1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

6.4.Báo cáo kết quả công tác Thú y năm 2021 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2022

14 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 147 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Căn cứ quy định của Luật Thú y, các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã kịp thời ban hành hơn 20 văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các địa phương triển

Trang 1

Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2021

BÁO CÁO KẾT QUẢ CÔNG TÁC THÚ Y NĂM 2021

VÀ NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM 2022

(Tài liệu phục vụ Hội nghị tổng kết năm 2021 ngành Nông nghiệp và PTNT)

I KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH NĂM 2021

1.1 Công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm

- Tổ chức xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ các văn bản đặc biệt quan trọng gồm: Công điện số 163/CĐ-TTg ngày 08/02/2021 về phòng, chống Cúm gia cầm (CGC); Công điện số 631/CĐ-TTg ngày 17/5/2021 về phòng, chống Viêm da nổi cục (VDNC); Quyết định số 1814/QĐ-TTg ngày 08/10/2021 phê duyệt “Kế hoạch quốc gia phòng, chống bệnh Viêm da nổi cục trên trâu, bò, giai đoạn 2022 - 2030”; Quyết định của Thủ tướng chính phủ phê duyệt “Chương trình quốc gia phòng, chống bệnh Dại, giai đoạn 2022 – 2030” Như vậy, đến nay đã có tương đối đầy đủ các Chương trình, Kế hoạch quốc gia phòng, chống các dịch bệnh gia súc, gia cầm nguy hiểm (CGC, Dịch tả lợn Châu Phi, Lở mồm long móng, VDNC) là cơ sở quan trọng để thực hiện đến năm 2025 - 2030

- Căn cứ quy định của Luật Thú y, các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã kịp thời ban hành hơn 20 văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các địa phương triển khai các nhiệm vụ thú y, đặc biệt trong công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm Tổ chức hơn 20 hội nghị, hội thảo quốc gia để quán triệt, chỉ đạo tổ chức triển khai các nhiệm vụ thú y; đồng thời thành lập hơn 80 đoàn công tác đến các địa phương trọng điểm để chỉ đạo về phòng, chống dịch bệnh động vật

a) Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP)

Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay, cả nước xảy ra 3.029 ổ dịch

tại 405 huyện thuộc 59 tỉnh, thành phố Tổng số lợn tiêu hủy là 279.910 con, chiếm khoảng 0,99% tổng đàn lợn cả nước, tương đương hơn 11.678 tấn

Hiện nay, cả nước có 761 ổ dịch tại 212 huyện của 47 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày

Nhận định tình hình dịch: Nguy cơ bệnh DTLCP tái phát và phát sinh là

rất cao, do: (i) Đặc điểm của vi rút DTLCP rất nguy hiểm đối với lợn, có khả năng tồn tại lâu ngoài môi trường, đường lây truyền rất phức tạp; (ii) Hiện chưa

có thuốc, vắc xin phòng bệnh; (iii) Chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm tỷ lệ lớn, chưa đảm bảo các yêu cầu chăn nuôi an toàn sinh học; (iv) Việc buôn bán, vận chuyển lợn, sản phẩm lợn gia tăng mạnh vào các tháng cuối năm và dịp Tết Nguyên đán; (v) Thời tiết đang trong giai đoạn giao mùa, mưa lũ, rét đậm ; (vi)

Trang 2

Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, đặc biệt tại các địa phương thực hiện giãn cách xã hội, nên việc quản lý, đăng ký kê khai tái đàn từ cấp xã thực hiện chưa tốt, một bộ phận người chăn nuôi còn chậm báo cáo dịch

b) Bệnh Viêm da nổi cục (VDNC)

Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm 2021 đến nay, cả nước đã xảy ra 4.329

ổ dịch tại 456 huyện 55 tỉnh, thành phố; số gia súc mắc bệnh là 206.953 con trâu, bò (chiếm tỷ lệ 0,02% tổng đàn) Số gia súc bị chết và tiêu hủy là 29.047 con (chiếm tỷ lệ 0,003%)

Hiện nay, cả nước có 58 ổ dịch tại 27 huyện của 11 tỉnh, thành phố chưa qua 21 ngày; Số gia súc mắc bệnh là 4.645 con, số gia súc tiêu hủy là 864 con

