MỞ ĐẦU1. Tính cấp thiết của đề tàiTrong lịch sử hiện đại Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Đó là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và của cả dân tộc, gắn liền với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, mà Người còn là một chiến sĩ lỗi lạc trong phong trào cộng sản quốc tế. Tư tưởng của Người là cơ sở lý luận quan trọng để Đảng ta hoạch định đường lối, chính sách, chiến lược phát triển đất nước ở những giai đoạn cách mạng tiếp theo, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Từ kinh nghiệm lịch sử và những yêu cầu cấp bách trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII (61991) đã khẳng định: “Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” 12, tr.127128. Đến Đại hội IX (42001), Đảng ta một lần nữa tái khẳng định điều này.Trong di sản tư tưởng mà Hồ Chí Minh để lại, những luận điểm của Người về xây dựng Đảng là một phần cực kỳ quan trọng, luôn định hướng cho sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng trong tình hình mới, phù hợp với tiến trình phát triển của đất nước, của dân tộc và thời đại; tạo tiền đề để Đảng ta không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, đồng thời tiếp tục khẳng định quyền lãnh đạo chính trị của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng bao gồm nhiều nội dung, trong đó đoàn kết thống nhất trong Đảng là một nội dung quan trọng cần được quán triệt một cách sâu sắc. Đoàn kết thống nhất trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa sống còn đối với sự lớn mạnh của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền trước đây, cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay. Những quan điểm về xây dựng sự đoàn kết thống nhất của Người cũng chính là quy luật tồn tại, phát triển và trưởng thành của Đảng; trở thành bài học quý báu để Đảng ta không ngừng củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất, phát huy trí tuệ tập thể, xây dựng đường lối đúng đắn, có phương pháp lãnh đạo khoa học, đủ sức đáp ứng được những yêu cầu mới bức thiết đang đặt ra đối với đất nước. Tuy nhiên, trước những yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, mở cửa, hội nhập sâu vào khu vực và thế giới, công tác xây dựng Đảng, cũng vì vậy, có nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là tác động mặt trái của toàn cầu hoá và hội nhập luôn tạo kẽ hở để các thế lực thù địch thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình” hòng chống phá cách mạng nước ta, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết thống nhất trong Đảng và tiến tới xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng như chúng đã thực hiện ở Liên Xô và Đông Âu. Hiện nay, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta yêu cầu xây dựng Đảng ngang tầm đòi hỏi của thời kỳ mới. Do vậy, các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trước hết và trên hết cần thấm nhuần, thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết thống nhất trong Đảng. Đây là vấn đề có tính chất nền tảng, là chìa khoá mở ra triển vọng mới, phát triển cao hơn về chất trong quá trình thực hiện đoàn kết thống nhất trong Đảng. Đảng sẽ không thể hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình với tư cách là người chiến sĩ tiên phong lãnh đạo xã hội, nếu không có sự đoàn kết thống nhất. Toàn Đảng có sự đoàn kết và thống nhất cao sẽ tạo nên sức mạnh to lớn, vượt qua mọi trở lực trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhờ thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết thống nhất trong Đảng, mà ngày nay, trước sự phát triển của cách mạng, Đảng ta trên cơ sở của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức và tình thương yêu đồng chí đã giữ gìn được sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Như vậy, để giải quyết những vấn đề về xây dựng Đảng, xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, hơn bao giờ hết, chúng ta cần trở lại với tư tưởng của Người để quán triệt và vận dụng một cách sáng tạo, hiệu quả vào thực tiễn, tìm ra những nguyên lý, cách thức và biện pháp tăng cường sự đoàn kết thống nhất nội bộ, góp phần xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.Là một tỉnh nằm ở phía Nam đồng bằng sông Hồng, sau 32 năm sáp nhập với tỉnh Nam Định (từ 1965 đến 1997, với tên gọi Nam Hà), và 16 năm sáp nhập với tỉnh Ninh Bình (từ 1976 đến 1992, với tên gọi Hà Nam Ninh), Hà Nam được chia tách từ tỉnh Nam Hà và chính thức đi vào hoạt động của một tỉnh mới từ ngày 01011997. Ngay sau khi được tái lập, khó khăn lớn đối với tỉnh là việc kiện toàn tổ chức bộ máy từ Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh đến các sở, ban, ngành, đoàn thể, trong khi đội ngũ cán bộ vừa thiếu, vừa không đồng bộ. Song, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã lãnh đạo, chỉ đạo từng bước ổn định tổ chức bộ máy và sắp xếp cán bộ, đưa các hoạt động của tỉnh sớm đi vào nề nếp. Cùng với việc kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, đoàn thể, các Ban cán sự Đảng, Đảng đoàn và cơ quan quản lý nhà nước, hệ thống tổ chức đảng cũng được sắp xếp phù hợp với bộ máy mới; tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương. Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đoàn kết thống nhất trong Đảng, các cấp uỷ đảng, qua các nhiệm kỳ Đại hội, đã thường xuyên quan tâm xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất, tạo sự đồng thuận trong nhân dân và đã đem lại những kết quả đáng khích lệ, tạo tiền đề rất quan trọng cho bước phát triển mới của tỉnh.Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thực tế công tác xây dựng Đảng của các tổ chức đảng ở địa phương còn nhiều hạn chế, yếu kém, nhất là tình hình mất đoàn kết ở một số tổ chức cơ sở đảng đã diễn ra với mức độ nghiêm trọng sau khi tái lập tỉnh. Việc xảy ra mất đoàn kết trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Tỉnh uỷ và chính quyền lâm thời, trong thời gian đầu, đã ảnh hưởng tiêu cực tới tư tưởng, tình cảm, lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của tỉnh. Bài học được rút ra từ tình hình mất đoàn kết nêu trên cho thấy sự cần thiết phải củng cố vững mạnh các tổ chức đảng, nhất là các tổ chức cơ sở đảng. Điều này có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng lãnh đạo của toàn Đảng bộ.Với vị trí nền tảng, vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở, vấn đề tăng cường đoàn kết thống nhất trong các tổ chức cơ sở đảng nói chung và các chi bộ, đảng bộ thuộc khối cơ quan Dân chính Đảng tỉnh nói riêng càng cần phải được đặc biệt coi trọng, bởi lẽ Đảng mạnh thì trước hết các tổ chức cơ sở đảng phải mạnh, phải tạo được sự đoàn kết thống nhất từ trên xuống dưới. Vì vậy, quán triệt và vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh vào việc củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng bộ khối là một trong những nhiệm vụ vô cùng quan trọng và bức thiết, nhất là trong bối cảnh tình hình đất nước, khu vực và thế giới có những biến đổi to lớn; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, suy thoái đạo đức và lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên là nguy cơ của sự chia rẽ đoàn kết trong các tổ chức đảng, làm cho một số tổ chức đảng yếu kém kéo dài. Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển kinh tế xã hội ở địa phương nhằm đưa Hà Nam thoát khỏi tình trạng của một tỉnh thuần nông chậm phát triển, hơn lúc nào hết, việc tăng cường đoàn kết thống nhất trong các chi bộ, đảng bộ cơ sở sẽ góp phần rất quan trọng vào xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị của địa phương.Với nhận thức trên, tác giả chọn vấn đề: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong các tổ chức cơ sở đảng thuộc khối cơ quan Dân chính Đảng ở tỉnh Hà Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Hồ Chí Minh học.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử hiện đại Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn giữ một
vị trí đặc biệt quan trọng Đó là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và của cảdân tộc, gắn liền với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam Hồ ChíMinh không chỉ là vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, mà Người còn là một chiến
sĩ lỗi lạc trong phong trào cộng sản quốc tế Tư tưởng của Người là cơ sở lýluận quan trọng để Đảng ta hoạch định đường lối, chính sách, chiến lược pháttriển đất nước ở những giai đoạn cách mạng tiếp theo, vì mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Từ kinh nghiệm lịch sử vànhững yêu cầu cấp bách trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đại hội đại biểuĐảng toàn quốc lần thứ VII (6/1991) đã khẳng định: “Đảng ta lấy chủ nghĩaMác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ namcho hành động” [12, tr.127-128] Đến Đại hội IX (4/2001), Đảng ta một lầnnữa tái khẳng định điều này
Trong di sản tư tưởng mà Hồ Chí Minh để lại, những luận điểm củaNgười về xây dựng Đảng là một phần cực kỳ quan trọng, luôn định hướng cho
sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng trong tình hình mới, phù hợp với tiến trình pháttriển của đất nước, của dân tộc và thời đại; tạo tiền đề để Đảng ta không ngừngnâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, đồng thời tiếp tục khẳng địnhquyền lãnh đạo chính trị của Đảng đối với Nhà nước và xã hội
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng bao gồm nhiều nội dung,trong đó đoàn kết thống nhất trong Đảng là một nội dung quan trọng cần đượcquán triệt một cách sâu sắc Đoàn kết thống nhất trong Đảng theo tư tưởng HồChí Minh có ý nghĩa sống còn đối với sự lớn mạnh của Đảng ta trong quátrình lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền trước đây, cũng như trong xâydựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ngày nay Những quan điểm về xâydựng sự đoàn kết thống nhất của Người cũng chính là quy luật tồn tại, phát
Trang 2triển và trưởng thành của Đảng; trở thành bài học quý báu để Đảng ta khôngngừng củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất, phát huy trí tuệ tập thể,xây dựng đường lối đúng đắn, có phương pháp lãnh đạo khoa học, đủ sức đápứng được những yêu cầu mới bức thiết đang đặt ra đối với đất nước
Tuy nhiên, trước những yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đấtnước, mở cửa, hội nhập sâu vào khu vực và thế giới, công tác xây dựng Đảng,cũng vì vậy, có nhiều vấn đề cần giải quyết, đặc biệt là tác động mặt trái củatoàn cầu hoá và hội nhập luôn tạo kẽ hở để các thế lực thù địch thực hiện âmmưu “diễn biến hoà bình” hòng chống phá cách mạng nước ta, gây chia rẽkhối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết thống nhất trong Đảng và tiến tới xoá
bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng như chúng đã thực hiện ở Liên Xô và Đông Âu.Hiện nay, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta yêu cầu xây dựngĐảng ngang tầm đòi hỏi của thời kỳ mới Do vậy, các tổ chức đảng, cán bộ,đảng viên trước hết và trên hết cần thấm nhuần, thấu triệt tư tưởng Hồ ChíMinh về đoàn kết thống nhất trong Đảng Đây là vấn đề có tính chất nền tảng,
là chìa khoá mở ra triển vọng mới, phát triển cao hơn về chất trong quá trìnhthực hiện đoàn kết thống nhất trong Đảng Đảng sẽ không thể hoàn thànhnhiệm vụ chính trị của mình với tư cách là người chiến sĩ tiên phong lãnh đạo
xã hội, nếu không có sự đoàn kết thống nhất Toàn Đảng có sự đoàn kết vàthống nhất cao sẽ tạo nên sức mạnh to lớn, vượt qua mọi trở lực trên conđường đi lên chủ nghĩa xã hội Nhờ thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh vềđoàn kết thống nhất trong Đảng, mà ngày nay, trước sự phát triển của cáchmạng, Đảng ta - trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối chính trị, nguyên tắc tổ chức và tình thương yêu đồng chí -
đã giữ gìn được sự đoàn kết thống nhất trong Đảng Như vậy, để giải quyếtnhững vấn đề về xây dựng Đảng, xây dựng sự đoàn kết thống nhất trongĐảng, hơn bao giờ hết, chúng ta cần trở lại với tư tưởng của Người để quántriệt và vận dụng một cách sáng tạo, hiệu quả vào thực tiễn, tìm ra những
Trang 3nguyên lý, cách thức và biện pháp tăng cường sự đoàn kết thống nhất nội bộ,góp phần xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.
