MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Vấn đề cán bộ là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp cách mạng và đối với công tác xây dựng Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” 45, tr.269. Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém 45, tr.240. Thực tiễn đã chứng minh, trong bất kỳ giai đoạn nào của cách mạng, công tác cán bộ đóng vai trò vô cùng quan trọng. Có sử dụng đúng cán bộ, mới phát huy được năng lực sở trường, tạo cho họ luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phần thúc đẩy sự nghiệp cách mạng tiến lên. Nếu không có đội ngũ cán bộ tốt, thì đường lối, nhiệm vụ đề ra đúng cũng chỉ dừng lại trên văn bản giấy tờ. Vì vậy, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu 45, tr.273. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, trong thời gian qua, Đảng ta đã đặc biệt chăm lo tới công tác cán bộ. Đội ngũ cán bộ đã có sự trưởng thành cả về số lượng lẫn chất lượng, góp phần vào thành công của sự nghiệp đổi mới. Tuy nhiên, thực tế vừa qua đã xuất hiện tình hình đáng lo ngại là có sự thoái hoá về đạo đức cách mạng ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Thực tế này đặt ra yêu cầu, là phải đánh giá và sử dụng đúng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là ở cấp cơ sở, để có một đội ngũ cán bộ vừa có tài vừa có đức, vừa có phẩm chất vừa có năng lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay. Bắc Giang là một tỉnh mới tái lập và còn nhiều khó khăn. Trong những những năm qua, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Giang luôn tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tâm huyết và trăn trở với công việc được giao và lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi khó khăn thử thách. Tuy nhiên, trước yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng của thời kỳ mới, công tác cán bộ của tỉnh Bắc Giang đã và đang bộc lộ những tồn tại, khuyết điểm, như: Công tác cán bộ chưa được coi trọng đúng mức, thực hiện thiếu đồng bộ, nhất là công tác quy hoạch, đánh giá, sử dụng cán bộ. Chính hạn chế này, là nguyên nhân cơ bản làm giảm kết quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ trong những năm qua. Để lãnh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh Bắc Giang. Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về đánh giá, sử dụng cán bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Giang hiện nay là vấn đề mang tính cấp bách, có ý nghĩa rất căn bản và lâu dài. Với lý do đó, tác giả chọn vấn đề Đánh giá, sử dụng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Giang hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Hồ Chí Minh học. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ là một vấn đề lớn và rất quan trọng, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong nước. Đã có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ được công bố dưới dạng công trình chuyên khảo, sách, chuyên đề, bài báo khoa học: Các công trình chuyên khảo, sách, đề tài khoa học GS Đặng Xuân Kỳ (1991 1995), Chủ nhiệm đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, Chuyên đề khoa học cấp nhà nước KX.02. PGS, TS Mạch Quang Thắng (1995), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. PGS, TS Đức Vượng (1995), Hồ Chí Minh với vấn đề đào tạo cán bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Phân viện thành phố Hồ Chí Minh( 1997), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Kỷ yếu hội thảo khoa học (1999), Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức. PGS, TS Bùi Đình Phong (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, Nxb Lao động, Hà Nội. PGS, TS Nguyễn Phú Trọng PGS, TS Trần Xuân Sầm (2003), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. PGS, TS Mạch Quang Thắng (2007), Đảng Cộng sản Việt Nam Những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng, Nxb Lao động, Hà Nội. Nguyễn Vũ, Nguyễn Thái Anh (2007), Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, Nxb Thanh niên. Một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ Lê Thị Hương Lan (2006), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ vào việc đổi mới phương thức lãnh đạo và phong cách công tác của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Hưng Yên, Luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Hồ Chí Minh học. Nguyễn Thị Lương Uyên (2007), Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ với việc nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Hồ Chí Minh học. Các bài nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ được đăng tải trên các tạp chí Dương Xuân Ngọc (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo và huấn luyện cán bộ, Tạp chí Xây dựng Đảng, (07). Phạm Quang Nghị (2004), Mối quan hệ giữa quy hoạch, đánh giá với luân chuyển cán bộ, Tạp chí Xây dựng Đảng, (9). Vũ Viết Mỹ (2006), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quan điểm và phương pháp đánh giá cán bộ thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng, (04). Bùi Đức Lại (2007), Cán bộ và công tác cán bộ trong tình hình mới, Tạp chí Xây dựng Đảng, (2 + 3). Hồng Long (1997), Một số suy nghĩ về việc đánh giá đội ngũ cán bộ hiện nay, Tạp chí Xây dựng Đảng, (07). Nguyễn Đình Hương (2009), Vấn đề đánh giá và sử dụng cán bộ, Tạp chí Xây dựng Đảng, (06). Các công trình nghiên cứu trên, đã đi sâu phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ dưới nhiều vấn đề khác nhau như: Tiêu chuẩn cán bộ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, chính sách đối với cán bộ, v.v.., nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu quan điểm Hồ Chí Minh về đánh giá, sử dụng cán bộ và vận dụng quan điểm đó vào địa phương. Vì vậy, trên cơ sở tiếp thu những thành quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, tôi hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm tư tưởng Hồ Chí Minh về đánh giá, sử dụng cán bộ và vận dụng trong đánh giá, sử dụng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Bắc Giang hiện nay.
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề cán bộ là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với
sự nghiệp cách mạng và đối với công tác xây dựng Đảng Chủ tịch Hồ ChíMinh khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [45, tr.269] "Muônviệc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém" [45, tr.240] Thựctiễn đã chứng minh, trong bất kỳ giai đoạn nào của cách mạng, công tác cán
bộ đóng vai trò vô cùng quan trọng Có sử dụng đúng cán bộ, mới phát huyđược năng lực sở trường, tạo cho họ luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, góp phầnthúc đẩy sự nghiệp cách mạng tiến lên Nếu không có đội ngũ cán bộ tốt, thìđường lối, nhiệm vụ đề ra đúng cũng chỉ dừng lại trên văn bản giấy tờ Vìvậy, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: "Đảng phải nuôi dạy cán bộ, như người làmvườn vun trồng những cây cối quý báu" [45, tr.273]
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, trong thời gianqua, Đảng ta đã đặc biệt chăm lo tới công tác cán bộ Đội ngũ cán bộ đã có sựtrưởng thành cả về số lượng lẫn chất lượng, góp phần vào thành công của sựnghiệp đổi mới Tuy nhiên, thực tế vừa qua đã xuất hiện tình hình đáng longại là có sự thoái hoá về đạo đức cách mạng ở một bộ phận không nhỏ cán
bộ, đảng viên Thực tế này đặt ra yêu cầu, là phải đánh giá và sử dụng đúngđội ngũ cán bộ, đặc biệt là ở cấp cơ sở, để có một đội ngũ cán bộ vừa có tàivừa có đức, vừa có phẩm chất vừa có năng lực, đáp ứng yêu cầu của sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay
Bắc Giang là một tỉnh mới tái lập và còn nhiều khó khăn Trongnhững những năm qua, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Giangluôn tỏ rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng xã hội chủnghĩa, tâm huyết và trăn trở với công việc được giao và lãnh đạo nhân dânvượt qua mọi khó khăn thử thách Tuy nhiên, trước yêu cầu, nhiệm vụ cách
Trang 4mạng của thời kỳ mới, công tác cán bộ của tỉnh Bắc Giang đã và đang bộc lộnhững tồn tại, khuyết điểm, như: Công tác cán bộ chưa được coi trọng đúngmức, thực hiện thiếu đồng bộ, nhất là công tác quy hoạch, đánh giá, sử dụngcán bộ Chính hạn chế này, là nguyên nhân cơ bản làm giảm kết quả hoànthành nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ trong những năm qua.
Để lãnh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoátỉnh Bắc Giang Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về đánh giá, sử dụngcán bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnhBắc Giang hiện nay là vấn đề mang tính cấp bách, có ý nghĩa rất căn bản và lâu
dài Với lý do đó, tác giả chọn vấn đề "Đánh giá, sử dụng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Giang hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh" làm đề tài
luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Hồ Chí Minh học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ là một vấn đề lớn
và rất quan trọng, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trongnước Đã có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ vàcông tác cán bộ được công bố dưới dạng công trình chuyên khảo, sách,chuyên đề, bài báo khoa học:
* Các công trình chuyên khảo, sách, đề tài khoa học
GS Đặng Xuân Kỳ (1991- 1995), Chủ nhiệm đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, Chuyên đề khoa học cấp nhà nước KX.02.
PGS, TS Mạch Quang Thắng (1995), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
PGS, TS Đức Vượng (1995), Hồ Chí Minh với vấn đề đào tạo cán bộ,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Phân viện thành phố Hồ Chí Minh( 1997), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 5Kỷ yếu hội thảo khoa học (1999), Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức
PGS, TS Bùi Đình Phong (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ, Nxb Lao động, Hà Nội
PGS, TS Nguyễn Phú Trọng - PGS, TS Trần Xuân Sầm (2003), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
PGS, TS Mạch Quang Thắng (2007), Đảng Cộng sản Việt Nam Những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng, Nxb Lao động, Hà Nội.
-Nguyễn Vũ, -Nguyễn Thái Anh (2007), Hồ Chí Minh về công tác cán
Hồ Chí Minh học
Nguyễn Thị Lương Uyên (2007), Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ với việc nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Hồ Chí Minh học.
* Các bài nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ được đăng tải trên các tạp chí
Dương Xuân Ngọc (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo và huấn luyện cán bộ, Tạp chí Xây dựng Đảng, (07).
Phạm Quang Nghị (2004), Mối quan hệ giữa quy hoạch, đánh giá với luân chuyển cán bộ, Tạp chí Xây dựng Đảng, (9).
Vũ Viết Mỹ (2006), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về quan điểm và phương pháp đánh giá cán bộ thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Tạp chí Thông tin công tác tư tưởng, (04).