Nhận định tình hình: Nguy cơ dịch bệnh VDNC tiếp tục lây lan nhanh,

ở phạm vi rộng là rất cao vì một số lý do: (i) Một số địa phương chưa triển khai quyết liệt, đồng bộ, xử lý dứt điểm và tiêu hủy gia súc khi mới xuất hiện dịch bệnh; (ii) Đường truyền lây đa dạng, phức tạp, khó kiểm soát, đặc biệt lây lan thông qua các véc tơ truyền bệnh (ruồi, muỗi, ve, mòng hút máu, truyền bệnh,

…); chăn thả trâu, bò trên các cánh đồng, bãi chăn thả chung còn khá phổ biến; (iii) Nhu cầu vận chuyển, giết mổ trâu, bò gia tăng mạnh vào dịp Tết Nguyên đán; (iv) Thời tiết tiếp tục có nhiều diễn biến cực đoan làm giảm sức đề kháng của vật nuôi, gây ô nhiễm môi trường; (v) Điều kiện các hộ chăn nuôi, nhất là tại các tỉnh miền núi còn hạn chế, gặp nhiều khó khăn khi áp dụng các biện pháp phòng bệnh; giá trị kinh tế của trâu, bò là khá cao, do đó đã có tình trạng người chăn nuôi ở một số địa phương bán chạy, giết mổ gia súc bệnh

c) Dịch Lở mồm long móng (LMLM)

Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm 2021 đến nay, cả nước đã xảy ra 88 ổ

dịch LMLM tại 46 huyện của 18 tỉnh, thành phố; số gia súc mắc bệnh là 3.402 con (chiếm tỷ lệ 0,009% tổng đàn) Số gia súc bị chết và tiêu hủy là 348 con

Hiện nay, cả nước có 01 dịch bệnh LMLM tại tỉnh Hà Tĩnh chưa qua 21 ngày

Nhận định tình hình dịch: Nguy cơ dịch bệnh LMLM tái phát và phát

sinh là rất cao, do: (i) Vi rút LMLM tồn tại lâu ngoài môi trường, đặc biệt ở các địa phương có ổ dịch cũ; đường lây truyền bệnh phức tạp và khó kiểm soát; (ii) Chăn nuôi hộ gia đình, nhỏ lẻ, mật độ rất cao, chưa áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp vệ sinh phòng bệnh, chăn nuôi an toàn sinh học; (iii) Sử dụng gia súc giống không rõ nguồn gốc, chưa tiêm phòng triệt để vắc xin phòng bệnh LMLM; (iv) Việc giao thương buôn bán, vận chuyển gia súc, sản phẩm gia súc tăng mạnh vào các tháng cuối năm và dịp Tết Nguyên đán; (v) Thời tiết thay đổi làm giảm sức đề kháng của vật nuôi

d) Bệnh Cúm gia cầm (CGC)

Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay, cả nước đã xảy ra 117 ổ dịch

CGC tại 80 huyện của 32 tỉnh, thành phố (bao gồm: 09 ổ dịch do vi rút A/H5N1

Trang 3

tại 06 tỉnh, thành phố; 83 ổ dịch do vi rút A/H5N6 tại 23 tỉnh, thành phố và 25 ổ dịch do vi rút A/H5N8 tại 14 tỉnh) Tổng số gia cầm mắc bệnh, chết và tiêu hủy

là 444.298 con, chiếm khoảng 0,086% tổng đàn gia cầm trên cả nước

Hiện nay, cả nước có 08 ổ dịch CGC tại 8 xã thuộc 6 huyện của 6 tỉnh Nam Định, Ninh Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Phước chưa qua 21 ngày Số gia cầm bị tiêu hủy là 34.688 con

Nhận định tình hình dịch: Các ổ dịch CGC chủ yếu xảy ra tại hộ chăn

nuôi gia cầm nhỏ lẻ, chưa được tiêm phòng vắc xin CGC Các địa phương đã phát hiện, xử lý kịp thời, không để lây lan diện rộng Thời gian tới nguy cơ dịch bệnh CGC độc lực cao A/H5N1, A/H5N6 và A/H5N8 gia tăng là rất cao, do: (i) Tổng đàn gia cầm lớn, nhưng chủ yếu là chăn nuôi nhỏ lẻ, chưa đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú y, an toàn dịch bệnh, nhiều đàn gia cầm chưa được tiêm phòng vắc xin; (ii) Vi rút CGC lưu hành ở nhiều địa phương với tỷ lệ khá cao; (iii) Giao thương buôn bán, vận chuyển gia cầm, sản phẩm gia cầm trong nước tăng mạnh vào dịp Tết Nguyên đán; (iv) Tình trạng nhập lậu gia cầm, sản phẩm gia cầm còn xảy ra tại các tỉnh biên giới phía Bắc; (v) Thời tiết thay đổi làm giảm sức đề kháng của vật nuôi

