1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: Tên sáng kiến: Hướng dẫn học sinh những biện pháp khắc phục sai lầm thường mắc khi học nhận diện từ láy

34 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 258,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HOÀN CẢNH NẢY SINH SÁNG KIẾN - Xuất phát từ mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm:+ Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việtnghe, nói, đọc, viết để

Trang 1

PHẦN I THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

1 Tên sáng kiến: Hướng dẫn học sinh những biện pháp khắc phục sai lầm

thường mắc khi học nhận diện từ láy

2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Phân môn Luyện Từ và Câu ở trường Tiểu học.

4 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu:

Trường Tiểu học Bình Minh

Địa chỉ: Số 64B - Đường Bình Minh - Phường Phạm Ngũ Lão

Thành phố Hải Dương - Tỉnh Hải Dương

5 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Sáng kiến có thể áp dụng

rộng rãi và dễ dàng với các đồng chí giáo viên, các em học sinh của khối 4;5 ởtrường Tiểu học

6 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Từ đầu năm học 2014 - 2015.

Trang 2

TÓM TẮT SÁNG KIẾN

Kinh nghiệm "Những biện pháp khắc phục sai lầm mà học sinh thường mắc

khi học nhận diện từ láy" gồm những nội dung cơ bản sau:

- Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

- Cơ sở lí luận

- Tìm hiểu thực trạng dạy và học phân môn Luyện từ và câu tại trường Tiểu

học nơi tôi đang công tác

- Đề ra các giải pháp để nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Luyện

từ và câu:

- Giáo viên nghiên cứu nội dung các bài học trong sách giáo khoa và đề rabiện pháp thực hiện hướng dẫn học sinh khắc phục sai lầm thường mắc khi họcnhận diện từ láy

Bi

ện pháp 1: Giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức để hiểu rõ bản chấtkhái niệm và phân loại từ láy Bi

ện pháp 2: Hướng dẫn học sinh hiểu nghĩa từ láy Bi

ện pháp 3: Hướng dẫn học sinh phân biệt từ láy với từ ghép Bi

ện pháp 4: Hướng dẫn học sinh nhận biết và sử dụng từ láy qua các

dạng bài tập

- Thực nghiệm sư phạm (có giáo án kèm theo)

- Kết quả

- Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng

Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh khắc phục sai lầm thường mắckhi học nhận diện từ láy đã góp phần nâng cao chất lượng dạy và học phân mônLuyện từ và câu lớp 5 nói riêng cũng như môn Tiếng Việt nói chung ở trườngTiểu học nơi tôi đang công tác

Trang 3

PHẦN II

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

1 HOÀN CẢNH NẢY SINH SÁNG KIẾN

- Xuất phát từ mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm:+ Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt(nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt độngcủa lứa tuổi Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện cácthao tác tư duy

+ Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt vànhững hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn họccủa Việt Nam và nước ngoài

+ Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trongsáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người ViệtNam xã hội chủ nghĩa

Phân môn Luyện từ và câu cung cấp những kiến thức sơ giản về TiếngViệt và rèn luyện kỹ năng dùng từ, đặt câu (nói, viết), kỹ năng đọc cho họcsinh Khác với các lớp dưới, ở lớp 5 bắt đầu có những tiết học dành riêng đểtrang bị kiến thức cho học sinh, giúp học sinh:

a Mở rộng, hệ thống hoá vốn từ và trang bị cho học sinh một số hiểu biết

sơ giản về từ và câu

b Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng dùng từ đặt câu và sử dụng cácdấu câu

c Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói và viết thành câu;

có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp

Nhiệm vụ dạy Luyện từ và câu ở tiểu học là giúp cho học sinh nhận diện,phân loại các đơn vị ngữ pháp, nắm các qui tắc cấu tạo và sử dụng các đơn vịnày trong hoạt động giao tiếp của mình Đồng thời, ngữ pháp còn có nhiệm vụrèn luyện tư duy giáo dục thẩm mỹ cho học sinh Học sinh muốn nắm chắcđược ngữ pháp trước hết phải nắm vững cấu tạo từ (đơn vị nhỏ của câu) Làmột giáo viên được nhà trường phân công dạy lớp 5, tôi thấy việc giảng dạy

Trang 4

cho học sinh nắm rõ khái niệm từ, biết vận dụng từ vào thực tế bài học, vàocuộc sống giao tiếp là điều hết sức quan trọng Mặt khác, học sinh muốn viếtcâu đúng ngữ pháp, câu có hình ảnh, cảm xúc phải hiểu rõ từ Hình ảnh, cảmxúc được thể hiện rõ ở các từ đơn, từ ghép, từ láy (đặc biệt là từ láy) Do đó,việc giảng dạy cho học sinh cần nắm chắc, phân biệt rõ cấu tạo các từ sẽ là cơ