Trang 6Bùi Đức Lại (2007), Cán bộ và công tác cán bộ trong tình hình mới,
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Phân tích thực trạng (ưu điểm, nhược điểm) việc đánh giá, sử dụng
cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2005 - 2009
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đánh giá, sử dụngcán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Giang, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh
Trang 74 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ là một vấn đề lớn.Trong phạm vi luận văn, tác giả đi sâu nghiên cứu những quan điểm cơ bảncủa Hồ Chí Minh về đánh giá, sử dụng cán bộ Từ đó, vận dụng vào việc đánhgiá sử dụng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Giang hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về cán bộ vàcông tác cán bộ
- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, đồngthời, sử dụng các phương pháp: lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp, điềutra xã hội học
6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Luận văn hoàn thành sẽ góp phần làm rõ hơn những quan điểm của
Hồ Chí Minh về đánh giá, sử dụng cán bộ
- Đánh giá đúng thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnhBắc Giang thời kỳ đổi mới Nêu lên một số giải pháp, góp phần nâng cao chấtlượng đội ngũ cán bộ tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu vàgiảng dạy môn tư tưởng Hồ Chí Minh trong các Trường chính trị Tỉnh, cáctrường Đại học và Cao đẳng
- Cung cấp luận cứ về cơ sở lý luận và thực tiễn cho lãnh đạo tỉnh BắcGiang nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ nói chung, cán bộ
cơ sở nói riêng
8 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 8Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÁNH GIÁ, SỬ DỤNG CÁN BỘ
1.1 VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ VÀ ĐÁNH GIÁ, SỬ DỤNG CÁN BỘ
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm cán bộ
Theo cuốn đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý (chủ biên) thì cánbộ: Danh từ 1 Người làm việc trong cơ quan nhà nước - cán bộ nhà nước 2.Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụtrong các cơ quan, tổ chức nhà nước
Theo Điều 1 của Pháp lệnh công chức do Uỷ ban Thường vụ Quốc hộiban hành ngày 9/3/1998: Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biênchế và hưởng lương từ ngân sách
Từ những định nghĩa nêu trên, có thể hiểu “cán bộ” theo hai cách cơ bản:
Một là, cán bộ bao gồm những người trong biên chế Nhà nước, làm
việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị xã hội, các doanhnghiệp Nhà nước và các lực lượng vũ trang nhân dân từ Trung ương đến địaphương và cơ sở
Hai là, cán bộ là những người giữ chức vụ trong một cơ quan hay một
tổ chức để phân biệt với người không có chức vụ
Từ những khái niệm về cán bộ nêu trên cho thấy, người cán bộ có bốnđặc trưng cơ bản:
+ Cán bộ được sự uỷ nhiệm của Đảng, Nhà nước và các tổ chức kháctrong hệ thống chính trị lấy danh nghĩa của các tổ chức đó để hoạt động
+ Cán bộ giữ một chức vụ, một trọng trách nào đó trong một tổ chứccủa hệ thống chính trị
+ Cán bộ phải thông qua tuyển chọn hay phân công, công tác sau khihoàn thành chương trình đào tạo các trường Đại học, Cao đẳng, Trung họcchuyên nghiệp, dạy nghề; cán bộ được bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử
Trang 9+ Cán bộ được hưởng lương và chính sách đãi ngộ, căn cứ vào nộidung, chất lượng hoạt động và thời gian công tác của họ.
Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, cán bộ là người lãnh đạo, quản lýhoặc người làm chuyên môn, nhà khoa học hay công chức, viên chức làmviệc, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước hoặc từ các nguồn khác Họ đượchình thành từ tuyển dụng, phân công công tác sau khi tốt nghiệp ra trường, từ
bổ nhiệm đề bạt hoặc bầu cử
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa về cán bộ hết sức khái quátgiản dị và dễ hiểu Theo Người: “Cán bộ là những người đem chính sách củaĐảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thờiđem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặtchính sách cho đúng” [45, tr.269]
1.1.1.2 Khái niệm cán bộ chủ chốt
Theo từ điển tiếng Việt (2000) của Nhà xuất bản Đà Nẵng, từ “chủchốt” là: “quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt Cán bộ chủ chốt củaphong trào” [63, tr.174]
Như vậy, có thể hiểu “cán bộ chủ chốt” là người có chức vụ, nắm giữcác vị trí quan trọng, có tác dụng làm nòng cốt trong các tổ chức thuộc hệthống bộ máy của một cấp nhất định; người được giao đảm đương các nhiệm
vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ máy thực hiện chức năng,nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình, về lĩnh vựccông tác được giao
Cán bộ chủ chốt có những đặc trưng cơ bản sau:
+ Cán bộ chủ chốt là người có vị trí quan trọng, giữ vai trò quyết địnhtrong việc xác định phương hướng và tổ chức thực hiện tốt các quyết định củacấp mình hoặc cấp trên giao Kiểm tra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắnnhững biểu hiện lệch lạc; bổ sung, điều chỉnh kịp thời những giải pháp mớikhi cần thiết; đúc rút kinh nghiệm, tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn chỉnh
Trang 10lý luận Đồng thời, cán bộ chủ chốt còn là những người giữ vai trò đoàn kết,tập hợp, phát huy sức mạnh của quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị củađơn vị và xây dựng nội bộ tổ chức vững mạnh.
+ Cán bộ chủ chốt là những người đại diện một tổ chức, một tập thể…chủ yếu do bổ nhiệm hoặc bầu cử, giữ một chức vụ trọng yếu trong cơ quanĐảng, chính quyền (cấp trưởng, cấp phó); Trưởng các đoàn thể và là ngườichịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về mọi mặt hoạt động của địaphương, đơn vị hoặc lĩnh vực công tác được đảm nhiệm
Theo quan điểm của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khoá IX) về
Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cấp xã, phường, thị trấn; Nghị định 114/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về Cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; Quyết định 04/2004 QĐ- BVN ngày 16/1/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về Tiêu chuẩn đối với cán bộ công chức
xã, phường, thị trấn, thì đội ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn bao gồm
các chức danh: Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồngnhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc; Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh; Bí thưĐoàn thanh niên; Chủ tịch Hội nông dân
Trang 11Từ kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người và từ chính quá trìnhtruyền bá lý luận khoa học vào phong trào công nhân, C.Mác đã khẳng định:
“Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lý luận thựctiễn” [38, tr.181]
Kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen;V.I.Lênin đã đặc biệt coi trọng việc xây dựng đội ngũ những nhà cách mạngchuyên nghiệp cho phong trào cách mạng vô sản Đó là những cán bộ nòngcốt đầu tiên của Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga.“Những nhà chính trị của giaicấp thực sự của mình, những nhà chính trị vô sản và không thua kém nhàchính trị của giai cấp tư sản” [34, tr.81] Khi Đảng chưa có chính quyền, vấn
đề cán bộ rất được quan tâm, khi có chính quyền, vấn đề cán bộ lại càng trởnên quan trọng và cấp bách hơn Hàng loạt vấn đề được đặt ra sau khi Đảnggiành được chính quyền, rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đòi hỏi Đảngphải lãnh đạo, quản lý Vì vậy, Đảng phải gấp rút lựa chọn đào tạo, bồi dưỡngmột đội ngũ cán bộ mạnh cả về lý luận và chất lượng để đáp ứng được nhữngyêu cầu của thời kỳ mới Thực tiễn cấp bách đó đòi hỏi Đảng Cộng sản (b)Nga và V.I.Lênin phải tập trung giải quyết Những vấn đề quan trọng về cán
bộ và công tác cán bộ đã được V.I.Lênin bàn đến nhiều ở giai đoạn Đảng đãgiành được chính quyền và tập trung ở thời kỳ sau khi chính quyền được thiếtlập trong cả nước, khi nước Nga bước vào thời kỳ ổn định, xây dựng chế độ
xã hội mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh coi cán bộ là một trong những yếu tố then chốtquyết định đến sự thành bại của cách mạng Người khẳng định: “Cán bộ là cáigốc của mọi công việc” [45, tr.26] Bởi, Người quan niệm cũng như cây thìphải có gốc, không có gốc thì cây héo; sông phải có nguồn, không có nguồnthì sông cạn Điều đó có nghĩa là, mọi công việc cách mạng đều phải bắt đầu
từ cán bộ, và mọi việc thành bại đều bắt nguồn từ cán bộ Công việc cáchmạng bao hàm từ công việc hoạch định đường lối, cho đến các công việc tổ
Trang 12chức, thực hiện đường lối Bản thân việc hoạch định đường lối chiến lược vàsách lược cũng phải do con người, tức là do đội ngũ cán bộ của Đảng thựchiện Nói Đảng hoạch định đường lối, thực chất là nói bộ phận tiên tiến nhấtcủa Đảng, tức là một đội ngũ cán bộ ưu tú nhất, đã vận dụng lý luận Mác -Lênin kết hợp với những điều kiện cụ thể của đất nước, cũng như thâu tómkinh nghiệm thực tiễn của quần chúng mà vạch ra đường lối đó Từ đó, Chủtịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán
bộ tốt hoặc kém” [45, tr.240] Nếu có cán bộ tốt, cán bộ ngang tầm, thì việcxây dựng đường lối sẽ đúng đắn và là điều kiện tiên quyết để đưa sự nghiệpcách mạng đi đến thắng lợi Không có đội ngũ cán bộ tốt thì dù đường lối,chính sách đúng, cũng khó có thể biến thành hiện thực được Muốn biếnđường lối, chính sách thành hiện thực, cần phải có con người sử dụng lựclượng thực tiễn, đó là đội ngũ cán bộ cách mạng và cùng với quần chúng cáchmạng, bằng sự mẫn cảm của mình để đưa cách mạng đến thành công
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: Cán bộ là cái dây chuyền của bộmáy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn
bộ máy cũng bị tê liệt “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, củaChính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời, đem tìnhhình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chínhsách cho đúng” [45, tr.269] Cán bộ là “cầu nối” giữa Đảng, Chính phủ và vớiquần chúng, nhưng không phải là “vật mang” là “dây dẫn”, là sự chuyển tải
cơ học, mà họ chính là những người có đủ tư chất, tài năng và đạo đức để làmviệc đó Bởi lẽ, người cán bộ không chỉ truyền đạt, giải thích tinh thần, nộidung chính sách của Đảng và Nhà nước cho dân chúng, mà quan trọng hơn làtrong quá trình tổ chức thực hiện, cán bộ phải nắm bắt tâm tư, nguyện vọngcủa nhân dân, thu nhận được những kinh nghiệm thực tiễn để phản ánh vớiĐảng và Nhà nước, hoàn thiện đường lối chính sách ngày càng phù hợp vớiđòi hỏi khách quan của cuộc sống Trong mối quan hệ hữu cơ giữa cán bộ và
Trang 13đường lối chính trị, giữa cán bộ và tổ chức, giữa cán bộ và phong trào quầnchúng, thì cán bộ vừa là nhân vừa là quả của phong trào Bởi vậy, để có mộtđội ngũ cán bộ có đủ trình độ và năng lực đáp ứng được nhu cầu và nhiệm vụcách mạng, thì Đảng phải đặc biệt coi trọng công tác cán bộ.
Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ có vai trò to lớn,quyết định sự thành công hay thất bại của mọi công việc Cho nên, nói đếncán bộ là nói đến “tiền vốn của đoàn thể”, có vốn mới làm ra lãi Bất cứchính sách của Đảng và Nhà nước nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là
có lãi Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn Tuy nhiên, khi bàn
về vai trò cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, Hồ Chí Minh nhấn mạnhnhiều đến cán bộ, đảng viên có chức, có quyền, những người chịu tráchnhiệm trực tiếp và to lớn, nặng nề trước nhân dân và toàn dân tộc Bởi,trong đội ngũ cán bộ đông đảo, cán bộ lãnh đạo lại là nòng cốt của đội ngũ
ấy Họ có trách nhiệm lãnh đạo tổ chức Đảng, cơ quan chính quyền, hànhchính, sự nghiệp, đoàn thể hay tổ chức quản lý kinh doanh… từ cấp Trungương đến cấp cơ sở Tuy nhiên, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cán bộ lãnhđạo các cấp đều có vị trí quan trọng và có liên hệ chặt chẽ với nhau trong tổchức của Đảng, Nhà nước Nếu cán bộ lãnh đạo ở cấp Trung ương là nhữngcán bộ cấp chiến lược có trách nhiệm hoạch định chủ trương, đường lốichính sách của Đảng, thì cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở lại có trách nhiệm lãnhđạo xây dựng tổ chức Đảng và hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, trựctiếp lãnh đạo tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước
1.1.3 Vị trí, vai trò của đánh giá, sử dụng cán bộ
Đánh giá con người là một việc khó, không dễ gì đã nhận biết được bảnchất thông qua hình thức bên ngoài Để hiểu được con người cần phải có thờigian Hơn nữa, là phải có thời gian nghiên cứu tìm hiểu công phu
Trong đời sống văn hoá dân tộc đã lưu truyền kinh nghiệm:
Trang 14Thức lâu mới biết đêm dài,
Ở lâu mới biết con người có nhân.
Thiên tài như Nguyễn Trãi cũng phải nhắc cho đời sau:
Non thấp non cao mây thuộc, Cây cứng cây mềm gió hay, Chỉ có lòng người hiểm thay.
Trong lịch sử đấu tranh giai cấp giành chính quyền ở nhiều thời đại,người ta đã sử dụng nhiều hình thức, phương thức ngày càng khoa học đểnhận biết con người - chiến lược trong hoạt động tình báo của đối phương.Nhiều hiện tượng phản ánh sức mạnh kỳ diệu của con người, khi họ chiến đấu
hy sinh cho lý tưởng Đánh giá được con người trong lĩnh vực này vô cùngkhó khăn
Đánh giá con người là một việc hệ trọng, phức tạp Chủ nghĩa Mác Lênin đã chỉ ra phương pháp biện chứng giúp cho việc nhận biết được kháchquan, trung thực: Con người "tổng hoà các mối quan hệ xã hội" Vì vậy, khixem xét đánh giá con người phải thông qua các quan hệ xã hội, qua hoạt độngcủa con người
-Chủ tịch Hồ Chí Minh - người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Namtrong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, luôn coi trọng công tác cán
bộ nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ vừa hồng, vừa chuyên, đủ sức đáp ứng yêucầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cảnước tiến lên chủ nghĩa xã hội
Đánh giá cán bộ là sự xác định giá trị chính trị xã hội của người cán bộ,
là một trong những nội dung quan trọng nhất của công tác cán bộ Có đánhgiá đúng mới biết ai là cán bộ tốt, ai là cán bộ kém, ai là người có tài, ai bấttài; từ đó mới có thể bố trí, sử dụng đúng cán bộ, hạn chế những thiếu sót sailầm trong công tác cán bộ Đánh giá đúng cán bộ sẽ kích thích được mặt tíchcực và quan tâm đến công tác cán bộ
Trang 15Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thànhcông hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựachọn cán bộ, và do nơi kiểm tra Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúngmấy cũng vô ích” [45, tr.520] Do vậy, Người căn dặn: “Phải thường xuyênđánh giá cán bộ Kinh nghiệm cho ta biết: Mỗi lần xem xét lại nhân tài, mộtmặt thì tìm thấy những nhân tài mới, một mặt khác thì những người hủ hoácũng lòi ra” [45, tr.274]
Đánh giá cán bộ, tuy không phải là mục đích trong sự nghiệp xây dựngđội ngũ cán bộ, song nó lại là khâu công tác xuyên suốt trong toàn bộ công táccán bộ Nhận định, đánh giá cán bộ bao giờ cũng là bước đi đầu tiên trongtiến trình xây dựng đội ngũ cán bộ Trên những nhiệm vụ cụ thể của công tácxây dựng đội ngũ cán bộ, đều đòi hỏi phải bảo đảm tính khoa học trong việcđánh giá, đều xuất hiện yêu cầu đánh giá Đánh giá đúng sẽ là tiền đề cho cáckhâu công tác cán bộ được đúng đắn Việc quy hoạch, bố trí, sử dụng, đề bạt,bồi dưỡng, đào tạo, giải quyết chế độ chính sách đãi ngộ đều phải dựa trên
cơ sở đánh giá đúng
Đánh giá cán bộ phản ánh trình độ quản lý, sự nhận thức, am hiểu sâusắc của tổ chức, của người lãnh đạo đối với cán bộ Qua đó gửi gắm niềm tincủa tổ chức đối với cán bộ khi giao nhiệm vụ
Đánh giá cán bộ phụ thuộc nhiều yếu tố khách quan, không phải khinào khách thể được đánh giá cũng phản ánh đúng "giá trị" vốn có của nó.Nhìn chung là "hữu xạ tự nhiên hương", nhưng trong thực tế, chủ thể đánh giálại dễ bị yếu tố chủ quan chi phối Đánh giá cán bộ đúng hay không đúng đều
có tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển của đội ngũ cán bộ theocác chiều hướng khác nhau Thông thường khi chuyển giai đoạn cách mạngthì việc đánh giá cán bộ dễ lúng túng nhất Nguyên nhân sâu xa lại chính từnhận thức, mọi nhận thức vấn đề này đều có xu hướng dẫn tới hình thànhthước đo giá trị khi đánh giá Thước đo này sẽ vận động theo hoàn cảnh cách
Trang 16mạng ở những giai đoạn khác nhau, thời gian, không gian khác nhau, đươngnhiên tiêu chí chung là phẩm chất và năng lực Theo Hồ Chí Minh, sử dụngcán bộ, trọng dụng nhân tài là một nghệ thuật Nếu sử dụng không đúng sẽgây trở ngại và đôi khi tác hại khó lường Nếu người có tài mà dùng khôngđúng tài của họ thì cũng như không được việc Người nói: “Người đời ai cũng
có chỗ hay chỗ dở Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ
dở Dùng người cũng như dùng gỗ Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng,cong, đều tuỳ chỗ mà dùng được” [45, tr.72]
Thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đánhgiá, sử dụng cán bộ, trong suốt 80 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng
ta luôn chú trọng và đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầmvới đòi hỏi của từng thời kỳ cách mạng, đó là nhân tố quyết mọi thắng lợi củacách mạng Việt Nam Đảng khẳng định phải có một đội ngũ cán bộ đủ phẩmchất và năng lực xây dựng đường lối chính trị đúng đắn và tổ chức thực hiệnthắng lợi đường lối đó là vấn đề cốt tử của lãnh đạo, là sinh mệnh của Đảngcầm quyền Trong công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng ta nhấn mạnh vai trò của cán bộ trong chiếnlược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Cán bộ là nhân
tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng,của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng.Theo quan điểm của Đảng, trong khi xây dựng đội ngũ cán bộ một cách đồng
bộ, đáp ứng yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng, cần đặc biệt chú trọng xâydựng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, nhất là cấp chiến lược và cấp cơ sở
1.2 NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ ĐÁNH GIÁ, SỬ DỤNG CÁN BỘ
1.2.1 Về đánh giá cán bộ
1.2.1.1 Hiểu biết cán bộ
Đánh giá cán bộ là sự xác định giá trị của xã hội, của từng cán bộ vàcủa cả đội ngũ cán bộ Trong quá trình tiến hoá của lịch sử loài người, nhờ
Trang 17hoạt động vật chất có ý thức, từ loài vượn người đã trở thành người qua quátrình lao động sáng tạo, cải tạo tự nhiên Con người chịu sự quy định của hoàncảnh, xong ngược lại, con người là chủ thể tác động tích cực trở lại cải tạohoàn cảnh sao cho hoàn cảnh "ngày càng mang tính người nhiều hơn" Conngười tuy chịu sự quy định của tự nhiên, xong bộ mặt thế giới ngày nay đãthay đổi rất lớn, rất vĩ đại qua hoạt động của họ Đánh giá về sức mạnh củacon người ngày nay, khoa học liên ngành trong nhiều lĩnh vực cũng chưakhám phá hết sức mạnh tiềm ẩn trong con người, sức mạnh của cả loài người.
Vì vậy, khi đánh giá con người là sự xác định những giá trị xã hội Xongkhông có giá trị xã hội thuần tuý, mà thực tế nó là sản phẩm quyện lại của tựnhiên và tổ chức xã hội Giá trị xã hội của con người không thể không tính
đến sức khoẻ, tuổi tác, năng khiếu, cá tính
Để đánh giá con người, người xưa có kinh nghiệm: “Trông mặt đặt tên”hoặc “Trông mặt mà bắt hình dong” Hoặc có thể đem bàn lẽ phải, trái để xemtrí tuệ, năng lực của họ Biện luận với họ để xem họ tự biến hoá, tự dụng thếnào? Hỏi đến việc hy sinh xem họ có dũng cảm không? Hay nói cách khác,biết quan sát ngoại hình bên ngoài con người và thường qua đàm thoại cũngbước đầu hiểu được phần nào tính cách và phẩm chất con người Tuy nhiên,
để hiểu bản chất năng lực thực sự của mỗi người là một việc rất khó; khôngchỉ dừng lại ở quan sát hình dung, tướng mạo và sự đối đáp… để phán đoán,suy diễn tuỳ tiện
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, để đánh giá đúng cán bộ, trước hết phải hiểu cán bộ Để làm được trách nhiệm của Đảng đối với cán bộ, việc
quan tâm đầu tiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu là đòi hỏi mọi người cán
bộ phải biết mình: “Đã không tự biết mình thì khó mà biết người, vì vậymuốn biết đúng sự phải trái ở người ta, thì trước phải biết đúng sự phải tráicủa mình Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõngười cán bộ tốt hay xấu” [45, tr.277]
Trang 18Hiểu biết cán bộ phải thông qua thái độ của người cán bộ với bản thân,đối với mọi người và đối với công việc mới Đây là những tiêu chí cơ bản,quan trọng để xác định đúng phẩm chất, năng lực cán bộ, nói cách khác làthấy được mặt đức và tài của người cán bộ.
