, giai đoạn 1870 – 2003

Nước % thay đổi hàng năm

◦ Mức lãi suất là r%/năm

◦ Khoản tiền gửi ban đầu là Xt

◦ n là số năm

◦ Khoản tiền nhận được sau n năm là Xt+n

Theo cơ chế này thì nếu bạn gửi một khoản tiền gửi ban đầu Xt vào ngân hàng, mỗi năm bạn

sẽ nhận được phần lãi tăng thêm Nếu bạn tiếp tục gửi cả khoảng tiền ban đầu Xt và số tiền lãi

đó sang năm thứ hai thì đến cuối năm thứ hai bạn lại được trả lãi trên tổng số tiền cả gốc và lãi của năm thứ nhất Quá trình này lặp đi lặp lại sau n năm bạn sẽ nhận được khoản tiền gộp (kép) cả gốc và lãi vào năm thứ n là Xt+n

Cơ chế lãi gộp này có thể được vận dụng đối với sự tăng trưởng của một nền kinh tế Bạn coi

Xt chính là GDP của một nền kinh tế tại thời điểm t, nếu toàn bộ GDP này được tái đầu tư, với mức tăng trưởng r% thì sau n năm, GDP của nền kinh tế cũng biến thành Xt+n

Vấn đề đáng quan tâm ở đây đó là độ lớn của r% có ý nghĩa như thế nào? Giả sử bạn quan sát

Ví dụ 1-1

Giả sử có hai sinh viên tốt nghiệp đại học - Jerry và Elain - cùng khởi nghiệp ở tuổi 22 và kiếm được 30.000 USD mỗi năm Jerry sống trong nền kinh tế có tốc độ tăng trường 1%/ năm, còn Elain sống trong một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng 3%/ năm

Sau đây, các phép tính cho biết điều gì sẽ xảy ra 40 năm sau, khi cả hai đều 62 tuổi, Jerry sẽ kiếm được số tiền = Xt+n =Xt(1+r)n= 30.000(1+1%)40 ≈ 44.666 USD Elain sẽ kiếm được số tiền = Xt+n =Xt(1+r)n= 30.000(1+3%)40 ≈ 97.861USD Như vậy, chỉ với 2% khác nhau trong tốc độ tăng trưởng kinh tế, mà lương của Elain cao gấp hai lần lương của Jerry

Trang 15

thấy một quốc gia có tốc độ tâng trưởng trung bình là 1% mỗi năm trong khi một quốc gia khác là 3% mỗi năm Thoạt nhìn, điểu này dường như không phải là sự khác biệt lớn Vậy thì mức chênh lệch 2% này tạo nên sự khác biệt gì? Câu trả lời là: có sự khác biệt lớn Ngay cả những tỷ lệ tăng trưởng tưởng như nhỏ khi viết dưới dạng phần trăm vẫn trở thành rất lớn sau nhiều năm liên tiếp Vận dụng lý thuyết về cơ chế lãi gộp, các nhà nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế phát triển nó thành một quy tắc như sau:

 Quy tắc 70 Trên cơ sở lý thuyết về cơ chế lãi gộp, các nhà kinh tế đã tìm ra một quy tắc mang tính kinh

nghiệm, gọi là quy tắc 70, rất hữu ích trong việc tìm hiểu cũng như dự đoán và lên kế hoạch

cho vấn đề tăng trưởng của nền kinh tế các nước Theo quy tắc 70, nếu một biến số nào đó tăng với tỷ lệ r%/năm, thì nó sẽ tăng gấp đôi trong vòng (70/x) năm

• Công thức:

◦ r: tốc độ tăng trưởng

◦ n: số năm

Từ công thức trên suy ra: r.n = ln(2) = 0.6931 ≈ 70(%)

• Kết luận: Nếu một đại lượng nào đó (GDP, thu nhập quốc dân) tăng với tỷ lệ r% mỗi năm, thì nó sẽ tăng gấp đôi trong vòng n=70/r năm

Trong nền kinh tế mà Jerry sống, thu nhập tăng 1% một năm, vì vậy mất tới 70 năm để thu nhập tăng gấp đôi Trong nền kinh tế Elain sống, thu nhập tăng 3% một năm, nên chỉ mất 70/3 hay là 23 năm để thu nhập tăng gấp đôi

Quy tắc 70 không chỉ áp dụng cho nền kinh tế đang tăng trưởng, mà còn có thể áp dụng cho tài khoản tiết kiệm tăng trưởng

1.2.2 Tăng trưởng kinh tế góp phần giải quyết công ăn việc l àm, gi ảm thất nghiệp

Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, giảm thất nghiệp Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên nhân quan trọng được cho là nền kinh tế đó đã sử dụng tốt lực lượng lao động của nó Vì vậy, có thể đi đến kết luận rằng tăng trưởng kinh tế nhanh thì việc làm tăng, thất nghiệp có xu hướng giảm Rõ ràng, giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp thực tế có mối quan hệ tỷ lệ nghịch Nhà kinh tế học Okun (1962) đã nghiên cứu và đưa ra một giả thuyết về mối quan hệ tương ứng giữa 2 đại lượng này như sau:

 Quy luật Okun Mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa tăng trưởng thực tế và tỷ lệ thất nghiệp ở các nước đã được lượng hoá dưới tên gọi quy luật Okun được đặt tên theo tên của nhà kinh tế học Aurthor Okun (N Gregory Mankiw, 2016)

Trên thực tế, số tiền 5000 USD của Franklin chỉ tăng lên đến 2 triệu sau 200 năm vì một phần tiền đã được sử dụng trong thời gian này

Trang 16

∆ là sự thay đổi Quy luật này xác định, nếu nền kinh tế của một quốc gia đạt tốc độ tăng trưởng trung bình 3%/năm thì tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế nước này ổn định (giữ nguyên) Và ngược lại nếu tỷ lệ thất nghiệp tăng 2% thì GDP thực tế giảm đi 1% Cũng chính từ sự phát hiện ra quy tắc này nên đôi khi người ta còn gọi quy luật Okun là quy luật 2–1

1.2.3 Tăng trưởng kinh tế góp phần củng cố an ninh, quốc ph òng, c ải thiện vị thế của quốc gia

Tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề vật chất để củng cố an ninh quốc phòng, củng cố chế độ chính trị, tăng uy tín và vai trò quản lý của nhà nước đối với xã hội Điều này đã được minh chứng với thực tế của các nước lớn trên thế giới như Mỹ và Nga Đây là hai quốc gia có nền kinh tế lớn mạnh trên thế giới, đồng thời cũng là 2 quốc gia có sức mạnh quân sự, vị thế lớn trên trường quốc tế với ngân sách dành cho quốc phòng hàng năm lên tới hàng trăm tỷ USD Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, tăng trưởng kinh tế còn là điều kiện tiên quyết để khắc phục sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước đang phát triển

1.3 Nguồn gốc của sự tăng trưởng kinh tế

Như đã đề cập ở trên tăng trưởng kinh tế được thể hiện bởi sự gia tăng của tổng sản phẩm hay tổng thu nhập thực tế bình quân trên đầu người

GDP thực tế bình quân trên đầu người là một thước đo quan trọng để đánh giá về khả năng sản xuất hàng hóa của mỗi quốc gia Thông qua chỉ tiêu này, chúng ta có thể đánh giá được mức thu nhập, mức tiêu dùng nhằm góp phần cải thiện mức sống của người dân mỗi quốc gia Công thức:

◦ Y - GDP thực tế

◦ N - số người có việc làm

◦ POP - tổng dân số Dựa vào công thức ta có thể thấy: GDP bình quân trên đầu người đo lường số sản phẩm mà

mỗi người lao động làm ra trong một đơn vị thời gian nhân với tỷ lệ số người có việc làm

Ví dụ 1-3

Hãng thông tấn Reuters đưa tin: Thượng viện Mỹ ngày 18/9/2017 đã thông qua dự luật về ngân sách quốc phòng cho tài khóa 2018 trị giá 700 tỷ USD, nhằm ủng hộ lời kêu gọi của Tổng thống Donald Trump về việc xây dựng một quân đội lớn và mạnh mẽ hơn Con số này cho thấy, ngân sách quốc phòng Mỹ năm 2018 cao hơn 81 tỷ so với năm 2017, trong đó 8,5 tỷ USD được dành riêng cho hệ thống phòng thủ tên lửa

Nguồn: Nguyễn Hoàng (2017)

Trang 17

là nền kinh tế tạo ra nhiều việc làm, các doanh nghiệp thuê thêm lao động nhưng các yếu tố sản xuất khác như vốn, đất đai, máy móc, không gia tăng tương ứng thì số sản phẩm tạo ra không những không tăng lên mà còn có xu hướng giảm đi Mặt khác, vấn đề việc làm còn đi kèm với nó là những hệ quả về mặt xã hội, điển hình như chất lượng các mối quan hệ xã hội khác bị suy giảm do quỹ thời gian của người lao động bị giới hạn trong 24 giờ (con cái không được bố mẹ quan tâm, chăm sóc, tập quán sinh hoạt truyền thống bị phá vỡ, thời gian nghỉ ngơi bị rút ngắn, ) Trường hợp thứ 3, và thứ 4 thì cơ hội xảy ra khó hơn do bản thân mỗi nền kinh tế không thể chủ động quyết định mọi vấn đề, đôi khi gặp phải những tác động từ

bên ngoài dẫn đến không đạt được mục tiêu đề ra Do vậy, có thể thấy, hầu hết các quốc gia

có được sự tăng trưởng cao là do sự gia tăng của năng suất lao động bình quân

Tăng trưởng kinh tế luôn được khẳng định là mục tiêu của các chính phủ, nhưng một câu hỏi đặt ra là vậy thì điều gì quyết định tăng trưởng; vì sao lại có sự khác biệt to lớn về mức sống trên thế giới như đã chỉ ra trong ví dụ đã nêu ở trên Như chúng ta đã thấy, lời giải thích có thể gói gọn trong một từ duy nhất: năng suất Nhưng nhìn từ một góc độ khác, sự khác biệt giữa các nước lại thật khó hiểu Để lý giải vì sao thu nhập ở một số nước cao hơn các nước khác nhiều đến thế, chúng ta cần phải xem xét các yếu tố quyết định năng suất của một nước Chúng ta bắt đầu nghiên cứu về năng suất và tăng trưởng bằng cách phát triển mô hình giản đơn được gọi là nền kinh tế Robinson Crusô Robinson Crusô là một thuỷ thủ thoát nạn đắm tàu và trôi dạt vào một hoang đảo Vì Crusô sống một mình, anh ta phải tự bắt cá, trồng rau và may quần áo Chúng ta có thể coi hoạt động của Crusô - quá trình sản xuất và tiêu dùng cá, rau và quần áo - như một nền kinh tế giản đơn Qua việc nghiên cứu nền kinh tế của Crusô, chúng ta sẽ rút ra một số bài học thực tiễn có thể áp dụng cho các nền kinh tế hiện thực và phức tạp hơn

Cái gì quyết định mức sống của Crusô? Câu trả lời rất rõ ràng: Nếu Crusô giỏi bắt cá, trồng rau và may quần áo, anh ta sẽ sống sung túc Vì Crusô chỉ có thể tiêu dùng những gì mình sản xuất ra, nên mức sống của anh ta phụ thuộc vào năng lực sản xuất của anh ta

Thuật ngữ năng suất phản ánh lượng hàng hoá và dịch vụ mà một công nhân sản xuất ra trong mỗi giờ lao động Trong trường hợp nền kinh tế của Crusô, chúng ta dễ dàng nhận thấy năng suất là yếu tố then chốt quyết định mức sống, và sự gia tăng năng suất là yếu tố then chốt quyết định tốc độ gia tăng mức sống Càng bắt được nhiều cá trong một giờ, Crusô càng có nhiều cá để ăn Nếu Crusô tìm ra một khu vực có nhiều cá, năng suất bắt cá của anh ta sẽ tăng

Sự gia tăng năng suất như thế làm Crusô sống sung túc hơn Anh ta được ăn nhiều cá hơn mà thời gian bắt cá lại giảm, vì thế có thể dành thời gian để tạo ra các hàng hoá khác phục vụ cho cuộc sống

Cũng giống như mô hình đơn giản này, năng suất cũng đóng vai trò quyết định mức sống của một nước Hãy nhớ lại rằng tổng sản phẩm trong một nước phản ánh đồng thời: tổng thu nhập của tất cả các thành viên trong nền kinh tế và tổng chi tiêu cho sản lượng hàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế

Giống như Crusô, đất nước chỉ có thể hưởng thụ cuộc sống tốt đẹp hơn khi nó sản xuất được lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn Người Mỹ sống sung túc hơn người Nigiêria vì công nhân

Mỹ có năng suất cao hơn công nhân Nigiêria Nghĩa là mức sống của một nước phụ thuộc vào năng lực sản xuất hàng hoá và dịch vụ của nước đó

Do vậy, để hiểu được sự khác biệt to lớn trong mức sống của người dân giữa các nước hay giữa những thời kỳ khác nhau, chúng ta buộc phải nhìn vào quá trình sản xuất hàng hoá và dịch vụ Nhưng xem xét mối liên hệ giữa mức sống và năng suất mới chỉ là bước khởi đầu Điều này tất yếu dẫn chúng ta đến câu hỏi: Vì sao một số nền kinh tế lại có khả năng sản xuất

ra nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn các nền kinh tế khác? Những nhân tố nào quyết định đến cải thiện năng suất và từ đó góp phần tạo ra tăng trưởng kinh tế?