đ) Bệnh Dại

Tình hình dịch bệnh: Bệnh Dại trên người: Năm 2021, có 49 người tử

vong vì bệnh Dại tại 27 tỉnh, giảm 20 trường hợp so với năm 2020 Bệnh Dại trên động vật: Năm 2021, công tác giám sát trên chó nghi mắc bệnh Dại đã được thực hiện tại 11 tỉnh, thành với 222 mẫu, trong đó có 78 mẫu dương tính, chiếm

tỷ lệ 35.13%

Trong năm 2021, có trên 11.700 con chó thả rông, không xích nhốt, đeo

rọ mõm được xử lý tại 22 tỉnh, thành phố

Nhận định tình hình dịch

Nguy cơ bệnh Dại tiếp tục xuất hiện trong thời gian tới là cao do: (i) Công tác quản lý đàn chó của chính quyền một số địa phương còn chưa tốt, chính quyền địa phương chưa chỉ đạo đầy đủ các ban ngành phối hợp thực hiện, người nuôi chó không chấp hành việc đăng ký, nuôi nhốt chó, tình trạng chó thả rông phổ biến; (ii) Nhiều địa phương chưa thành lập đội bắt chó thả rông, xử lý động vật nghi mắc bệnh Dại; (iii) Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin Dại cho chó, mèo thấp hơn so với mục tiêu Chương trình đặt ra, số lượng chó được tiêm phòng chủ yếu theo kế hoạch hàng năm của địa phương, thấp hơn tổng đàn chó thực có (nhiều địa phương tỷ lệ tiêm vắc xin đạt dưới 30%); (iv) Việc áp dụng các chế tài xử lý

vi phạm quy định về quản lý chó nuôi, về tiêm phòng vắc xin Dại cho chó chưa được thực hiện nghiêm theo quy định; (v) Công tác thông tin, tuyên truyền phổ biến pháp luật về phòng, chống bệnh Dại còn hạn chế; (vi) Vi rút Dại được phát hiện (ca tử vong trên người) và tồn tại khoảng 50% số địa phương (30 tỉnh, thành phố); (vii) Công tác giám sát phát hiện chó nghi mắc bệnh Dại còn hạn

Trang 4

chế tại một số địa phương; (viii) Hầu hết các địa phương chưa quan tâm tổ chức xây dựng cơ sở, vùng an toàn bệnh Dại

e) Bệnh Tai xanh trên lợn

Từ đầu năm 2021 đến nay, cả nước không phát sinh dịch bệnh Tai xanh Trong thời gian tới, có thể xuất hiện các ổ dịch nhỏ lẻ trên địa bàn có ổ dịch cũ

và khu vực có nguy cơ cao Biện pháp phòng bệnh hiệu quả là tổ chức tiêm phòng triệt để cho đàn lợn và áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp vệ sinh thú y,

an toàn dịch bệnh

f) Phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của

vi rút Corona (nCoV) gây ra

- Bộ Nông nghiệp và PTNT (Cục Thú y) có 6/8 phòng thử nghiệm đã xét nghiệm hơn 148.967 mẫu SARS-CoV-2, bao gồm: (i) 146.923 mẫu đơn, mẫu gộp của trên 1,2 triệu người tại hơn 20 tỉnh, thành phố, trong đó có 10.491 mẫu dương tính; (ii) 2.044 mẫu động vật (697 mẫu tầm soát SARS-CoV-2 trên bao bì thực phẩm nhập khẩu, sản phẩm động vật nhập khẩu và 1.347 mẫu động vật hoang dã, tất cả đều âm tính)

- Năng lực các phòng thử nghiệm có thể hỗ trợ ngành Y tế xét nghiệm vi rút SARS-CoV-2 (Covid-19) khoảng 7.600 mẫu/ngày bằng phương pháp Realtime RT-PCR (nếu gộp mẫu theo phương án 5 - 10 mẫu thì có thể xét nghiệm được khoảng 40.000 - 70.000 mẫu đơn/ngày)

- Hiện nay, nguyên liệu sẵn sàng và đủ để xét nghiệm được 55.500 mẫu (nếu gộp mẫu thì có thể đủ xét nghiệm được trên 250.000 - 500.000 mẫu)