Một là, thông qua thái độ đối với chính bản thân người cán bộ
Những người có đức tính cần, kiệm: Tức là luôn hết lòng, hết sức trongcông việc và sự nghiệp cả đời, không thích ăn ngon mặc đẹp quá mức độ tronglúc còn nhiều đồng bào đang cơm chưa đủ no, áo chưa đủ ấm Không
sợ khuyết điểm, vì dù có tài nhưng làm nhiều cũng sẽ có khuyết điểm, vấn đề làbiết nhận ra khuyết điểm và kiên quyết sửa chữa Không hiếu danh: Vì có lòngham danh vọng, địa vị, thì khi phụ trách bộ phận nào, có thể lôi người này, kéongười khác, ưa thì kéo vào, không ưa thì tìm cách đẩy ra Người ít lòng hammuốn về vật chất: Vì người như thế thì giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khókhông thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục Không kiêu ngạo: Vì kiêungạo, tự tôn tự đại thì khinh rẻ người khác, không muốn biết, muốn học ưu điểmcủa người khác Biết được vài câu lý luận đã cho mình là giỏi, không xem ai ra
gì, tưởng mình là hơn hết Nói đi đôi với làm, nói ít làm nhiều, nắm vững
lý luận, trung thành với lý tưởng con đường cách mạng đã chọn
Hai là, thông qua thái độ đối với người khác
Người phải biết hoà mình, gắn bó với quần chúng; khoan dung, cởi mở,hiểu biết và sẵn lòng giúp đỡ người khác tiến tới, lời nói ngay thẳng, đúng với
sự thật nhưng không nóng nảy, thô bạo, cương nhưng không thể bị gãy, nhunhưng không thể non cong, tiến lùi đúng lúc Không nịnh hót người trên,không khinh người dưới, chân thành, khiêm tốn, thật thà, đoàn kết với mọingười Biết mình, biết người, biết vì Đảng, vì dân, tiến cử, cất nhắc người tốt,tránh người xấu, đề phòng người gian
Ba là, thông qua thái độ đối với công việc
Phải biết để việc công, việc nước lên trên việc tư, việc nhà Khi làmviệc biết điều tra, nghiên cứu hoàn cảnh rõ ràng, dám nghĩ, dám làm cái mới,
Trang 19hoặc những việc khó khăn, nguy hiểm nhưng ích nước, lợi dân; thạo về chínhtrị, giỏi về chuyên môn; dám chịu trách nhiệm, không cậy thần, cậy thế Đượcvinh không mừng thái quá, bị nhục không sợ; thấy lợi không tham, thấy sắckhông mộ ; biết phục tùng đoàn thể; không tự đặt mình cao hơn tổ chức,không đứng ngoài kỷ luật
Thái độ đối với bản thân, với người khác và với công việc là những tiêuchí quan trọng để hiểu đúng phẩm chất, năng lực của mỗi con người
Đánh giá cán bộ không nên chỉ xem thái độ và kết quả công việc trongmột lúc mà phải nghiên cứu kỹ lịch sử của họ, sự học tập và công tác của họ
từ trước tới nay và nhất là việc thực hiện nhiệm vụ trong hiện tại, thái độ vớitương lai; phải căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể mà họ đảm nhận, điều kiện hoàncảnh cụ thể để họ thực thi nhiệm vụ thế nào? Kết quả hoàn thành nhiệm vụcủa họ ra sao ? Tốt, trung bình hay yếu?
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người cán bộ khi trước có sai lầm,không phải vì thế mà sai lầm mãi Cũng có cán bộ đến nay chưa bị sai lầm,nhưng chắc gì sau này không phạm phải sai lầm Người cho rằng:
Quá khứ, hiện tại và tương lai của một người không phải luônluôn giống nhau
Xem xét cán bộ, không chỉ xem ngoài mặt mà còn phải xemtính chất của họ Không chỉ xem một việc, một lúc mà phải xemtoàn cả lịch sử, toàn cả công việc của họ Có người lúc phong tràocách mạng cao, họ vào Đảng, họ làm việc rất hăng Nhưng lúc
Trang 20phong trào hơi khó khăn thì đâm ra hoang mang Lúc gặp sự nguyhiểm, thậm chí hóa phản cách mạng… Nếu ta không xem xét rõràng thì lầm nó là cán bộ tốt
Vì vậy, xem xét cán bộ không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xétmột lúc, một việc mà phải xét kỹ toàn bộ công việc của cán bộ [45, tr.278].Xem xét cán bộ để hiểu đúng cán bộ, từ đó có cách dùng cán bộ để pháthuy đúng năng lực và sở trường của cán bộ trong công tác là hết sức quantrọng trong chính sách cán bộ
* Xem xét cán bộ phải ở trạng thái vận động, phải thông qua hoạt động thực tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Trong thế giới cái gì cũng biến hóa
Tư tưởng của con người cũng biến hóa Vì vậy, cách xem xét cán bộ quyếtkhông nên chấp nhận vì nó cũng cũng phải biến hóa Sự biến hóa trong cáchxem xét cán bộ không phải là tùy tiện, vô nguyên tắc, lúc thế này, lúc thếkhác, do lòng yêu ghét của mình mà phải dựa trên cơ sở khoa học hiểu biếtcon người trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể Việc xem xét cán bộ phải kháchquan, tránh định kiến thiên tư thiên vị, bởi vì quá khứ, hiện tại và tương laicủa mỗi người cán bộ không phải luôn luôn giống nhau Theo Người, cách tốtnhất để đánh giá đúng cán bộ, là để quần chúng nhận xét cán bộ Cán bộ nàotốt, cán bộ nào xấu, cán bộ nào có lỗi mà có thể sửa ; ai làm việc gì hay, ailàm việc gì dở, dân chúng biết rõ ràng Người cán bộ lãnh đạo nên lắng nghe
ý kiến quần chúng nhận xét cán bộ, dựa theo ý kiến đó mà cất nhắc cán bộ
Theo Hồ Chí Minh, xem xét cán bộ phải căn cứ vào hoạt động thực tế.Thực tế là tiêu chuẩn chân lý Xem xét người cán bộ hoàn thành nhiệm vụthực thi đến đâu và chất lượng, hiệu quả ra sao?
Có thể đặt ra một giả thiết rằng, có những cán bộ hoạt động bằng mọicách tỏ ra hăng hái và thực tế đã hoàn thành nhiệm vụ, xong chưa chắc đã đủ
độ tin cậy về chính trị Thực tế trong hoạt động tình báo, người ta đã phải
Trang 21hoàn thành tốt nhiệm vụ để có cơ hội chui sâu, leo cao hơn Cho dù giả thiếttrên là có thực, thì việc xem xét cán bộ vẫn lấy kết quả hoàn thành nhiệm vụ
để đánh giá, đó là phương pháp tối ưu nhất, khoa học nhất Đương nhiên cònrất nhiều khâu trong xem xét cán bộ mà Đảng phải tiến hành để bảo đảm xâydựng tốt đội ngũ cán bộ Hồ Chí Minh chỉ rõ:
Ai mà hay khoe khoang công việc, hay a dua, tìm việc nhỏ màlàm, trước mặt thì theo mệnh lệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh, haycông kích người khác, hay tự tâng bốc mình, những người như thế,tuy họ làm được việc, cũng không phải cán bộ tốt
Ai cứ cắm đầu làm việc, không ham khoe khoang, ăn nói ngaythẳng, không che dấu khuyết điểm của mình, không ham làm việc
dễ, tránh việc khó, bao giờ cũng kiên quyết làm theo mệnh lệnh củaĐảng, vô luận hoàn cảnh thế nào lòng họ cũng không thay đổi,những người như thế, dù có công tác kém một chút cũng là cán bộtốt [45, tr.278]
Hồ Chí Minh luôn yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao trình
độ lý luận năng lực hoạt động thực tiễn Người cán bộ phải nói được, làmđược và biết tổng kết rút ra những bài học kinh nghiệm công tác, Hồ ChíMinh cho rằng: Nói được thì sẽ đem tư tưởng, lý luận của Đảng, chính sáchpháp luật của Nhà nước, chủ trương của đoàn thể, thấm vào trí óc, trái tim củaquần chúng nhân dân để biến thành niềm tin và giúp họ hành động đúng Nóidài, “dây Cà ra dây Muống” thì khó thuyết phục được mọi người, còn nói saithì nguy hại biết nhường nào Mặt khác không thể bằng lòng với việc thuyếttrình chung chung “tràng giang đại hải” trên diễn đàn hoặc chỉ ban hành vàiquyết định, nghị quyết là xong, mà người cán bộ phải thực hiện “lời nói đi đôivới việc làm”, đem những chỉ thị, nghị quyết xuống với dân chúng biếnthành phong trào cách mạng của quần chúng tạo nên sức mạnh vất chất thật
sự và nắm bắt tình hình của dân chúng để báo cáo cho Đảng cho Nhà nước để
Trang 22đề ra những quyết định cho đúng Chính cuộc đời hoạt động của Chủ tịch HồChí Minh đã nêu gương mẫu mực trong việc thực hiện quan điểm này.