Trang 18

1.4 Các yếu tố quyết định đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia

Như đã phân tích ở trên, yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định đến sự tăng trưởng của một quốc gia đó là sự nâng cao năng suất lao động (Y/N) Phân tích về toán học cho thấy, để năng suất tăng thì sản lượng đầu ra (Y) phải tăng hoặc số lao động (N) giảm Tuy nhiên, thực tế cho thấy, việc giảm số lao động không phải là giải pháp lý tưởng Do đó, có thể nói bản chất sự gia tăng năng suất chính là sự gia tăng sản phẩm đầu ra của nền kinh tế trong điều kiện các nguồn lực có hạn Điều này cho thấy, do quy mô, số lượng nguồn lực đầu vào có hạn, vậy để gia tăng số lượng sản phẩm đầu ra không còn cách nào khác là phải nâng cao được chất lượng các nguồn lực đầu vào Đề cập đến các nguồn lực đầu vào của nền kinh tế, chúng ta có thể khái quát rằng các nhân tố quyết định tăng trưởng chính là những yếu tố liên quan đến nguồn lực dành cho sản xuất của nền kinh tế, bao gồm:

- Lao động (L- Labour): là khoảng thời gian con người sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa

và dịch vụ (bao gồm thể lực và trí lực của con người được sử dụng vào quá trình sản xuất)

- Tư bản hay là vốn (K- Capital): là máy móc, thiết bị, nhà xưởng, đường xá, nguyên vật liệu

để sản xuất ra các loại hàng hóa khác

- Đất đai và tài nguyên thiên nhiên (R- Resources): là một khoảng không gian nơi diễn ra các

hoạt động sản xuất và cũng là nơi chứa đựng các tài nguyên thiên nhiên như than đá, dầu mỏ, khí đốt, khoáng sản,

- Khoa học công nghệ (T- Technology): là các kỹ thuật, cách thức, dây chuyền để sản xuất ra

các loại hàng hóa, dịch vụ

- Ngoài ra còn có trình độ quản lý (M- Managerment): các nhà lãnh đạo, nhà quản lý có kỹ

năng điều hành, phối hợp, chỉ đạo, tổ chức quá trình sản xuất

1.4.1 Lao động

Nhiều nhà kinh tế cho rằng chất lượng đầu vào của lao động là kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của lực lượng lao động Đây được coi là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế Hầu hết các yếu tố khác của sản xuất như tư bản hiện vật, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc thuê được trong nền kinh tế thế giới nhưng khó có thể mua được kỹ năng, kiến thức, kỷ luật của người lao động Một nước có thể nhập khẩu các thiết bị thông tin viễn thông, máy tính, máy phát điện, các loại máy móc, dây chuyền sản xuất hiện đại nhất Nhưng những hàng tư bản này chỉ có thể được sử dụng một cách có hiệu quả nhất nếu như người công nhân có kỹ năng và được đào tạo, có trình độ chuyên môn và có kỷ luật lao động cao đóng góp làm tăng năng suất lao động trung bình, từ đó tạo ra tăng trưởng kinh tế

Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù năng suất lao động đã được cải thiện, tuy nhiên so với các nước khác trong khu vực, năng suất lao động của người lao động Việt Nam còn thấp hơn nhiều lần

so với năng suất của lao động các nước khác (hộp 1-1) Do vậy, mức sống của người dân Việt Nam, đo lường thông qua chỉ số phát triển con người (HDI) cũng thấp hơn so với các nước khác trong khu vực (Hình 1-3)

Hộp 1 – 1 Năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 4,4% của Singapore

Ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê đánh giá, “mặc dù năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua đã có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm nhưng còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực Chẳng hạn, năm 2015, năng suất lao động của Việt Nam theo giá hiện hành đạt 3.660 USD, chỉ bằng 4,4% của Singapore; 17,4% của Malaysia; 35,2% của Thái Lan; 48,5% của Philippines và 48,8% của Indonesia Nguồn: vov.vn, 2016

Trang 19

Hình 1-3 Mối quan hệ giữa mức thu nhập và mức sống của người dân các nước ASEAN

đó, chiếc máy tiện đã là sản phẩm của nhà sản xuất máy tiện Nhà sản xuất máy tiện lại phải

sử dụng các công cụ và trang thiết bị khác để làm ra máy tiện Như vậy, tư bản hiện vật là nhân tố sản xuất được dùng để sản xuất ra tất cả các loại hàng hoá và dịch vụ, trong đó có bản thân tư bản

Bản thân tư bản hiện vật của một nước tăng trưởng theo thời gian, nhưng tăng nhanh hay chậm phụ thuộc vào quá trình tích lũy tư bản Nhưng như chúng ta biết tích lũy tư bản cần có

sự hy sinh tiêu dùng hiện tại trong nhiều năm Những nước tăng trưởng nhanh có xu hướng đầu tư mạnh vào hàng hóa tư bản mới; ở những nước tăng trưởng nhanh nhất, họ thường dành 10% đến 20% thu nhập cho tích lũy tư bản Khi bàn đến tư bản, chúng ta không chỉ đề cập đến nhà xưởng, máy móc Nhiều đầu tư do chính phủ tiến hành và đặt nền móng cho sự phát triển của khụ vực tư nhân Những đầu tư này được gọi là tư bản cố định xã hội và bao gồm dự

án lớn như mở đường cho các hoạt động thương mại Đường xá và các dự án về nước và thủy lợi, các biện pháp y tế cộng đồng là những ví dụ quan trọng Tất cả những dự án này bao gồm những khoản đầu tư lớn thường không thể chia nhỏ được hay đầu tư trọn gói, và nhiều khi có lợi tức tăng dần theo quy mô Thường thì các khoản đầu tư này ảnh hường đến tăng trưởng kinh tế một cách ngoại sinh, hay ảnh hường lan tỏa mà các doanh nghiệp tư nhân không thể đảm đương được, do đó chính phủ phải tham gia vào để đảm bảo rằng những đầu tư cơ sở hạ tầng hay tư bản xã hội được thực hiện

1.4.3 Đất đai và tài nguyên thiên nhiên

Một trong các yếu tố sản xuất quan trọng nữa là tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất do thiên nhiên mang lại, như đất đai, sông ngòi

và khoáng sản Có hai loại tài nguyên thiên nhiên: loại tái tạo được và loại không tái tạo được

Trang 20

Rừng cây là ví dụ về loại tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được Dầu mỏ là tài nguyên không tái tạo được vì nó là sản phẩm của thiên nhiên sau hàng ngàn năm biến đổi, nên nguồn cung chỉ có hạn Khi nguồn cung dầu mỏ cạn kiệt chúng ta không thể tái tạo thêm

Sự khác biệt về nguồn tài nguyên thiên nhiên gây ra một số khác biệt về mức sống trên thế giới Sự thành công có ý nghĩa lịch sử của Mỹ bắt nguồn từ cung đất đai rộng lớn, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp Ngày nay một số nước ở vùng Trung Đông như Cô-oét và Ả rập Xê-út rất giàu chỉ vì họ sống trên những giếng dầu lớn nhất thể giới

Mặc dù nguồn tài nguyên thiên nhiên cỏ ý nghĩa quan trọng, nhưng đó không nhất thiết là nguyên nhân làm cho nền kinh tế có năng suất cao trong việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ Ví

dụ, Nhật là một trong những quốc gia giàu nhất thế giới mặc dù không có nhiều tài nguyên thiên nhiên Thương mại quốc tế giúp trao đổi tài nguyên khan hiếm chính là nguyên nhân đem lại thành công của nước Nhật Nhật nhập khẩu rất nhiều tài nguyên thiên nhiên cần thiết, chẳng hạn dầu mỏ, rồi xuất khẩu hàng công nghiệp sang các nước có nhiều tài nguyên khác

1.4.4 Khoa học công nghệ

Cùng với ba nhân tố sản xuất đã thảo luận ở trên, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào nhân

tố hết sức quan trọng là công nghệ Theo dòng lịch sử của các nền kinh tế, tăng trưởng của các nền kinh tế trên thế giới đi theo các mô hình khác nhau, không đơn thuần là quá trình gia tăng thêm nhà máy hoặc công nhân Thực tế cho thấy, nguyên nhân đem lại mức tăng trưởng nhanh mang tính đột phá ở một số nước châu Âu, Mỹ, Nhật và các nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, Singapore, là do một quá trình sáng chế và thay đổi công nghệ không ngừng từ

đó đem lại một bước tiến xa về khả năng sản xuất của các nước này so với các nước khác không có sự sáng tạo về mặt công nghệ

Thay đổi công nghệ là những thay đổi trong quá trình sản xuất hoặc đưa ra những sản phẩm mới sao cho có thể tạo ra được sản lượng nhiều hơn và cải tiến hơn với cùng một lượng đầu vào Những phát minh đã làm năng suất tăng mạnh là động cơ hơi nước, máy phát điện, bóng đèn, động cơ đốt trong, và máy bay phản lực hạng nặng chở khách Những thay đổi công nghệ

cơ bản là những phát minh ra sản phẩm mới như điện thoại, máy thu thanh, máy bay, mảy ảnh, vô tuyến truyền hình và mảy tính Những phát minh này là những phát minh nổi bật nhất trong kỷ nguyên hiện đại đang diễn ra trong ngành điện tử và tin học, mà một máy tính sách tay nhỏ bé ngày nay có công suất vượt xa máy tính nhanh nhất của những năm 1960 Những phát minh này là những ví dụ đặc sắc nhất về thay đổi công nghệ Tuy nhiên thay đổi công nghệ trên thực tế là một quá trình liên tục bao gồm những cải tiến lớn, nhỏ Nhưng cải tiến nhỏ là bộ phận của sự tiến bộ đều đặn của nền kinh tế

Do tầm quan trọng của nó trong việc nâng cao mức sống, các nhà kinh tế từ lâu đã suy nghĩ làm thế nào để khuyến khích tiến bộ công nghệ Rõ ràng rằng thay đổi công nghệ không phải

là quá trình cơ học đơn giản của việc đi tìm những sản phẩm và quá trình sản xuất tốt hơn Thay vì thế, sáng kiến nhanh đòi hỏi phải nuôi dưỡng bằng một sự đầu tư thích đáng cho quá trình nghiên cứu và phát triển khoa học, công nghệ

Với những phân tích trên có thể nói khoa học công nghệ là yếu tố quyết định nhất đến sự gia tăng năng suất lao động Thay đổi công nghệ có thể dẫn đến thay đổi đáng kể sản phẩm đầu ra

1.4.5 Trình độ quản lý, quản trị

Cần phải nhấn mạnh rằng quá trình sản xuất ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ là một quá trình

sử dụng kết hợp các yếu tố đầu vào khác nhau để tạo ra cùng một sản phẩm đầu ra Đối với mỗi loại sản phẩm đầu ra lại đòi hỏi một tỷ lệ kết hợp khác nhau giữa các yếu tố đầu vào cơ bản Do vậy, cần thiết phải có một tác nhân đứng ra tổ chức, điều phối, phân bổ sử dụng hiệu quả, hợp lý các yếu tố đầu vào trên để tạo ra sản lượng hàng hóa như mong muốn với chất lượng đảm bảo đáp ứng nhu cầu của con người Trước đây, tác nhân này được coi như một loại lao động cấp cao trong doanh nghiệp Tuy nhiên quan điểm của các nhà quản trị học hiện

Trang 21

đại thì vai trò của tác nhân này cần tách biệt với vai trò của các lao động thông thường Do vậy, ở đây chúng tôi đề cao vai trò của các doanh nhân, các nhà quản lý, quản trị Đây là những người, nhóm người có khả năng quản lý, quản trị doanh nghiệp hiệu quả và là yếu tố thúc đẩy một nền kinh tế năng động và lớn mạnh Vì nếu không biết cách quản lý, quản trị hiệu quả doanh nghiệp, quá trình sản xuất thì không thể biết cách phân bổ sử dụng hợp lý, tiết kiệm đầu vào mà lại tạo ra được nhiều hơn sản phẩm đầu ra Thực tế đã chứng minh, cùng một quốc gia, hay một doanh nghiệp với quy mô nguồn lực như nhau nhưng mỗi nhà quản lý lại đưa ra các chính sách, quyết định khác nhau dẫn tới các kết quả khác nhau về sự tăng trưởng của quốc gia, doanh nghiệp đấy

Điểm hình như câu chuyện của Larry Page và Sergey Brin đã xây dựng nên công ty công nghệ hàng đầu thế giới Google với rất ít nguồn lực, chủ yếu bằng ý tưởng và quyết tâm của họ chứ không phải dựa vào quy mô nguồn lực đầu vào đất đai, tài nguyên hay lượng vốn dồi dào Mark Zukerberg, nhà sáng lập, CEO của Facebook cũng xây dựng công ty trị giá hàng chục tỷ USD cũng chỉ với một ý tưởng và được thực hiện trên một máy tính trong phòng ký túc xá của Đại học Harvard