Là một tỉnh nằm ở phía Nam đồng bằng sông Hồng, sau 32 năm sápnhập với tỉnh Nam Định (từ 1965 đến 1997, với tên gọi Nam Hà), và 16 nămsáp nhập với tỉnh Ninh Bình (từ 1976 đến 1992, với tên gọi Hà Nam Ninh),
Hà Nam được chia tách từ tỉnh Nam Hà và chính thức đi vào hoạt động củamột tỉnh mới từ ngày 01/01/1997 Ngay sau khi được tái lập, khó khăn lớn đốivới tỉnh là việc kiện toàn tổ chức bộ máy từ Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnhđến các sở, ban, ngành, đoàn thể, trong khi đội ngũ cán bộ vừa thiếu, vừakhông đồng bộ Song, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã lãnh đạo, chỉ đạo từng bước
ổn định tổ chức bộ máy và sắp xếp cán bộ, đưa các hoạt động của tỉnh sớm đivào nề nếp Cùng với việc kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, đoànthể, các Ban cán sự Đảng, Đảng đoàn và cơ quan quản lý nhà nước, hệ thống
tổ chức đảng cũng được sắp xếp phù hợp với bộ máy mới; tăng cường sự lãnhđạo trực tiếp của Tỉnh uỷ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địaphương Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đoàn kết thốngnhất trong Đảng, các cấp uỷ đảng, qua các nhiệm kỳ Đại hội, đã thườngxuyên quan tâm xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất, tạo sự đồng thuậntrong nhân dân và đã đem lại những kết quả đáng khích lệ, tạo tiền đề rất quantrọng cho bước phát triển mới của tỉnh
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thực tế công tác xây dựngĐảng của các tổ chức đảng ở địa phương còn nhiều hạn chế, yếu kém, nhất
là tình hình mất đoàn kết ở một số tổ chức cơ sở đảng đã diễn ra với mức
độ nghiêm trọng sau khi tái lập tỉnh Việc xảy ra mất đoàn kết trong độingũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Tỉnh uỷ và chính quyền lâm thời, trongthời gian đầu, đã ảnh hưởng tiêu cực tới tư tưởng, tình cảm, lòng tin củacán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, ảnh hưởngđến tiến trình phát triển của tỉnh Bài học được rút ra từ tình hình mất đoàn
Trang 4kết nêu trên cho thấy sự cần thiết phải củng cố vững mạnh các tổ chứcđảng, nhất là các tổ chức cơ sở đảng Điều này có ý nghĩa quyết định đốivới chất lượng lãnh đạo của toàn Đảng bộ.
Với vị trí nền tảng, vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở, vấn đề tăngcường đoàn kết thống nhất trong các tổ chức cơ sở đảng nói chung và các chi bộ,đảng bộ thuộc khối cơ quan Dân chính Đảng tỉnh nói riêng càng cần phải đượcđặc biệt coi trọng, bởi lẽ Đảng mạnh thì trước hết các tổ chức cơ sở đảng phảimạnh, phải tạo được sự đoàn kết thống nhất từ trên xuống dưới Vì vậy, quántriệt và vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh vào việc củng cố, tăng cường sựđoàn kết thống nhất trong Đảng bộ khối là một trong những nhiệm vụ vô cùngquan trọng và bức thiết, nhất là trong bối cảnh tình hình đất nước, khu vực và thếgiới có những biến đổi to lớn; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, suy thoáiđạo đức và lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên là nguy cơ của sự chia rẽđoàn kết trong các tổ chức đảng, làm cho một số tổ chức đảng yếu kém kéo dài
Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước và thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phươngnhằm đưa Hà Nam thoát khỏi tình trạng của một tỉnh thuần nông chậm pháttriển, hơn lúc nào hết, việc tăng cường đoàn kết thống nhất trong các chi bộ,đảng bộ cơ sở sẽ góp phần rất quan trọng vào xây dựng, chỉnh đốn Đảngtrong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổchức đảng, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị của địa phương
Với nhận thức trên, tác giả chọn vấn đề: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong các tổ chức cơ sở đảng thuộc khối cơ quan Dân chính Đảng ở tỉnh Hà Nam” làm
đề tài luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Hồ Chí Minh học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ sau Đại hội VII của Đảng, đề tài về tư tưởng Hồ Chí Minh đã thu hútđược đông đảo các tập thể, cá nhân, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong và
Trang 5ngoài nước quan tâm, tìm hiểu, nghiên cứu Cho đến nay, có hàng nghìn bài viết,hàng trăm công trình nghiên cứu tiếp cận tư tưởng của Người ở nhiều phươngdiện khác nhau Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng sự đoàn kết thống nhấttrong Đảng, trong điều kiện Đảng cầm quyền, là vấn đề được các nhà nghiên cứu
lý luận, các chính trị gia và đại bộ phận cán bộ, đảng viên đặc biệt quan tâm, vậndụng vào xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh
Liên quan đến nội dung của luận văn này có một số công trình, bài viếttrên sách, báo và tạp chí đã được công bố như:
- Cuốn sách Một số vấn đề trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam của các tác giả Bùi Đình Phong, Phạm Ngọc Anh, nhà
xuất bản Lao động, Hà Nội, năm 2005, đã phân tích những nội dung cơ bảntrong tư tưởng Hồ Chí Minh về tính tất yếu xây dựng Đảng trong sạch,vững mạnh ở cả ba mặt: Chính trị, tư tưởng và tổ chức; về các nguyên tắc
cơ bản trong tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng, trong đó nhấnmạnh đến việc giữ vững và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng;khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết thống nhất trong Đảng làvấn đề có tính chất nền tảng, mở ra bước phát triển về chất đối với việcnâng cao sức chiến đấu của Đảng và có ý nghĩa quyết định sự thành côngcủa cách mạng, của sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản ViệtNam khởi xướng và lãnh đạo
- Cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, của tác giả
Nguyễn Quốc Bảo, nhà xuất bản Lao động Hà Nội, năm 2001, đã nêu lên tầmquan trọng đặc biệt của đoàn kết thống nhất trong Đảng và những biện phápcần thiết bảo đảm cho việc giữ vững, tăng cường sức mạnh của khối đoàn kếtthống nhất nhằm nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng trong côngcuộc đổi mới, đó là việc tăng cường sự thống nhất trên những vấn đề thuộc vềđường lối và khẳng định sự đoàn kết thống nhất là quy luật trưởng thành củaĐảng trong điều kiện Đảng cầm quyền
Trang 6- Tác giả Bùi Văn Điểm trong cuốn Tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, năm 2009, đã trình bày một số vấn đề cơ bản về tăng cường đoàn kếtthống nhất trong Đảng, trong đó nêu bật sức mạnh của truyền thống đoàn kếttrong Đảng suốt 80 năm qua kể từ khi Đảng ta ra đời, lãnh đạo đấu tranhgiành chính quyền, kháng chiến kiến quốc cũng như khi Đảng ta lãnh đạo cảnước xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời, tác giả cũng đặt ra những yêu cầucấp thiết phải tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng theo Di chúc củaChủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
- Trong cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2002, các tác giả Lê Văn Lý, Mạch Quang Thắng, Đặng Đình Phú, Trần TrungQuang và Nguyễn Văn Biều, khi đề cập đến việc nâng cao sức chiến đấu củaĐảng về tổ chức, đã đưa ra quan niệm của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của tổchức cơ sở đảng và những sáng tạo của Người về nội dung, hình thức, cách tiếnhành củng cố, kiện toàn, phát huy vai trò của tổ chức cơ sở đảng, xây dựng chi
bộ vững mạnh nhằm góp phần tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng
- Trong cuốn Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền, Nxb Hà Nội,
2004, các tác giả Trần Đình Huỳnh và Ngô Kim Ngân đã phân tích sâu nhữngluận điểm quan trọng của Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng thực sự trong sạch,vững mạnh; về xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ năng lực đáp ứngyêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, về mối quan hệ giữa dânchủ và tập trung, việc thực hành nguyên tắc đó trong Đảng để tăng cường sứcmạnh của khối đoàn kết thống nhất trong Đảng
Ngoài những công trình nghiên cứu đã được in thành sách, thì vấn đềđoàn kết thống nhất trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh cũng là nội dungnghiên cứu của một số luận án, luận văn và nhiều bài viết đăng trên các tờ tạpchí dưới nhiều góc độ khác nhau:
Trang 7- Luận văn thạc sĩ “Xây dựng đảng bộ đoàn kết thống nhất - Kinhnghiệm của quận Thủ Đức” của Trương Thị Kim Khôi, năm 1993; “Xâydựng khối đoàn kết thống nhất của các tổ chức cơ sở đảng trong Quân độinhân dân Việt Nam” của Nguyễn Văn Việt, năm 1993; “Tăng cường đoàn kếtthống nhất trong các đảng bộ xã ở tỉnh Hải Dương hiện nay” của Đỗ Thị Lan,năm 2005; “Công tác tư tưởng của các tổ chức cơ sở đảng thuộc khối cơ quanDân chính Đảng ở tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay” của Lưu TrọngQuang, năm 2008 thuộc chuyên ngành Xây dựng Đảng Các tác giả đã tậptrung nghiên cứu về thực trạng của sự đoàn kết thống nhất trong các tổ chức cơ
sở đảng, đồng thời cũng nêu lên những nội dung, biện pháp nhằm tăng cườngđoàn kết thống nhất trong Đảng và việc vận dụng vào thực tiễn cơ sở
- Vũ Văn Thuấn (2004), “Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nội
dung, hình thức và vai trò của đoàn kết, đại đoàn kết”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 05
- Trương Thị Thông (2004), “Tăng cường đoàn kết thống nhất trong
Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 02.
- Nguyễn Thành Long (2005), “Thường xuyên củng cố đoàn kết thống
nhất trong Đảng, Tạp chí Lý luận chính trị, số 02.
- Nguyễn Xuân Thông (2006), “Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về vai
trò, vị trí, chức năng của tổ chức cơ sở đảng”, Tạp chí Cộng sản, số 09.
- Hồ Bá Cảnh (2006), “Xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng
dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số12.
- Hồ Thanh Khôi (2006), “Hồ Chí Minh - Biểu tượng cao cả về đại
đoàn kết dân tộc và đoàn kết trong Đảng”, Tạp chí Công tác tư tưởng, số 02
- Đinh Tiến Dũng (2007), “Phát huy truyền thống đoàn kết theo tư
tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 04.
- Phạm Liên (2008), “Về đoàn kết thống nhất trong Đảng”, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 08.
Trang 8- Phạm Ngọc Anh (2009), “Tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh”, Tạp
Hiện nay, chưa có một đề tài nào nghiên cứu: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong các tổ chức cơ sở đảng thuộc khối cơ quan Dân chính Đảng tỉnh Do đó, đề tài luận
văn không trùng với những công trình khoa học, luận văn, luận án đã đượccông bố
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn phân tích một số luận điểm cơ bản về xây dựng, củng cố sựđoàn kết thống nhất trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm nâng caonhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc tăng cường sự đoàn kếtthống nhất trong các tổ chức cơ sở đảng
Quán triệt những quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng sự đoànkết thống nhất trong các tổ chức cơ sở đảng theo tinh thần các Nghị quyếtHội nghị Trung ương, các kỳ Đại hội toàn quốc của Đảng và của Đảng bộtỉnh Hà Nam
3.2 Nhiệm vụ
Luận văn đi sâu tìm hiểu và làm sáng tỏ những nội dung cơ bản của tưtưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của đoàn kết thống nhất trong Đảng
Trang 9Bổ sung những quan điểm cơ bản về đoàn kết thống nhất trong Đảng,phân tích, đánh giá thực trạng của vấn đề đoàn kết thống nhất trong các tổchức cơ sở đảng thuộc Đảng bộ khối cơ quan Dân chính Đảng tỉnh Hà Nam,bao gồm kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những kết quả,hạn chế.
Đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục củng
cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong các chi bộ, đảng bộ trực thuộckhối cơ quan Dân chính Đảng, tạo sức mạnh tổng hợp cho khối đại đoàn kếttoàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống các quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng sự đoàn kếtthống nhất trong Đảng
Quá trình xây dựng, củng cố, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trongĐảng bộ khối cơ quan Dân chính Đảng tỉnh Hà Nam trong giai đoạn hiện nay
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền; các quanđiểm của Đảng về xây dựng Đảng, xây dựng sự đoàn kết thống nhất trongĐảng, các Nghị quyết của Tỉnh ủy Hà Nam và Đảng bộ khối cơ quan Dânchính Đảng tỉnh về xây dựng sự đoàn kết thống nhất
Luận văn kế thừa có chọn lọc những thành quả nghiên cứu của cáccông trình, các đề tài khoa học đã được công bố có liên quan
Trang 105.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Luận văn sử dụng phương pháp logic, lịch sử, phân tích tổng hợp, khảosát thực tế, phương pháp so sánh… Quán triệt quan điểm thực tiễn, thống nhấtgiữa lý luận và thực tiễn
6 Những đóng góp về khoa học của luận văn
Luận văn góp phần vào nghiên cứu, lý giải và làm sáng tỏ hơnnhững quan điểm cơ bản, đồng thời khẳng định những giá trị to lớn của tưtưởng Hồ Chí Minh về xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, trongcác tổ chức cơ sở đảng
Luận văn góp phần đánh giá, tổng kết quá trình Đảng bộ khối cơ quanDân chính Đảng tỉnh Hà Nam lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng sự đoàn kết thốngnhất trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, đề xuất một số giải phảp để Đảng
bộ khối cơ quan Dân chính Đảng tỉnh tham khảo, nghiên cứu và vận dụng cóhiệu quả những quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng sự đoàn kết thốngnhất nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp của Đảng bộ tỉnh Hà Nam
7 Giá trị lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là cơ sở lý luận để Đảng bộ tỉnh HàNam, Đảng bộ khối cơ quan Dân chính Đảng tỉnh tham khảo, nghiên cứu và
đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm tăng cường khối đoàn kết thống nhất trongĐảng bộ địa phương
Làm tư liệu phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy bộ môn tư tưởng
Hồ Chí Minh tại Trường Chính trị tỉnh Hà Nam
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 2 chương, 6 tiết
Trang 11Chương 1 ĐOÀN KẾT THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1.1 QUAN NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT THỐNG NHẤT TRONG ĐẢNG
ra đời đến nay Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết là sự liên kết chặt chẽ thành mộtkhối thống nhất của số đông người có chung mục đích, lý tưởng, biết đồngtâm hiệp lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn, bảo đảm thực hiện thànhcông mục đích, lý tưởng đó Thực chất của khái niệm này được quy định bởi
bốn yếu tố cơ bản của đoàn kết là: “đông”, “đích”, “kết”, “đồng”.
“Đông” là ít nhất phải có hai người trở lên, nhiều nhất là toàn nhân
loại Đây được coi là thành tố của đoàn kết, không có nó thì không thể có
đoàn kết Hồ Chí Minh đã có nhiều câu nói về yếu tố “đông”:
“Lọ là thân thích ruột rà, Công nông thế giới đều là anh em” [63 tr.258]
Hay “Tất cả mọi người hãy đứng lên quanh lá cờ đỏ để chinh phục thếgiới”, “Lao động tất cả các nước đoàn kết lại” [53, tr.461]
Trang 12“Đích” là mục đích của đoàn kết Đoàn kết cần đông người, nhưng số
đông người chỉ đoàn kết được khi họ có chung mục đích, lý tưởng, mà nếukhông đoàn kết thì mục đích, lý tưởng đó không thực hiện được Trong các disản của Hồ Chí Minh, mục đích, lý tưởng chính là lợi ích, quyền con người, làlợi ích và quyền của một dân tộc Đoàn kết là nhằm những lợi ích đó Cũng
nhằm mục đích đó, nhưng có hai loại đoàn kết, một là, vì chính lợi ích của
mình mà người ta phấn đấu để đạt cho được, nhất là khi bị kẻ khác tước đoạt;
hai là, người ta đoàn kết, đấu tranh trước hết chưa phải vì lợi ích của chính
mình, mà nhằm đem lại lợi ích cho người khác, phụng sự cho lợi ích của sốđông, cho lợi ích của giai cấp và của dân tộc, nhất là khi con người bị áp bức,bóc lột, dân tộc bị xâm lược trở thành thuộc địa và phụ thuộc Đó là mục đích,
lý tưởng cao cả của những người tiên tiến Chẳng những họ đoàn kết chặt chẽvới nhau, mà còn tuyên truyền, lôi cuốn, đoàn kết quần chúng đấu tranh chomục đích, lý tưởng cao cả đó Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình,
Hồ Chí Minh luôn luôn phấn đấu phụng sự cho mục đích giải phóng dân tộc,đem lại hạnh phúc cho nhân dân Người còn kêu gọi mọi người đoàn kết đểthực hiện mục đích đó
Ngay từ năm 1923, trong truyền đơn của Ban nghiên cứu thuộc địa,
Hồ Chí Minh đã kêu gọi: Vì nền hòa bình thế giới, vì tự do và ấm no,những người bị bóc lột thuộc mọi chủng tộc cần đoàn kết lại Khi đặt quyềnlợi giải phóng dân tộc lên hàng đầu, Người nói: “Trong lúc này, quyền lợidân tộc giải phóng cao hơn hết thảy Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổbọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi, lửabỏng” [55, tr.198] Khi đất nước bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội,Người lại kêu gọi: “Mọi người cần đoàn kết thực sự và giúp nhau cùng tiếnbộ” [61, tr.137]
“Kết” là sự liên kết, liên hợp số đông người có mục đích chung, thành
một khối thống nhất chặt chẽ
Trang 13Năm 1925, trong bài “Hãy thương nhau và cùng nhau đoàn kết”, HồChí Minh đã viết:
Hãy liên kết như thể thân mình
Ngũ quan cùng với tay chân dính liền
Tách rời nhau thời không thể sống
Chỉ cùng với nhau sức lực mới sinh sôi [54, tr.440]
Khối thống nhất ấy chặt chẽ tới mức không thể có một lực lượng nàochia rẽ được Ý này được Người nói rõ qua hình tượng nhiều sợi chỉ tuy rất
mỏng manh, nhưng đan kết lại thành tấm vải mỹ miều Người đã viết:
"Đã bền hơn lụa, lại điều hơn da
“Đồng” trong tư tưởng của Người rất toàn diện: “Đồng tâm, nhất trí”,
“đồng lòng, hợp sức”, “đồng tâm, hiệp lực”, “đồng lòng, đồng sức”… Trongnhiều bài khác như: “Đồng tâm nhất trí”, viết ngày 22/9/1922 đăng trên báoL’humanité (Nhân đạo), Đường Kách mệnh, Kính cáo đồng bào… Hồ Chí
Minh đều nói rõ nghĩa như vậy của chữ “đồng” Đó là sự thống nhất về mục
đích, lý tưởng và ý chí, quan tâm thực hiện cho được mục đích, lý tưởng đó
Và chỉ trên cơ sở ấy mới có thể đồng sức Đồng sức không chỉ là hợp sức (cảsức mạnh tinh thần và sức mạnh cơ bắp), mà còn là sự đóng góp của cải vậtchất và tài năng của mỗi người, mỗi gia đình, mỗi tập thể… tạo thành lựclượng vật chất to lớn, Người viết: “Việc cứu quốc là việc chung Ai là ngườiViệt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góptiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài
năng” [55, tr.198] Và Người đã tổng kết tính toàn diện của chữ “đồng”:
Trang 14“Khuyên ai xin nhớ chữ đồng,
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh” [55, tr.206]
Từ yếu tố “đồng”, đoàn kết tạo ra sức mạnh hợp lực to lớn cả vật chất và
tinh thần, bảo đảm thực hiện thành công mục đích của đoàn kết chính là nguyênnhân quyết định sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam Mặc dù Hồ Chí Minhkhông phải là người đầu tiên đưa ra khái niệm đoàn kết (khái niệm này đã hìnhthành tự phát trong lịch sử, nhưng còn trừu tượng, chưa cụ thể và chưa đầy đủ),nhưng công lao lớn của Người là đã kế thừa, bổ sung thêm cả về nội hàm vàngoại diên của khái niệm này, khiến nó toàn diện và hoàn chỉnh hơn
1.1.1.2 Đoàn kết thống nhất trong Đảng
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Cách mạng là sự nghiệp củaquần chúng Sự thành công của phong trào công nhân trong mỗi nước chỉ có thểđược bảo đảm bằng sức mạnh của sự thống nhất và sự tổ chức V.I.Lênin đã chỉ
rõ rằng muốn đưa cách mạng đến thắng lợi, Đảng phải có sự thống nhất ý chí hếtsức chặt chẽ và tuyệt đối Theo V.I.Lênin, đoàn kết thống nhất trong Đảng:
Một là, có sự cùng nhau thảo luận dân chủ về công việc của Đảng và
được phản ánh trong các nghị quyết được đa số thông qua và trung thực chấphành nghị quyết đó
Hai là, trong Đảng không có tình trạng phân chia thành những bộ phận
không tín nhiệm nhau, không muốn công tác cùng nhau
Ba là, trong Đảng không có những mầm mống nảy sinh một tổ chức
mới, không có những tập đoàn có Cương lĩnh, hành động riêng
Trung thành với lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa những giá trịtốt đẹp của truyền thống đoàn kết dân tộc, trong quá trình vận dụng sáng tạo họcthuyết Mác - Lênin về chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân vào xây dựngĐảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc xây dựng và bảo
vệ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng Người quan niệm rằng đoàn kết thốngnhất trong Đảng phải biểu hiện cả tư tưởng và hành động Đoàn kết thống nhất
Trang 15trong Đảng là đoàn kết nội bộ trên cơ sở đường lối, chính sách đúng và nhữngnguyên tắc của Đảng, là vấn đề sống còn của cách mạng, là cơ sở để thống nhấtgiai cấp và là điều kiện để đoàn kết toàn dân tộc.
Sự đoàn kết thống nhất ý chí và hành động trong Đảng trước hết phảidựa trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối, quan điểmcủa Đảng trong từng thời kỳ cách mạng Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Bây giờ họcthuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắnnhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin” [54, tr.268] Người đã ví chủ nghĩa
Mác - Lênin là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam, là ngọn cờ đoàn kết, là
cơ sở để vạch ra đường lối, sách lược cho cách mạng Đoàn kết thống nhất đãtrở thành truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân tộc ta Truyềnthống đó đã được Hồ Chí Minh và những người cộng sản Việt Nam kế thừa,phát huy trong những điều kiện mới của lịch sử dân tộc Sự kiện Đảng Cộngsản Việt Nam ra đời vào năm 1930 với việc thống nhất các tổ chức cộng sản,vừa khắc phục sự thiếu nhất trí trong lãnh đạo, chỉ đạo của ba tổ chức cộngsản, đồng thời tạo thêm sức mạnh đoàn kết thống nhất trong Đảng trên lậptrường chủ nghĩa Mác - Lênin
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đầu năm 1930 chứng tỏ giai cấp vôsản nước ta đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng Đó là cái mốc đánhdấu sự phát triển về chất của giai cấp công nhân Việt Nam Từ đây, Việt Nam
có được sự lãnh đạo duy nhất, toàn diện của Đảng Cộng sản, trong đó có lãnhđạo giữ vững khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế Theo Hồ Chí Minh,Đảng muốn hoàn thành nhiệm vụ của mình, muốn giữ được vai trò lãnh đạoduy nhất đối với dân tộc, “Đảng phải đấu tranh không nhân nhượng chống tưtưởng bè phái và phải tổ chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin đểnâng cao trình độ văn hóa và chính trị cho các đảng viên” [55, tr.139] Người
đã từng ví “Đảng như cái máy phát điện, các công việc như những ngọn đèn,máy mạnh thì đèn sáng” [57, tr.551] Trong thời kỳ Cách mạng tháng Tám
Trang 16năm 1945 cũng như chín năm kháng chiến trường kỳ gian khổ chống thực dân
Pháp, Hồ Chí Minh tin tưởng rằng “nay tuy châu chấu đá voi, nhưng mai voi
sẽ bị lòi ruột ra” [58, tr.164]
Với Hồ Chí Minh, đoàn kết thống nhất trong Đảng là một chiến lượclâu dài, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cách mạng Việt Nam Người chính là hiệnthân của khối đoàn kết thống nhất trong Đảng Sự thống nhất hài hòa giữa tưtưởng và hành động, đạo đức, nhân cách, sự mẫu mực trong lời nói và việclàm vì lợi ích dân tộc của Đảng ở Người thực sự trở thành tấm gương giáodục, rèn luyện, xây dựng tinh thần đoàn kết giữa cấp trên, cấp dưới, giữa đảngviên với quần chúng; giữa quân và dân, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viêngóp phần to lớn vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ
1.1.2 Cơ sở bảo đảm sự đoàn kết thống nhất trong Đảng
1.1.2.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Điều lệ Đảng
Theo Hồ Chí Minh, nhờ biết vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin vào tình hình thực tế của cách mạng nước ta, Đảng ta đã đề ra đườnglối, chính sách đúng đắn, trong đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựngchủ nghĩa xã hội
-Về vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với Đảng ta, Hồ Chí Minh
đã khẳng định: “Chủ nghĩa Mác - Lênin là lực lượng tư tưởng hùng mạnhchỉ đạo Đảng chúng tôi, làm cho Đảng chúng tôi có thể trở thành hình thức
tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự vàlương tâm của dân tộc chúng tôi” [57, tr.557] “Chủ nghĩa Lênin đối vớichúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những làcái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắnglợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản [55, tr.128]
Tuy nhiên, như Người đã nói: Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin “làm cốt”
không có nghĩa là giáo điều theo từng câu, từng chữ, mà phải nắm vững tinh
Trang 17thần, lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồngthời tiếp thu những tinh hoa của văn hóa dân tộc và nhân loại, tham khảonhững kinh nghiệm của các nước anh em, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnhlịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam để định ra đường lối, chính sách đúngđắn cho cách mạng.
Theo hướng tư duy này, khi cắt nghĩa thắng lợi của cách mạng ViệtNam, thành công của Đảng trong từng thời kỳ lịch sử, Hồ Chí Minh đã khẳngđịnh tại lễ tổng kết 30 hoạt động của Đảng (1930 - 1960):
Sở dĩ đạt được những thắng lợi ấy là vì: Đảng ta luôn luônđứng vững trên lập trường giai cấp vô sản, tuyệt đối trung thành vớilợi ích của giai cấp và của nhân dân, biết vận dụng lý luận Mác -Lênin vào tình hình thực tế của nước ta và đề ra đường lối, chínhsách đúng đắn [62, tr.17]
Đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng là cơ sở quan trọng nhất đểxây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng Khi Đảng ta trở thành Đảngcầm quyền, một trong những nguy cơ mà Hồ Chí Minh đã cảnh báo, đó làsai lầm về đường lối Người cho rằng sai lầm về đường lối có nguồn gốc sâu
xa từ sự thiếu vững vàng về chính trị, không đứng vững trên lập trường củagiai cấp công nhân; từ sự thiếu tri thức, thiếu lý luận, không am hiểu tìnhhình trong nước và thế giới, không nắm chắc quy luật hành động… Sai lầm
về quan điểm, đường lối, chính sách, chiến lược sẽ làm xa rời mục tiêu, lýtưởng, đưa cách mạng tới chỗ thất bại, thành quả cách mạng bị thủ tiêu HồChí Minh khẳng định: “Phải có đường lối cách mạng đúng, có đảng của giaicấp vô sản lãnh đạo đúng Đường lối ấy chỉ có thể là đường lối của chủnghĩa Mác - Lênin được vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thểcủa dân tộc” [63, tr.493] Để có sáng tạo và bổ sung, phát triển chủ nghĩaMác - Lênin, trước hết phải nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin Về điều này
Hồ Chí Minh chỉ rõ:
Trang 18Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trímọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tậpnhững chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng mộtcách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta Học để mà làm.
Lý luận đi đôi với thực tiễn [61, tr.292]
Người cũng rất chú trọng tiếp thu “những kinh nghiệm dồi dào của cácnước anh em, nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh nghiệm ấymột cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta… Chúng taphải khắc phục bệnh giáo điều, đồng thời phải đề phòng chủ nghĩa xét lại”[60, tr.499] Theo Hồ Chí Minh, phải gắn chủ nghĩa Mác - Lênin với tình hìnhthực tiễn của đất nước Năm 1957, Người khẳng định:
Đảng ta nhờ kết hợp được chủ nghĩa Mác - Lênin với tìnhhình thực tế của nước ta, cho nên đã thu được nhiều thắng lợi trongcông tác Tuy vậy, việc kết hợp chân lý của chủ nghĩa Mác - Lênin
và thực tiễn của cách mạng Việt Nam chưa được hoàn toàn Cónhiều sai lầm là do sự thiếu kết hợp đó Ví dụ những sai lầm trongcải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, xây dựng kinh tế [60, tr.498] Những đặc điểm thực tế của nước ta trong từng thời kỳ trở thành căn cứcực kỳ quan trọng để Đảng ta hoạch định đường lối, chủ trương Chính nhữngvấn đề thực tiễn, đến lượt nó, lại tác động bổ sung cho những vấn đề lý luậnMác - Lênin Người cho rằng: “Lý luận không phải là cái gì cứng nhắc, nóđầy tính sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luậnmới được rút ra từ trong thực tiễn sinh động” [60, tr.496] Trong xây dựngđường lối, chính sách, Người luôn chú trọng nghiên cứu đặc điểm, tình hình
cụ thể, “từng lúc, từng nơi” để Đảng lãnh đạo đường lối phát triển đất nước
Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khihọc tập kinh nghiệm của các nước anh em là sai lầm nghiêmtrọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều Nhưng nếu quá nhấn mạnh
Trang 19đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinhnghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầmnghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại [60, tr.499].
Một đường lối đúng đắn còn là đường lối chứa đựng khả năng thực thitrong thực tế, nghĩa là nó đáp ứng được yêu cầu thực tế của cuộc sống
Có như vậy, thì đường lối, chính sách đó mới mang trong mình tính cáchmạng và khoa học Thực tế hoạt động của Đảng ta hơn 80 năm qua đãchứng minh điều đó là hoàn toàn đúng
Đường lối, chính sách đúng đắn, theo Hồ Chí Minh, còn phản ánh rất
rõ ràng trình độ, năng lực của Đảng Nếu Đảng yếu kém, trí tuệ hạn chế, thìđường lối đề ra khó mà đúng được Để khắc phục nguy cơ sai lầm vềđường lối, Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên và toàn Đảng khôngngừng nâng cao năng lực, trí tuệ, bản lĩnh và trình độ lý luận Trong khivận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, thì phải bổ sung, làm phong phú thêm lýluận đó bằng những kết luận mới được rút ra từ trong thực tiễn cách mạngnước ta, đồng thời, phải nghiên cứu tình hình cụ thể sâu sát, tỉ mỉ, có tácphong công tác tốt, tránh quan liêu, đại khái, hình thức; phải nắm vững quyluật phát triển của cách mạng, phải tính toán cẩn thận những điều kiện cụthể, những biện pháp cụ thể; kế hoạch phải chắc chắn, cân đối Chớ đemchủ quan của mình thay cho điều kiện thực tế Phải xây dựng tác phongđiều tra, nghiên cứu trong mọi công tác cũng như khi định ra mọi chủtrương của Đảng
Tóm lại, đây là cơ sở để tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, tổ chức,
từ đó có sự thống nhất về hành động của toàn Đảng nhằm đưa đường lối,quan điểm của Đảng vào cuộc sống, biến các chủ trương của Đảng thànhhành động cách mạng của quần chúng nhân dân Sự đoàn kết thống nhấtthực sự, lành mạnh, chân chính trong Đảng chỉ có thể xây dựng dựa trên cơ
sở này Nếu xa rời cơ sở này, thì chỉ có thể có được một sự đoàn kết thống
Trang 20nhất hình thức, giả hiệu, tạm thời; đoàn kết mà không thống nhất, hoặcthống nhất mà không đoàn kết - một trạng thái lùng nhùng đã chứa đựngnhững nguy cơ phá hoại thống nhất từ bên trong.
1.1.2.2 Các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt cơ bản của Đảng
* Tập trung dân chủ
Hồ Chí Minh cho rằng đoàn kết phải trên cơ sở nguyên tắc, nhiệm
vụ của người đảng viên; phải biết gắn bó dân chủ với tập trung, dân chủ với
kỷ luật Tập trung không đối lập với dân chủ, mà chỉ đối lập với tình trạng tảnmát, tự do tùy tiện, vô tổ chức Còn dân chủ để đi đến tập trung Trong Báo cáochính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (2/1951), Hồ Chí Minh ghi rõ:
“Về tổ chức, Đảng Lao động Việt Nam theo chế độ dân chủ tập trung Về kỷluật, Đảng Lao động Việt Nam phải có kỷ luật sắt, đồng thời là kỷ luật tự giác”[58, tr.174] Năm 1953, trong Thường thức chính trị, khi nói về chế độ dân chủtập trung, Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Toàn thể đảng viên, toàn thể các cấp,
tổ chức thống nhất lại theo một nguyên tắc nhất định Nguyên tắc ấy tức là dânchủ tập trung” [59, tr.240] Như vậy, tập trung dân chủ là nguyên tắc chỉ đạotoàn bộ tổ chức, sinh hoạt vào hoạt động của Đảng, là nguyên tắc cơ bản nhất
có ý nghĩa sống còn của Đảng Đảng phải là một khối đoàn kết thống nhất theonguyên tắc tập trung dân chủ và đó là một tất yếu, vì Đảng cũng ở trong xã hội,
“Đảng là do nhiều người cách mạng hợp lại” Vì vậy, “đồng chí ta, tuy có khácnhau về chủng tộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là những ngườicùng chủ nghĩa, cùng mục đích, cùng sống, cùng chết, chung sướng, chungkhổ, cho nên phải thật thà đoàn kết” [57, tr.552]
Nói tóm lại: “Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thậtthà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổchức và tính kỷ luật” [59, tr.241]
Hồ Chí Minh cũng đặc biệt nhấn mạnh đến việc thực hiện và phát huydân chủ nội bộ, vì nếu không có dân chủ nội bộ, thì sẽ làm cho “nội bộ Đảng
Trang 21âm u” Trong tình hình ấy, tập trung không tạo nên sức mạnh của Đảng, bởi lẽĐảng đã bị suy yếu từ bên trong, như vậy sớm muộn cũng không còn là ĐảngCộng sản Hơn nữa, có dân chủ trong Đảng mới có thể nói đến dân chủ trong
xã hội, mới định hướng cho việc xây dựng một chế độ dân chủ thật sự “dân làchủ” và “dân làm chủ”, phản ánh đúng bản chất tốt đẹp của nền dân chủ xãhội chủ nghĩa
* Tự phê bình và phê bình
Tự phê bình và phê bình là hoạt động không thể thiếu trong sinh hoạt
và hoạt động của Đảng Nó giúp cho cán bộ, đảng viên và tổ chức đảngthấy được những ưu, khuyết điểm của mình, tìm ra cách thức, phương phápkhắc phục để thực hiện nhiệm vụ sắp tới Hồ Chí Minh rất coi trọng nguyêntắc này Người coi đây là nguyên tắc sinh hoạt Đảng, là quy luật phát triểncủa Đảng Người cho rằng mỗi đảng viên trước hết tự mình phải thấy rõ mình
để phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm cũng giống như soi gương, rửamặt hàng ngày Và “muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, ắt phải thống nhất tưtưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình” [59,tr.492] Người xem tự phê bình và phê bình là vũ khí để rèn luyện đảng viênnhằm làm cho mỗi người tốt hơn, tiến bộ hơn và tăng cường đoàn kết nội bộhơn Đó cũng là vũ khí nâng cao trình độ lãnh đạo của Đảng để Đảng làm tròn
sứ mệnh lãnh đạo cách mạng trước giai cấp và dân tộc Thiết thực tự phê bình
và phê bình là một “thang thuốc” hay nhất để cho Đảng ta tiến bộ Đảng tagồm những người có đức, có tài Phần đông là những người hăng hái nhất,thông minh nhất, yêu nước nhất Tuy nhiên, không phải người người đều tốt,người người đều hay Người đời không phải là thần thánh, không ai tránhkhỏi khuyết điểm; mỗi con người đều có cái thiện, cái ác trong lòng Do vậy,mục đích tự phê bình và phê bình là để phần tốt trong mỗi con người nở nhưhoa mùa xuân, phần xấu bị mất dần đi Tự phê bình và phê bình không những
là một vấn đề của khoa học, mà còn là nghệ thuật của cách mạng Bởi vậy, Hồ
Trang 22Chí Minh lưu ý cán bộ, đảng viên và các cấp bộ đảng từ trên xuống dướikhông những phải “luôn luôn dùng", mà còn phải "khéo dùng" cách tự phêbình và phê bình” [58, tr.265] Cán bộ càng cao, trách nhiệm càng lớn, càngphải gương mẫu tự phê bình và phê bình Ở Hồ Chí Minh, tự phê bình và phêbình trở thành một phẩm chất trong nhân cách và là một đặc trưng tiêu biểutrong phong cách lãnh đạo của Người Dù ở cương vị cao nhất, Người vẫnthực hiện tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, nêu tấm gương vềđức tính trung thực thẳng thắn, về thái độ và phương pháp phê bình cho cán
bộ, đảng viên noi theo
Nhờ thường xuyên tự phê bình và phê bình, mà trí tuệ, năng lực thựctiễn của Đảng và cán bộ đảng viên từng bước được nâng lên ngang tầm vớiyêu cầu, nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng Phát huy tự phê bình và phêbình gắn liền với sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm từ thực tiễn giúp cho Đảng
có cơ sở để khẳng định sự đúng đắn, chính xác của đường lối, chính sách;đồng thời, giúp Đảng phát hiện những sai sót để chấn chỉnh, bổ sung, pháttriển đường lối ngày một hoàn chỉnh hơn, sát gần chân lý của cuộc sống hơn
Đó là điều kiện cực kỳ quan trọng để Đảng lãnh đạo cách mạng đi đến thànhcông, xứng đáng và làm tròn vai trò lãnh tụ chính trị của giai cấp và dân tộc
1.1.3 Vị trí, vai trò của đoàn kết thống nhất trong Đảng
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết nói chung và đoàn kếttrong Đảng nói riêng giữ một vị trí vô cùng quan trọng Đại đoàn kết là sứcmạnh vô địch để làm nên mọi thắng lợi Để thực hiện đoàn kết toàn dân, phải
có Đảng tiên phong lãnh đạo và Đảng muốn đoàn kết toàn dân, trước hết phảiđoàn kết từ trong Đảng
Có thể nói, thời đại mà Hồ Chí Minh sinh ra và hoạt động là thời đạicủa cách mạng vô sản, là thời đại của chủ nghĩa cộng sản đã trở thành hiệnthực sinh động Trong bối cảnh đó, chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết khoahọc tiên tiến của thời đại, có sức hấp dẫn và chinh phục trái tim của hàng triệu
Trang 23người Sức hấp dẫn của học thuyết là ở chỗ, các nhà sáng lập đã đặt giai cấp
vô sản (giai cấp làm thuê, bị bóc lột trong xã hội tư bản) trở thành chủ thểsáng tạo lịch sử, sáng tạo ra một thế giới mới tự do, bình đẳng, bác ái thực sự,không có người bóc lột người Chính chủ nghĩa Mác - Lênin đã trang bị cho
Hồ Chí Minh nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ những giá trị cùng hạn chếcủa truyền thống dân tộc, của văn hóa nhân loại Từ đó, Người có điều kiệntìm ra con đường giải phóng dân tộc
Bằng những kinh nghiệm quý báu của lịch sử, bằng những bài học củacách mạng thế giới cũng như cách mạng trong nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế
kỷ XX, hơn ai hết, Hồ Chí Minh hiểu rất rõ vai trò to lớn của sức mạnh đoàn kếtthống nhất trong sự nghiệp cách mạng Với Người, đoàn kết thống nhất là mộttrong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là chiến lượccách mạng, chiến lược huy động và tập hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được,hình thành sức mạnh to lớn của toàn Đảng, toàn dân trong cuộc đấu tranh với kẻthù của dân tộc, của giai cấp Trong các bài nói, bài viết của mình, Hồ Chí Minh
thường hay nhắc đến hai chữ “đoàn kết” Và Người đã đúc kết thành chân lý:
“Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công” [63, tr.154]
Người nói: “Bây giờ còn một điểm rất quan trọng, cũng là điểm mẹ Điểmnày mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt: Đó là đoàn kết” [60, tr.392]
Từ truyền thống dân tộc, Hồ Chí Minh khái quát, nâng lên thành mộttriết lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thànhcông” [62, tr.349] Người đã phân tích, chỉ rõ nhu cầu khách quan phải xâydựng sự đoàn kết thống nhất của toàn Đảng, toàn dân để đấu tranh chiếnthắng kẻ thù
Với tư cách là một Đảng lãnh đạo cách mạng, là bộ phận trung tâmcủa khối Mặt trận, là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân, với mục đíchhoạt động của Đảng là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc và sức mạnhcủa Đảng chính là sự đoàn kết thống nhất Vì vậy, vấn đề đoàn kết nội bộĐảng là vấn đề quan trọng bậc nhất Có đoàn kết trong Đảng thì mới có
Trang 24đoàn kết dân tộc Đoàn kết thống nhất trong Đảng chính là cơ sở, là ngọn
cờ tập hợp quần chúng lao động và toàn dân tộc Trong tác phẩm “ĐườngKách mệnh” (1927), Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề: “Cách mệnh trước hếtphải có cái gì?” Câu trả lời của Người mang tính khẳng định mạnh mẽ:
“Trước hết phải có Đảng cách mệnh” [54, tr.267], “Đảng có vững cáchmệnh mới thành công” [54, tr.268] Đảng vững tức là một Đảng thực sựđoàn kết nhất trí, toàn Đảng phải tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí Cónhư vậy mới làm tròn nhiệm vụ của Đảng
Ngay từ ngày đầu của cách mạng, sự xuất hiện ba tổ chức cộng sản trongnước vào những năm 30 của thế kỷ XX là nguy cơ của sự chia rẽ Đảng cáchmạng, Hồ Chí Minh đã thấy rõ được điều đó Thông qua hoạt động thực tiễn
và ảnh hưởng của mình, Người đã sớm thống nhất ba tổ chức cộng sản đó thànhmột Đảng cách mạng duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam - một chính Đảng “tolớn, mạnh mẽ, chắc chắn, trong sạch, cách mạng, triệt để”, thống nhất lãnh đạocách mạng Việt Nam Người chỉ rõ: “Đảng ta là một Đảng lãnh đạo Tất cả cán
bộ và đảng viên dù ở cương vị khác nhau, làm công tác khác nhau, cũng phảiđoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ của Đảng giao cho” [63, tr.154]
Đây được coi là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng
Vì đoàn kết tạo nên sức mạnh để chiến thắng kẻ thù xâm lược và xây dựngđất nước giàu mạnh Đoàn kết trong Đảng là sự bảo đảm đầu tiên và thườngxuyên cho sức mạnh của Đảng Vì vậy, cán bộ, đảng viên của Đảng phải rasức góp phần củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng trên cơ sở đườnglối, chủ trương, chính sách và những nguyên tắc sinh hoạt của Đảng Đoàn kếtthể hiện sự nhất trí trong nhận thức và hành động, giữa cấp trên và cấp dưới,giữa lời nói và việc làm Đoàn kết phải trên cơ sở thống nhất về chính trị, tưtưởng và tổ chức; về chủ trương, đường lối, chính sách, lập trường tư tưởng,kiên định trong mọi tình huống, không hoang mang, dao động, xa rời lý tưởngcủa Đảng, xa rời đội ngũ Kinh nghiệm lịch sử cũng cho thấy, một cơ quan,một đơn vị, một quốc gia dân tộc khi mất đoàn kết, chia bè, kéo cánh, đấu đá
Trang 25lẫn nhau thường dẫn đến hậu quả khôn lường và là cơ hội tốt cho kẻ xấu lợidụng phân hóa nội bộ, tạo ra thời cơ thuận lợi cho kẻ địch tấn công, làm tan rã
tổ chức, tan rã Đảng; làm cho Đảng mất sức chiến đấu và sự nghiệp cáchmạng của Đảng, của dân tộc đi đến thất bại