* Xem xét cán bộ phải dựa trên những tiêu chuẩn cụ thể
Cán bộ trước hết là con người, xong không phải ai cũng làm cán bộ Vìvậy, những thông số đánh giá cán bộ đòi hỏi ở trình độ cao hơn Con ngườiphải thông qua rèn luyện, trưởng thành mới trở thành người cán bộ được Cán
bộ là những người được giao trọng trách, dù là người lãnh đạo, người quản lýhay chuyên gia trên từng lĩnh vực, thì cán bộ luôn luôn giữ cương vị phụ trách
ở một phạm vi nhất định Chịu trách nhiệm trước Đảng, trước dân trên mộtnhiệm vụ phụ trách nhất định
Việc xem xét cán bộ theo Hồ Chí Minh phải dựa trên những tiêu chuẩn
Thứ hai, phải có năng lực công tác Đó là người biết giải quyết có kếtquả tốt công việc do mình phụ trách, đồng thời phải biết giúp đỡ người khác.Như vậy, người cán bộ đó phải có trình độ nhất định về văn hóa, về lý luậnchủ nghĩa Mác -Lênin, về chuyên môn nghiệp vụ, biết đề xuất những ý tưởng
và xây dựng các chỉ thị, nghị quyết của tập thể Hồ Chí Minh nói "Ngày nay,Đảng yêu cầu cán bộ và đảng viên chẳng những thạo về chính trị, mà còn giỏi
về chuyên môn' [50, tr.313]
Thứ ba, phải có phong cách làm việc khoa học Phong cách làm việccủa người cán bộ giữ vai trò quan trọng trong tất cả các khâu hoạt động vàthực thi công việc Kết quả của việc thực hiện chủ trương, nhiệm vụ phụthuộc một phần rất quan trọng vào phong cách làm việc của người cán bộ Hồ
Trang 23Chí Minh viết: "Nếu mỗi cán bộ, mỗi đảng viên làm việc đúng hơn, khéo hơn,thì thành tích của Đảng to tát nữa" [45, tr233].
Trong phong cách làm việc của người cán bộ, Hồ Chí Minh yêu cầu:
- Phải nêu cao tính Đảng, tức là phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết,trước hết
- Phải có tác phong quần chúng, tức là sâu sát, gần gữi nhân dân, khiêmtốn học hỏi nhân dân, tin yêu và tôn trọng nhân dân, lắng nghe ý kiến và giảiquyết những kiến nghị chính đáng của dân, sẵn sàng tiếp thu ý kiến dân phêbình và kịp thời sửa chữa những khuyết điểm, thiếu sót
- Phải có phong cách làm việc dân chủ, tập thể, mới quy tụ và phát huyđược sức mạnh và trí tuệ của tập thể Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Có dân chủ mớilàm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến Những sáng kiến đó đượckhen ngượi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng họctheo" [45, tr244]
- Phải có tinh thần trách nhiệm cao, nhất quán giữa lời nói và việc làm,giữa lý luận và thực tiễn
Đạt được những yêu cầu đó, chúng ta mới chọn được những cán bộ có
đủ tài, đức cho cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đây là công việc
mà Đảng thường xuyên phải làm Bởi vì mỗi lần xem xét, đánh giá thì mộtmặt tìm thấy những nhân tài mới, mặt khác sẽ thấy được những người hủ hóatrong đội ngũ cán bộ
Tóm lại, đánh giá cán bộ là việc vô cùng cần thiết, nhưng rất khó khăn,
có đánh giá đúng cán bộ thì mới có cơ sở để sử dụng cán bộ đúng người, đúngviệc, đúng lúc Muốn đánh giá đúng cán bộ người đánh giá phải “trí công vôtư” Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra những chứng bệnh thường phạm phải khiđánh giá cán bộ như sau:
1 Tự cao tự đại: Mắc chứng bệnh này thường đánh giá thấp và coithường người khác Nếu cái gì cũng tự cho mình là nhất thì thường không biết
rõ và xem xét sai cán bộ
Trang 242 Ưa người ta nịnh mình: Bệnh này dẫn tới sự sai lệch trong xem xétcán bộ Một cán bộ năng lực và đạo đức đều kém, chỉ duy một điều là biết xunịnh, thế là anh ta được xem xét như một cán bộ tốt.
3 Do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người: Có thể yêu người hợpvới mình, hay tâng bốc mình và ghét người chính trực, giỏi hơn mình, dámnói, dám làm
4 Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lấp vào tất cả mọingười khác nhau [45, tr.277]
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, phạm một trong bốn bệnh đó thì cũngnhư mắt đã mang kính có mầu, không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của nhữngcái mình trông thấy Do đó, muốn biết rõ cán bộ trước hết phải sửa nhữngkhuyết điểm của mình Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộcàng đúng
1.2.2 Sử dụng cán bộ
1.2.2.1 “Khéo” dùng cán bộ
Theo Hồ Chí Minh, bên cạnh việc đánh giá được cán bộ rồi thì phảibiết sử dụng được cán bộ Xuất phát từ quan điểm bản chất cán bộ cũng là conngười, mà đã là con người thì không phải điều gì cũng tốt, điều gì cũng hay
Đã làm thì người cán bộ dù có tài giỏi mấy cũng không tránh khỏi nhữngkhuyết điểm, vì vậy phải khéo dùng người, sửa chữa khuyết điểm cho họ,phát huy những ưu điểm của họ Theo Hồ Chí Minh, "khéo" ở đây không cónghĩa là chỉ dùng cán bộ một bề, mà phải "dụng nhân như dụng mộc", thấy đượcchỗ tốt chỗ xấu của cán bộ mà đặt đúng người, đúng việc; tùy tài mà dùng người,
từ đó để nâng chỗ tốt, sửa chỗ xấu "Khéo" sử dụng cán bộ sẽ mang lại hiệu quả
to lớn cho cách mạng Hồ Chí Minh xác định: Mục đích "khéo" dùng cán bộ, cốt
để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và của Chính phủ Nếu cán bộ có ýhoang mang, sợ hãi, buồn rầu, uất ức hoặc công tác không tác không hợp, thìcông việc cách mạng không thể thành công được
Trang 25Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, muốn dùng người đúng thì trước tiênchủ thể dùng người phải có tư cách đạo đức và thái độ đúng đắn, phải có cáitâm trong sáng và phương pháp đúng Đó là họ phải tránh cho được các bệnh:
“ham dùng” người bà con, anh em quen biết, bầu bạn; ham dùng những kẻkhéo nịnh hót mà chán ghét những người chính trực; ham dùng những ngườitính tình hợp với mình, mà tránh những người, những người không hợp vớimình Vì những bệnh đó, kết quả những người kia đã làm bậy, mình cũng cứbao dung, che chở, bảo hộ, khiến cho chúng càng ngày càng hư hỏng Đối vớinhững người chính trực thì bới lông tìm vết để trả thù Như thế cố nhiên làhỏng cả công việc của Đảng, hỏng cả danh giá của người lãnh đạo
Để dùng đúng cán bộ, người lãnh đạo phải có lòng khoa dung độ lượng,không thành kiến, gần gũi, vui vẻ, hòa đồng giao tiếp với tất cả mọi người kể
cả những người không ưa; sẵn lòng chỉ bảo nâng đỡ người kém, giúp họ tiếnbộ; sáng suốt nhận ra những kẻ xấu vu oan cho cán bộ tốt Cách dùng cán bộ,hay nghệ thuật dùng cán bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức khéo léo, tinhtường Bởi vì, Chủ tịch Hồ Chí Minh có cái nhìn bao quát và cụ thể Sử dụngcán bộ trước hết xem xét cán bộ ấy xứng với việc gì và yêu cầu đặt đúngngười đúng việc Ta phải dùng chỗ hay và giúp người sửa chữa chỗ dở Chủtịch Hồ Chí Minh đã nêu lên ví dụ về việc dùng cán bộ chưa đúng Thí dụ:
“Thợ rèn thì bảo đi đóng tủ”, “thợ mộc thì bảo đi rèn dao” Thành thử cả haingười đều lúng túng, nếu biết tùy tài mà dùng thì hai người đều thành công.Một cán bộ mà được sắp xếp đúng sở trường, đúng nghề, đúng với sở thíchthì người ấy sẽ làm công việc một cách dễ dàng, nhẹ nhàng nhưng lại đạt chấtlượng tốt, hiệu quả cao, mang đến cho họ đầy hứng thú để đi đến sáng tạo.Còn ngược lại, những cán bộ bị bố trí phân công không đúng sở trường, sởthích, chuyên môn nghiệp vụ, thì sẽ thấy vất vả, khó khăn, mất nhiều thời giancông sức, không hứng khởi, dễ chán nản, bỏ bê công việc đạt kết quả cuốicùng không tốt Cho nên, chủ thể sử dụng cán bộ phải thấy rõ mặt mạnh, ưu
Trang 26điểm, tài năng của cán bộ để phát huy và nhìn rõ mặt yếu, hạn chế của cán bộ
để giúp đỡ, uốn nắm, khắc phục Hồ chí Minh cho rằng không ai cái gì cũngtốt, cái gì cũng hay Vì vậy, chúng ta phải khéo dùng người, sửa chữa nhữngkhuyết điểm của họ
Nhưng “từ trước đến nay Đảng ta chưa thực hành cách thường xuyênxem xét cán bộ Đó là một khuyết điểm to
Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Trước khi trao công tác phải bàn kỹ vớicán bộ, nếu họ không gánh nổi, chớ miễn cưỡng trao việc đó cho họ Bởi vìnếu “lãnh đạo khéo” thì tài nhỏ có thể hóa ra tài to, còn “lãnh đạo khôngkhéo” thì tài to cũng hóa ra tài nhỏ
"Khéo" dùng cán bộ là phải tin tưởng vào cán bộ, tin vào năng lực phẩmchất của họ Trên cơ sở lòng tin đối với cán bộ mà mạnh dạn trao việc cho họ
“thả cho họ làm” và “thả cho họ phụ trách”, dù sai lầm ít cũng không sợ Từchỗ được tin dùng, người cán bộ sẽ thấy phấn chấn, thấy có trách nhiệm hơnđối với công việc, luôn tìm bằng mọi cách để thực hiện và hoàn thành côngviệc Nhưng mặt khác, tin tưởng giao việc cho cán bộ không có nghĩa là phóthác buông trôi, bỏ mặc, vô trách nhiệm, mà không làm cho cán bộ ỷ lại, thụđộng, giúp họ phát huy năng lực của mình
"Khéo" dùng cán bộ, cũng có nghĩa là tạo điều kiện, cơ hội, khuyếnkhích cán bộ phát huy dân chủ và tinh thần trách nhiệm của mình Đó là
“khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến” Người cán bộ lãnh đạomuốn biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của mình, muốn biết công tác củamình tốt hay xấu, không gì bằng khuyên cán bộ mình mạnh bạo đề ra ýkiến và phê bình Như thế chẳng những không phạm gì đến uy tín củangười lãnh đạo mà lại tỏ ra dân chủ thật thà trong Đảng Nếu cán bộ khôngnói năng, không đề ý kiến, không phê bình, thậm chí lại tâng bốc mình, thế