1.4.6 Môi trường chính trị, pháp lý

Bên cạnh các yếu tố đầu vào trên thì một yếu tố khác cũng tác động đáng kể đến việc gia tăng năng suất lao động của một quốc gia đó là môi trường chính trị, pháp lý Nền kinh tế không tồn tại độc lập mà luôn gắn với nó đó là một thể chế chính trị, pháp lý

Một quốc gia có môi trường chính trị, pháp lý ổn định, minh bạch, hiệu quả sẽ giúp nâng cao năng suất lao động cá nhân đồng thời nâng cao năng suất lao động trung bình thông qua các hoạt động:

◦ Thúc đẩy mọi người hoạt động một cách hiệu quả kinh tế

◦ Bảo vệ quyền sở hữu về tài sản

◦ Duy trì nền chính trị ổn định

◦ Thúc đẩy trao đổi tự do, bình đẳng Ngược lại, nếu môi trường chính trị, pháp lý bất ổn, sẽ gây ra tác động tiêu cực, ảnh hưởng đến sự bảo vệ quyền sở hữu tài sản, gây tâm lý bất ổn cho doanh nghiệp, người lao động Hệ quả là, các ông chủ doanh nghiệp, người lao động sẽ không yên tâm, chú tâm cho lao động sản xuất, năng suất lao động sẽ khó có thể cải thiện để tạo ra tăng trưởng kinh tế

1.5 Hạch toán tăng trưởng

Hiện nay, quan điểm của các nhà kinh tế cho rằng tất cả các yếu tố đầu vào đều tác động đến sản lượng đầu ra của nền kinh tế, tuy nhiên không phải tác động của yếu tố đầu vào nào cũng

dễ dàng đo đếm được Do vậy, thông qua phương trình hàm sản xuất của Cobb – Douglas, có thể đi đến các kết luận như sau:

◦ Tăng năng suất có thể là do năng suất lao động đem lại

◦ Tăng năng suất có thể do hiệu quả sử dụng vốn đem lại

◦ Tăng năng suất do hiệu quả tổng hợp của các yếu tố vô hình (các nhân tố kinh tế và phi kinh tế) đem lại Để đo hiệu quả của các yếu tố vô hình đem lại, các nhà kinh tế đưa ra thước đo “Năng suất các yếu tố tổng hợp - (TFP – Total Factor Productivity)”

1.6 Cơ chế của sự tăng trưởng

Mô hình tăng trưởng tân cổ điển được coi là công cụ cơ bản để tìm hiểu quá trình tăng trưởng kinh tế ở các nước tiên tiến và đã được áp dụng vào những nghiên cứu thực nghiệm về các nguồn tăng trưởng kinh tế Mô hình tăng trưởng của Solow được đặt tên theo nhà kinh tế học

Trang 22

Robert Solow và đã được giới thiệu trong 2 tác phẩm của ông đó là “Phát triển lý thuyết về tăng trưởng kinh tế“ được đăng trên tạp chí Kinh tế hàng quý tháng 2 năm 1956 (N Gregory

Mankiw, 2016) Mô hình tăng trưởng kinh tế của Solow được xây dựng nhằm cho thấy sự

gia tăng về vốn tư bản, sự gia tăng về lực lượng lao động và tiến bộ khoa học công nghệ đã tác động đến nhau như thế nào cũng như việc chúng ảnh hưởng đến tổng sản lượng quốc gia

về hàng hóa và dịch vụ

Đầu tiên, chúng ta sẽ giả định rằng lực lượng lao động và khoa học công nghệ là cố định Từ

đó chúng ta dần đi vào giả định có sự thay đổi tiếp theo của lực lượng lao động và sự thay đổi của khoa học công nghệ ở phần sau

1.6.1 Cung và c ầu về h àng hóa

Lý thuyết cung cầu trên thị trường hàng hóa đóng một vai trò quan trọng vì từ đó, chúng ta có thể xác định được số lượng sản phẩm sẽ được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian và phương thức phân bổ những sản phẩm này cho những mục đích sử dụng khác nhau Lý thuyết này được vận dụng cụ thể trong mô hình của Solow để phân tích cung và cầu như nhau:

a Cung về hàng hóa dịch vụ và hàm sản xuất

Mô hình tăng trưởng tân cổ điển mô tả một nền kinh tế trong đó một đầu ra đồng nhất duy nhất được sản xuất bằng hai loại đầu vào đó là: vốn tư bản (K) và lao động (L) Đường cung

về hàng hóa theo mô hình của Solow cũng tuân theo nguyên lý hàm sản xuất, là hàm số cho biết mức sản lượng đầu ra hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô nguồn lực vốn cũng như lực lượng lao động của nền kinh tế đó:

Y/L = F(K/L, 1) Hàm số này cho thấy mức sản lượng bình quân trên một lao động Y/L trở thành hàm số của mức vốn bình quân trên một lao động K/L

Đặt y= Y/L, k = K/L hàm số trên sẽ được viết gọn lại thành y =f(k)

Hệ số góc của hàm sản xuất này cho biết khi tăng vốn bình quân trên 1 lao động lên 1 đơn vị thì sản lượng bình quân trên một lao động tăng lên bao nhiêu đơn vị Và lượng đơn vị sản lượng bình quân tăng thêm này chính là MPK – sản phẩm biên trên một đơn vị vốn

MPK = f(k+1) – f(k) Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng, khi lượng vốn tư bản tăng nhanh thì đồ thị hàm sản xuất trở nên thoải hơn, điều đó có nghĩa là hàm sản xuất đến giai đoạn năng suất cận biên giảm dần (MPK nhỏ dần) (hình 1-3 đưới đây) Điều này được lý giải như sau, khi k nhỏ, thì mỗi người lao động chỉ làm việc với một lượng vốn tư bản ít, nên khi có sự gia tăng vốn tư bản, sẽ tạo thêm động lực làm tăng năng suất lao động Tuy nhiên khi k lớn, tức là mỗi lao động được trang bị quá nhiều vốn tư bản, thì khi có sự gia tăng vốn tư bản thêm nữa sẽ không tạo ra thêm động lực đáng kể để họ làm việc, nâng cao năng suất lao động

Trang 23

Vốn bình quân/lao động (k)

Hình 1-3 Đồ thị hàm sản xuất

Mặt khác, bản chất của hàm sản xuất cho biết mỗi loại hàng hóa, dịch vụ được tạo ra phải dựa trên sự kết hợp giữa các yếu tố đầu vào với 1 tỷ lệ nhất định, ví dụ mỗi cái máy do một công nhân điều khiển Nếu doanh nghiệp chỉ tập trung đầu tư thêm vốn tư bản, mua thêm máy móc, nhưng không thuê thêm công nhân, điều này có nghĩa là một công nhân phải điều khiển nhiều hơn 1 cái máy trong cùng một khoảng thời gian nhất định Điều này không những không góp phần làm tăng năng suất, tăng sản lượng đầu ra mà thậm chí có thể gây chồng chéo, làm suy giảm mức sản lượng thực tế

Do vậy có thể thể thấy, tăng vốn tư bản bình quân trên lao động làm tăng năng suất nhưng đến một lúc nào đó, tăng vốn sẽ dẫn đến làm giảm năng suất lao động bình quân, làm giảm sản lượng, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia

Xuát phát từ thực tế đó, đòi hỏi các nhà kinh tế phải tiếp tục nghiên cứu để tìm ra mức đầu tư tối ưu,một mặt vừa giúp tăng năng suất một mặt tránh được nguyên lý năng suất cận biên giảm dần

b Cầu về hàng hóa dịch vụ và hàm tiêu dùng

Cầu về hàng hóa trong mô hình của Solow bao gồm tổng cầu trong nền kinh tế giản đơn, tức

là chỉ bao gồm cầu về hàng tiêu dùng (C) và cầu về đầu tư (I) Như vậy tổng sản lượng hàng hóa sản xuất ra nhằm phục vụ đủ cho mức tổng cầu này, hay:

Y = C + I

Từ đẳng thức trên nếu ta chia cả 2 vế cho L (tổng số lao động) khi đó ta sẽ có

y = c + i (1) Trong đó: y=Y/L: sản lượng bình quân trên một lao động (hay năng suất lao động trung bình)

c=C/L: mức tiêu dùng của mỗi lao động i=I/L: mức đầu tư trên mỗi lao động Thêm vào đó, Solow cho rằng mỗi năm, mỗi người dân không tiêu dùng hết thu nhập kiếm được mà thường dành một tỷ lệ nhất định cho tiết kiệm s = S/Y (S là mức tiết kiệm, s là tỷ lệ tiết kiệm)

Phần còn lại của thu nhập mới dành cho tiêu dùng C= Y- S = Y – s*Y= (1 - s)*Y Chia cả 2

vế cho số lao động L, ta sẽ được

c = (1 - s)*y (2)

Từ (1) và (2) suy ra y = (1 - s)*y + i hay i = s*y (3) Phương trình (3) cho biết đầu tư chính bằng với tiết kiệm Và tỷ lệ tiết kiệm (s) còn phản ánh mức độ tái đầu tư của nền kinh tế hay là tỷ lệ tổng thu nhập dành cho tái đầu tư

1.6.2 Tr ạng thái ổn định d ài h ạn

Đầu tư là hoạt động mua sắm hàng hóa đầu tư của các doanh nghiệp nhằm làm gia tăng vốn hiện vật để đưa vào quy trình sản xuất ra một loại đầu vào mới Tuy nhiên, vấn đề đặt ra đó là

Sản lượng bình quân/lao động (y) = f(k)

Trang 24

vốn hiện vật này lại có giá trị thay đổi theo thời gian, mức độ thay đổi đó được gọi là tỷ lệ khấu hao (A) Giả sử chúng ta có khối lượng vốn đầu tư là K với tỷ lệ khấu hao A% thì sau 1 năm giá trị lượng vốn giảm đi A.K Tương tự vốn bình quân trên một lao động là k thì sau 1 năm lượng vốn này giảm đi A.k

Để đảm bảo duy trì quy mô sản xuất, nhằm đạt được mức độ ổn định về sản lượng đầu ra, hướng tới tăng trưởng kinh tế thì ít nhất đảm bảo duy trì ổn định lượng vốn tư bản của nền kinh tế Do vậy, hàng năm, chúng ta luôn dành một lượng vốn nhất định đầu tư thay thế cho những loại vốn tư bản bị suy giảm giá trị do hao mòn, mất giá, lạc hậu với tỷ lệ là A%

Khi đó chúng ta chia tổng đầu tư (I) thành hai mục đích chính: đầu tư mới (Ir) để đem lại tăng trưởng kinh tế và đầu tư thay thế (A)

I = Ir + A Hay trên quan điểm bình quân một lao động thì chúng ta chuyển đẳng thức trên thành:

i = ir +Ak hay s.y = ir + Ak Nền kinh tế sẽ đạt trạng thái ổn định nếu không có sự gia tăng đầu tư mới (ir =0) mà đầu tư chỉ nhằm thay thế cho những vốn tư bản bị khấu hao s.y = A.k

Hay s.f(k) = A.k (4)

Từ phương trình (4) chúng ra có thể rút ra giá trị k* thỏa mãn điều kiện đem lại trạng thái ổn định cho nền kinh tế như hình 1-6 dưới đây

Hình 1-4 Trạng thái ổn định dài hạn

Như vậy, khi không có sự thay đổi công nghệ, đầu tư làm tăng vốn tư bản bình quân/lao động

sẽ làm tăng sản lượng trên mỗi công nhân, làm tăng sản phẩm biên của người lao động và tăng tiền lương; nó cũng đồng thời dẫn đến lợi nhuận của các chủ đầu tư giảm dần, tăng trưởng giảm dần

Nhưng cân bằng dài hạn của mô hình tăng trưởng tân cổ điển cũng cho thấy rằng, nếu tăng trưởng kinh tế chỉ bao gồm tích lũy tư bản thông qua việc tái sản xuất những nhà máy và phương thức sản xuất như hiện có thì mức sống cuối cùng sẽ không được cải thiện

Trang 25

Hình 1-5 Tăng trưởng kinh tế thông qua tăng cường vốn đầu tư

Hình 1-5 minh họa cho trường hợp khi vốn đầu tư trên một lao động tiếp tục gia tăng thì sản lượng bình quân trên một lao động cũng gia tăng theo chiều mũi tên từ E’ đến E” đến E’” cho tới khi cuối cùng không tăng nữa tại trạng thái ổn định dài hạn V (tại mức vốn bình quân trên

1 lao động k*) Tại điểm V sản lượng trên mỗi công nhân (Y/L) là không đổi và tiền lương thực tế không tăng

1.6.3 Ứ ng d ụng phân tích chính sách tiết kiệm v à hi ệu ứng đuổi kíp

Các nghiên cứu trên cho thấy, một quốc gia sẽ có mức đầu tư cao và tăng trưởng nhanh khi có

sự gia tăng tỷ lệ tiết kiệm (s)