* Tình hình xây dựng cơ sở, vùng ATDB

- Từ đầu năm 2021 đến nay, đã cấp Giấy chứng nhận ATDB cho 76 cơ sở, vùng, bao gồm: 48 cơ sở do địa phương cấp và 28 vùng, cơ sở do Bộ Nông nghiệp và PTNT (Cục Thú y) cấp Cả nước có 2.306 cơ sở, vùng chăn nuôi tại

54 tỉnh, thành phố được chứng nhận ATDB, bao gồm: 985 cơ sở, vùng chăn nuôi gia cầm; 1.148 cơ sở, vùng chăn nuôi lợn và 173 cơ sở, vùng chăn nuôi gia súc khác

1.2 Tình hình dịch bệnh trên thủy sản

- Tổ chức xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 434/QĐ-TTg ngày 24/3/2021 phê duyệt Kế hoạch quốc gia phòng, chống một số dịch bệnh nguy hiểm trên thủy sản nuôi, giai đoạn 2021-2030 và bố trí 2,5 tỷ để triển khai công tác phòng chống dịch bệnh thủy sản năm 2021

- Bộ đã ban hành 03 văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các địa phương triển khai phòng, chống dịch bệnh thủy sản Tổ chức 05 hội nghị, hội thảo quốc gia để quán triệt, chỉ đạo tổ chức triển khai công tác phòng, chống dịch bệnh thủy sản

Trang 5

- Năm 2021, đã có 31/63 tỉnh, thành phố có kế hoạch phòng, chống dịch bệnh thủy sản; trong đó có 17 tỉnh, thành phố bố trí gần 84,2 tỷ đồng Tuy nhiên,

có 04 tỉnh không bố trí riêng kinh phí cho công tác phòng, chống dịch bệnh

* Giám sát, cảnh báo dịch bệnh

- Tổ chức giám sát dịch bệnh trên tôm giống và tôm thương phẩm.

- Giám sát dịch bệnh để cảnh báo và phục vụ công tác kiểm dịch: Bộ và các địa phương đã tổ chức xét nghiệm 18.502 mẫu tôm, 2.034 mẫu cá đối với một số tác nhân gây bệnh nguy hiểm trên thủy sản nuôi

a) Tình hình thiệt hại trong nuôi trồng thủy sản

Năm 2021 (tính đến 03/12/2021), tổng diện tích nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại (bao gồm cả nguyên nhân do dịch bệnh) là hơn 20.469 ha, giảm 55% so với cùng kỳ năm 2020 (có tổng diện tích bị thiệt hại là 45.548 ha); ngoài ra có khoảng 1.303 lồng, bè, vèo, bể nuôi thủy sản cũng bị thiệt hại

b) Tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi nước lợ

Bệnh hoại tử gan tụy cấp

Trong năm 2021, bệnh xảy ra tại 152 xã của 47 huyện, thị xã thuộc 18 tỉnh, thành phố Tổng diện tích tôm bị bệnh là 2.103 ha, trong đó:

- Diện tích tôm sú bị bệnh là 536 ha; tôm thẻ bị bệnh là 1.568 ha Tôm bệnh có độ tuổi từ 12-120 ngày sau thả

- Diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh bị bệnh là 1.878 ha, quảng canh, quảng canh cải tiến và tôm lúa là 225 ha

Bệnh đốm trắng

Trong năm 2021, bệnh xảy ra tại 151 xã của 48 huyện, thị xã thuộc 17 tỉnh, thành phố Tổng diện tích thiệt hại do bệnh là 1.799 ha, trong đó: Diện tích nuôi tôm sú bị bệnh là 566 ha; tôm thẻ bị bệnh là 1.233 ha Tôm bệnh có độ tuổi

từ 10-100 ngày sau thả Diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh bị bệnh là 1.445 ha; quảng canh, quảng canh cải tiến và tôm lúa là 355 ha

Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan biểu mô (IHHND)

Trong năm 2021, bệnh xảy ra tại 8 xã của 3 huyện, thị xã thuộc 2 tỉnh Bến Tre và Sóc Trăng, với tổng diện tích có tôm nuôi bị bệnh là 25,86 ha

Nhận định tình hình dịch bệnh trên tôm

Năm 2021, diện tích có tôm mắc bệnh giảm nhẹ so với cùng kỳ năm

2020 Diện tích tôm nuôi bị thiệt hại cũng giảm hơn 50% so với cùng kỳ năm

2020, trong đó hơn 61% diện tích thiệt hại nhưng không rõ nguyên nhân Một số loại mầm bệnh nguy hiểm (AHPND, WSD, IHHND, EHP trên tôm, bệnh gan thận mủ trên cá tra) vẫn lưu hành ở nhiều vùng nuôi, kết hợp các yếu tố nhiệt độ,

độ mặn tăng cao, biến đổi môi trường nhanh, mạnh, cực đoan, tác động đến sức khỏe tôm, làm cho tôm chậm lớn (không lột xác), kém phát triển, sức đề kháng

Trang 6

yếu; đồng thời điều kiện môi trường biến đổi tiêu cực lại tạo thuận lợi cho mầm bệnh phát triển

c) Tình hình dịch bệnh trên cá tra

Trong năm 2021, bệnh gan thận mủ trên cá tra xảy ra tại 18 xã của 11 huyện thuộc 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp Tổng diện tích cá tra bị bệnh là

44,1 ha, chiếm 1,04% tổng diện tích nuôi (tính đến 30/10/2021, diện tích thả

nuôi cá tra là 4.217 ha)

1.3 Công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật

a) Kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật xuất khẩu

* Động vật xuất khẩu

- Số lượng gà giống xuất khẩu trong năm 2021 đạt 635.336 con tăng 3,08 lần so với năm 2020, chiếm 91,08% tổng số lượng động vật xuất khẩu

- Động vật thủy sản: Trong năm 2021, các doanh nghiệp đã xuất khẩu hơn

38 triệu con động vật thủy sản các loại bao gồm cá cảnh, ấu trùng tôm giống (tôm thẻ chân trắng, tôm càng xanh), tôm giống bố mẹ (tôm sú bố mẹ, tôm càng xanh giống), thủy sản cảnh (cá cảnh, rùa cảnh, cua cảnh, nghêu ốc làm cảnh) và trùn biển làm thức ăn Nhìn chung, số lượng động vật thủy sản xuất khẩu trong năm 2021 tăng hơn so với năm 2020 (gấp 2,25 lần

* Sản phẩm động vật trên cạn xuất khẩu

- Mật ong và sản phẩm ong: Xuất khẩu mật ong tăng 6% đạt 53.353 tấn so với năm 2020 là 50.314 tấn

- Mặt hàng sữa và sản phẩm chế biến từ sữa năm 2021 đã xuất khẩu đạt 29.173 tấn giảm 12,12% so với năm 2020, xuất khẩu sữa sang Trung Quốc đạt 1.467 tấn, chỉ tương đương 52,2% so với năm 2020 là 2.812 tấn

- Thức ăn và nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi đạt 26.861 tấn tăng 35,83% so với cùng kỳ năm ngoái; Thịt gà chế biến xuất khẩu năm 2021 đạt 2.531 tấn, tăng 36,58% so với năm 2020; Yến và sản phẩm từ yến: đạt 174 tấn, tăng so với năm 2020 (74,66%); Trứng cút đóng lon đạt 443,93 tấn giảm 11,09

% so với năm 2020, Trứng vịt muối: đạt 18,2 tấn giảm 8,12%, đạt 6.978.000 quả giảm 19,76 % so với năm 2020; Mặt hàng lông vũ xuất khẩu: đạt 12.204 tấn, tăng 37,45% so với năm ngoái

* Sản phẩm thủy sản xuất khẩu

Xuất khẩu sản phẩm động vật thủy sản nhìn chung tăng 11,66% so với năm ngoái, đạt 347.488 tấn Cụ thể, xuất khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc thủy sản đạt 189.836 tấn, tăng 63,75%

b) Kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật nhập khẩu

- Kiểm dịch nhập khẩu lợn sống để giết mổ 346.000 con, đã tạm dừng nhập khẩu từ tháng 7/2021

Trang 7

- Kiểm dịch nhập khẩu thịt gia cầm làm thực phẩm 132.071 tấn, giảm 45,9% so với cùng kỳ 2020 (248.731 tấn)

- Kiểm dịch nhập khẩu thịt lợn làm thực phẩm 143.463 tấn giảm 32,5% so với cùng kỳ 2020 (218.560 tấn)

- Kiểm dịch nhập khẩu thịt trâu, bò, cừu làm thực phẩm 110.889 tấn, giảm 2,1% so với cùng kỳ 2020 (113.316 tấn)

- Động vật thủy sản nhập khẩu 524.824.449 con, tăng 48,4% so với 2020 (hơn 353 triệu con) Số lượng động vật thủy sản chủ yếu là ấu trùng tôm thẻ chân trắng, tôm sú 312 triệu con, tăng gấp 3 lần so với năm 2020 (hơn 102 triệu con)

- Nhập khẩu tôm thẻ chân trắng bố mẹ 224.032 con giảm 11,3% so với cùng kỳ 2020 (252.719 con)

- Nhập khẩu sản phẩm động vật thủy sản 684.774 tấn giảm 8,6% so với năm 2020 (748.665 tấn); trong đó nhập khẩu thủy sản làm thực phẩm 153.303 tấn, giảm nhẹ so với 2020 (164.198 tấn)

- Hàng nguyên liệu thủy sản gia công chế biến 346.585 tấn tăng 9,3% so với 2020 (317.042 tấn)

- Các mẫu kiểm tra đối với chương trình giám sát tầm soát SARS-Cov2 đối với sản phẩm động vật nhập khẩu đều đạt yêu cầu, không phát hiện vi phạm

1.4 Công tác kiểm tra vệ sinh thú y, kiểm soát giết mổ, ATTP

a) Giám sát sản phẩm ong xuất khẩu

Chương trình giám sát sản phẩm ong xuất khẩu: đã kiểm tra, đánh giá điều kiện đảm bảo ATTP đối với cơ sở chế biến mật ong xuất khẩu; lấy 310 mẫu mật ong các loại với 1.649 lượt các chất kiểm soát Các lượt mẫu phân tích đều đạt yêu cầu đối với các chỉ tiêu tồn dư kháng sinh, hóa chất bảo vệ thực vật

b) Giám sát ATTP chuỗi sản xuất thịt gà xuất khẩu

- Năm 2021, số lượng mẫu giảm 25,77% (432/582) tương ứng số chỉ tiêu giảm 29,93% (1.030/1.470) so với năm 2020

- 372 mẫu (da cổ gà, thịt gà, nước dùng, lau bề mặt tiếp xúc) được lấy tại

02 cơ sở giết mổ, 60 mẫu (thịt gà chế biến, lau bề mặt tiếp xúc) được lấy từ 02

cơ sở chế biến

- Kết quả tất cả các mẫu giám sát tại cơ sở giết mổ, chế biến đều đạt yêu cầu đối với chỉ tiêu vi sinh vật, tồn dư kháng sinh Điều đó chứng tỏ các công ty

đã áp dụng chặt chẽ quy trình đảm bảo điều kiện VSTY, ATTP tại các cơ sở giết

mổ, chế biến thịt gà xuất khẩu

c) Kiểm tra, giám sát ATTP đối với sữa tươi nguyên liệu

- Chủ trì chuẩn bị các nội dung về kế hoạch và kết quả giám sát vệ sinh thú y và an toàn toàn thực phẩm đối với sữa và sản phẩm sữa xuất khẩu nói

Trang 8

chung và cụ thể đối với nhà máy sữa của Vinamilk theo yêu cầu của Tổng cục Hải quan Trung Quốc kiểm tra trực tuyến đối với doanh nghiệp xuất khẩu sữa vào ngày 19/11/2021

- Về giám sát ATTP đối với sữa tươi nguyên liệu: đã lấy 301 mẫu sữa, trong đó 271 mẫu sữa tươi được lấy từ 17 cơ sở vắt sữa và 30 mẫu sữa từ 09 cơ

sở chế biến sữa của 09 doanh nghiệp đăng ký xuất khẩu sữa sang thị trường Trung Quốc Tất cả các mẫu phân tích đều đạt yêu cầu đối với từng chỉ tiêu kiểm soát của 08 nhóm chất kiểm soát

- Kết quả phân tích của tất cả 301 mẫu, tương ứng 1.102 chỉ tiêu đều đạt yêu cầu đối với từng chỉ tiêu kiểm soát của 08 nhóm chất kiểm tra

- Kết quả giám sát năm 2021 cho thấy tất cả các mẫu sữa tươi nguyên liệu đều đạt yêu cầu đối với các chỉ tiêu kiểm tra

1.5 Công tác quản lý thuốc thú y

a) Công tác đăng ký thuốc

- Tiếp nhận và xử lý hồ sơ đăng ký khảo nghiệm, lưu hành thuốc thú y Thẩm định hồ sơ cấp giấy chứng nhận lưu hành thuốc thú y, bao gồm 3784 giấy chứng nhận lưu hành thuốc thú y (cấp mới 1.181 SP và gia hạn 2.603 sản phẩm)

- Thẩm định hồ sơ đăng ký khảo nghiệm và cấp Quyết định khảo nghiệm

93 loại vắc xin, kháng thể dùng trong thú y Thẩm định và xét duyệt 1.624 đơn hàng nhập khẩu thuốc thú y, nguyên liệu sản xuất thuốc thú y, vắc xin dùng trong thú y (tỷ lệ xử lý qua trực tuyến chiếm 86,1%)

- Thẩm định 1.481 loại hồ sơ trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thuốc thú y từ Bộ phận một cửa, 3.502 hồ sơ trên Hệ thống dịch vụ công cấp độ 3,4 và 4.441 hồ sơ trên Hệ thống một cửa Quốc gia (hồ sơ tiếp nhận trực tiếp qua Bộ phận một cửa, chiếm 15,7 % và 100% hồ sơ đăng ký liên quan đến kiểm tra nhà nước về chất lượng thuốc thú y nhập khẩu xử lý trực tuyến qua hệ thống một cửa Quốc gia)

b) Công tác kiểm tra điều kiện sản xuất, kinh doanh thuốc thú y

- Tổ chức triển khai kiểm tra đánh giá điều kiện sản xuất, nhập khẩu thuốc thú y cho 43 cơ sở theo quy định Kết quả: 13 cơ sở xếp loại A (30,2%); 30 cơ

sở xếp loại B (chiếm 69,8%)

- Tổ chức triển khai đánh giá chứng nhận, tái chứng nhận GMP cho 10 nhà máy sản xuất thuốc thú y (cơ sở cấp mới 03 cơ sở; 07 cơ sở tái đánh giá và

bổ sung dây chuyền sản xuất)

c) Công tác phòng chống kháng kháng sinh

- Ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về phòng chống kháng kháng sinh trong nông nghiệp giai đoạn 2021-2025 (Quyết định 3609/QĐ-BNN-TY ngày 23/8/2021)

Trang 9

- Phê duyệt văn kiện dự án “Giảm sử dụng Colistin trong chăn nuôi lợn ở

Việt Nam” do Chính phủ Đan Mạch tài trợ thông qua Trung tâm Quốc tế về Giải pháp giảm thiểu kháng kháng sinh Đan Mạch (ICARS) (Quyết định 2006/QĐ-BNN-HTQT ngày 10/5/2021)

d) Về xuất khẩu thuốc thú y

Hướng dẫn, thẩm định cấp giấy chứng nhận xuất khẩu thuốc cho 33 doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y, đã xuất khẩu được trên 1.320 loại thuốc thú

y và 12 loại vắc xin thú y cho trên 44 quốc gia/vùng lãnh thổ, với giá trị xuất khẩu trên 18 triệu USD

đ) Về nghiên cứu, sản xuất vắc xin

- Hiện tại, cả nước có 10 doanh nghiệp nghiên cứu, sản xuất vắc xin cho động vật đạt tiêu chuẩn GMP-WHO, với tổng số 187 loại vắc xin (so với năm

2020, tăng 10 loại vắc xin) đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu phòng các bệnh thông thường trên gia súc, gia cầm trong nước

- Về chỉ đạo nghiên cứu và sản xuất vắc xin phòng bệnh DTLCP: Đang tiến hành khảo nghiệm và hoàn thiện thủ tục đăng ký lưu hành theo quy định

- Về chỉ đạo nghiên cứu và sản xuất vắc xin phòng bệnh VDNC: Đã chỉ đạo các đơn vị liên quan hỗ trợ, hướng dẫn các doanh nghiệp trong nước nghiên cứu, sản xuất vắc xin phòng bệnh VDNC; kết quả ban đầu cho thấy vắc xin có khả năng đáp ứng miễn dịch và bảo hộ tốt phòng được bệnh do chủng vi rút lưu hành tại Việt Nam Hiện nay đang tiến hành khảo nghiệm, hoàn thiện thủ tục đăng ký lưu hành vắc xin sản xuất trong nước; dự kiến trong năm 2022 sẽ có vắc xin được cấp phép lưu hành

1.6 Công tác kế hoạch và khoa học

- Xây dựng và tổ chức triển khai Đề án “Tăng cường năng lực hệ thống cơ

quan quản lý chuyên ngành thú y các cấp, giai đoạn 2021-2030” (Đề án ngành Thú y) và 04 dự án thuộc Đề án ngành

- Hỗ trợ vắc xin, thuốc sát trùng từ nguồn dự phòng, dự trữ quốc gia cho công tác chống dịch Trình Bộ xuất DTQG vắc xin và hóa chất sát trùng hỗ trợ địa phương phòng chống dịch bệnh, cụ thể như sau:

* Vắc xin LMLM dự trữ quốc gia

T

TT Năm

Loại vắc xin (liều)

Số tỉnh hỗ trợ

Nhị giá (O&A) Type O

Từ đầu năm 2021 đến nay, cấp 210.000 liều vắc xin LMLM các loại từ quỹ DTQG cho 5 tỉnh Gia Lai, Ninh Thuận, Quảng Ngãi, Sơn La và Thừa Thiên Huế, tăng gần 8% so với năm 2020

Trang 10

* Hóa chất dự trữ quốc gia

TT Năm Hóa chất PCDB gia súc, gia cầm (lít) Số tỉnh hỗ trợ Hóa chất PCDB thủy sản (tấn) Số tỉnh hỗ trợ

Trong năm 2021, cấp 501.300 lít hóa chất sát trùng phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm cho 32 tỉnh, thành phố; 511 tấn hóa chất sát trùng phòng chống dịch bệnh thủy sản cho 15 tỉnh, thành phố

1.7 Công tác thanh tra, pháp chế

- Từ 01/01/2021 đến 30/11/2021, ban hành 192 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Thú y đối với công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật; sản xuất, kinh doanh thuốc thú y Tổng số tiền xử phạt là:

4.518.000.000 đồng (Bốn tỷ, năm trăm mười tám ngàn đồng).

- Chủ trì xây dựng dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 90/2017/NĐ-CP ngày 31/7/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y Hiện nay, dự thảo đã trình Chính phủ

- Ban hành Thông tư số 09/2021/TT-BNNPTNT ngày 12/8/2021 sửa đổi,

bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 quy định về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn

1.8 Công tác xúc tiến thương mại

a) Kết quả hỗ trợ xuất khẩu sản phẩm sữa: Trung Quốc chấp thuận

thêm 04 nhà máy của 03 công ty sữa của Việt Nam Như vậy kể từ khi Nghị định thư về xuất khẩu sữa được ký giữa Việt Nam và Trung Quốc vào tháng 4/2019 cho đến nay, đã có 9 nhà máy của 6 công ty sữa Việt Nam được Trung Quốc chấp thuận Trong tháng 11/2021, Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã lựa chọn ngẫu nhiên Nhà máy sữa Sài Gòn thuộc Công ty cổ phần sữa Việt Nam để kiểm tra, đánh giá trực tuyến về công tác bảo đảm an toàn thực phẩm và phòng chống covid trong sản xuất sản phẩm sữa xuất khẩu sang Trung Quốc Đã hướng dẫn Nhà máy chuẩn bị hồ sơ, nhà xưởng sản xuất và phối hợp với Tổng cục Hải quan Trung Quốc tổ chức thành công việc kiểm tra trực tuyến này vào ngày 19/11/2021 Hiện đang tiếp tục hỗ trợ các công ty thực hiện đăng ký bổ sung thêm sản phẩm và nhà máy xuất khẩu vào Trung Quốc và một số nước trong khu vực Năm 2021, Việt Nam xuất khẩu khoảng 29.170 tấn sữa và sản phẩm sữa với giá trị khoảng 158 triệu đô la, giảm khoảng 12 % so với năm 2020

b) Xuất khẩu thịt gà chế biến: Đã đàm phán thành công xuất khẩu thịt

gà chế biến sang Nhật Bản (năm 2017), Hồng Kông (năm 2019) và 5 nước thuộc Liên minh kinh tế Á-Âu (năm 2020) Ngày 06/6/2021, Cơ quan Kiểm dịch động thực vật LB Nga tiếp tục chấp thuận cho Nhà máy của Công ty CP tại Bình Phước được xuất khẩu sản phẩm thịt gà chế biến vào các nước thuộc Liên minh kinh tế Á Âu Hiện nay, đang tiếp tục đàm phán để xuất khẩu sản phẩm thịt gà

Ngày đăng: 27/02/2022, 21:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w