là một hiện tượng rất xấu Vì không phải họ không có gì nói, nhưng vì họkhông dám nói, họ sợ Thế là mất hết dân chủ trong Đảng "Thế là nội bộ
Trang 27của Đảng âm u, cán bộ trở nên những cái máy, trong lòng uất ức, khôngdám nói ra, do uất ức mà hóa ra oán ghét, chán nản" [45, tr.280], khiến chocán bộ có gan phụ trách, có gan làm việc Tin tưởng vào cán bộ, vào nănglực của họ Người lãnh đạo không nên tự tôn tự đại mà phải nghe, phải hỏi
ý kiến của cấp dưới Hồ Chí Minh nêu rõ: "Khéo" sử dụng cán bộ là làmcho họ dám phát biểu ý kiến về những đúng sai của người, của việc, dám
đề xuất ý kiến riêng của mình, mạnh dạn đảm nhiệm phụ trách công việc,
tự nguyện, hăng hái làm việc Như thế là một thành công của Đảng”, “nếuđào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo "đập đi, hò đứng", không dám phụtrách Như thế là một việc thất bại cho Đảng” [45, tr.281]
Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở: Người lãnh đạo phải tin tưởng cán bộ,không nên quá ôm đồm, “nhúng vào”, chi phối mọi việc, mà phải để bên dưới
tự chủ, sáng tạo thực hiện công việc Việc gì cũng "nhúng" vào, thì cán bộnhư một cái máy, việc gì cũng chờ mệnh lệnh, sinh ra ỷ lại, mất hết sáng kiến.Người lãnh đạo cần phải nghe theo ý kiến đúng, thừa nhận lời phê bình củacấp dưới, nếu ý kiến cấp dưới đúng, cấp trên không nên của trách, giễu cợt mànên vui vẻ giải thích cho họ hiểu và động viên họ tiếp tục phê bình và “đểthêm ý kiến”
"Khéo" dùng cán bộ, còn thể hiện ở chỗ kết hợp hài hòa giữa cán bộ già
và cán bộ trẻ Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
Hiện nay, trong đội ngũ cán bộ của Đảng có cán bộ già, cócán bộ trẻ Cán bộ già là vốn quý của Đảng, họ có kinh nghiệm vềmặt lãnh đạo, được rèn luyện, thử thách nhiều trong thực tế đấutranh Nhưng cũng có một số cán bộ già đến một thời kỳ nào đấy làdừng lại, không tiến lên được, hay bám lấy cái cũ, không nhạy cảmvới cái mới Còn cán bộ trẻ tuy chưa có một số ưu điểm như cán bộgià, nhưng họ lại hăng hái, nhạy cảm với cái mới, chịu khó học tập,cho nên tiến bộ rất nhanh [50, tr.469]
Trang 28Hồ Chí Minh yêu cầu: "Trong lãnh đạo cần có già, có trẻ Đảng cần cán
bộ già, đồng thời, rất cần nhiều cán bộ trẻ Đảng phải khéo kết hợp cán bộ giàvới cán bộ trẻ Không nên coi thường cán bộ trẻ" [52, tr.211] Hồ Chí Minhcũng phê phán nhận thức sai lầm của một số cán bộ già đối với cán bộ trẻ.Người nói: "Một số cán bộ già hay mắc bệnh công thần, cho mình là người cócông lao, hay có thái độ "cha chú" với cán bộ trẻ, đảng viên trẻ nói gì cũnggạt đi, cho là "trứng khôn hơn vịt", "măng mọc quá tre" [52, tr.211] Ngườicho rằng: "Thời đại của ta hiện nay rất oanh liệt, xã hội, thế giới phát triển rấtnhanh Thế mà các đồng chí lớn tuổi lại coi thường cán bộ trẻ là không đúng.Còn cán bộ trẻ không được kiêu ngạo, phải khiêm tốn học hỏi các đồng chígià có kinh nghiệm" [52, tr.211] Đó là cái nhìn nhận tinh tế thật mới mẻ,nhạy cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cho nên đã phát huy được ưu điểm vàhạn chế, khắc phục nhược điểm của cả hai loại cán bộ già và trẻ; đồng thời kếthợp được hai loại cán bộ cho hài hòa
Đối với cán bộ nữ, Người cũng nhận thức sâu sắc vị trí xã hội của họ vàcoi công tác cán bộ nữ là khâu rất quan trọng của phong trào cách mạng, làthước đo mức độ giải phóng của phụ nữ, là biểu hiện văn minh của chế độ xãhội chủ nghĩa Bởi vì không giải phóng phụ nữ thì xây dựng chủ nghĩa xã hộichỉ có “một nửa” Người đánh giá cao vai trò của phụ nữ "Non sông gấm vócViệt Nam do phụ nữ ta trẻ cũng như già thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực rỡ".Người yêu cầu các cấp, cách ngành cần tạo điều kiện cho phụ nữ học tập vàlàm việc; đồng thời mạnh dạn đưa phụ nữ vào các cương vị lãnh đạo vànhững vị trí thích hợp với khả năng, giới tính, sức khỏe của phụ nữ Phải cóchính sách ưu tiên và đãi ngộ thích đáng đối với cán bộ nữ hoạt động lâu năm,những cán bộ công tác ở vùng sâu, vùng xa
Chỉ sau vài tháng khi đất nước vừa giành được độc lập, Hồ Chí Minh đã
ra lời kêu gọi “nhân tài và kiến quốc” Người viết:
Nước nhà cần phải kiến thiết, kiến thiết cần phải có nhân tài.Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài có đức
Trang 29E vì Chính phủ không nghe, không đến, thấy không khắp, đếnnỗi nơi những bực tài đức không thể xuất thân Khuyết điểm đó tôixin thừa nhận Nay muốn sửa đổi điều đó, và trọng dụng những kẻhiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tàiđức, có thể làm những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngaycho chính phủ biết [44, tr.451].
Có thể xem đây là “chiếu cầu hiền tài” của Hồ Chí Minh Chính vì khéo
sử dụng cán bộ, mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tập hợp được mộtđội ngũ cán bộ đủ sức gánh vác công việc cách mạng và hoàn thành xuất sắcnhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó
1.2.2.2 Cất nhắc cán bộ
Khi lãnh đạo công cuộc xây dựng nước Nga theo con đường chủ nghĩa
xã hội, Lênin đặc biệt coi trọng đào tạo, bố trí và cất nhắc cán bộ Lênin chămchú phát hiện những chiều hướng, những cán bộ tốt hàng ngày, hằng giờ mớinảy sinh Lênin cho rằng: Những chiều hướng tốt là đấu tranh thắng lợi chốngchủ nghĩa quan liêu, chú ý cao độ đến nhu cầu của công nhân và nông dân, vôcùng lo lắng đến việc khôi phục kinh tế, tăng năng suất lao động, phát triển sựtrao đổi địa phương giữa nông nghiệp và công nghiệp Những chiều hướng tốtnày tuy nhiều hơn chiều hướng xấu, nhưng vẫn còn là hiếm Song, nhữngchiều hướng này vẫn có Có được những chiều hướng đó là nhờ ở khắp cácđịa phương những cán bộ cộng sản trẻ đầy sinh lực đã và đang được đào tạo.Theo Lênin, cần phải chú trọng trong đào tạo và đề bạt những cán bộ trẻ đómột cách có hệ thống từ dưới lên trên Đây chính là một quá trình, một quytrình đào tạo, đề bạt cán bộ có hiệu quả và khoa học Lênin viết:
Chúng ta phải chú ý tìm cho ra và thử thách một cách hết sứcnhẫn nại, hết sức thận trọng những người có tài tổ chức, nhữngngười có bộ óc sáng suốt và có bản lĩnh tháo vát trong thực tiễn,những người vừa trung thành với chủ nghĩa xã hội vừa có năng
Trang 30lực Chỉ có những người như thế chúng ta mới đề bạt lên nhữngchức vụ lãnh đạo lao động của nhân dân, lên những chức vụ lãnhđạo quản lý, sau khi đã thử thách họ hàng chục lần bằng cách cho
họ đảm nhận từ những nhiệm vụ đơn giản nhất đến những nhiệm vụkhó khăn nhất [32, tr.236- 237]
Trong việc sử dụng cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú ý đến việccất nhắc, đề bạt cán bộ, bởi nó liên quan đến sự nghiệp của một đời người,cho nên Người yêu cầu: Cất nhắc cán bộ phải làm hết sức thận trọng và phảilàm cho đúng Nếu cất nhắc không cẩn thận, không khỏi đem những ngườikhông có năng lực chỉ biết nói mà không biết làm vào những vị trí lãnh đạo.Như thế rất có hại Cất nhắc cán bộ phải căn cứ vào công tác, tài năng và cấtnhắc cán bộ đúng làm cho các đồng chí khác thêm hăng hái, như vậy côngviệc sẽ được hoàn thành tốt
Trong quá trình cất nhắc cán bộ, còn phải xem xét cách nói cách viết,cách sinh hoạt của họ, xem có đúng với việc làm hàng ngày của họ haykhông? xem xét họ trong mối quan hệ với mọi người, với đồng chí, đánh giá
ưu điểm và khuyết điểm của họ, xét cả quá trình công tác cống hiến của họ.Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở, cất nhắc cán bộ đúng lúc đúngviệc thì giúp ích cho công việc của cách mạng và phát huy, nâng cao được tàinăng cũng như sự cống hiến của cán bộ
Cất nhắc cán bộ, phải dựa trên cơ sở công tác tốt, có tài năng, có phẩmchất đạo đức xứng đáng và nhằm động viên, cổ vũ cho các cán bộ khác tíchcực phấn đấu Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu trước khi cất nhắc cán bộ phảinhận xét rõ ràng, toàn diện về mọi mặt: Xem xét từ “công tác” đến “cách sinhhoạt” của cán bộ, xem xét sự nhất quán của “cách viết”, “cách nói”, “cáchlàm”, xem xét cách họ đối sử với ta và với người khác Khi nhận xét của mọingười về họ, có hiểu biết rõ ràng, toàn diện và đánh giá một cách khách quan,trung thực về cán bộ thì mới có thể “cất nhắc cán bộ một cách đúng mực”
Trang 31Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Người viết rõ:
Cất nhắc cán bộ, không nên làm như "giã gạo" nghĩa là trướckhi cất nhắc không xem xét kỹ Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ.Khi họ sai lầm thì đẩy xuống, chờ lúc họ làm khá, lại cất nhắc lên.Một cán bộ bị nhấc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời Đốivới cán bộ chẳng những phải xem xét rõ ràng trước khi cất nhắc Màsau khi đã cất nhắc phải giúp đỡ họ, khuyên gắng họ, vun trồng lòng
tự tin, tự trọng của họ [45, tr.282]
Theo Người, việc cất nhắc, đề bạt cán bộ phải xuất phát "vì công tác, vìtài năng" Nếu không làm như vậy "nhất định không ai phục mà lại gây nênmối lôi thôi trong Đảng" và "như thế là có tội với Đảng, có tội với đồng bào"