Giả sử chính phủ một nước theo đuổi chính sách tăng tỷ lệ tiết kiệm từ s1 lên thành s2 (minh họa ở hình 1-6 dưới đây) Khi tiết kiệm nhiều hơn, các nguồn lực dành cho sản xuất hàng tiêu dùng giảm xuống và nguồn lực dành cho sản xuất hàng đầu tư tăng lên Kết quả là khối lượng vốn tư bản trong nền kinh tế tăng, tạo điều kiện làm tăng năng suất và tạo ra tăng trưởng kinh

tế Nền kinh tế đạt được trạng thái ổn định dài hạn cao hơn so với trước, mức sống của người dân được cải thiện đáng kể

Hình 1-6 Tốc độ tăng tiết kiệm và tăng trưởng kinh tế

Tuy nhiên, điều này không phải là mãi mãi, mô hình trạng thái ổn định dài hạn cho thấy khi không có sự cải thiện về khoa học công nghệ thì khi khối lượng tư bản tăng đến một mức nào

đó, mức sản lượng được sản xuất thêm từ một đơn vị tư bản bổ sung thêm vào sẽ giảm xuống (MPK giảm) Nói cách khác, sự gia tăng tỷ lệ tiết kiệm chỉ dẫn tới tăng trưởng nhanh hơn trong một thời gian nào đó Vì tỷ lệ tiết kiệm tăng cho phép tư bản được tích luỹ nhiều hơn, nhưng lợi ích thu được từ khối lượng tư bản tăng thêm ngày càng giảm xuống và tăng trưởng chậm dần Quy luật này được gọi là quy luật năng suất cận biên giảm dần

Trang 26

Quy luật này còn có một ý nghĩa quan trọng khác đó là lý giải thực trạng tại sao khi các yếu tố khác không thay đổi, một nước có xuất phát điểm thấp thường sẽ tăng trưởng với tốc độ cao hơn Vào năm 1960, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ bằng 1/10 của Mỹ, một phần vì đầu tư trước đó thấp.Với khối lượng tư bản ban đầu nhỏ, lợi ích thu được từ tích luỹ

tư bản đổi với Hàn Quốc rất lớn và điều này giúp Hàn Quốc có tỷ lệ tăng trưởng sau đó cao hơn (6%/năm) Có thể minh họa trường hợp của Hàn Quốc là xuất phát điểm là điểm E trên

đồ thị của hình 1-4 Trong khi đó Mỹ là nước có xuất phát điểm là điểm E’ với tốc độ tăng trưởng trung bình chỉ đạt 2%/năm Sau khoảng 30 năm Mỹ và Hàn Quốc đã có tỷ trọng đầu tư trong tổng GDP tương đương nhau Lời giải đáp cho thực tế này đó là hiệu ứng đuổi kịp Nghĩa là nước xuất phát điểm thấp hơn sẽ có MPK lớn hơn trên mỗi đồng vốn được đầu tư thêm, dẫn đến lượng vốn tích lũy tăng nhanh hơn Trong khi đó, nước xuất phát điểm cao hơn thì MPK thường nhỏ hơn, nên lượng vốn tích lũy gia tăng chậm hơn Cuối cùng nước xuất phát điểm thấp đã đuổi kịp nước xuất phát điểm ở vị trí cao hơn

1.6.4 Ti ến bộ công nghệ v à tăng trưởng li ên t ục

Nếu như mô hình trạng thái ổn định dài hạn dự báo rằng năng suất lao động và tiền lương sẽ tăng đến một lúc nào đó thì sẽ không tăng nữa và có xu hướng giảm Tuy nhiên, số liệu thống

kê của tổ chức Lao động quốc tế (ILO, 2014) được mô tả ở hình 1-5 dưới đây cho thấy trong giai đoạn từ 1999 đến 2013, cả năng suất và tiền lương đều có xu hướng tăng nhưng mức tăng tiền lương thấp hơn rất nhiều so với mức tăng năng suất Điều này nói lên vai trò quan trọng của tiến bộ công nghệ

Hình 1-7 Xu hướng tăng năng suất lao động và tiền lương thực tế ở các nước phát triển

Ghi chú: lấy năm 1999 làm gốc (tốc độ phát triển của năm 1999 là 100%) Chúng ta có thể miêu tả bằng đồ thị ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ Tiến bộ công nghệ sẽ làm cho hàm sản xuất dịch chuyển lên trên, như minh họa trong hình 1-6 Trong đồ thị này, chúng ta đã xây dựng hàm tổng sản lượng cho năm t và t+h Do có thay đổi công nghệ dẫn đến hàm tổng sản lượng đã dịch chuyển lên trên từ APFt lên APFt+h Sự dịch chuyển lên trên này cho thấy những bước tiến trong năng suất do rất nhiều quá trình sản xuất và sản phẩm mới như đồ điện tử, máy tính, những tiến bộ trong ngành luyện kim, công nghệ dịch vụ được cải tiến tạo ra

Năng suất lao động Tiền lương thực tế

Trang 27

Hình 1-8.Tiến bộ công nghệ dẫn đến làm tăng năng suất

Như vậy với những cải tiến về công nghệ, hàm tổng sản lượng dịch chuyển lên trên theo thời gian chống lại quy luật năng suất cận biên giảm dần Do đó, những cải tiến công nghệ kết hợp với tăng cường đầu tư vốn tư bản mới theo chiều sâu làm tăng sản lượng trên mỗi công nhân

từ điểm Et lên điểm Et+h Từ đó góp phần làm tăng tiền lương thực tế và mức sống của người dân được cải thiện

1.6.5 Tăng dân số và tăng trưởng kinh tế

Dân số chính là nguồn cung của lực lượng lao động mỗi nước Tăng dân số đồng nghĩa với việc trong tương lai 15 năm tới, lực lượng lao động của quốc gia đó cũng tăng trưởng

Giả sử dân số quốc gia đó tăng với tốc độ n%/năm, điều này cũng hàm ý lực lượng lao động của quốc gia đó cũng tăng với tốc độ tương tự Ví dụ, khi lực lượng lao động là L= 1,000

người ở năm thức nhất, và dân số tăng 2%/năm (n = 0.02) Thì ở năm thứ 2, lực lượng lao động của quốc gia đó đã tăng thêm L = n L = 0.02  1,000 = 20 người Lực lượng lao động

ở năm thứ 2 là L = 1,020 người

Khi lực lượng lao động tăng, để sử dụng hết số người lao động tăng thêm này, buộc các đơn

vị sử dụng lao động phải đầu tư, trang bị máy móc, công cụ lao động cho họ Khi đó, cơ cấu

đầu tư của các doanh nghiệp được mô tả thông qua phương trình i= (A + n)k

Ta thấy, khi tốc độ tăng dân số của một quốc gia tăng lên từ n1 lên n2, dẫn đến yêu cầu gia tăng đầu tư cho nền kinh tế, tuy nhiên, trạng thái ổn định dài hạn đạt được lại ở mức k2* thấp hơn

so với mức k1* trước đó Mô hình của Solow cho phép dự báo rằng quốc gia nào có tốc độ tăng dân số cao thì mức vốn bình quân trên 1 lao động thấp, và như vậy, sản lượng hay thu nhập bình quân trên lao động cũng thấp trong dài hạn

Hình 1-9 Tăng dân số và tăng trưởng kinh tế 1.7 Các chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Nhà nước

Cho đến lúc này, chúng ta đã biết rằng mức sống của xã hội phụ thuộc vào khả năng sản xuất

ra hàng hoá và dịch vụ và năng suất của nó phụ thuộc vào tư bản hiện vật, vốn nhân lực, tài

Trang 28

nguyên thiên nhiên và tiến bộ công nghệ Bây giờ chúng ta chuyển sang câu hỏi mà tất cả các nhà hoạch định chính sách trên toàn thế giới đều muốn giải đáp Chính sách nào của chính phủ có thể thúc đẩy tăng trường?

1.7.1 Chính sách khuy ến khích tiết kiệm và đầu tư trong nước

Vì tư bản là nhân tố sản xuất được sản xuất ra, cho nên xã hội có thể làm thay đổi khối lượng

tư bản của nền kinh tế Nếu hôm nay đất nước sản xuất ra nhiều hàng hoá đầu tư, thì ngày mai

nó sẽ có nhiều vốn tư bản hơn và có thể sản xuất ra nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn Do đó, một cách để nâng cao năng suất trong tương lai là đầu tư nguồn lực hiện có nhiều hơn vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đầu tư

Tuy nhiên vì nguồn lực có tính chất khan hiếm, nên việc tập trung nhiều nguồn lực hơn vào sản xuất hàng đầu tư buộc chúng ta phải giảm bớt nguồn lực dành cho sản xuất hàng hoá và dịch vụ cho tiêu dùng hiện tại Nghĩa là, khi xã hội đầu tư nhiều hơn vào tư bản, nó buộc phải tiêu dùng ít hơn vả phải tiết kiệm phần thu nhập lớn hơn Sự tăng trưởng có được từ tích luỹ

tư bản không phải là không có giá của nó: xã hội phải hi sinh tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ hiện tại để thụ hưởng mức tiêu dùng cao hơn trong tương lai

1.7.2 Chính sách thu hút đầu tư từ nước ngo ài

Như chúng ta đã thảo luận vấn đề làm thế nào để các chính sách hướng tới việc thúc đẩy tỷ lệ tiết kiệm có thể làm tăng đầu tư và do đó là tăng trưởng kinh tế dài hạn Nhưng tiết kiệm trong nước không phải là cách duy nhất để một nước đầu tư vào tư bản Phương pháp khác là thu hút đầu tư từ nước ngoài

Có nhiều loại đầu tư nước ngoài Công ty Honda của Nhật xây dựng một nhà máy ở Việt Nam Khoản đầu tư vào tư bản thuộc quyền sở hữu và được điều hành bởi một chủ thể nước ngoài gọi là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Dạng khác là người Nhật mua cổ phiếu của một công ty Việt Nam Khoản đầu tư được tài trợ bằng tiền nước ngoài, nhưng được cư dân trong nước điều hành gọi là đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) Trong cả hai trường hợp, người Nhật cung cấp nguồn lực cần thiết để tăng khối lượng tư bản ở Việt Nam Nghĩa là, tiết kiệm của Nhật được dùng để tài trợ cho cho đầu tư tăng vốn tư bản cho nền kinh tế Việt Nam Khi người nước ngoài đầu tư vào một nước nào đó, họ hy vọng thu được lợi nhuận từ khoản đầu tư Nhà máy ôtô Honda của Nhật làm tăng khối lượng tư bản của Việt Nam, do vậy làm tăng năng suất và GDP của Việt Nam Nhưng công ty Honda lấy đi một phần thu nhập tăng thêm và chuyển về Nhật dưới dạng lợi nhuận Tương tự, khi nhà đầu tư Nhật mua cổ phiếu của cáccông ty Việt Nam, nhà đầu tư này có quyền hưởng một phần lợi nhuận mà công ty Việt Nam kiếm được Như vậy đầu tư nước ngoài là một cách thúc đẩy tăng trưởng của một nước nhờ làm tăng khối lượng tư bản của nó, dẫn tới năng suất và tiền lương cao hơn Ngoài

ra, đầu tư nước ngoài là một cách để các nước nghèo trực tiếp học hỏi công nghệ hiện đại của các nước giàu Vì lý do đó, nhiều nhà kinh tế làm tư vấn cho các nước kém phát triển cổ vũ chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài Điều này thường đồng nghĩa với việc xoá bỏ các hạn chế của chính phủ đối với quyền sở hữu tư bản trong nước của người nước ngoài

1.7.3 Chính sách đầu tư nâng cao chất lượng ngu ồn nhân lực

Đầu tư vào nguồn nhân lực, ít nhất cũng đóng vai trò quan trọng như đầu tư vào tư bản hiện vật trong việc đóng góp vào sự thành công của nền kinh tế trong dài hạn của một nước Giống như đầu tư vào tư bản hiện vật, đầu tư vào nguồn nhân lực cũng có chi phí cơ hội Một

số nhà kinh tế lập luận rằng vốn nhân lực đặc biệt quan trọng đối với tăng trường kinh tế, vì vốn nhân lực hàm chứa các ngoại ứng tích cực Ví dụ, một người được đào tạo tốt có thể đưa

ra những ý tưởng mới về việc làm thể nào để sản xuất hàng hoá và dịch vụ một cách tốt nhất Nếu những ý tưởng ấy trở thành tri thức của xã hội và mọi người đều có thể sử dụng, thì chúng là lợi ích từ ngoại ứng của giáo dục Trong trường hợp này, lợi ích từ việc đi học đối với xã hội lớn hơn lợi ích cá nhân Lập luận như vậy giải thích cho các khoản trợ cấp to lớn cho đầu tư vào nguồn nhân lực mà chúng ta thấy dưới hình thức chính phủ tài trợ, trợ giá học