sở cho việc viết văn hay, đúng ngữ pháp

Bản thân tôi nhận thấy tình hình học tập của học sinh hiện nay so với họcsinh các năm trước có những tiến bộ đáng kể, nhất là khả năng giao tiếp Họcsinh đã tự tin hơn khi trình bày ý kiến trước đám đông, có khả năng cảm thụ cáihay cái đẹp cuả các tác phẩm văn học và được học nhiều kiến thức mới so vớinội dung chương trình cũ như thuyết trình tranh luận, phát biểu cảm nghĩ …Tuy nhiên, về phần từ và câu, học sinh còn mắc phải những hạn chế sau : Kĩnăng nhận diện từ , phân cắt các đơn vị từ trong câu còn nhiều sai lệch Kĩ năngphân loại và nhận diện từ theo cấu tạo còn nhiều lầm lẫn Kĩ năng nhận diện vàphân tích các thành phần câu chưa thật chính xác Kĩ năng xác định từ loại cònhạn chế Trong các hạn chế trên, mặt nào cũng cần khắc phục Tuy nhiên, trongphạm vi đề tài này, bản thân tôi muốn trình bày sâu một vấn đề Đó là kĩ năngphân loại và nhận diện từ theo cấu tạo còn nhiều hạn chế Ở đơn vị kiến thứcnày, học sinh thường mắc các lỗi như sau: Học sinh còn xác định sai từ ghépkhi cả hai tiếng có bộ phận cuả tiếng giống nhau như các từ : nhân dân, mệtmỏi, buồn bực, chèo chống v v Học sinh chưa nhận dạng được các từ láy đặcbiệt khuyết phụ âm đầu thường là các từ tượng thanh, tượng hình Học sinhkhông phân biệt được từ ghép phân loại và từ ghép tổng hợp trong các trườnghợp từ đó có tiếng gốc là một động từ hay một tính từ Học sinh có vốn từghép và từ laý có 3 hay 4 tiếng rất hạn chế, ít ỏi Vì sao học sinh lại mắc nhữngtồn tại trên, trước hết ta phải tìm hiểu từ nội dung sách giáo khoa, phương phápgiảng dạy của giáo viên, điều kiện học tập của học sinh và một số vấn đề cóliên quan khác:

+ Sách giáo khoa đang hiện hành được biên soạn theo quan điểm tíchhợp, quan điểm giao tiếp và quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học

Trang 5

sinh Sự thể hiện các quan điểm này trong sách giáo khoa được thể hiện rất rõràng Các kiến thức học sinh được học đan xen, kiến thức về từ học cùng vớikiến thức về câu, học sinh vừa học miêu tả ở tiết trước, tiết sau lại được làmquen với đơn từ Kiến thức ở bài sau được mở rộng hơn so với bài trước Hệthống kiến thức được cung cấp chú ý nhiều đến việc rèn kĩ năng giao tiếp nênhọc sinh không những nghe đọc tốt hơn mà viết nói cũng tốt hơn Để giúp chohọc sinh tiếp thu tốt những kiến thức đó, giáo viên phải sử dụng nhiều phươngpháp dạy học.

+ Tuy nhiên, sau một thời gian thực dạy, bản thân tôi cũng nhận thấynhững hạn chế của nội dung chương trình, tuy không lớn nhưng phần nào đãảnh hưởng đến việc học tập và ghi nhớ kiến thức cuả học sinh Đó là nếu khôngđược học các lớp 2 buổi /ngày thì giáo viên khó có thể luyện tập cho học sinh

để đào sâu kiến thức Tôi có thể đưa ra một ví dụ như sau: Trong chương trình

cũ, bài tìm hiểu về từ láy được học trong 4 tiết, bài tìm hiểu về từ ghép đượchọc trong 4 tiết Tổng cộng là 8 tiết và được học liên tục trong khoảng 8 tuần.Trong chương trình mới, nội dung được tích hợp nên kiến thức về từ đơn và từphức được học trong 2 tiết, thêm 2 tiết tìm hiểu về từ ghép phân loại và từ ghéptổng hợp Tổng cộng chỉ có 4 tiết Vì thế khi lên lớp 5, nhiều em đã quên kiếnthức này, khi luyện tập thực hành, học sinh đạt kết quả không cao

+ Trong thực tế, giáo viên Tiểu học gặp nhiều khó khăn khi dạy Luyện từ

và câu, đặc biệt là giáo viên dạy lớp 5 Năm học cuối cấp Tiểu học, kiến thức

về Luyện từ và câu được cung cấp khá nhiều, khá sâu, chương trình lại cấu trúctheo kiểu đồng tâm mở rộng nên nếu không nắm được kiến thúc ở lớp dưới, các

em sẽ khó tiếp thu được kiến thức mới ở lớp trên

Trước tình hình học sinh lớp 5, khi kiểm tra lại đến phần từ láy mà bảnchất từ láy các em không hiểu, thậm chí còn không phân biệt được các từ láyđơn giản và thông thường trong khi đó yêu cầu của SGK là các em phải nắmchắc phương pháp tìm và nhận biết từ ghép, từ láy một cách sâu sắc nhất.Từ thực

tế kỹ năng nhận biết từ láy của học sinh còn yếu, chưa đạt yêu cầu cơ bản của học

sinh cuối cấp ở bậc Tiểu học Do vậy, tôi đi sâu nghiên cứu " Những biện pháp khắc phục sai lầm mà học sinh thường mắc khi học nhận diện từ láy"