Tình hình càng phát triển, nhiệm vụ càng nặng nề, càng đòi hỏi phảicủng cố và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng, nhất là đốivới cán bộ lãnh đạo, bởi lẽ sự đoàn kết thống nhất của cán bộ lãnh đạo có ảnhhưởng đến sự đoàn kết thống nhất của nhiều cán bộ, đảng viên, đến toànĐảng Về vấn đề này, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Ngày nay, sự đoàn kếttrong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữacác cán bộ lãnh đạo” [59, tr.492] Thấy rõ ý nghĩa của vấn đề đoàn kết, HồChí Minh đã ra sức chăm lo xây dựng đoàn kết trong Đảng, làm cơ sở xâydựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Người khẳng định: “Sức mạnh của Đảng
là ở sự đoàn kết nhất trí Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao ý thức tổ chức
kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối và chính sách của Đảng, tôn trọngnguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng” [63, tr.23] Theo đó, việc giáo dục,rèn luyện cán bộ, đảng viên phải gắn liền với việc củng cố sự đoàn kết thốngnhất trong các tổ chức đảng, mà trước hết là các chi bộ đảng - nơi trực tiếpquản lý, rèn luyện đảng viên và tổ chức các hoạt động của Đảng, vì theo HồChí Minh “mỗi chi bộ của Đảng phải là một hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở
cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trítuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng” [63, tr.23]
1.2 NỘI DUNG VÀ NHỮNG BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM XÂY DỰNG, CỦNG
Trang 26đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn conngươi của mắt mình” [64, tr.497] Chỉ có như vậy mới có thể làm cho “Đảng
ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người” [57, tr.553].Chúng ta hoàn toàn có đầy đủ cơ sở và điều kiện để thực hiện tốt điều đó Bởi
vì những người cộng sản đoàn kết trên cơ sở mục tiêu chung, lý tưởng chung,đường lối chung của Đảng và trên cơ sở vận dụng vũ khí tự phê bình và phêbình, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ Nói cách khác, toàn Đảng phảithống nhất trên hai bình diện tư tưởng và hành động Về mặt tư tưởng, sựđoàn kết đó phải dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, thể hiện ởđường lối, chính sách đúng đắn của Đảng; trên cơ sở sự giác ngộ của toàn thểđảng viên về lý tưởng, mục đích và những nhiệm vụ của Đảng
Trước hết, phải bảo đảm trong bất cứ tình huống nào cũng giữ vững
sự thống nhất về đường lối của Đảng Không những phải xây dựng sự nhấttrí cao về đường lối chung, mà còn phải không ngừng tăng cường thống nhấttrên những vấn đề về đường lối, quan điểm thuộc từng lĩnh vực công tác Sựđoàn kết nhất trí về mặt đường lối phải được bảo đảm bằng sự thống nhất vềmặt tổ chức trên cơ sở tuân thủ một cách nghiêm ngặt nguyên tắc tập trungdân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, đồng thời giữ vững và kếthợp chặt chẽ lãnh đạo tập thể với cá nhân phụ trách và thường xuyên làm tốtviệc tự phê bình và phê bình Vì vậy, theo Người, “ngay từ bây giờ, các cơquan, các cán bộ, các đảng viên, mỗi người mỗi ngày thiết thực tự kiểm điểm
và kiểm điểm đồng chí mình Hễ thấy khuyết điểm phải kiên quyết tự sửachữa, và giúp đồng chí mình sửa chữa Phải như thế, Đảng mới chóng pháttriển, công việc mới chóng thành công” [57, tr.233] Người yêu cầu: “Chi bộ
và công đoàn phải phụ trách tổ chức và hướng dẫn học tập thực hiện dân chủphê bình, tự phê bình, giúp đỡ cho mọi người tiến bộ” [59, tr.83]
Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cho rằng muốn xây dựng, củng cố sự đoànkết thống nhất trong các tổ chức của Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tự
Trang 27học tập, rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức cách mạng; phải tuyêntruyền, vận động để mọi đảng viên, quần chúng tự nhận thức được sự cầnthiết, tự giác tham gia xây dựng bảo vệ sự đoàn kết thống nhất trong mọi tổchức của Đảng; phải có chủ trương, chính sách, chế độ chăm lo lợi ích chínhđáng của tất cả mọi người Người căn dặn đội ngũ cán bộ, đảng viên phải làtấm gương đoàn kết mẫu mực từ lời nói đến việc làm vì lợi ích của dân, củanước, thực sự làm hạt nhân đoàn kết trong chi bộ, trong mỗi tổ chức củaĐảng Người còn chỉ rõ:
Các cơ quan tuyên truyền, tổ chức, giáo dục của Đảng phảilàm cho cán bộ và đảng viên nhận rõ và theo đúng kỷ luật của Đảng.Đối với mỗi công tác quan trọng, cần phải làm cho mọi người hiểucái gì nên làm, cái gì nên tránh, thế nào là đúng, thế nào là sai kỷluật của Đảng Như vậy kỷ luật của Đảng sẽ được bảo đảm, công táccủa Đảng sẽ được thuận lợi, nhiệm vụ của Đảng sẽ chắc chắn hoànthành [59, tr.336]
Trong hệ thống tổ chức đảng, Hồ Chí Minh coi các tổ chức cơ sở của Đảng
là những “hạt nhân lãnh đạo”, là “đồn lũy” của Đảng ở cơ sở và xác định vai tròcủa chi bộ trong ba loại quan hệ chủ yếu sau:
Một là, đối với bản thân Đảng, chi bộ là tổ chức hạt nhân, quyết định chất
lượng lãnh đạo của Đảng Theo Người, “để lãnh đạo cách mạng, Đảng phảimạnh Đảng mạnh là do chi bộ tốt Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt” [64,tr.92] Vì thế, cần phải ra sức củng cố các chi bộ, để tất cả các chi bộ trở nên thật
sự là hạt nhân lãnh đạo của Đảng ở mọi bộ, mọi ngành, mọi nghề, mọi nơi
Hai là, quan hệ giữa chi bộ và đảng viên: Chất lượng đảng viên quyết
định chất lượng chi bộ; chi bộ là môi trường tu dưỡng, rèn luyện và cũng lànơi giám sát đảng viên Hồ Chí Minh xác định: “Đảng viên tốt thì chi bộ mớitốt Muốn đảng viên tốt thì chi bộ phải thường xuyên giáo dục mỗi đồng chí
Trang 28Nhiệm vụ của đảng viên là gì? Tư cách của đảng viên là thế nào? Đồng thờigiúp đỡ đảng viên hàng ngày tự kiểm điểm mình” [64, tr.80].
Ba là, vai trò của chi bộ các khu vực dân cư, địa bàn sinh sống, trong
quan hệ giữa Đảng và quần chúng Trong vấn đề này, những chỉ dẫn của Hồ ChíMinh có giá trị lâu dài Người đặc biệt coi trọng chi bộ trên địa bàn nông thôn:
“Chi bộ là gốc rễ của Đảng ở nông thôn Chi bộ vững mạnh thì mọi chính sáchcủa Đảng và Chính phủ nhất định thi hành được tốt Muốn vững mạnh, thì tất cả
đảng viên trong chi bộ phải thật thà đoàn kết nhất trí” [60, tr.317] Với chi bộ ở
cơ quan, Người yêu cầu: “Phải thật sự mở rộng dân chủ trong cơ quan Phải luônluôn dùng cách thật thà tự phê bình và thẳng thắn phê bình ” [59, tr.268], “mỗimột đảng viên phải xung phong làm gương mẫu trong mọi việc” [59, tr.269]
Từ việc xác định những mối quan hệ trên, Người khuyên các đồngchí trong Đảng phải thường xuyên nuôi dưỡng và phát triển tình đồng chí,nghĩa đồng bào, giữ gìn đạo đức cách mạng, chống các căn bệnh công thần,địa vị, hẹp hòi, cục bộ, kèn cựa Trong lãnh đạo sinh hoạt hàng ngày, nếumỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên thực hiện tốt tinh thần dân chủ vớithái độ thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, thì sức mạnh của Đảng ngày càngđược nâng lên; vị trí, vai trò của mỗi người trong sự nghiệp cách mạng, củadân tộc mới càng được khẳng định vững chắc Làm trái đi sẽ không thể cóđoàn kết, nhất trí thật sự và nhất định tính chiến đấu, khả năng lãnh đạo củaĐảng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Theo Hồ Chí Minh, chỉ có đoàn kếttrong Đảng mới thực hiện được đại đoàn kết toàn dân tộc và đoàn kết quốc tế
Và chỉ thực hiện được đại đoàn kết khi mỗi đảng viên, mỗi tổ chức đảng vàtoàn Đảng hy sinh, phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân; mới lãnh đạo đượcnhân dân xây dựng cuộc sống hạnh phúc của mình Sự thống nhất của mọi tổchức đảng, mọi cán bộ, đảng viên vì mục đích, lý tưởng của Đảng giúp đảngviên gạt bỏ mọi thành kiến cá nhân để tạo nên sức mạnh của Đảng Mỗi cán
bộ, đảng viên sẽ đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên
Trang 29hết Người khẳng định: “Đảng ta rất vĩ đại Ngoài lợi ích của Tổ quốc, củagiai cấp, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác” [61, tr.555].
Với tư cách là người thầy, người lãnh tụ của quần chúng, chủ nghĩaMác - Lênin thường nói trách nhiệm của Đảng trước quần chúng là lãnh đạoquần chúng “xoá bỏ áp bức, bóc lột” Nhưng trong điều kiện của Đảng ta, HồChí Minh cho rằng: “Chỉ đoàn kết trong Đảng, cách mạng không thành côngđược, còn phải đoàn kết nhân dân cả nước So với nhân dân, thì số đảng viênchỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên Nếu không
có nhân dân giúp sức, thì đảng viên không làm được việc gì hết” [56 450]
Và Người nhấn mạnh: “Mỗi người đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống
dưới đều phải hiểu rằng: mình vào Đảng để làm đầy tớ cho nhân dân, làm đầy tớ nhân dân chứ không phải là “quan” nhân dân” [64, tr.222], Hồ Chí
Minh thường xuyên căn dặn cán bộ, đảng viên rằng đối với dân, phải tuyệtđối không được lên mặt “quan cách mạng”, “ra lệnh, ra oai”, phải “khiêm tốn,không được kiêu ngạo”, phải “thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân”,phải “tin tưởng lực lượng vĩ đại và đầu óc thông minh của quần chúng” “Mỗicán bộ chính quyền và đoàn thể cần phải:
- Luôn luôn gần gũi nhân dân
- Ra sức nghe ngóng và hiểu biết nhân dân
- Học hỏi nhân dân
- Lãnh đạo nhân dân bằng cách tuyên truyền, giải thích, cổ động,giáo dục, tổ chức nhân dân, dựa vào nhân dân để thực hiện nguyệnvọng chính đáng của nhân dân” [58, tr.88]
Người cho rằng “bốn điều ấy phải đi song song với nhau Vì không gầngũi dân, thì không hiểu biết dân Không hiểu biết dân, thì không học hỏi đượcnhững kinh nghiệm và sáng kiến của dân” [58, tr.88] Chỉ có như vậy, mớiđoàn kết lãnh đạo được nhân dân
Trang 30Quan điểm hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp quánxuyến trong mọi hoạt động và trong suốt cuộc đời của Hồ Chí Minh VớiNgười, nghĩa vụ vẻ vang của người cộng sản là “làm người con trung thànhcủa Đảng, người đầy tớ tận tuỵ của nhân dân”, chứ không phải để có quyềncao chức trọng Lòng kính trọng, yêu quý quần chúng phải trở thành tìnhcảm thúc đẩy mọi suy nghĩ, mọi hành động của những người cộng sản.Người dạy: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm Việc gì hại đến dân, taphải hết sức tránh Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kínhta” [56, tr.56-57] Trong Di chúc, một lần nữa Người lại nhấn mạnh rằng, mỗingười cộng sản phải thật sự xứng đáng là người đầy tớ thật trung thành củanhân dân Làm đầy tớ của dân là phải hết lòng, hết sức phục vụ dân, nghe dân,học dân; phải biết biến quyết tâm của Đảng thành quyết tâm của dân; phảiluôn luôn quan tâm đến đời sống, tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của dân;không tham ô, lãng phí của dân; phải chống quan liêu mệnh lệnh; phải có tinhthần trách nhiệm cao và gương mẫu trước quần chúng Cán bộ, đảng viên giữchức vụ càng cao thì yêu cầu về sự gương mẫu đối với họ càng lớn Trong bài
“Người Đảng viên Đảng Lao động Việt Nam phải thế nào?” ký bút danh C.Bđăng báo Nhân dân số ra ngày 25/3/1951, Hồ Chí Minh đã viết:
Mỗi đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước quầnchúng để giải thích chính sách của Đảng và của Chính phủ cho quầnchúng hiểu rõ và vui lòng thi hành Mà muốn cho quần chúng hănghái thi hành, thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gươngmẫu để quần chúng bắt chước, làm theo [58, tr.189]
Trong tác phẩm “Thường thức chính trị” (1953), Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
Đảng viên và cán bộ không thể chỉ hô khẩu hiệu và nói lýluận suông Đảng viên và cán bộ nhất định phải làm cho quần chúngthấm nhuần tư tưởng cách mạng Đảng đòi hỏi đảng viên và cán bộ
Trang 31phải: học hiểu lý luận, chính sách, tình hình trong nước và trên thếgiới để giáo dục cho quần chúng [59, tr.233]
Theo Người, cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần thường xuyên
tự phê bình trước nhân dân, khuyến khích nhân dân phê bình Khiêm tốnlắng nghe ý kiến của nhân dân để phát huy những việc tốt, sửa chữa nhữngviệc sai, làm công tác tốt hơn Làm được như thế, mối quan hệ giữa Đảng
và nhân dân sẽ ngày càng thêm mật thiết Thực tế cho thấy, nếu không chânthành tiếp thu ý kiến phê bình của dân, không chịu sửa chữa những sai lầmkhuyết điểm, thì cán bộ, đảng viên sẽ đánh mất lòng tin của dân; dân sẽ cathán, thậm chí bất bình Khi ấy, Đảng sẽ trở nên xa lạ với dân, và tất nhiên
sẽ khó lãnh đạo được nhân dân Tuy nhiên, Người cũng đã khẳng định vàphân tích sâu sắc cách làm việc của cán bộ, đảng viên với quần chúng, thểhiện thành những nguyên tắc thực hành trong lãnh đạo, trong đó phải tạođiều kiện cho quần chúng tham gia bàn bạc khi làm bất cứ việc gì, nhưngtuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng, mà phải biết tập hợp ý kiến củaquần chúng, biến những ý kiến đó thành đường lối để lãnh đạo quần chúng,đồng thời phải có cách thức lãnh đạo phù hợp trên cơ sở phân tích, so sánhnhững nội dung, ý kiến khác nhau của quần chúng, rồi “tìm ra những mâuthuẫn trong những ý kiến khác nhau đó Xem rõ cái nào đúng, cái nào sai.Chọn lấy ý kiến đúng, đưa ra cho dân chúng bàn bạc, lựa chọn lại để nângcao dần sự giác ngộ của dân chúng” [57, tr.290]
Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở các cấp ủy phải quan tâm hơnnữa đến việc giáo dục đảng viên và phải coi công tác giáo dục đảng viên làmột điều quan trọng trong chương trình công tác của cấp ủy Người còn căndặn các cấp ủy phải nêu gương, giữ nghiêm kỷ luật Đảng
Những chỉ dẫn của Người đã được Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp nhận,làm rõ vai trò của tổ chức cơ sở đảng trong từng thời kỳ, cao hơn thế, cònđược quy định rõ trong Điều lệ Đảng Tại chương V - Tổ chức cơ sở đảng,
Trang 32Điều 21, khoản 1 đã ghi rõ: “Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơsở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở” [23, tr.31] Chính vìvậy, trong xây dựng tổ chức bộ máy của Đảng, Hồ Chí Minh yêu cầu bộ máyphải tinh gọn, trong sạch, bởi vì: “Là một Đảng lãnh đạo, Đảng ta cần phảimạnh mẽ, trong sạch, kiểu mẫu” [58, tr.480] Tổ chức như bộ máy đồng hồ phảichạy đều Muốn chạy đều, phải sạch sẽ Đảng muốn trong sạch, mạnh mẽ thìmỗi bộ phận, mỗi đảng viên phải trong sạch, mạnh mẽ
Hồ Chí Minh không chỉ chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy củaĐảng, Người còn đặc biệt quan tâm xây dựng, củng cố bộ máy nhà nước; xâydựng công hội, nông hội, hội phụ nữ, thanh niên Tất cả các tổ chức đó đềuquan hệ chặt chẽ, thống nhất trong Mặt trận, hoạt động dưới sự lãnh đạo củaĐảng nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
1.2.1.2 Về phía đảng viên
Vấn đề đảng viên là một trong những nội dung cơ bản của công tác xâydựng Đảng nói chung, của xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất trongĐảng nói riêng mà Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm Khi nói về vị trí, vai tròcủa người đảng viên, Người khẳng định: “Đảng là gồm các đảng viên mà tổchức nên Mọi công việc Đảng đều do đảng viên làm Mọi nghị quyết Đảngđều do đảng viên chấp hành Mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên màthấu đến quần chúng Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảngviên cố gắng thực hiện” [59, tr.235-236] Người cho rằng, trong mọi côngviệc, đảng viên phải giữ vai trò tiên phong gương mẫu, thực hiện khẩu hiệu:
“Đảng viên đi trước, làng nước theo sau” Khi Đảng ta trở thành Đảng cầmquyền, Người yêu cầu mỗi cán bộ và đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đứccách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; “phải xứng đáng làngười lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân” [64, tr.498]
Trang 33Vị trí, vai trò của đảng viên rất quan trọng trong mọi công việc củaĐảng Vì vậy, Hồ Chí Minh đã nêu rõ những đối tượng có thể kết nạp vàoĐảng Trong Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), Người đãchỉ ra: “Ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình Đảng và Quốc tế Cộng sản,hăng hái tranh đấu và dám hy sinh, phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí,chịu phấn đấu trong một bộ phận Đảng thời được vào Đảng” [55, tr.5] Để mởrộng và phát huy dân chủ, phát huy tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên,trong “Sửa đổi lối làm việc” (1947), Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ, đảng viênphải cố gắng cho xứng đáng là một trong những người đại biểu của dân tộc.Nhất là “những người cán bộ và lãnh tụ, càng phải làm cho xứng đáng lòngtin cậy của Đảng, của dân tộc Càng phải làm gương cho tất cả đảng viên, tất
cả quần chúng noi theo” [57, tr.253]
Trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II củaĐảng (2/1951), Hồ Chí Minh đã chỉ rõ về thành phần “Đảng Lao động ViệtNam sẽ kết nạp những công nhân, nông dân, lao động trí óc thật hăng hái, thậtgiác ngộ cách mạng” [58, tr.174] Về luật phát triển, Đảng Lao động ViệtNam dùng lối phê bình và tự phê bình để giáo dục đảng viên, giáo dục quầnchúng Trong tiêu chuẩn đảng viên, Người đã nói đến nghĩa vụ của đảng viênlà: “Cố gắng học tập chủ nghĩa Mác - Lênin”, giữ gìn kỷ luật của Đảng, ra sứcphục vụ nhân dân Khi nói chuyện với cán bộ Tỉnh ủy Thanh Hoá, cuối tháng
12 năm 1968, Người cho rằng chỉ kết nạp những người vào Đảng để phục vụĐảng, phục vụ nhân dân Còn đối với những người có tư tưởng vào Đảng đểlàm quan, thì phải đóng cửa lại không cho họ vào Hồ Chí Minh đã chỉ ra sáutiêu chuẩn của người đảng viên, trong đó người đảng viên phải tuyệt đối chấphành nghị quyết và kỷ luật của Đảng, luôn luôn cố gắng học tập; thật thà tựphê bình và thành khẩn phê bình đồng chí mình Ngoài ra, Người còn quantâm đến quyền lợi của đảng viên Theo Người, mọi đảng viên có những quyềnlợi như sau:
Trang 34Một là, có quyền tự do và thiết thực thảo luận cách thi hành chính sách
của Đảng trên các báo chí và trong các cuộc hội nghị của Đảng Để thi hànhtriệt để chính sách và công tác của Đảng, mọi đảng viên có quyền tự do phátbiểu ý kiến của mình (trên báo chí và trong hội nghị của Đảng), dù ý kiến ấykhông đồng ý với ý kiến của đại đa số, không ai được ngăn cấm
Hai là, có quyền tuyển cử và ứng cử vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng.
Ba là, có quyền đưa ra những đề nghị, những thanh minh, những lời kêu
nài trước các cơ quan của Đảng từ chi bộ đến Trung ương không ai được ngăn trở
Bốn là, trong các cuộc hội nghị của Đảng, có quyền phê bình đảng viên
và cán bộ, phê bình công tác của các cơ quan Đảng
Hồ Chí Minh còn cho rằng, quyền phê bình của đảng viên có thể nângcao tính hăng hái và tinh thần phụ trách của các đảng viên Có thể đảm bảo sựđấu tranh của đảng viên chống những gì có hại đến Đảng; quyền phê bình làmột vũ khí chống quan liêu mệnh lệnh, nó cải thiện quan hệ giữa cán bộ vàđảng viên, nó giúp cải thiện các công việc của Đảng Vì vậy, mọi người phảitôn trọng quyền phê bình của đảng viên
Để có được một đội ngũ đảng viên đáp ứng yêu cầu của mỗi giai đoạncách mạng, Đảng phải không ngừng tiến hành công tác đảng viên của mình,bởi lẽ chất lượng đảng viên quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấucủa Đảng, là yếu tố cực kỳ quan trọng để củng cố, xây dựng sự đoàn kếtthống nhất trong Đảng Do vậy, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc xâydựng đội ngũ đảng viên có chất lượng, quan tâm việc xem xét, lựa chọn ngườivào Đảng Người cho rằng vào Đảng để phụng sự Đảng, phụng sự Tổ quốc,phụng sự nhân dân Do đó, Đảng phải lựa chọn người đã kinh qua thử thách
và đủ điều kiện vào Đảng, đó là: “Những người con ưu tú trong công nhân,nông dân, trí thức và các tầng lớp khác” [60, tr.417]
Quá trình tồn tại và phát triển của Đảng gắn liền với những đòi hỏingày càng cao của sự nghiệp cách mạng Do đó, việc giáo dục, rèn luyệnkhông ngừng nâng cao phẩm chất, năng lực cho đội ngũ đảng viên là một
Trang 35nhiệm vụ đặt ra tất yếu, thường xuyên đối với mỗi đảng viên và tổ chức đảng
để không ngừng “nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”
Cùng với việc nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, giữ nghiêm kỷ luậtĐảng, Hồ Chí Minh còn căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi,thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất đểcủng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng” [64, tr.497-498].Trong mối quan hệ giữa đảng viên với nhau, nhất là giữa đảng viên cũ vàđảng viên mới, thì:
Nhiệm vụ của đảng viên cũ là phải thương yêu, dìu dắt vàgiúp đỡ đảng viên mới cùng tiến bộ Đảng viên mới thì cần phảithương yêu đảng viên cũ, học tập kinh nghiệm công tác và tinh thầnphấn đấu của đảng viên cũ để ngày càng tiến bộ thành người đảngviên tốt Cũ và mới phải thật thà đoàn kết nhất trí, cùng nhau ra sứcphục vụ Đảng, phục vụ nhân dân [60, tr.318]
Và Người yêu cầu tất cả cán bộ và đảng viên dù ở cương vị khác nhau,cũng đều phải đoàn kết nhất trí để làm tròn nhiệm vụ của Đảng giao cho; phảinâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chínhsách của Đảng, tôn trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng “Cán bộ,đảng viên phải đoàn kết chặt chẽ, bảo đảm dân chủ và kỷ luật trong Đảng Đảng viên cũ, mới, già, trẻ, gái, trai phải thương yêu nhau, giúp đỡ nhau cùngtiến bộ” [64, tr.211] Người coi lớp cán bộ già là vốn quý của Đảng Song,Người cũng cảnh báo một số cán bộ, đảng viên già mắc bệnh công thần, hay
có thái độ “cha chú” với các cán bộ, đảng viên trẻ Theo Hồ Chí Minh, xu thếphát triển của xã hội, của thời đại là không ngừng, Đảng phải khéo léo kếthợp cán bộ đảng viên cũ và mới Bên cạnh đó, “giữa đảng viên và cán bộ vớinhau, phải kiên quyết bỏ hết thành kiến Thành kiến là một thói xấu có hại Dothành kiến mà sinh ra dè dặt với nhau, đối phó với nhau, kèn cựa lẫn nhau Nólàm cho trống đánh xuôi kèn thổi ngược, nó làm cho công tác bị tê liệt, hư hỏng”[63, tr.154] Người cho rằng muốn có dân chủ và có sự thương yêu nhau, muốn
Trang 36thực hiện tự phê bình và phê bình hiệu quả, thì mỗi cán bộ, đảng viên phải thật
sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; phải thật sự là người đầy tớ của nhândân vì mục đích cao đẹp của Đảng và sự trong sáng của mỗi cá nhân Cáchmạng đòi hỏi cán bộ, đảng viên gắn bó với nhau không chỉ bằng tổ chức màcòn gắn bó với nhau bằng tình thương và lòng nhân ái, cùng chung chí hướngphấn đấu cho lý tưởng chung - lý tưởng cộng sản chủ nghĩa Hồ Chí Minhquan niệm tình thương và lòng nhân ái là sự thống nhất giữa lý trí và tình cảmcách mạng Không có lý trí thì không thể xây dựng được một Đảng Mác -Lênin chân chính, một đảng cách mạng để đủ sức chiến đấu trong điều kiệnhết sức khó khăn của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như cách mạng
xã hội chủ nghĩa Không có lý trí, cách mạng sẽ dẫn đến thiếu đoàn kết thốngnhất, nảy sinh bè phái, cơ hội, cục bộ, địa phương chủ nghĩa nguy cơ đưaĐảng đến sự tan rã Không có tình đồng chí, tình nghĩa yêu thương lẫn nhautrong Đảng, thì đoàn kết chỉ là hình thức, không bền vững Tình thương đó làkiên quyết đấu tranh không khoan nhượng chống kẻ thù, nhưng độ lượng,khoan dung với đồng chí, đồng đội Tất nhiên, tình yêu thương không phải là
sự ủy mị, yếu đuối, xuôi chiều, cả nể, bao che khuyết điểm mà phải “hànhđộng”, phải “đấu tranh” để loại bỏ những thói hư, tật xấu Đặc biệt, trong điềukiện Đảng cầm quyền, Người càng coi trọng vấn đề xây dựng sự đoàn kếtthống nhất trong Đảng và đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải thật sự đoàn kết Đócũng chính là sự hiểu biết và trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, vì theo
Hồ Chí Minh, “hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình, cónghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa, thì sao gọi
là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được?” [64, tr.554] Không xuất phát từ tìnhđồng chí, tình yêu thương con người, thì mọi cuộc phê bình và tự phê bìnhkhông đem lại kết quả tốt, có khi còn tạo nên cuộc “đấu đá nội bộ” và điều ấychỉ dẫn tới suy yếu sức mạnh của Đảng Bởi vậy, “phải có tình đồng chí
Trang 37thương yêu lẫn nhau” cho thấy sự nhất quán trong triết lý sống mà Người đãnêu lên và bản thân Người thật sự là tấm gương sống với nhau có tình, có lý
1.2.2 Những biện pháp bảo đảm xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2.2.1 Thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng
Dân chủ trong Đảng là nền tảng cho sự đoàn kết Chỉ có trên cơ sở dânchủ nội bộ Đảng, thì đảng viên mới thật trung thực, thẳng thắn, chân thànhvới nhau và do đó, tình đồng chí thương yêu lẫn nhau mới được phát huy tốttrong Đảng Theo Hồ Chí Minh, “dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”,dân là chủ và dân làm chủ Dân chủ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xãhội Dân chủ từ trong gia đình đến ngoài xã hội, từ dân tộc đến quốc tế Xuấtphát từ quan điểm cách mạng trước hết cần có Đảng, Hồ Chí Minh đặc biệtnhấn mạnh phải thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng và thường xuyên,nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình Người cho rằng: “Thực hành dân chủ
là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết được mọi khó khăn” [64, tr.249],
vì dân chủ là gốc, “có phát triển dân chủ cao độ mới động viên được tất cả lựclượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên” [61, tr.592]
Để tăng cường sức mạnh, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, bên cạnhviệc chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách và Điều lệ của Đảng, cầntuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt và hoạt động củaĐảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụtrách Chính vì vậy, ngay từ khi Đảng ta ra đời, Hồ Chí Minh đã áp dụng ngaynguyên tắc tập trung dân chủ trong xây dựng Đảng Trong các văn kiện đượcthông qua Hội nghị hợp nhất (02/1930) do Người soạn thảo làm thành Cươnglĩnh đầu tiên của Đảng - Cương lĩnh độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xãhội - đã xác định rất rõ: “Bất cứ vấn đề nào, đảng viên phải hết sức thảo luận
và phát biểu ý kiến, khi đa số đã nghị quyết thì tất cả đảng viên phải phục
Trang 38tùng mà thi hành” [55, tr.7] Mặc dù Hồ Chí Minh không sử dụng thuật ngữ
“tập trung dân chủ”, nhưng đây chính là nội dung cốt lõi của nguyên tắc này.Nguyên tắc tập trung dân chủ, một mặt, bảo đảm phát triển tính tích cực vàtính sáng tạo của mọi tổ chức đảng và đảng viên trong việc tham gia xây dựng
và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng; mặt khác, bảo đảm sự thốngnhất ý chí và hành động của Đảng Bởi vậy, Người luôn luôn trung thành với
tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về nguyên tắc và sáng tạo, bổsung, phát triển tư tưởng đó trong tổ chức sinh hoạt và hoạt động của Đảngcho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Đảng, trình độ dân trí củaViệt Nam V.I.Lênin cho rằng, cần phải hiểu chế độ tập trung dân chủ, mộtmặt, thật khác xa chế độ tập trung quan liêu chủ nghĩa; mặt khác, thật khác xachủ nghĩa vô chính phủ Hồ Chí Minh đã diễn đạt rất cô đọng nguyên tắc nàylà: “Tập trung trên nền tảng dân chủ” và “dân chủ dưới sự chỉ đạo của tậptrung” Theo Người, nếu buông lỏng tập trung, nhất định sẽ rơi vào tình trạnghỗn loạn, phá hoại sự thống nhất và giảm sức chiến đấu của Đảng Ngược lại,nếu coi như dân chủ là trực tiếp phá hoại tính tập thể lãnh đạo của Đảng sẽdẫn tới tập trung quan liêu, chuyên quyền, độc đoán Cả hai thái cực nói trênđều là nguy cơ và thực sự là nguy cơ đối với một Đảng cầm quyền
Như vậy, dân chủ phải có lãnh đạo mới duy trì được kỷ luật của Đảng
và mới phát huy được dân chủ thật sự Và chỉ có dân chủ đầy đủ nhất khi kếthợp được với tập trung cao nhất, mới bảo đảm được thống nhất ý chí và hànhđộng của Đảng Đối với các tổ chức đảng, nhất là các tổ chức cơ sở đảng, HồChí Minh yêu cầu phải xác định mục tiêu, nhiệm vụ chính trị đúng đắn trên cơ
sở bảo đảm đoàn kết thống nhất về quan điểm, đường lối của Đảng Người nói:
“Một đảng bộ lãnh đạo tốt hay xấu cứ xem công tác ở địa phương là biết, kết quảcông tác của địa phương là cái thước đo sự lãnh đạo của Đảng” [51, tr.400].Điều này có nghĩa rằng, các tổ chức cơ sở đảng phải tự đổi mới, không ngừngđấu tranh để thực hiện đầy đủ hơn nữa nguyên tắc tập trung dân chủ, thể hiện
Trang 39cụ thể ở chế độ công tác, chế độ sinh hoạt được quy chế hóa để tăng cườngthống nhất ý chí và hành động; kiên quyết khắc phục biểu hiện gia trưởng,độc đoán, mất dân chủ, dân chủ hình thức, vô nguyên tắc Đó là điều kiện tấtyếu để tăng cường đoàn kết thống nhất
Sự sáng tạo, bổ sung, phát triển nguyên tắc tập trung dân chủ của HồChí Minh thể hiện rõ nhất ở việc thực hành nguyên tắc này:
Nghĩa là có việc gì thì ai cũng được bàn, cũng phải bàn Khibàn rồi thì bỏ thăm, ý kiến nào nhiều người theo hơn thì được Ấy làdân chủ Đã bỏ thăm rồi thì giao cho hội ủy viên làm, khi ấy tất cảhội viên phải tuân theo mệnh lệnh hội ấy Ấy là tập trung Ai khôngnghe lời, thì ủy viên hội có quyền phạt [54, tr.306]
Nếu không có kỷ luật, sẽ không thống nhất về tư tưởng và hành động,Đảng tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, theo Người, nghĩa là: “cóĐảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất, cơ quan lãnh đạo thống nhất Cánhân phải phục tùng đoàn thể, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phảiphục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương” [59, tr.229]
Đảng luôn luôn giữ vững lãnh đạo tập thể là nguyên tắc lãnh đạo caonhất của Đảng, đồng thời kết hợp chặt chẽ lãnh đạo tập thể với cá nhânphụ trách, phát huy tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân Trong tác phẩm
“Sửa đổi lối làm việc” (1947), Hồ Chí Minh đã phân tích rất rõ nguyên tắcnày: “Một người dù tài giỏi đến mấy cũng không thể thấy hết mọi mặt củavấn đề, hiểu hết được mọi chuyện Vì vậy, cần phải có nhiều người cùngtham gia lãnh đạo Nhiều người thì nhiều kiến thức, người thấy mặt này,người thấy mặt kia, do đó hiểu được mọi mặt, mọi vấn đề” [58, tr.504 -505] Người đã dùng câu cách ngôn dân gian để nói về ý nghĩa của tập thểlãnh đạo một cách rất giản dị: “dại bày hơn khôn độc” Về cá nhân phụtrách, Hồ Chí Minh chỉ rõ:
Trang 40Việc gì đã được tập thể bàn bạc kỹ lưỡng, kế hoạch đã đượcđịnh rõ thì cần giao cho một người phụ trách; nếu giao cho mộtnhóm người, thì cũng cần có một người phụ trách chính, như thếcông việc mới chạy, mới tránh được thói dựa dẫm, đùn đẩy tráchnhiệm Không xác định rõ cá nhân phụ trách, thì giống như “nhiềusãi không ai đóng cửa chùa” [57, tr.505]
Thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng được phản ánh trước hết ở việcthực hiện lãnh đạo tập thể là lãnh đạo cao nhất của Đảng khi mở rộng dânchủ, tham gia ý kiến vào dự thảo các nghị quyết của Đảng, bảo đảm cho nghịquyết của các tổ chức đảng có chất lượng cao, khoa học và thiết thực Ngườiđòi hỏi các tổ chức đảng phải tập hợp được ý chí và trí tuệ của tập thể Thảoluận nội bộ phải thật chân thành, cầu thị, cởi mở, kết luận rõ ràng trên cơ sởphân tích đúng, sai từng loại ý kiến, thì nghị quyết khi được tập thể thông quamới bảo đảm không chệch hướng, mới sát cuộc sống, đáp ứng lòng người và
uy tín của Đảng mới được nâng lên Do vậy, tập thể lãnh đạo và cá nhân phụtrách cần phải luôn đi đôi với nhau
Liên hệ với nguyên tắc tập trung dân chủ, Hồ Chí Minh đã có một sự giảithích hết mức mới mẻ: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tậptrung Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung” [57, tr.505].Người đồng thời nhấn mạnh rằng phải làm đúng nguyên tắc tập thể lãnh đạo,
cá nhân phụ trách Lãnh đạo tập thể vừa tránh được tệ độc đoán, chuyênquyền Cá nhân phụ trách chính là phát huy cao độ trách nhiệm của từngngười lãnh đạo trước tập thể, trước toàn Đảng và nhân dân; phát huy đượctính năng động, chủ động, tinh thần dám chịu trách nhiệm của mỗi đảng viên
và mỗi cấp ủy viên Về chế độ, nguyên tắc và lề lối làm việc của tổ chức, HồChí Minh đòi hỏi hoạt động của các tổ chức “từ tiểu tổ đến đại hội đều theo cáchdân chủ tập trung” “Từ Trung ương đến chi bộ xã đều phải làm theo đúng nguyêntắc lãnh đạo tập thể, cá nhân phục trách; đều phải chống cái tệ sùng bái cá nhân và