Trang 29

phí trong các cơ sở giáo dục công lập

1.7.4 Chính sách v ề đảm bảo s ự ổn định chính trị và b ảo hộ quy ền sở hữu t ài s ản

Các nhà hoạch định chính sách có thể thúc đẩy tăng trường kinh tế bằng cách bảo hộ quyền sở hữu và tăng cường sự ổn định chính trị Như chúng ta đã lưu ý khi thảo luận về sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế: quá trình sản xuất trong nền kinh tế thị trường nảy sinh từ mối quan hệ qua lại giữa hàng triệu cá nhân và doanh nghiệp Nền kinh tế phải phối hợp được hoạt động của các doanh nghiệp với nhau cũng như của người tiêu dùng với các doanh nghiệp Nền kinh

tế thị trường đạt được sự phối hợp này nhờ giá thị trường Nghĩa là, giá thị trường là công cụ như bàn tay vô hình làm cho cung và cầu trên thị trường đạt được trạng thái cân bằng Mặt khác, một tiền đề quan trọng để hệ thống giá cả hoạt động hiệu quả đó là phải dựa trên sự tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người dân trên toàn bộ nền kinh tế Một quốc gia với một nền chính trị không ổn định sẽ không cam kết đem lại sự bảo hộ nào cho quyền sở hữu tài sán của người dân, khiến họ không yên tâm, tập trung cho làm kinh tế Do vậy, sự tăng trưởng của nền kinh tế một phần phụ thuộc vào sự ổn định về thể chế chính trị của quốc gia đó

1.7.5 Chính sách thương mại quốc tế

Một số nước nghèo đã từng cố gắng đạt được tăng trưởng kinh tế bằng cách theo đuổi chính sách hướng nội Tuy nhiên đa số các nhà kinh tế hiện nay tin rằng các nước nghèo được lợi nếu theo đuổi chính sánh hướng ngoại, tức những chính sách cho phép họ hội nhập với thế giới Thương mại quốc tế cải thiện phúc lợi kinh tế của công dân một nước tham gia vào quá trình thương mại Nói theo một cách cụ thể nào đó, thương mại là một loại công nghệ Khi một nước xuất khẩu gạo và nhập khẩu thép, đất nước thu được lợi ích giống hệt trường hợp nó sáng chế ra một công nghệ chế biến gạo thành thép Do đó, xu hướng xóa bỏ các rào cản thương mại sẽ đem lại tăng trưởng kinh tế giống như những gì tiến bộ vượt bậc trong công nghệ mang lại

1.7.6 Chính sách ki ểm soát tăng dân s ố

Sự gia tăng dân số cũng chi phối một phần năng suất và mức sống của người dân một nước

Rõ ràng dân số là nhân tố then chốt quyết định lực lượng lao động của một nước Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi một nước đông dân có xu hướng tạo ra GDP lớn hơn các nước ít dân Nhưng quy mô GDP không phải là chỉ tiêu tốt để phản ánh phúc lợi kinh tế Vì các nhà hoạch định chính sách quan tâm tới mức sống, nên GDP bình quân đầu người mới là quan trọng, vì nó cho biết lượng hàng hoá và dịch vụ mà người dân điển hình trong nền kinh

tế được hưởng

Sự gia tăng dân số tác động đến GDP bình quân đầu người như thế nào? Các lý thuyết chuẩn

về tăng trưởng kinh tế dự báo rằng mức gia tăng dân số cao làm giảm GDP bình quân đầu người Lý do là ở chỗ sự gia tăng dân số nhanh chóng tác động đến sự gia tăng của lực lượng lao động (L sau 15 năm) và từ đó làm phân tán các nhân tố sản xuất khác (như k=K/L vốn bình quân trên lao động)

Cắt giảm tốc độ gia tăng dân số thường được coi là một phương thức làm tăng mức sống ở các nước kém phát triển Tại những nước tự do hơn, mục tiêu kiểm soát tăng trưởng dân số thường được thực hiện một cách gián tiếp thông qua việc làm tăng hiểu biết của mọi người về công tác kế hoạch hóa gia đình Bên cạnh đó, một phương pháp khác mà các tổ chức vì quyền lợi phụ nữ khuyến nghị một số nước có thể áp dụng đó là chính sách thúc đẩy sự đối xử công bằng đối với phụ nữ để tác động đến mức tăng dân số, góp phần tạo ra tăng trưởng kinh tế

1.7.7 Chính sách h ỗ trợ n ghiên c ứu v à phát tri ển công nghệ mới

Lý do cơ bản để mức sống ngày hôm nay cao hơn 100 năm trước là là nhờ những tiến bộ của khoa học công nghệ Động cơ đốt trong, điện, điện thoại, thiết bị bán dẫn, máy tính điện từ và internet là những sáng chế trong hàng ngàn sáng chế đã nâng cao năng lực sản xuất hàng hoá

và dịch vụ của chúng ta

Trang 30

Mặc dù phần lớn tiến bộ công nghệ bắt nguồn từ các công ty và nhà sáng chế độc lập, nhưng nhà nước cũng rất quan tâm đến việc thúc đẩy những nỗ lực này Nói rộng ra, tri thức là một hàng hoá công cộng: Khi một người phát kiến ra ý tưởng, nó luôn là tri thức của xã hội và mọi người có thể tự do sử dụng nó Vì chính phủ có vai trò trong việc cung cấp các hàng hóa công cộng như quốc phòng, nên nó cũng có vai trò thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và triển khai công nghệ mới

Còn một cách khác để chính phủ khuyến khích hoạt động nghiên cứu là thông qua hệ thống bản quyền Khi một cá nhân hay doanh nghiệp sáng chế ra sản phẩm mới, một loại dược liệu mới chẳng hạn, thì nhà sáng chế có thể đệ đơn xin cấp bằng sáng chế Nếu sản phẩm đó đúng

là sáng chế thực sự, chính phủ sẽ cấp bằng sáng chế và nhà sáng chế có đặc quyền chế tạo sản phẩm ấy trong một số năm nhất định, về bản chất, bằng sáng chế chứng nhận quyền sở hữu của người sáng chế đối với sản phẩm của anh ta, biến ý tưởng mới của anh ta từ một hàng hóa công cộng thành hàng hoá tư nhân Bằng cách cho phép nhà sáng chế thu được lợi nhuận từ sáng chế của mình - dù chỉ là tạm thời Và hệ thống bằng sáng chế như vậy sẽ thúc đẩy cá nhân và doanh nghiệp tham gia, nghiên cứu

1.8 Cái giá của tăng trưởng kinh tế

Như vậy, tăng trưởng kinh tế nhanh là mục tiêu thường xuyên của các quốc gia, nhưng sẽ là không đúng nếu theo đuổi tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá Thực tế cho thấy, không phải sự tăng trưởng nào cũng mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội như mong muốn, đôi khi quá trình

tăng trưởng mang tính hai mặt Chẳng hạn, tăng trưởng kinh tế quá mức có thể dẫn đến tình

trạng nền kinh tế "quá nóng", gây ra lạm phát, hoặc tăng trưởng kinh tế cao làm cho dân cư giàu lên, nhưng đồng thời cũng có thể làm cho sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội tăng lên Đặc biệt trước đó để đạt được tốc độ tăng trưởng cao, người dân phải tiết kiệm trong một thời gian dài, tiêu dùng bị hạn chế, thời gian nghỉ ngơi tái tạo sức lao động bị ảnh hưởng Chưa kể, khi quá trình đầu tư cho tăng trưởng kinh tế gia tăng, việc đưa những loại vốn tư bản mới (máy móc, trang thiết bị hiện đại) vào sử dụng đòi hỏi phải tốn kém nhiều chi phí nghiên cứu, phát triển; chi phí đào tạo, tập huấn cho người lao động có thể vận hành được các loại tư bản

đó Mặt khác, quá trình này còn gây ra nhiều rủi ro về tai nạn cho người lao động Vì vậy, mỗi quốc gia trong từng thời kỳ phải tìm ra những biện pháp tích cực để đạt được sự tăng trưởng hợp lý, bền vững

Như vậy có thể hiểu: tăng trưởng bền vững là sự gia tăng sản lượng của một nền kinh tế đi đối với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường

Hay nói cách khác nội hàm của tăng trưởng vững là: (1) mức tăng trưởng có khả năng đảm bảo cho mức tăng trưởng trong tương lai Tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng trưởng kinh tế đạt mức tăng tương đối ổn định trong thời gian tương đối dài (ít nhất từ 20 - 30 năm) (2) Tăng trưởng phải gắn với giải quyết tốt vấn đề tiến bộ xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái

1

X y

y y

g t

t t

Trang 31

5 Quy luật Okun, nếu tỷ lệ thất nghiệp tăng 2% thì GDP thực tế giảm đi 1%

6 Hầu hết các quốc gia có được sự tăng trưởng là do sự gia tăng của năng suất lao động bình quân trong dài hạn

7 Các nhân tố quyết định tăng trưởng chính là những yếu tố liên quan đến nguồn lực dành

cho sản xuất của nền kinh tế, bao gồm: Lao động, Tư bản hay là vốn, Đất đai và tài nguyên

thiên nhiên, Khoa học công nghệ, trình độ quản lý, quản trị, và cả yếu tố môi trường thể chế chính trị

8 Mô hình tăng trưởng kinh tế của Solow cho thấy sự gia tăng về tỷ lệ tiết kiệm, làm tăng đầu

tư vào vốn tư bản, sự gia tăng về lực lượng lao động và tiến bộ khoa học công nghệ đã tác động đến nhau như thế nào cũng như việc chúng ảnh hưởng đến tổng sản lượng quốc gia về hàng hóa và dịch vụ

9 Chính phủ cần thực hiện một số chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như: khuyến khích tiết kiệm, thu hút đầu tư, nâng cao chất lượng lao động, đảm bảo ổn định chính trị, thương mại quốc tế, kiểm soát dân số, và hỗ trợ nghiên cứu và phát triển

10 Đôi khi quá trình tăng trưởng mang tính hai mặt Do đó, cần xác định mức tăng trưởng bền vững tức là đạt tốc độ tăng tương đối ổn định trong thời gian tương đối dài (ít nhất từ 20 -

30 năm) và giải quyết tốt vấn đề tiến bộ xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1

1 Chỉ ra tại sao một sự khác biệt nhỏ về tốc độ tăng trưởng kinh tế lại dẫn đến sự khác biệt mức sống ở các nước

2 Giải thích nguồn gốc của sự tăng trưởng

3 Thảo luận về các nhân tố tác động đến năng suất lao động trung bình của mỗi quốc gia

4 Trình bày cơ chế của sự tăng trưởng

5 Thảo luận về các chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Chính Phủ các nước

6 Phân tích cái giá của sự tăng trưởng kinh tế?

BÀI TẬP ÁP DỤNG CHƯƠNG 1

1 Bạn gửi vào ngân hàng 175 triệu VND, với lãi suất 7,5%/năm

a) Vậy sau 5 năm thì bạn nhận được số tiền (bao gồm cả vốn và lãi) bằng bao nhiêu?

b) Khoản tiền gửi này của bạn có tác động như thế nào đến thị trường vốn vay và đến sự tăng trưởng kinh tế của đất nước?

c) Nếu Nhà nước đánh thuế thu nhập với mức thuế suất là 25% trên tổng thu nhập từ lãi tiền gửi của bạn, bạn phải nộp số tiền thuế là bao nhiêu? Đây là loại thuế trực thu hay gián thu?

2 Giả sử tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia là 5%/năm Năm 2000 GDP bình quân trên đầu người đạt 800USD, hãy cho biết nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế không đổi theo thời gian thì:

a) Đến năm 2010, GDP bình quân trên đầu người của quốc gia này đạt bao nhiêu USD? b) Hãy dự báo sau bao nhiêu năm GDP bình quân trên đầu người của quốc gia này sẽ tăng gấp đôi?

c) Để GDP đạt 1600USD sau 10 năm thì tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia này phải là bao nhiêu?