Đối với việc cất nhắc, đề bạt cán bộ ở những cương vị phụ trách, lãnhđạo cao, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: Phải thận trọng, chính xác vì đốivới những người đó, phạm vi phụ trách càng rộng, quyền hạn phụ trách cànglớn thì tác động và ảnh hưởng sẽ càng nhiều Do đó, "nếu cất nhắc không cẩnthận, không khỏi đem người bô lô ba la, chỉ nói mà không biết làm, vàonhững địa vị lãnh đạo Như thế rất có hại" [45, tr.274]
và sẽ thực hiện được một sự nghiệp có ý nghĩa toàn quốc trọng yếunhiều hơn là giữ một chức vụ nào đó ở Trung ương [36, tr.284].Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh không đề cập đến khái niệm luân chuyểncán bộ, nhưng những nội dung mà người quan tâm về vấn đề cán bộ lại hàm
Trang 32chứa nội dung của khái niệm này Người lưu ý tới hai loại cán bộ: cán bộ từTrung ương phái đến địa phương và cán bộ của địa phương Người đòi hỏiphải khắc phục bệnh hẹp hòi và tăng cường đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữahai loại cán bộ đó, Người cho rằng:
Cũng vì bệnh hẹp hòi mà cán bộ cấp trên phái đến và cán bộđịa phương không đoàn kết chặt chẽ Cán bộ phái đến, trình độthường cao hơn, kinh nghiệm nhiều hơn Nhưng cán bộ địa phươnglại biết rõ nhân dân, quen thuộc công việc hơn Hai hạng cán bộ phảigiúp đỡ nhau, bồi đắp nhau, thì công việc mới chạy [45, tr.236] Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, bệnh hẹp hòi rất nguy hiểm “chỉ có biết
bộ phận mình mà quên cả Đảng”, từ căn bệnh hẹp hòi mà nảy sinh nhiều cănbệnh khác như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân
Do vậy, trong thực hiện việc luân chuyển cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắcnhở phải chống bệnh ích kỷ, bệnh địa phương, không muốn tiếp nhận cán bộđược phái tới, cũng không muốn cấp trên điều động cán bộ, hoặc khi điềuđộng thì chỉ đùn đẩy những cán bộ kém ra Chính vì thế “Bệnh địa phương
đó, phải tẩy cho sạch” [45, tr.237]
1.2.2.4 Yêu thương cán bộ
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” Hồ Chí Minh viết: Không phảivài ba tháng hoặc vài ba năm mà đào tạo được một người cán bộ tốt Nhưngcần phải công tác, tranh đấu, huấn luyện lâu năm mới được Trái lại, trong lúctranh đấu, rất dễ mất một người cán bộ Vì vậy, Đảng phải thương yêu cán bộ.Theo Hồ Chí Minh: “Thương yêu cán bộ không phải là vỗ về, nuông chiều, thảmặc Thương yêu cán bộ là giúp cho họ học tập thêm, tiến bộ thêm” [45, tr.283].Người cho rằng: Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi Thếgiới ngày càng đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên người cán bộphải không ngừng học tập để tiến bộ Nội dung học tập theo Hồ Chí Minh,bao gồm học lý luận, học chuyên môn, học văn hóa
Trang 33Học lý luận là để dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạngViệt Nam, đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng; có lậptrường giai cấp vô sản vững chắc, có giác ngộ về chủ nghĩa xã hội cao; rửasạch chủ nghĩa cá nhân, rèn luyện chủ nghĩa tập thể, khắc phục được các bệnhquan liêu hẹp hòi, liên hệ chặt chẽ với quần chúng.
Học chuyên môn, mỗi người cán bộ cần phải biết một nghề, làm việc gì,học nghề ấy, làm nghề gì phải thạo nghề ấy, thông thạo lĩnh vực đó
Học văn hóa là để nâng cao trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn,nghiệp vụ, lý luận chính trị Trong đó nhận thức về chính trị là yếu tố cốt lõi
Hồ Chí Minh nói: "Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng như một mắtsáng, một mắt mờ" [45, tr.234]
Thương yêu cán bộ là luôn chú ý đến công tác của họ, luôn hỏi han họ,
hễ họ có khuyết điểm thì giúp họ sửa chữa ngay Để vun trồng cái thói có ganphụ trách, có gan làm việc của họ Đồng thời, phải nêu rõ những ưu điểm,những thành công của họ Làm như thế không phải là làm cho họ kiêu căng,
mà cốt làm cho họ thêm hăng hái, thêm gắng sức Phải vun đắp chí khí cho
họ, để đi đến chỗ “bại không nản, thắng không kiêu” “Lúc phê bình họ ta chớ
có thái độ gay gắt Lúc khen ngợi họ, ta phải cho họ hiểu rằng: Năng lực củamỗi người đều có giới hạn, tuy có thành công cũng chớ kiêu ngạo Kiêu ngạo
là bước đầu của thất bại” [45, tr.283] Đối với những cán bộ có sai lầm thìngười lãnh đạo tìm cách đúng để giúp cán bộ sửa chữa sai lầm và khuyếtđiểm Hồ Chí Minh viết: " Từ những người cố ý phá hoại, ngoài ra không ai
cố ý sai lầm, sai lầm là vì không hiểu, không biết.Vì vậy, đối với cán bộ bị sailầm,ta quyết không nên nhận rằng họ muốn như thế,mà công kích họ.Trái lại,
ta phải dùng thái độ thân thích giúp họ tìm ra cái cớ vì sao mà sai lầm ? Sailầm như thế sẽ có hại đến công việc thế nào ? Làm thế nào mà sửa chũa ?.Tóm lại phải phê bình cho đúng Muốn họ thành tâm sửa chữa, phải giải thích
rõ ràng,làm cho họ tự trông thấy, tự nhận rõ sai lầm đó, làm cho họ vui lòng
Trang 34sửa đổi, chứ không phải bị cưỡng bức mà sửa đổi Sự sửa đổi khuyết điểm,một phần cố nhiên là trách nhiệm của cán bộ đó Nhưng một phần cũng làtrách nhiệm của người lãnh đạo" [45, tr283] Về phương pháp để sửa chữa sailầm, khuyết điểm, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Cố nhiên không cần dùng cách giảithích thuyết phục, cảm hóa, dạy bảo Song không phải tuyệt nhiên khôngdùng sử phạt Lầm lỗi có việc to, việc nhỏ Nếu nhất luật không xử phạt thì
sẽ mất cả kỉ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại Vì vậy, hoàn hoànkhông dùng xử phạ là không đúng Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũngkhông đúng Cầm phải phân tích rõ ràng cái cớ sai lầm, phải xét kỹ lưỡngviệc nặng hay nhẹ, phải dùng xử phạt cho đúng" [45, tr.284] Hồ Chí Minhnhận định: "Phê bình đúng chẳng những không làm giảm thể diện và uy tíncủa cán bộ, của Đảng Trái lại còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiếtthực hơn, qua đó mà uy tín và thể diện càng tăng thêm " [45, tr.284] Qua
đó, chúng ta thấy rõ tư tưởng nhân văn cao cả của Hồ Chí Minh đối với conngười nói chung, đối với cán bộ nói riêng Yêu thương cán bộ là giúp họgiải quyết những khó khăn trong sinh hoạt, bao gồm cả vật chất lẫn tinhthần, phải tạo điều kiện cho cán bộ có cuộc sống đầy đủ mà làm việc Khi
họ đau ốm, phải có thuốc thang Tùy theo hoàn cảnh mà giúp họ giải quyếtnhững vấn đề gia đình, làm tốt công tác sinh hoạt, đời sống hàng ngày, giúpcho cán bộ công tác tốt hơn Người đã nhiều lần nhắc nhở cán bộ tổ chứckhông được dùng cán bộ theo lối “vắt chanh bỏ vỏ” mà phải chăm lo bồidưỡng cán bộ cả về vật chất lẫn tinh thần, cả về trình độ chuyên môn vàđạo đức và cả cuộc sống đời thường
Có thể nói thương yêu cán bộ là tư tưởng hết sức đúng đắn của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong đánh giá, sử dụng cán bộ, bởi Người cho rằng: Mỗi ngườiđều có thiện và ác trong lòng Ta phải làm cho phần tốt trong mỗi con ngườinẩy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi Đó là thái độ của ngườicách mạng
Trang 35Ngày nay, trong thực tiễn vẫn còn hiện tượng lợi dụng sai lầm, khuyếtđiểm của cán bộ để trù dập cán bộ, làm cho họ bất mãn…đây là điều tuyệt đốitránh trong công tác cán bộ Cho nên người lãnh đạo phải có cái nhìn đúngđắn, hiểu biết cán bộ rõ ràng trước khi đề bạt, sau khi đề bạt cần tiếp tục “giúp
đỡ họ”, “vun trồng lòng tự tin, tự trọng của họ để họ luôn hăng hái, nẩy nởtích cực, sáng tạo trong công tác”
Trên đây là những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đánhgiá, sử dụng cán bộ Đồng thời cũng là cơ sở lý luận cơ bản để nhìn nhận,đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
cơ sở nói riêng, nhằm rút ra những bài học kinh nghiệm về những việc đã làmđược và những điểm còn tồn tại trong công tác cán bộ của địa phương
Trang 36Chương 2 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÁNH GIÁ, SỬ DỤNG CÁN BỘ CHỦ
CHỐT CẤP CƠ SỞ TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY
THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
2.1 NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ
Đơn vị hành chính của tỉnh có 9 huyện, 1 thành phố, với 230 xã,phường, thị trấn, trong đó có 7 huyện miền núi (có 1 huyện miền núi đặc biệtkhó khăn), 172 xã miền núi trong đó có 44 xã đặc biệt khó khăn Dân số toàntỉnh tính đến thời điểm năm 2009 là 1.555.720 người, mật độ dân số bìnhquân khoảng 407người/km2, gấp 1,7 lần mật độ dân số bình quân cả nước.Dân cư trong tỉnh phân bố không đều, dân số ở nông thôn chiếm tỷ lệ cao90,8%, dân số thành thị có 9,2% Toàn tỉnh có 26 dân tộc thiểu số sinh sống,trong đó dân tộc Kinh chiếm 88,1%, tiếp đó là dân tộc Nùng chiếm 4,5%, Tày2,6%, Sán Chay và người Sán Dìu, mỗi dân tộc 1,6%, người Hoa 1,2% ngườiDao 0,5% Cũng như tình hình chung của cả nước, lực lượng lao động của
Trang 37tỉnh Bắc Giang tương đối phong phú, chiếm 70,4% dân số Mặc dầu sựnghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo đã được hơn hai chục năm, song tỉnh vẫnchưa sử dụng hết số lao động hiện có, hàng năm còn khoảng hơn 5% lao độngkhông có việc làm, hoặc việc làm không ổn định.
Bắc Giang là vùng đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng vớinhững địa danh đã ghi vào lịch sử của dân tộc Việt Nam, như Xương Giang,Cầu Trạm, Phồn Xương, Yên Thế Nhân dân các dân tộc trong tỉnh BắcGiang có truyền thống đoàn kết, dũng cảm trong chiến đấu, cần cù chịu khó,sáng tạo, tự lực, tự cường trong lao động sản xuất Từ khi có Đảng lãnh đạo,nhân dân Bắc Giang đã sớm giác ngộ, đi theo Đảng làm cách mạng Đặc biệt,Bắc Giang có An toàn khu II (huyện Hiệp Hòa) là cơ sở cách mạng tin cậycủa Đảng trong thời kỳ hoạt động bí mật Trong hai cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã có nhiềuđóng góp về sức người, sức của, cùng với quân và dân cả nước giành độc lập,
tự do, thống nhất đất nước
Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong công cuộcđổi mới hiện nay, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Bắc Giang luôn nỗ lựcphấn đấu và giành được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần cùng cả nướckhắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, đưa đất nước vững chắc đi lên trêncon đường đổi mới
Bắc Giang cũng là vùng văn hóa dân gian đặc sắc và phong phú về cadao, dân ca, tục ngữ, truyền thuyết dân gian, làng quan họ còn lưu truyềncho đến ngày nay; là vùng đất có truyền thống hiếu học và khoa bảng, đã sảnsinh và đóng góp nhiều nhân tài cho đất nước; là nơi sớm hình thành các làngnghề thủ công truyền thống, đặc sản nông nghiệp có giá trị như gốm Thổ Hà,bánh Đa Kế, bún Đa Mai, rượu Làng Vân, dưa Sàn, cam Bố Hạ, mì Chũ, vảiThiều Lục Ngạn
Trang 38Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Đảng bộtỉnh Bắc Giang đã lãnh đạo các tầng lớp nhân dân phát huy truyền thống đoànkết và cách mạng của quê hương, giành thắng lợi toàn diện các nhiệm vụchính trị đề ra Nền kinh tế của tỉnh tiếp tục ổn định và có bước tăng trưởngkhá Giá trị sản phẩm xã hội (GDP) thời kỳ 2002 - 2005 tăng bình quân hàngnăm 6,9% (bình quân đạt 2.319 tỷ đồng), năm 2006 tốc độ tăng trưởng kinh tếđạt 9,5% (trong đó nông - lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,3%, công nghiệp -xây dựng tăng 21,5%, dịch vụ tăng 9,7%) Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịchtheo hướng tích cực; tỷ trọng nông - lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giảm từ43,5% (năm 2005) xuống còn 40,6% (năm 2006); công nghiệp và xây dựngtăng từ 22% (năm 2005) lên 25,1% (năm 2006); dịch vụ chiếm 34,3%.
Về sản xuất nông nghiệp: Năm 2009, tổng sản lượng lương thực quy rathóc đạt 620.000 tấn, đạt mục tiêu đề ra và tăng 20.000 tấn so với năm 2005;lương thực bình quân đầu người 396kg, vượt 26kg so với mục tiêu Giá trị sảnxuất trên đơn vị diện tích đất nông nghiệp đạt 47 triệu đồng/ha/năm, vượt 13triệu đồng so với mục tiêu và tăng 1,8 lần so với năm 2005 Sản xuất côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp của tỉnh tuy bé, song tiếp tục ổn định và có mứctăng trưởng khá; tốc độ tăng bình quân hàng năm của công nghiệp địa phươnggiai đoạn 2006-2009 đạt 32,6% Kinh tế đối ngoại tăng đáng kể Hoạt độngthương mại, dịch vụ có bước tiến bộ; trong đó thương mại, dịch vụ ở thànhphố, thị trấn và chợ các cụm dân cư tập trung phát triển và mở rộng, đã gópphần thúc đẩy giao lưu hàng hóa, phục vụ tốt hơn nhu cầu sản xuất và tiêudùng của nhân dân
Hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh có bước phát triển mới, làm tăngthêm cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất, đời sống nhân dân đượcnâng cao Các thành phần kinh tế được khuyến khích phát triển đúng; kinh tếNhà nước được quan tâm, bố trí sắp xếp lại, trong đó có khoảng 80% doanhnghiệp đã sản xuất kinh doanh có lãi; kinh tế hợp tác xã có bước chuyển biến,
Trang 39toàn tỉnh có 102 hợp tác xã nông nghiệp, 71 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp,
41 hợp tác xã trong lĩnh vực khác
Về lĩnh vực văn hóa - xã hội có bước chuyển biến tiến bộ, đời sốngnhân dân ở nhiều địa phương được cải thiện Sự nghiệp giáo dục đào tạo,khoa học - công nghệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm, chỉ đạo vàđạt một số thành tựu mới Các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể thườngxuyên quan tâm chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ an ninh - quốc phòng, côngtác bảo vệ chính trị nội bộ, tập trung giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranhchấp trong nhân dân, ngăn ngừa tội phạm, đấu tranh chống các tệ nạn xã hội,không để sảy ra các “điểm nóng”, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị và trật
tự an toàn xã hội trên địa bàn
2.1.1.2 Tình hình đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Giang
Sự hình thành và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và độingũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nói riêng của tỉnh Bắc Giang thuận theo dòngchảy của cách mạng cả nước, đồng thời chịu sự quy định của những đặc điểm
tự nhiên - xã hội đã tác động trực tiếp tới đội ngũ cán bộ cấp cơ sở của tỉnh.Nhìn chung từ trước tới nay, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của tỉnh BắcGiang được hình thành từ nhiều con đường khác nhau, nhưng tựu chung lại,
họ được hình thành từ những con đường chủ yếu sau đây:
Một là, phần lớn các cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của tỉnh Bắc Giang xuất
phát từ nông thôn, có trình độ học vấn không cao, nhưng được sự tín nhiệmcủa nhân dân trong các làng, thôn và trở thành cán bộ cấp ủy, chính quyềntrực thuộc cơ sở Sau một thời gian tham gia công tác, một số cán bộ trưởngthành ở các xã, phường, thị trấn Ở cương vị này, họ tiếp tục phấn đấu, họctập, nâng cao trình độ, chuẩn hóa về bằng cấp, đáp ứng yêu cầu theo quy định
và dần trở thành cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
Hai là, phần đông cán bộ được hình thành sau khi thôi học phổ thông,
họ được vào làm việc trực tiếp ở những vị trí chuyên môn, bán chuyên trách,
Trang 40chuyên trách của bộ máy chính quyền cơ sở Trong quá trình công tác, họđược đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, về lý luận chính trị vàchuyển đổi bằng cấp để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ theo quy định; và trong sốnày họ được bầu vào các chức danh cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn.
Ba là, một bộ phận không nhỏ cán bộ được hình thành từ những người
lính sau khi xuất ngũ về địa phương, hoặc một số cán bộ công tác tại các cơquan, đơn vị khác, do các điều kiện khác nhau đã trở về quê hương sinh sống.Những hiểu biết về xã hội nói chung, lối sống, chuẩn mực đã giúp họ có uytín trước nhân dân và chính quyền cơ sở
Bốn là, một số ít cán bộ được hình thành từ học sinh, sinh viên đã tốt
nghiệp trong các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng Sau khi ratrường, họ vào làm việc tại Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dâncác xã, phường, thị trấn Trình độ, kiến thức, sự nhanh nhạy trong tiếp cận vớicái mới của họ được phát huy dần dần, họ đảm đương tốt các vị trí quan trọngtrong hệ thống chính quyền cơ sở, một bộ phận đã trở thành cán bộ chủ chốtcấp xã, phường, thị trấn
Năm là, một số ít cán bộ chủ chốt cơ sở của tỉnh Bắc Giang được hình
thành do sự luân chuyển, điều động cán bộ từ nơi khác đến Một số xãphường, thị trấn có những lý do như trì trệ trong phát triển kinh tế - xã hội;mất đoàn kết nội bộ; đội ngũ cán bộ chủ chốt yếu… Cho nên, để đáp ứng vaitrò lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ chủ chốt, đảm bảo hoàn thànhnhiệm vụ chính trị của đơn vị, cấp trên (huyện, thành phố trực thuộc tỉnh)quyết định luân chuyển các đồng chí ở nơi khác về đảm nhiệm các chức danhcán bộ chủ chốt ở các xã, phường, thị trấn
Thực hiện các Nghị định số 114/2003/NĐ-CP, 121/2003/NĐ-CP củaChính phủ về công chức xã, phường, thị trấn và chính sách đối với công chức
xã, phường, thị trấn; Kết luận số 62 của Trung ương ngày 01-9-2004 của BanThường vụ Tỉnh ủy Bắc Giang về chức danh, số lượng, tiêu chuẩn, chế độ,