Trang 6

2 CƠ SỞ LÍ LUẬN

Phân môn Luyện từ và câu cung cấp toàn bộ kiến thức về quy tắc cấu tạo

từ, biến đổi từ, kết hợp từ thành cụm từ, câu - đơn vị nhỏ nhất để thực hiệnchức năng giao tiếp Như chúng ta đã biết từ là một đơn vị trung tâm của ngônngữ Vai trò của từ trong hệ thống ngôn ngữ quy định tầm quan trọng trongcông việc dạy từ ở Tiểu học Không có một vốn từ đầy đủ thì không thể nắmngôn ngữ như một công cụ giao tiếp Vì vậy việc bồi dưỡng kiến thức và kĩnăng cho học sinh Tiểu học là rất quan trọng Luyện từ và câu cũng là một yếu

tố quan trọng để phát triển năng lực trí tuệ, những phẩm chất đạo đức tốt đẹpcủa người học sinh Ngay từ những ngày đầu đến trường, học sinh đã làm quenvới Luyện từ và câu qua việc học âm, vần, tiếng từ ở lớp 1, các kiểu câu đơngiản ở lớp 2, các từ loại cơ bản ở lớp 3, các biện pháp tu từ nghệ thuật quenthuộc hoặc cấu trúc về câu, cụm từ, nghĩa của từ v v ở lớp 4 , 5 Cụ thểLuyện từ và câu giúp cho học sinh Tiểu học có hiểu biết về quy tắc cấu tạo từ,nắm quy tắc dùng từ đặt câu và tạo văn bản để sử dụng trong giao tiếp Trên cơ sở

đó, học sinh nắm được các quy tắc chính tả, dấu câu, nắm chuẩn văn hoá lời nói Trong đó nội dung dạy về từ láy trong chương trình môn Tiếng Việt nóiriêng, các môn học nói chung ở Tiểu học chiếm một tỉ lệ đáng kể Điều đó nóilên ý nghĩa quan trọng của việc dạy từ láy ở bậc Tiểu học Vốn từ là một trongnhững bộ phận cấu thành của ngôn ngữ, cho nên muốn dạy cho học sinh nắmtiếng mẹ đẻ, không thể không coi trọng việc dạy vốn từ láy cho học sinh Tronggiao tiếp thông thường, cả người phát (nói, viết) và người nhận (nghe, đọc) đềucần nắm được từ láy, hiểu từ láy và sử dụng từ láy một cách chính xác thì việcgiao tiếp mới diễn ra suôn sẻ, đạt được hiệu quả Nhất là đối với học sinh độtuổi Tiểu học khi mà vốn Tiếng Việt nói chung, vốn từ láy nói riêng ở các emcòn hạn chế, cần phải được bổ sung, phát triển để đáp ứng các nhu cầu học tập,giao tiếp… Từ láy trong Tiếng Việt góp phần rất lớn trong việc gợi tả sắc thái,biểu cảm, làm bộc lộ hết cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ nói chung và văn bảnvăn chương nói riêng Việc nắm vững từ láy rất quan trọng đối với học sinhTiểu học Nó giúp cho các em thấy được cái hay, cái đẹp của Tiếng Việt thêm

Trang 7

yêu quý Tiếng Việt, góp phần làm giàu đẹp và phong phú thêm vốn từ ngữ chocác em, giúp các em có nhiều điều kiện để học tốt môn Tiếng Việt và các mônhọc khác ở bậc Tiểu học… Vì vậy, việc dạy từ láy cho học sinh càng được coitrọng, không thể dạy lướt qua.

3 THỰC TRẠNG

3.1 Đối với giáo viên

Trong chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học, từ láy rất được chú trọngnhưng cũng không ở đâu, giáo viên và học sinh Tiểu học gặp nhiều khó khăn

như với vấn đề nghĩa của từ láy Tâm lý hiện nay, việc học về từ láy đối với các

em rất ngại hay nói đúng hơn là sợ do còn yếu và ít thực hành về từ láy Thờigian tập trung cho việc học phần từ láy còn ít Do vậy, giáo viên chạy theo sựràng buộc của chương trình, thường dạy kiến thức cơ bản là chính Từ đó, họcsinh ít phát triển được năng lực tư duy, tìm tòi sáng tạo trong khi học phần từláy, không hình thành được kỹ năng khái quát hóa, trừu tượng hóa của trí lựchọc sinh

- Cách dạy của giáo viên thường quá phụ thuộc vào sách hướng dẫn, ngạithay đổi các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, đi theo đường mòn, chưamang tính sáng tạo, chưa mạnh dạn đưa ra sáng kiến, ý tưởng của mình vào quá

trình dạy học Ngoài ra, giáo viên chưa xác định rõ mục đích của dạy từ láy, chỉ

dạy các ví dụ điển hình ở SGK mà không nêu ra các trường hợp mà học sinh dễnhầm lẫn giữa từ ghép và từ láy

- Vốn từ của giáo viên có hạn chế, hiểu sâu các kiến thức về câu, từ còn

ở mức độ; khả năng phân tích ngôn ngữ, phân tích ngữ liệu ở mức bình thường.Mức độ hiểu nghĩa từ, miêu tả giải nghĩa từ còn khúc, còn lúng túng khigiải nghĩa hay miêu tả từ cho học sinh

- Kiến thức về từ vựng, ngữ nghĩa học của một số giáo viên còn hạn chếnên đã bộc lộ những sơ suất về kiến thức trong khi dạy

- Phương pháp dạy học của giáo viên hầu như còn đơn điệu, còn cứngnhắc chưa linh hoạt, ít sáng tạo chưa lôi cuốn được học sinh gây ra sự nhàmchán vì chủ yếu dựa vào sách giáo viên

Trang 8

- Ngoài ra sự tìm tòi, học hỏi, tự học, tự rèn có phần hạn chế; khả năngdiễn đạt, giảng giải chưa lưu loát gây cho học sinh khó hiểu

- Phần hướng dẫn bài tập chưa tốt, việc sửa sai cho học sinh chưa cụ thể,kết quả thấp chưa giúp học sinh mở rộng ra một số tình huống giao tiếp khácgần gũi với cuộc sống hàng ngày của các em mà chỉ mới đóng khung trongkhuôn khổ các mẫu câu trong sách vở Nhiều trường hợp học sinh làm sai , giáoviên chỉ nhận xét là sai và nêu ngay lời giải đúng mà chưa giúp cho học sinhnhận ra cái sai và cách sữa chữa

- Việc sử dụng các phương tiện hỗ trợ cho việc dạy và học còn yếu, cònthiếu phương tiện, thiếu tài liệu tham khảo, thiếu đồ dùng dạy học, yếu về cách

sử dụng đồ dùng dạy học

Tóm lại: Sự thiếu hụt kiến thức cũng như phương tiện hỗ trợ dạy học,những giải pháp không thống nhất từ những nguồn tri thức khác nhau cùng vớimột phương pháp tư duy thiếu mềm dẻo đã dẫn đến một số giáo viên rất lúngtúng

3.2 Đối với học sinh

- Học sinh chưa nắm chắc khái niệm từ ghép, từ láy để dựa vào đó kết luận một từ là từ ghép hay từ láy Học sinh rất lúng túng trước những câu hỏi

như: thúng mủng, tươi tốt, mặt mũi, tươi tỉnh, sáng sớm, êm ấm, cong

queo là từ láy hay từ ghép?

VD: Từ: “thúng mủng” các em thường cho là từ láy (láy vần) hay “tươi

tốt” là từ láy âm đầu Các em chưa biết phân tích nghĩa của các tiếng trong từ:

“thúng” là vật làm bằng tre, to để đựng lúa, gạo , “mủng” là vật được đan

bằng tre, nhỏ hơn thùng Như vậy các tiếng đều có nghĩa nên ta xếp vào nhóm

từ ghép

- Vốn từ của học sinh còn hạn chế, đặc biệt là việc nắm nghĩa của các từHán Việt chưa tốt nên khi xác định một từ Hán Việt là từ ghép hay từ láy là rấtkhó khăn đối với các em Khi gặp những từ xa lạ, các em chưa hiểu nghĩa màcách giảng của giáo viên lại thoát ly văn cảnh hoặc sa vào định nghĩa trừutượng làm học sinh khó hiểu

Trang 9

VD: Từ “nhân dân” học sinh thường cho rằng đây là từ láy (láy vần) nhưng khi phân tích nghĩa của các tiếng trong từ thì đó là từ ghép: “nhân” có nghĩa là người, “dân” là đông đảo thuộc tầng lớp bình thường trong xã hội.

Ngoài ra học sinh không nắm nghĩa của các từ láy cụ thể nên không hiểu

bài tập và tạo ra rất nhiều lỗi khi dùng từ láy như: Cô giáo em có cặp mắt óng

ánh, dáng đi dịu dàng, Tà áo dài của cô lướt thướt, Bạn Hùng chạy bon bon,

Con trâu cày nhanh nhảu, Em rất lạnh lùng (ý nói em cảm thấy rất lạnh), Bài toán dễ dãi v.v…

Với thực trạng trên, trong năm học này, tôi được nhà trường phân côngdạy môn Tiếng Việt ở lớp 5A và bồi dưỡng môn Tiếng Việt cho học sinh khối

5 của trường Ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành điều tra khảo sát chất lượngmôn Luyện từ và câu phần Từ láy của học sinh lớp mình phụ trách

- Nội dung khảo sát như sau:

Câu 1: Đánh dấu (x) vào ô trống kết quả nào đúng:

Từ "cáu kỉnh" là từ láy 

Từ " cáu kỉnh " là từ ghép 

Từ "êm ái" là từ láy 

Từ "êm ái" là từ ghép 

Câu 2 Trong các từ sau, từ nào là từ láy, từ nào là từ ghép?

mệt mỏi, săn bắn, bập bênh, sáng sớm, nhỏ nhẹ.

Câu 3:Trong các từ láy sau, từ láy nào có nghĩa giảm nhẹ so với từ gốc, từláy nào có nghĩa mạnh hơn so với từ gốc?

trăng trắng, vui vui, thăm thẳm, bừng bừng, đo đỏ.

Câu 4: Chọn từ láy thích hợp điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau:

Tiếng chuông xe đạp… không ngớt Tiếng còi ô tô… xin đường gay gắt Tiếng thùng nước va vào nhau… ở một cái vòi nước công cộng.

Với nội dung kiểm tra như trên tôi thấy học sinh mắc nhiều sai lầm donhững nguyên nhân là chưa hiểu đầy đủ về khái niệm từ láy, nghĩa của từ láy

và cách sử dụng từ láy Kết quả như sau:

(Tổng số 43 học sinh)

Trang 10

Dạng bài Chưa đạt yêu cầu Đạt yêu cầu

Qua kết quả trên tôi nhận thấy học sinh nhận biết và sử dụng từ láy cònyếu chẳng hạn như:

- Chưa hiểu đầy đủ về khái niệm từ láy:

Câu 1: Đánh dấu (x) vào ô trống kết quả nào đúng:

Câu 2: Trong các từ sau, từ nào là từ láy, từ nào là từ ghép:

mệt mỏi, săn bắn, bập bênh, sáng sớm, nhỏ nhẹ.

Có em xác định từ "nhỏ nhẹ " là từ ghép, còn lại cho là từ láy.

Câu 3: Trong các từ láy sau, từ láy nào có nghĩa giảm nhẹ so với từ gốc, từ láynào có nghĩa mạnh hơn so với từ gốc:

trăng trắng, vui vui, thăm thẳm, bừng bừng, đo đỏ.

Có em xác định từ: trăng trắng, vui vui là từ láy có nghĩa mạnh hơn so với

từ gốc: trắng, vui Từ thăm thẳm, bừng bừng là từ láy có nghĩa giảm nhẹ so với

từ gốc thẳm, bừng.

- Chưa nhận biết và sử dụng tốt từ láy

Câu 4: Chọn từ láy thích hợp điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau:

Tiếng chuông xe đạp… không ngớt Tiếng còi ô tô… xin đường gay gắt Tiếng thùng nước va vào nhau… ở một cái vòi nước công cộng.

(Từ láy cần điền là: loảng xoảng; pin pin, lanh canh)

Trang 11

Có em làm như sau: Tiếng chuông xe đạp pin pin không ngớt Tiếng còi ô

tô lanh canh xin đường gay gắt Tiếng thùng nước va vào nhau loảng xoảng ở

một cái vòi nước công cộng.

Trước thực tế dạy học đó, để đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tíchcực nhằm đem lại hiệu quả cao trong khi học phần Từ láy, bản thân tôi đãnghiên cứu kĩ chương trình Luyện từ và câu phần Từ láy, tìm tòi và thử nghiệm

đổi mới phương pháp dạy học, mạnh dạn đưa các biện pháp sai lầm mà học

sinh thường mắc phải khi học nhận diện từ láy, từ đó đề ra các biện pháp khắcphục hiệu quả Để thực hiện vấn đề này tôi đã tiến hành thực hiện các nội dung

- Căn cứ vào số lần láy, người ta chia từ láy tiếng Việt thành hai loại lớn:

từ láy đôi, từ láy ba (là sản phẩm của lần láy thứ nhất) và từ láy tư (sản phẩm

của lần láy thứ hai)

Ví dụ: gọn -> gọn gàng (láy đôi)

Sạch -> sạch sàng sanh (láy ba)

4.1.1 Từ láy đôi

Căn cứ vào sự đồng nhất hay khác biệt trong các thành phần tạo nên các

thành tố do sự phối hợp ngữ âm mà có, các từ láy đôi được phân loại thành từ

láy hoàn toàn (hoặc còn gọi là từ láy toàn bộ và từ láy bộ phận).

4.1.1.1 Từ láy hoàn toàn

Đó là những từ láy có sự đồng nhất, tương ứng hoàn toàn giữa các thành

phần cấu tạo của hai thành tố như: ào ào, lăm lăm, phau phau, hu hu, đùng

đùng, chằm chằm, đằng đằng, bừng bừng, chang chang, oang oang, Tuy

Trang 12

nhiên, láy không phải là sự lặp lại âm thanh nguyên vẹn, mà là sự lặp lại âmthanh có biến đổi theo những quy tắc hòa phối ngữ âm chặt chẽ và có tác dụngtạo nghĩa Điều này cũng xảy ra cả với từ láy hoàn toàn.

Sự biến đổi ngữ âm ở từ láy hoàn toàn có thể biểu hiện ở các mức độ sau đây:a) Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng giống hệt nhau về thành phần cấu tạo,chỉ khác về trọng âm, thể hiện ở độ nhấn mạnh và độ kéo dài trong phát âm đốivới mỗi thành tố Trọng âm thường rơi vào tiếng thứ hai của từ láy

Ví dụ: xanh xanh, khăng khăng, ngầu ngầu, kìn kìn, khư khư, vèo vèo,

xư-ơng xưxư-ơng, hòm hòm, lù lù, rào rào, ầm ầm, đùng đùng,

b) Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng có sự khác nhau về thanh điệu Do hiệntượng phát âm lướt nhẹ ở tiếng đầu nên có thể xảy ra hiện tượng biếnthanh theo những quy luật chặt chẽ

Ví dụ: đo đỏ, tim tím, mơn mởn, chồm chỗm, ha hả,

Ngoài những từ láy hoàn toàn mà thanh điệu biến đổi phù hợp với quy tắchài thanh vừa nêu trên, còn một số từ láy có thể xếp vào kiểu láy hoàn toàn có

biến thanh, nhưng sự biến thanh không theo quy tắc đã nêu Đó là các từ: khít

khịt, rát rạt, sát sạt, tuốt tuột, tất tật, rít rịt, xốp xộp, ở các từ láy này, cả dấu

hiệu đối thanh bằng – trắc cùng âm vực lẫn sự đối lập cùng âm vực đều bị phá

vỡ (thanh sắc đi với thanh nặng, hoặc đối lập bằng – trắc vẫn còn nhưng lạikhông thuộc cùng âm vực) Điều đáng chú ý là bên cạnh từ láy đôi này còn có

sự tồn tại song song của các từ láy ba tương ứng Ví dụ:

sát sạt -> sát sàn sạt khít khịt -> khít khìn khịt

Thêm vào đó, trong hai tiếng thì một tiếng còn có nghĩa, có khả năng hoạtđộng độc lập và luôn đứng ở vị trí thứ nhất, vị trí được nhấn mạnh (có trọngâm) Vì lẽ đó, người ta có thể nghĩ rằng các từ láy đôi nêu trên dạng rút gọn củacác từ láy ba tương ứng

c) Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng có sự khác nhau về âm cuối Cũng dohiện tượng phát âm lướt nhẹ ở tiếng đầu tiên nên có thể xảy ra hiện tượng biếnvần, theo quy luật chặt chẽ: Các phụ âm tắc và vô thanh –p, -t, -k (thể hiện

Trang 13

bằng con chữ c và h) sẽ chuyển thành các phụ âm vang mũi cùng cặp –m, n,

Ví dụ: khác khác/ khang khác, vặc vặc/ vằng vặc, ngắt ngắt/ ngăn ngắt,phật phật/ phần phật, chiếp chiếp/ chiêm chiếp, tiếc tiếc/ tiêng tiếc, khanhkhách,…

Trong từ láy hoàn toàn, sự biến vần chỉ xảy ra đối với một số phụ âm cuốinhất định Khi sự khác biệt ở phần vần xảy ra đối với nguyên âm (âm chính) cókèm theo hoặc không kèm theo sự biến đổi phụ âm cuối, thì từ láy này sẽkhông phải là từ láy hoàn toàn mà là từ láy bộ phận Như đã biết, trong ba bộphận của âm tiết Tiếng Việt (phụ âm đầu, vần, thanh điệu) thì vần là bộ phậnmang âm sắc chủ yếu của âm tiết Trong các yếu tố độc lập nhỏ hơn nằm trongvần (âm đệm, âm chính, âm cuối) thì âm chính có chức năng rất quan trọng Nólàm nên đỉnh âm tiết và quy định âm sắc chủ yếu của âm tiết, là hạt nhân của

âm tiết Do đó, nếu âm chính đã khác nhau thì diện mạo âm tiết cũng sẽ khácnhau Còn âm cuối chỉ có chức năng kết thúc âm tiết Nó chỉ làm thay đổi âmsắc của âm tiết chứ không làm thay đổi âm tiết

4.1.1.2 Từ láy bộ phận

Từ láy bộ phận là từ láy trong đó có sự phối hợp ngữ âm của từng bộ phận

âm tiết theo những quy tắc nhất định Trong Tiếng Việt kiểu láy bộ phận làkiểu chính, xét cả về số lượng từ, cả về tính đa dạng, phong phú của quy tắc

Trang 14

phối hợp âm thanh Căn cứ vào sự phối hợp các bộ phận khác nhau của âm tiết,

ta có thể chia từ láy bộ phận thành hai kiểu nhỏ : từ láy âm và từ láy vần.

a) Từ láy âm :

Từ láy âm là những từ láy trong đó âm đầu được láy lại

Ví dụ : tung tăng, bỏm bẻm, xum xuê, thập thò, bập bềnh, líu lo, róc rách,

mênh mang, gọn gàng, nhỏ nhắn,

b) Từ láy vần

Từ láy vần là từ láy trong đó phần vần trùng lặp ở cả hai âm tiết, còn phụ

âm đầu khác biệt nhau

Ví dụ : lác đác, bả lả, lò dò, lẩm cẩm, bịn rịn, lất phất, tần ngần,

Cả hai yếu tố trong từ láy phải giống nhau hoàn toàn ở phần vần và thanhđiệu phải phù hợp với luật "cùng âm vực" Sự khác biệt về phụ âm đầu ở từ láyvần rất đa dạng Tư liệu thống kê cho thấy ở các từ láy đã hình thành những

cặp phụ âm đầu phối hợp với nhau theo quy luật : trong mỗi cặp, hai phụ âm

đầu phải khác nhau về phương thức và bộ vị cấu âm Đáng chú ý là có đến một

nửa số từ láy kiểu này có phụ âm đầu l – n ở âm tiết thứ nhất (641/1307 từ) Rất

có thể l- là một phụ âm bên, đối lập với tất cả các phụ âm còn lại làm phụ âmđầu trong Tiếng Việt, nên nó có thể kết hợp với hầu hết các phụ âm đầu kháctrong việc cấu tạo từ láy vần

4.1.1.3 Một số trường hợp cần chú ý về từ láy đôi

Tôi đã chú ý cho học sinh một số trường hợp các từ láy đôi trong TiếngViệt sau đây:

a) Có một số từ mà các tiếng trong từng từ được biểu hiện trên chữ viếtkhông có phụ âm đầu Ví dụ:

- ấm áp, êm ái, ít ỏi, im ắng, êm ả, ồn ào, ì ạch, í ới, óng ánh, (những từ

không xác định được tiếng gốc)

Thoạt nhìn có thể nghĩ rằng các từ trên không phải là từ láy (nếu đối chiếuvới định nghĩa về từ láy) Nhưng nếu quan sát kĩ thì thấy rằng các từ trên đều

giống nhau về hình thức ngữ âm : các tiếng trong từng từ đều cùng vắng khuyết

phụ âm đầu Thêm vào đó, những từ này cũng có những đặc trưng ngữ nghĩa

Trang 15

nói chung của từ láy Vì vậy, có thể coi đấy là từ láy nhưng là những từ láy đặc

biệt, trong đó những từ không xác định được tiếng gốc mang nhiều đặc trưng

của từ láy hơn những từ xác định được tiếng gốc

b) Có một số từ có hình thức ngữ âm phù hợp với từ láy nhưng cả hai âm

tiết đều có nghĩa Ví dụ : gậy gộc, vung vẩy, nhún nhảy, những từ này nên xếp vào từ ghép Còn những từ kiểu như: mùa màng, thịt thà, máy móc, tuổi

tác là từ láy

c) Những trường hợp thanh điệu không theo quy tắc nhóm thanh giữa các

tiếng trong từ láy, ví dụ: âu sầu, ôm đồm, ủ rũ, ngoan ngoãn, chơi bời, do dự,

đành hanh, eo sèo, la cà, lu bù, căn dặn, bơ phờ,…

Xét về hình thức ngữ âm, các từ thuộc loại này được phân loại như sau:

- Láy hoàn toàn: lia lịa, đứ đừ, lẳng lặng, ngoan ngoãn, tất tật,

- Láy vần: âu sầu, chăm bẵm, căn dặn, tản mạn,

- Láy âm: chì chiết, hồ hởi, nhỏ nhặt, đả động, lam lũ,

d, Ngoài ra, giáo viên cần giúp cho học sinh hiểu không để hình thức chữviết của từ đánh lừa

VD: cập kênh; cồng kềnh; cũ kỹ; kém cỏi; quanh co;… là những từ láy âm

(phụ âm đầu "cờ" được ghi bằng các con chữ khác nhau: c, k, q)

4.1.2 Từ láy ba

Số lượng các từ láy ba trong tiếng Việt không nhiều, chỉ có khoảng bốnchục từ Đó là những đơn vị gồm ba tiếng có sự hòa phối ngữ âm với nhau

Ví dụ: sạch sành sanh, dửng dừng dưng, cỏn còn con, bã bà bà, tất tần

tật, tuốt tuồn tuột, mảy mày may, tỉnh tình tinh,

Có khả năng từ láy ba còn tồn tại song song với từ láy đôi tương ứng

Ví dụ : cỏn cỏn con - cỏn con

dửng dừng dưng - dửng dưng cuống cuồng cuồng - cuống cuồng

Khác với từ láy đôi, các từ láy ba trong tiếng Việt đều có một điểm chung:Trong ba âm tiết tạo nên từ láy ba luôn luôn có một âm tiết có nghĩa, có khảnăng sử dụng độc lập, thường được gọi là yếu tố gốc Vậy các từ láy ba được

Trang 16

cấu tạo theo phương thức tác động một lần lên từ láy đôi tương ứng hay là kếtquả của hai bước nhân đôi tiếng gốc.

Nếu thừa nhận các từ láy đôi tương ứng với các từ láy ba như: xốp xộp,

khít khịt, sát sạt, tuốt tuột, cỏn con, trơ trờ, dửng dưng, nhũn nhùn, sạch sanh, nhẽo nhèo,… là kiểu từ láy hoàn toàn thì có mấy điểm lưu ý sau:

Quy tắc biến đổi thanh điệu ở từ láy ba thường gặp là như sau:

- Tiếng thứ hai của từ láy ba thường mang thanh bằng (phổ biến là thanh

huyền, thanh ngang ít gặp hơn: lơ tơ mơ)

- Tiếng thứ nhất và tiếng thứ ba phải đối lập nhau về mặt bằng – trắc,hoặc đối lập nhau về âm vực cao – thấp

+ Các từ láy ba có tiếng thứ nhất và tiếng thứ ba đối lập nhau về thanh

bằng – trắc: dửng dừng dưng, tẻo tèo teo,

+ Các từ láy ba có tiếng thứ nhất và tiếng thứ ba đối lập nhau về âm vực

cao – thấp: khít khìn khịt, tuốt tuồn tuột, sát sàn sạt,

Tuyệt đại đa số các từ láy ba là từ láy hoàn toàn Có rất ít từ láy ba là từ láy

bộ phận và cũng chỉ gặp những từ láy vần như: tơ lơ mơ, lờ tờ mờ, lơ tơ mơ

4.1.3 Từ láy tư

Từ láy tư là từ láy gồm bốn tiếng trong thành phần cấu tạo của nó

a) Đại đa số các từ láy tư được cấu tạo trên cơ sở những từ láy đôi bộphận Từ láy đôi ban đầu được coi là phần gốc Những từ láy tư kiểu này đượccoi là những từ láy tư xác định được yếu tố gốc, gồm hai phần rõ rệt: phần gốc

và phần láy được tạo ra trên cơ sở phần gốc theo những nguyên tắc của phương

thức láy, chỉ có phần gốc có ý nghĩa từ vựng chân thực Đó là các từ láy: bập

bà bập bềnh, ấm a ấm ớ, vất va vất vưởng

b) Có nhiều cách lí giải khác nhau đối với những từ láy trong đó hai tiếng

đi liền nhau tạo thành từng cặp mà đều có ý nghĩa từ vựng chân thực, có khảnăng hoạt động độc lập như những từ láy đôi Không nhất nhiết phải khuônnhững trường hợp này về kiểu từ láy tư xác định được thành tố gốc Đó là các

từ láy tư như: lồm nhồm loàm nhoàm, lông ba lông bông,

Trang 17

c) Với những từ láy tư trong đó hai tiếng đi liền nhau không tạo thànhtừng cặp một và thường chỉ có một tiếng có nghĩa thì đơn vị lấy cơ sở có thể

không phải là một từ láy đôi Đó là những từ như: xa lắc xa lơ, rậm rì rậm rịt,

ù ù cạc cạc, trùng trùng điệp điệp,

Như vậy, từ láy tư là một cấu trúc gồm bốn tiếng trong đó chỉ có nhiềunhất một tiếng hoặc một cặp đôi hai tiếng liền nhau có ý nghĩa từ vựng chânthực, có khả năng hoạt động độc lập, nằm trong sự hòa phối âm thanh với cáctiếng hoặc cặp hai tiếng còn lại theo những quy luật nhất định tạo nên mộtnghĩa khái quát nào đó

4.2 Hướng dẫn học sinh hiểu rõ nghĩa từ láy

Nhìn một cách khái quát, đặc trưng chung về nghĩa của từ láy là được hìnhthành từ ngữ của hình vị gốc theo hướng mở rộng hoặc thu hẹp, tăng cườnghoặc giảm nhẹ Nói cách khác, nghĩa của từ láy là sự sức thái hoá nghĩa của

hình vị gốc (sắc thái hoá là thêm cho ý nghĩa của hình vị gốc một số sắc thái

nào đó) Có thể có nhiều dạng sắc thái hoá, nhưng dạng cụ thể hoá nghĩa củahình vị gốc là dạng phổ biến hơn cả Cụ thể hoá là so với nghĩa của hình vị gốc,nghĩa của từ láy cụ thể, rõ nét, xác định hơn, hẹp hơn, gợi tả hơn, có giá trị biểuhiện và biểu cảm cao hơn Hãy so sánh nghĩa của hình vị gốc và nghĩa của các

từ láy dưới đây:

VD: Khờ -> khờ khạo

Run -> run rẩy

Bằng ngữ cảm bản ngữ, ta dễ dàng nhận ra sự khác biệt nghĩa giữa từ láy

và hình vị gốc, như đã nói ở trên

Một dạng cụ thể hoá khác là dạng giảm nhẹ hoặc thu hẹp nghĩa của hình vị

gốc Ví dụ: hình vị gốc xanh chỉ đặc điểm về màu sắc của nhiều loại sự vật, hiện tượng như: trời xanh, nước xanh, lá cây xanh, mực xanh, da xanh, nhưng đến nghĩa của từ láy toàn bộ xanh xanh thì lại có tính chất giảm nhẹ về

độ đậm đặc (hơi xanh) và loang ra trên bề mặt còn nghĩa của từ láy phụ âm đầu xanh xao thì mang tính chất thu hẹp rất rõ Từ láy này chỉ nói về nước da

của người trong trạng thái ốm yếu

Ngày đăng: 27/02/2022, 21:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w