Trang 32

Chương 2

TIẾT KIỆM, ĐẦU TƯ VÀ HỆ THỐNG TÀI CHÍNH

Như chương 1 đã nhấn mạnh cơ chế của sự tăng trưởng kinh tế có được là do sự gia tăng vốn bình quân trên một lao động (k) Nhà kinh tế học cổ điển Adam Smith (1776) cho rằng: “tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn Lao động tạo ra sản phẩm để tích lũy cho quá trình tăng tiết kiệm Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên”

Khái niệm vốn ở đây được hiểu là vốn đầu tư của các doanh nghiệp cho quá trình sản xuất ra sản phẩm hàng hóa dịch vụ Vốn thường được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, qua đầu tư, biến thành vốn hiện vật hay trang thiết bị, nhà xưởng, nguyên nhiên vật liệu Tuy nhiên, qua nghiên cứu sơ đồ luồng chu chuyển kinh tế vĩ mô cho thấy, vốn đầu tư thực chất lấy từ phần tiết kiệm của các hộ gia đình Như vậy, chủ sở hữu vốn và người sử dụng vốn là 2 tác nhân khác nhau trong nền kinh tế Do vậy, cần thiết phải nghiên cứu bản chất của tiết kiệm, đầu tư,

và sự tương tác của chúng trên thị trường hay trong hệ thống tài chính của một nền kinh tế để tìm ra giải pháp cho tăng trưởng kinh tế trong dài hạn

Nội dung chương 2 sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích mối quan hệ giữa các biến số kinh tế vĩ

mô đặc biệt là tiết kiệm và đầu tư Sau đó, chúng ta thảo luận về cấu trúc cũng như các tác nhân trong hệ thống tài chính Và cuối cùng, chúng ta tìm hiểu về mô hình thị trường vốn vay cho một nền kinh tế đóng, đồng thời thông qua mô hình này chúng ta có thể phân tích tác động của các chính sách của Chính phủ đến tiết kiệm và đầu tư nhằm thúc đẩy điều chỉnh mức tăng trưởng của nền kinh tế qua từng thời kỳ

2.1 Tiết kiệm và đầu tư

2.1.1 Ti ết kiệm

a Khái niệm và bản chất của tiết kiệm

Có nhiều quan điểm về tiết kiệm khác nhau, trong kinh tế học vĩ mô cho rằng “tiết kiệm là

phần của thu nhập còn lại sau khi đã chi cho tiêu dùng” Hay cụ thể hơn, tiết kiệm bằng thu

nhập hiện tại trừ đi các khoản chi tiêu ở hiện tại Thuật ngữ “hiện tại” ở đây hàm ý các khoản

thu nhập và chi tiêu có thể thay đổi theo thời gian, do đó để đảm bảo tính chính xác thì cần thiết phải đo chúng ở cùng một thời điểm

Khi phân tích về tiết kiệm chúng ta cần phân biệt được giữa “tổng tiết kiệm” và “tổng giá trị

của cải – hay mức độ giàu có” Tiết kiệm là thu nhập không được chi cho tiêu dùng ở thời

điểm hiện tại và vì vậy có thể dành cho đầu tư dưới dạng các tài sản hay của cải để dành cho

quá trình tiêu dùng trong tương lai Còn “tổng giá trị của cải – hay mức độ giàu có” được tính

bằng tổng giá trị tài sản được hình thành nên từ tiết kiệm hay của cải tích lũy trừ đi các khoản

nợ phải trả Do vậy, có thể hiểu tiết kiệm là nguồn gốc của của cải hay sự giàu có, tuy nhiên mức độ giàu có thực sự còn phải tính tới các khoản nợ mà tác nhân đó có nghĩa vụ phải trả Dòng luân chuyển của tiết kiệm làm thay đổi mức độ giàu có của một tác nhân Do đó, tỷ lệ tiết kiệm ở hiện tại càng cao thì mức sống ở tương lai càng được cải thiện

b Công thức tính tiết kiệm

Kinh tế vĩ mô nghiên cứu tổng tiết kiệm của một nền kinh tế (trong trường hợp giả định một nền kinh tế đóng xuất khẩu ròng, NX = 0) Theo khái niệm của tiết kiệm, có thể thấy thu nhập hiện tại của một nền kinh tế được đo lường thông qua đại lượng tổng thu nhập quốc dân (Y), trong khi đó các khoản chi tiêu cho tiêu dùng ở hiện tại bao gồm chi tiêu cho tiêu dùng của các hộ gia đình (C), chi tiêu của Chính phủ (G) Khi đó, chúng ta có thể viết phương trình hàm tiết kiệm (S) của một nền kinh tế dưới dạng: S = Y – C – G

Lưu ý, trong nền kinh tế đóng, ngoài hộ gia đình và Chính phủ có các khoản chi tiêu, thì các doanh nghiệp cũng chi tiêu cho hàng hóa đầu tư (I), tuy nhiên việc chi tiêu cho đầu tư không phục vụ cho tiêu dùng ở thời điểm hiện tại, mà phải sau ít nhất một chu kỳ kinh doanh, các

Trang 33

khoản chi đầu tư đó mới biến thành hàng hóa cuối cùng phục vụ cho tiêu dùng Do vậy, khoản chi đầu tư của doanh nghiệp không được tính đến ở đây

Mặt khác, nếu tính theo cấu trúc của một nền kinh tế đóng, tất cả các hoạt động kinh tế được

đo lường là tổng hòa của các hoạt động của từng tác nhân riêng lẻ Do đó, khi tính tiết kiệm của một nền kinh tế hay tiết kiệm quốc gia cần tính tới:

◦ Tiết kiệm của cá nhân/hộ gia đình

◦ Tiết kiệm của các doanh nghiệp

◦ Tiết kiệm của Chính phủ Tuy nhiên, về mặt bản chất, tiết kiệm của doanh nghiệp, thực chất là tiết kiệm của các ông chủ doanh nghiệp, họ sẽ sử dụng nó như tiết kiệm của cá nhân/gia đình họ Do đó, chúng ta có thể gộp tiết kiệm của cá nhân/hộ gia đình và tiết kiệm của các doanh nghiệp lại thành tiết kiệm tư nhân (SP) Như vậy, tiết kiệm quốc gia sẽ được cấu thành bởi 2 bộ phận: tiết kiệm tư nhân (Sp) và tiết kiệm của Chính phủ (SG):

S = SP + SG (1)

Cụ thể hơn, tiết kiệm tư nhân (SP) bằng thu nhập của các hộ gia đình và doanh nghiệp từ đi các khoản chi tiêu cho tiêu dùng và làm nghĩa vụ đóng thuế (T) cho Chính phủ, do đó có công thức tính tiết kiệm tư nhân:

Sp = Y – C – T (2) Tiết kiệm chính phủ (SG) bằng tổng thu của Chính phủ từ thuế ròng (T) trừ đi các khoản chi tiêu của chính phủ (G):

SG = T – G (3) Trong báo cáo kinh tế T – G còn được gọi là cán cân ngân sách của chính phủ Ngân sách chính phủ cân bằng khi T = G; Nếu T – G > 0, chính phủ có thặng dư ngân sách, ngược lại khi

T – G < 0, chính phủ bị thâm hụt ngân sách

Như vậy, thay phương trình (2) và (3) vào (1) ta có:

S = Sp + SG = (Y – C – T) + (T – G) = Y – C – G Như vậy, theo công thức tính tiết kiệm quốc gia dựa trên cấu trúc của nền kinh tế cũng cho chúng ta kết quả như công thức được đưa ra dựa vào khái niệm của tiết kiệm như ban đầu

c Các yếu tố tác động đến tiết kiệm

Như chúng ta đã phân tích, tiết kiệm bao gồm tiết kiệm tư nhân và tiết kiệm của chính phủ

Có nhiều lý do để các hộ gia đình tiết kiệm, nhìn chung mục đích của tiết kiệm là nhằm nâng cao khả năng tiêu dùng trong tương lai Gắn với đó, để khuyến khích tiết kiệm Chính phủ cần

có các chính sách nâng cao lợi ích trong tương lai với khoản tiền tiết kiệm Các chính sách đó cần gắn với nhân tố ảnh hưởng đến tiết kiệm, nó là những yếu tố như: lãi suất, tổng thu nhập quốc dân, hệ thống chính sách của Nhà nước như chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ

(1) Lãi suất thực tế: với những yếu tố khác đã cho, tiết kiệm phụ thuộc vào lãi suất thực tế

Khi lãi suất thực tế tăng, “hy sinh” một đơn vị tiêu dùng hiện tại dành cho tiết kiệm sẽ làm tăng sức mua cho tiêu dùng trong tương lai và ngược lại, vì vậy có thể thấy lãi suất thực tế tăng sẽ làm lượng tiết kiệm tăng

Các nhà kinh tế học phân biệt hai loại lãi suất: lãi suất danh nghĩa (i) và lãi suất thực tế (r) Lãi suất danh nghĩa là lãi suất mà chúng ta thường sử dụng để ghi chép, là tỷ lệ số lượng tiền

mà người tiết kiệm được hưởng (người vay phải trả) khi cho vay (đi vay) một lượng tiền nào

đó Lãi suất thực tế bằng lãi suất danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát, thể hiện mức độ gia tăng thực tế sức mua của số đồng tiền cho vay theo thời gian

r = i - π

Trang 34

Vì lạm phát làm sức mua của tiền bị giảm theo thời gian, nên lãi suất thực tế phản ánh chính xác hơn thu nhập thực tế từ tiết kiệm và chi phí thực tế từ hoạt động vay tiền Do đó tiết kiệm phụ thuộc vào lãi suất thực tế, chứ không phải lãi suất danh nghĩa

(2) Tổng thu nhập của nền kinh tế: khi tổng thu nhập của nền kinh tế tăng, thu nhập của dân

chúng tăng, thu từ thuế của Chính phủ cũng tăng Từ đó, tiết kiệm tăng và ngược lại

Tiết kiệm là phần còn lại của tổng thu nhập sau khi đã chi tiêu Vậy nguồn gốc của tiết kiệm

là từ tổng thu nhập (GDP) Một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, ổn định sẽ làm gia tăng mức thu nhập bình quân đầu người và là tiền đề vững chắc cho việc gia tăng tiết kiệm trong mỗi quốc gia Ngược lại, một nền kinh tế kém phát triển, tốc độ tăng trưởng chậm, thiếu ổn định và thu nhập bình quân đầu người thấp sẽ không có tiết kiệm hoặc tỷ lệ tiết kiệm rất thấp Vậy tổng thu nhập trong nền kinh tế đóng vai trò rất quan trọng đến tiết kiệm

(3) Thói quen tiết kiệm dự phòng cho tương lai: Một trong các lý do tiết kiệm đó là để dùng

cho mục tiêu lâu dài trong tương lai, dự phòng cho trường hợp xấu xảy ra Trong danh sách các nước tiết kiệm nhất thế giới do IMF công bố (2016), Trung Quốc có mặt với vị trí đứng thứ 3, tổng tiết kiệm quốc gia chiếm 47,4% GDP Hiện nay, Trung quốc có sự bùng nổ của các trung tâm mua sắm, xu hướng tiết kiệm của người dân nước này khiến nhiều người ngạc nhiên Tỷ lệ tiết kiệm quốc gia cao là do đa số người Trung Quốc để dành tiền của để chuẩn bị nghỉ hưu, giáo dục và phòng khi bệnh tật Thói quen tiêu dùng tiết kiệm đã ăn sâu vào văn

hóa của người dân Trung Quốc

Cũng theo công bố của IMF (2016), trong số 15 quốc gia đứng đầu danh sách này có tới 11 nước có nền kinh tế phụ thuộc vào dầu mỏ Đây là những nền kinh tế nhỏ dễ bị tổn thương bởi biến động giá dầu Vì vậy người dân có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn để dự phòng cho tương lai và làm tăng tiết kiệm quốc gia

(4) Hệ thống chính sách của Nhà nước: chính sách thuế, chi tiêu của chính phủ…

- Một trong các yếu tố ảnh hưởng đến mức tiết kiệm là chính sách thuế Thuế càng cao thì người dân sẽ có thu nhập để chi tiêu thấp hơn và tiết kiệm tư nhân (Sp) sẽ giảm

Khi chính phủ tăng thuế sẽ làm giảm tiết kiệm tư nhân, nhưng làm tăng tiết kiệm của Chính phủ Đối với tổng tiết kiệm quốc gia lại tăng lên, chúng ta có thể chứng minh kết luận trên như sau:

Giả sử chính phủ tăng thuế một lượng là ∆T trong khi chi tiêu không đổi: tiết kiệm của chính phủ tăng lên SG trong khi tiết kiệm của tư nhân sẽ giảm xuống SP

Tuy vậy cũng có những ngoại lệ Như nước Bỉ chẳng hạn, nước này có thuế suất cao nhất trong số các quốc gia OECD, nhưng người dân nước này vẫn giữ thói quen tiết kiệm để dự phòng cho tương lai

Nguồn: Phúc An (2011)

Trang 35

SP = - (1 - MPC) * ∆T Tiết kiệm của Chính phủ sẽ là: SG = T – G Vậy khi Chính phủ tăng thuế một lượng là ∆T thì tiết kiệm của Chính phủ sẽ tăng một lượng là ∆T

SG = ∆T Tiết kiệm quốc dân S = Sp + SG, vậy khi Chính phủ tăng thuế một lượng là ∆T thì tiết kiệm quốc dân sẽ thay đổi một lượng là:

∆S = SG + SP = ∆T - (1 - MPC) * ∆T = MPC * ∆T Như vậy, với điều kiện các yếu tố khác không đổi tiết kiệm quốc dân tăng lên khi chính phủ tăng thuế Tương tự phân tích ngược lại với trường hợp chính phủ giảm thuế

- Tác động của chính sách tăng chi tiêu và thuế cùng một lượng như nhau: G = T, tức là Chính phủ thực hiện mục tiêu cán cân ngân sách không thay đổi, đồng thời với việc tăng chi tiêu là tăng thuế để bù đắp cho những khoản chi mới, khi đó:

SP = - (1 - MPC) * ∆T

SG = 0 -> ∆S = SG + SP = 0 - (1 - MPC) * ∆T = - (1- MPC) * ∆T Như vậy, Khi chính phủ tăng chi tiêu và tăng thuế cùng một lượng như nhau sẽ làm tiết kiệm quốc dân giảm Phân tích tương tự với trường hợp chính phủ giảm chi tiêu và thuế cùng một lượng như nhau sẽ làm tiết kiệm quốc dân tăng lên

2.1.2 Đầu tư

a Khái niệm và bản chất của đầu tư

Theo Nguyễn Bạch Nguyệt (2010), Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra

Những kết quả trực tiếp của sự hy sinh các nguồn lực hiện tại có vai trò rất quan trọng, không chỉ đối với nhà đầu tư mà đối với toàn bộ cả nền kinh tế Đầu tư trực tiếp làm tăng tài sản của

người chủ đầu tư và cả nền kinh tế là đầu tư phát triển

Bản chất của đầu tư phát triển khác với đầu tư tài chính Đầu tư tài chính là loại đầu tư trong

đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc mua các chứng chỉ có giá trên thị trường tiền tệ, thị trường vốn dể hưởng lãi suất nhất định Đầu tư tài sản tài chính không trực tiếp làm tăng tài

Ví dụ 2-2

Giả sử các nhà đầu tư xây dựng một nhà máy ở Việt Nam, tài sản vật chất của nhà đầu tư trực tiếp tăng thêm, đồng thời tài sản vật chất và tiềm lực sản xuất của cả nền kinh tế cũng tăng lên Lợi ích trực tiếp do hoạt động của nhà máy này đem lại cho người đầu tư là lợi nhuận, còn cho nền kinh tế là thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng tăng thêm của nền kinh tế, đóng góp cho ngân sách, giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống của các thành viên trong xã hội

Trang 36

sản thực cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính cho chủ đầu tư Đầu tư tài chính thường được thực hiện gián tiếp thông qua các trung gian tài chính như ngân hàng, công

ty chứng khoán Tuy nhiên, đầu tư phát triển và đầu tư tài chính là hai loại đầu tư luồn tồn tại

và có quan hệ tương hỗ với nhau Đầu tư phát triển tạo tiền đề để tăng tích lũy, phát triển hoạt động đầu tư tài chính Ngược lại, đầu tư tài chính là kênh huy động vốn rất quan trọng cho hoạt động đầu tư phát triển, tạo điều kiện để tăng cường đầu tư phát triển

Khi tiếp cận đầu tư theo quan điểm kinh tế học, xem xét các vấn đề kinh tế gắn với đầu tư phát triển, loại đầu tư quyết định trực tiếp sự phát triển của nền sản xuất xã hội, là điều kiện tiên quyết cho nền kinh tế của các quốc gia phát triển Đầu tư bao gồm: đầu tư xây dựng cơ bản (xây dựng nhà xưởng, kho tàng ), mua máy móc trang thiết bị, đầu tư vào khoa học công nghệ, đầu tư bổ sung hàng tồn kho…

b Các yếu tố tác động đến đầu tư

Hoạt động đầu tư nhằm tăng cường năng lực sản xuất, thực hiện tái sản xuất mở rộng, mong đợi thu được lợi nhuận lớn hơn trong tương lai, do vậy đầu tư phụ thuộc vào những yếu tố sau đây:

(1) Lãi suất thực tế (r): để thực hiện hoạt động đầu tư, các doanh nghiệp cần phải có vốn Tuy nhiên, nguồn vốn thường là nguồn vốn đi vay trên thị trường tài chính Do đó, khi đi vay để đầu tư, các doanh nghiệp luôn quan tâm đến chi phí hay giá cả của vốn vay trên thị trường vốn vay Có thể nói, lãi suất chính là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp Khi lãi suất thực tế tăng, chi phí biên của vốn sẽ tăng, lợi nhuận biên giảm Nếu lợi nhuận biên của một đơn vị đầu tư mới giảm, thì doanh nghiệp sẽ không sẵn sàng vay vốn cho đầu tư nữa Ngược lại, khi lãi suất thực tế giảm, đầu tư tăng

(2) Trạng thái của nền kinh tế: nếu nền kinh tế đang ở thời kỳ trì trệ, suy thoái thì đầu tư giảm

và ngược lại, nếu nền kinh tế ở thời kỳ thịnh vượng, phát triển ổn định thì đầu tư sẽ tăng lên (3) Môi trường đầu tư, hệ thống chính sách của nhà nước đặc biệt là chính sách thuế Nếu môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng và hệ thống các dịch

vụ tốt thì sẽ khuyến khích, thu hút đầu tư của nền kinh tế và ngược lại

Về chính sách thuế, nếu chính phủ có những ưu đãi về thuế đối với các hoạt động đầu tư sẽ khuyến khích đầu tư nói chung và đầu tư nước ngoài nói riêng

2.1.2 Mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư

Để thấy rõ hơn mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư, chúng ta hãy trở lại hạch toán thu nhập quốc dân Như đã chỉ rõ, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng thu nhập trong nền kinh tế,

và cũng là tổng chi tiêu về các hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế Xét từ khía cạnh chi tiêu, GDP (ký hiệu là Y) bao gồm bốn thành tố: tiêu dùng (C), đầu tư (I), chi mua hàng hóa và dịch

vụ của chính phủ (G) và xuất khẩu ròng (NX) Chúng ta luôn có đồng nhất thức sau:

Y = C + I + G + NX Trong chương này, chúng ta đơn giản hóa phân tích bằng cách giả định rằng nền kinh tế mà chúng ta xem xét là nền kinh tế đóng Nền kinh tế đóng không buôn bán với nước ngoài, cũng không tham gia vào hoạt động vay hoặc cho vay quốc tế (chúng ta sẽ nghiên cứu kinh tế vĩ

mô của nền kinh tế mở ở chương 3) Để đơn giản cho việc nghiên cứu và gắn với đó có thể rút

ra bài học đúng với cả một nền kinh tế

Ví dụ 2-3

Hiện nay, để khuyến khích đầu tư, chính sách thuế cụ thể là thuế thu nhập doanh nghiệp ở nước ta có kế hoạch đến năm 2020 sẽ điều chỉnh giảm mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp theo lộ trình phù hợp Mục tiêu của lộ trình giảm thuế là để thu hút đầu tư tạo điều kiện để doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích lũy để đẩy mạnh đầu tư phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh

Trang 37

Trong nền kinh tế đóng, chưa có sự tham gia của người nước ngoài nên NX = 0

Y = C + I + G (1) Tương đương với: Y – C – G = I Thay S = Y – C – G ta có: S = I Phương trình này nói rằng tiết kiệm bằng đầu tư hay vốn đầu tư được tài trợ bởi nguồn tiết kiệm Kết luận này đúng với toàn bộ nền kinh tế nhưng có thể không đúng cho một cá nhân hay một doanh nghiệp riêng lẻ

Như vậy đối với một nền kinh tế nói chung, tiết kiệm phải bằng đầu tư Nhưng thực tế này làm nảy sinh một số câu hỏi: cơ chế nào để tiết kiệm dẫn đến đầu tư? Điều gì phối hợp những người quyết định cần tiết kiệm bao nhiêu với những người quyết định nên đầu tư bao nhiêu? Nền kinh tế hoạt động ra sao để đảm bảo cho tiết kiệm bằng đầu tư? Hoạt động của hệ thống tài chính và mô hình vốn vay được phân tích dưới đây sẽ trả lời cho câu hỏi vừa nêu

2.2 Hệ thống tài chính

Hệ thống tài chính được tạo nên bởi sự kết hợp và tương tác qua lại với nhau của các định chế tài chính giúp cho tiết kiệm của người này ăn khớp với đầu tư của người khác Hệ thống tài chính có chức năng chuyển các nguồn lưc khan hiếm của nền kinh tế từ người cho vay – người tiết kiệm (những người chi tiêu ít hơn thu nhập) tới người đi vay (những người có chi tiêu nhiều hơn thu nhập), chức năng này được trình bày ở hình 2-1

Hình 2-1 Hệ thống tài chính trong nền kinh tế đóng

Các mũi tên trong hình 2-1 cho thấy rằng dòng vốn từ những người cho vay đi tới những người đi vay qua 2 con đường, tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp, tương ứng với 2 nhóm định chế tài chính, một là các trung gian tài chính và hai là các thị trường tài chính Chúng ta

sẽ lần lượt xem xét hai cấu thành cơ bản này của hệ thống tài chính

2.2.1 Trung gian tài chính

Trung gian tài chính là các định chế tài chính mà nhờ đó người tiết kiệm có thể gián tiếp cung

Vốn Vốn

Các trung gian tài chính (tài chính gián tiếp)

Những người đi vay: (đầu tư)

1 Các hãng kinh doanh

Trang 38

cấp vốn của họ cho người đi vay Trung gian tài chính đóng vai trò trung gian giữa người tiết kiệm và người đi vay Nó bao gồm các tổ chức nhận tiền gửi như: ngân hàng, các tổ chức tín dụng, quỹ tương hỗ, các công ty bảo hiểm …

Theo số liệu của Tổng cục thống kê (2016), Việt Nam có 5 ngân hàng thương mại lớn (ngân hàng Vietcombank, ngân hàng Agribank, ngân hàng Vietinbank, ngân hàng BIDV, ngân hàng Eximbank), ngân hàng chính sách xã hội, ngân hàng phát triển, 6 ngân hàng liên doanh; 36 ngân hàng thương mại cổ phần; 46 chi nhánh ngân hàng nước ngoài; 23 công ty tài chính và cho thuê tài chính; 998 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở…

a Ngân hàng thương mại

Ngân hàng là trung gian tài chính quen thuộc nhất đối với mọi người, ngân hàng có chức năng

cơ bản là nhận tiền gửi và sử dụng những khoản này để cho vay Các ngân hàng sẽ trả lãi suất cho người gửi tiền và tính lãi cao hơn đối với khách hàng vay tiền Khoản chênh lệch giữa hai mức lãi suất này được sử dụng một phần để bù đắp chi phí hoạt động của ngân hàng, phần còn lại là lợi nhuận Ngoài ra, chức năng quan trọng thứ hai của ngân hàng làm nó khác biệt với các trung gian tài chính khác là cung cấp dịch vụ thanh toán Ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua bán hàng hóa và dịch vụ bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử

tư giảm, cổ đông sẽ bị thiệt hại

Nếu có một lời khuyên đối với những người ghét rủi ro, thì nó chính là “Đừng để tất cả trứng

mà bạn có vào trong một cái giỏ”, ngành tài chính gọi đây là sự đa dạng hóa đầu tư và nó cũng thể hiện lợi thế của quỹ tương hỗ Quỹ tương hỗ cho phép mọi người đa dạng hóa cơ cấu đầu tư với số tiền ít ỏi Cổ đông của quỹ tương hỗ sẽ gián tiếp trở thành người sở hữu một cơ cấu đầu tư gồm nhiều loại cổ phiếu và trái phiếu của hàng trăm công ty lớn, như vậy với sự đa dạng cơ cấu đầu tư họ sẽ gặp ít rủi ro hơn Lợi thế thứ nữa mà Quỹ tương hỗ đem lại đó là quỹ tương hỗ tạo điều kiện cho những người dân sử dụng chuyên môn của các nhà quản lý tài chính chuyên nghiệp Các nhà quản lý của quỹ tương hỗ sẽ có những phân tích cơ bản, theo dõi sát sao diễn biến, triển vọng của các công ty và đưa ra quyết định lựa chọn mua cổ phiếu của các công ty được đánh giá là có lợi nhuận trong tương lai và bán cổ phiếu của công ty có triển vọng thấp hơn Với cách lập luận này các nhà quản lý chuyên nghiệp sẽ làm tăng lợi tức

mà những người đầu tư vào quỹ tương hỗ nhận được từ khoản tiền tiết kiệm của mình

c Công ty bảo hiểm

Công ty bảo hiểm, là công ty kinh doanh một hoạt động dịch vụ tài chính, thông qua đó một

cá nhân hay một tổ chức có quyền được hưởng bồi thường hoặc chi trả tiền bảo hiểm nếu rủi

ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra nhờ vào khoản đóng góp phí bảo hiểm cho mình hay cho người thứ ba Bảo hiểm là một trong những kênh huy động rất hữu hiệu để đầu tư phát triển kinh tế xã hội Các cơ quan và doanh nghiệp bảo hiểm thu phí bảo hiểm trước khi rủi ro và sự kiện bảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm Từ đó cho phép cơ quan bảo hiểm có một số tiền rất lớn và họ cần phải quản lý chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm Ngoài ra, giữa thời điểm xảy ra rủi ro do tổn thất và thời điểm chi trả hoặc bồi thường luôn có một khoảng cách Tổng khoảng thời gian này có thể kéo dài rất nhiều năm Bởi vậy,

số phí thu được phải dựa vào dự trữ, dự phòng và phải đem đầu tư để thu lãi Điều đó khẳng định được vai trò huy động vốn để đầu tư của toàn ngành bảo hiểm là vô cùng quan trọng đối với các nền kinh tế

Trang 39

Có rất nhiều các định chế tài chính trong nền kinh tế Bên cạnh ngân hàng, quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm còn có những định chế khác như hiệp hội tín dụng, quỹ hưu trí, thậm chí cả những công ty tài chính vay tiền lừa đảo ở địa phương Các định chế này khác nhau về nhiều mặt Tuy nhiên, khi nghiên cứu về vai trò vĩ mô của hệ thống tài chính, chúng ta cần chú ý tới

sự giống nhau của chúng, chứ không phải tìm kiếm sự khác biệt giữa chúng Tất cả các định chế đều có chung một mục đích – chuyển nguồn lực từ người tiết kiệm sang người cho vay

2.2.2 Th ị trường t ài chính

Thị trường tài chính là các định chế qua đó người có tiết kiệm có thể “trực tiếp” cung cấp vốn cho người muốn vay Chúng ta nói trực tiếp theo nghĩa người có tiết kiệm biết được ai là người sử dụng nguồn vốn do mình cung cấp Thị trường tài chính có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau Theo cách thức huy động vốn, thị trường tài chính được phân thành thị trường trái phiếu và thị trường cổ phiếu Theo thời điểm các tài sản tài chính được đưa ra thị trường, thị trường tài chính chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Tuy nhiên theo mục tiêu nghiên cứu của chương chúng ta sẽ tập trung vào hai thị trường tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế của chúng ta là thị trường trái phiếu (bond market) và thị trường cổ phiếu (Stock/Share market)

a Thị trường trái phiếu

Để huy động vốn cho hoạt động kinh doanh hay bù đắp thâm hụt ngân sách, đầu tư công cộng, các công ty hoặc chính phủ có thể vay “trực tiếp” từ công chúng bằng cách phát hành trái phiếu Theo chủ thể phát hành, trái phiếu gồm: trái phiếu chính phủ (do Chính phủ phát hành), và trái phiếu công ty (do công ty phát hành) Trái phiếu có ba thông tin quan trọng Thứ nhất, mệnh giá, đó là khoản tiền cho vay ban đầu Thứ hai, ngày đáo hạn, ngày người đi vay phải hoàn trả khoản nợ ban đầu thứ ba, lãi suất mà người đi vay phải trả thường kỳ (thường là một năm) cho tới ngày đáo hạn Như vậy, trái phiếu là chứng từ vay nợ quy định nghĩa vụ của người đi vay (người phát hành trái phiếu) phải trả cho người nắm giữ trái phiếu một khoản tiền nhất định trong thời gian cụ thể và phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi đến hạn

Lãi suất các loại trái phiếu rất khác nhau, phụ thuộc chủ yếu bởi kỳ hạn của nó và mức độ rủi

ro tín dụng của trái phiếu Trái phiếu dài hạn thường rủi ro hơn trái phiếu ngắn hạn, vì người nắm giữ trái phiếu dài hạn phải đợi lâu hơn mới đến ngày nhận lại vốn gốc Nếu người nắm giữ trái phiếu dài hạn cần tiền mặt trước ngày đáo hạn, anh ta chỉ có cách bán trái phiếu ấy cho một người khác và thường có mức giá thấp hơn Để bù lại mức rủi ro cao hơn, trái phiếu dài hạn thường có lãi suất cao hơn trái phiếu ngắn hạn Trái phiếu chính phủ thường được coi

là không có rủi ro tín dụng nên lãi suất trái phiếu chính phủ thường thấp, trái lại đối với công

ty không đáng tin cậy về mặt tài chính, trái phiếu công ty có rủi ro hơn nên phát hành trái phiếu với lãi suất cao để bù lại rủi ro Để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng trái phiếu, tại các nước phát triển, người mua trái phiếu có thể tham khảo ý kiến của các tổ chức xếp hạng rủi ro tín dụng của các loại trái phiếu

Trái phiếu mới phát hành lần đầu được giao dịch trên thị trường sơ cấp Người đang nắm giữ trái phiếu có thể bán lại cho người khác Thị trường diễn ra hoạt động mua bán trái phiếu đã phát hành gọi là thị trường thứ cấp Giá cả mua bán trên thị trường thứ cấp có thể cao hơn hay thấp hơn mệnh giá của trái phiếu Khi giá trái phiếu giảm, lãi suất thu được từ trái phiếu sẽ tăng và ngược lại

Ví dụ 2-5

Một trái phiếu với mệnh giá 1.000.000 VND và lãi suất 10% năm được bán lại trên thị trường thứ cấp với giá 800.000 VND, đến kỳ nhận tiền lãi, người mua sẽ được lĩnh một khoản tiền lãi là 100.000 VND (10%), như vậy lãi suất thu được là 12.5% (100.000/800.000*100)

Trang 40

b Thị trường cổ phiếu

Phát hành cổ phiếu là một trong các cách để công ty huy động vốn Cổ phiếu là một chứng khoán xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với thu nhập và tài sản của công ty Cổ phiếu và trái phiếu có tên gọi chung là chứng khoán, cổ phiếu là một loại chứng khoán vốn còn trái phiếu là chứng khoán nợ Cổ phiếu biểu thị quyền sở hữu tài sản của doanh nghiệp,

do đó nó cũng biểu thị quyền được hưởng lợi nhuận của doanh nghiệp Giả sử nếu công ty Vincom bán 1.000.000 cổ phiếu, thì mỗi cổ phiếu biểu thị quyền sở hữu 1/1.000.000 tài sản của Vincom

Mặc dù các công ty thường huy động vốn để đầu tư mới bằng cách phát hành cả trái phiếu và

cổ phiếu, nhưng cổ phiếu và trái phiếu rất khác nhau Người sở hữu cổ phiếu được gọi là cổ đông và trở thành một trong những người chủ sở hữu của công ty, họ sẽ được hưởng các quyền đối với công ty tương ứng với tỷ lệ cổ phần mà họ nắm giữ Khi công ty làm ăn có hiệu quả, người nắm giữ cổ phiếu (cổ đông) của công ty sẽ có thu nhập cao, trong khi người nắm giữ trái phiếu chỉ nhận được lãi (lợi tức) từ trái phiếu của mình Ngược lại, khi công ty làm ăn thua lỗ, thì nó có trách nhiệm trả nợ cho người nắm giữ trái phiếu trước, các cổ đông phải chịu mức thiệt hại tương ứng với giá trị cổ phiếu của họ Như vậy, so với trái phiếu, cổ phiếu

có rủi ro cao hơn, những lại có thể đem lại lợi tức cao hơn

Sau khi một công ty phát hành cổ phiếu và bán cho công chúng, những cổ phiếu này được mua đi bán lại giữa những người nắm giữ cổ phiếu, thị trường diễn ra giao dịch các cổ phiếu

đã phát hành được gọi là thị tường thứ cấp Giá của cổ phiếu trao đổi, mua bán trên thị trường chứng khoán do cung và cầu về cổ phiếu của các công ty đó quyết định Vì cổ phiếu biểu thị quyền sở hữu tài sản trong một công ty, nên nhu cầu về cổ phiếu phản ánh nhận thức của dân chúng về khả năng sinh lời trong tương lai của công ty Khi mọi người lạc quan về triển vọng của một công ty, họ muốn được sở hữu cổ phiếu của nó và đẩy giá cổ phiếu tăng lên Ngược lại, khi mọi người nghĩ lợi nhuận của một công ty thấp, thậm chí lỗ, giá cổ phiếu của nó giảm xuống Người ta dùng nhiều loại chỉ số chứng khoán để theo dõi mức giá chung của cổ phiếu Chỉ số chứng khoán được tính dưới dạng giá bình quân của một nhóm các cổ phiếu Ở nước

Mỹ, chỉ số này được tính trên cơ sở giá cổ phiếu của 30 công ty lớn như Microsoft, Coca cola… Vì giá cổ phiếu phản ánh mức lợi nhuận dự kiến, nên các chỉ số chứng khoán này được theo dõi sát sao với tư cách những chỉ số về tình hình kinh tế trong tương lai

Đối với Việt Nam sau nhiều năm cải cách, thị trường tài chính nước ta đã hình thành tương đối đầy đủ, các thị trường cấu thành cơ bản mặc dù còn ở mức phát triển khác nhau Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh ngày 20 tháng 7 năm 2000 Từ đó đến nay, thị trường chứng khoán ngày càng lớn mạnh cả về quy mô lẫn chiều sâu, phát huy được vai trò là kênh huy động vốn và góp phần điều hòa, phân phối nguồn vốn trong nền kinh tế

2.3 Mô hình thị trường vốn

Sau khi nghiên cứu về một số định chế tài chính quan trọng trong nền kinh tế, chúng ta có thể xây dựng một mô hình về thị trường tài chính Mục tiêu của chúng ta khi xây dựng một mô hình này là lý giải xem thị trường tài chính gắn tiết kiệm với đầu tư của nền kinh tế như thế nào Mô hình này cũng đem lại cho chúng ta một công cụ để phân tích ảnh hưởng của các chính sách mà Chính phủ thực hiện tới tiết kiệm và đầu tư Trên thực tế tồn tại nhiều loại thị trường tài chính, nhưng để đơn giản cho việc nghiên cứu và không làm thay đổi đáng kể tính tổng quát, chúng ta giả định, nền kinh tế chỉ gồm có một loại thị trường tài chính, đó là thị trường vốn, chỉ có một loại lãi suất cho cả người tiết kiệm và người đi vay Đối với người cho vay, lãi suất là lợi tức của tiết kiệm còn đối với người đi vay là chi phí của vốn vay Giống như mọi thị trường khác trong nền kinh tế, thị trường vốn cũng tuân theo quy luật cung cầu của nó

2.3.1 Đường cung về vốn

Ngày đăng: 28/02/2022, 09:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1-1. Bản đồ thu nhập b ình quân trên  đầu người của các quốc gia trên thế giới năm 2017 - Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 - TS. Nguyễn Tất Thắng
Hình 1 1. Bản đồ thu nhập b ình quân trên đầu người của các quốc gia trên thế giới năm 2017 (Trang 12)
Bảng 1 -3. GDP thực tế b ình quân/đầu người giai đoạn 1870 – 2003 - Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 - TS. Nguyễn Tất Thắng
Bảng 1 3. GDP thực tế b ình quân/đầu người giai đoạn 1870 – 2003 (Trang 13)
Bảng 1-4. T ốc độ tăng GDP thực tế bình quân/đầu người, giai đoạn 1870 – 2003 - Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 - TS. Nguyễn Tất Thắng
Bảng 1 4. T ốc độ tăng GDP thực tế bình quân/đầu người, giai đoạn 1870 – 2003 (Trang 14)
Hình 1-3. M ối quan hệ giữa mức thu nhập v à mức sống của người dân các nước ASEAN - Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 - TS. Nguyễn Tất Thắng
Hình 1 3. M ối quan hệ giữa mức thu nhập v à mức sống của người dân các nước ASEAN (Trang 19)
Hình 1-3. Đồ thị hàm sản xuất - Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 - TS. Nguyễn Tất Thắng
Hình 1 3. Đồ thị hàm sản xuất (Trang 23)
Hình 1-5. Tăng trưởng kinh tế thông qua tăng cường vốn đầu tư - Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 - TS. Nguyễn Tất Thắng
Hình 1 5. Tăng trưởng kinh tế thông qua tăng cường vốn đầu tư (Trang 25)
Đồ thị của hình 1-4. Trong khi đó Mỹ là nước có xuất phát điểm là điểm E’ với tốc độ tăng  trưởng trung bình chỉ đạt 2%/năm - Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 - TS. Nguyễn Tất Thắng
th ị của hình 1-4. Trong khi đó Mỹ là nước có xuất phát điểm là điểm E’ với tốc độ tăng trưởng trung bình chỉ đạt 2%/năm (Trang 26)
Hình 1-8.Tiến bộ công nghệ dẫn đến làm tăng năng suất - Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 - TS. Nguyễn Tất Thắng
Hình 1 8.Tiến bộ công nghệ dẫn đến làm tăng năng suất (Trang 27)
Hình 2-1. Hệ thống t ài chính trong nền kinh tế đóng - Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 - TS. Nguyễn Tất Thắng
Hình 2 1. Hệ thống t ài chính trong nền kinh tế đóng (Trang 37)
Hình 2-3. Tác động của chính sách khuyến khích tiết kiệm - Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 - TS. Nguyễn Tất Thắng
Hình 2 3. Tác động của chính sách khuyến khích tiết kiệm (Trang 42)
Hình 2-5.  Tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước so với GDP qua các năm - Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 - TS. Nguyễn Tất Thắng
Hình 2 5. Tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước so với GDP qua các năm (Trang 44)
Hình 2-7. Cách xây dựng đường IS - Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 - TS. Nguyễn Tất Thắng
Hình 2 7. Cách xây dựng đường IS (Trang 46)
Hình 2-8. Cách xây d ựng đường LM - Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 - TS. Nguyễn Tất Thắng
Hình 2 8. Cách xây d ựng đường LM (Trang 47)
Hình 2-10. Chính sách tài khóa m ở rộng - Giáo trình Kinh tế vĩ mô 2 - TS. Nguyễn Tất Thắng
Hình 2 10. Chính sách tài khóa m ở rộng (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm