Luận văn làm rõ về thành phần năng lực chuyên biệt của môn Địa lí theo chương trình GDPT năm 2018. Đề xuất một số biện pháp và ví dụ nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng đã học cho học sinh trong môn Địa lí lớp 10
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
5 Nhiệm vụ của đề tài 2
6 Giả thuyết nghiên cứu 7
7 Phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined 8 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 7
9 Cấu trúc của luận văn 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC, KĨ NĂNG ĐÃ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 10 Ở TRƯỜNG THPT 11
1.1 Định hướng đổi mới giáo dục phổ thông ở nước ta hiện nay 11
1.1.1 Định hướng chung 11
1.1.2 Định hướng đổi mới phương pháp giáo dục 14
1.1.3 Định hướng đổi mới về kiểm tra đánh giá 16
1.2 Một số vấn đề về dạy học phát triển năng lực 19
1.2.1 Một số khái niệm liên quan 19
1.2.2 Đặc điểm của dạy học phát triển năng lực 21
1.2.3 Hình thành và phát triển năng lực trong dạy học Địa lí ở trường THPT 23
1.3 Mục tiêu và nội dung môn Địa lí 10 ở trường trung học phổ thông 24
1.3.1 Mục tiêu môn Địa lí 10 ở trường THPT 24
1.3.2 Nội dung môn Địa lí 10 ở trường THPT 25
1.3.3 Khả năng tổ chức dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở trường trung học phổ thông 26
Trang 31.4 Tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 10 ở trường THPT 27
1.4.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 10 ở trường THPT 27
1.4.2 Trình độ nhận thức của học sinh lớp 10 ở trường THPT 29
1.5 Thực trạng phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở các trường THPT 31
1.5.1 Tình hình dạy học của giáo viên 31
1.5.2 Tình hình học tập của học sinh 34
1.5.3 Nguyên nhân của thực trạng dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở các trường THPT 35
Tiểu kết chương 1 36
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC, KĨ NĂNG ĐÃ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 10 Ở TRƯỜNG THPT 37
2.1 Nguyên tắc và yêu cầu đối với việc tổ chức dạy học Địa lí 10 để phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh 37
2.1.1 Nguyên tắc (đảm bảo yêu cầu cần đạt của nội dung giáo dục) 37
2.1.2 Yêu cầu 39
2.2 Một số biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở trường THPT 40
2.2.1 Thiết kế và sử dụng các bài tập thực tiễn 40
2.2.2 Sử dụng các phương pháp dạy học gắn với bối cảnh thực tiễn 44
2.2.3 Thiết kế các nhiệm vụ học tập gắn với khai thác và sử dụng internet 44
2.2.4 Tăng cường đánh giá thông qua sản phẩm học tập 59
2.3 Thiết kế một số kế hoạch bài dạy minh hoạ về việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở trường THPT 66
2.3.1 Giáo án 1 66
2.3.2 Giáo án 2 72
Tiểu kết chương 2 81
Trang 4CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 82
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 82
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 82
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 82
3.2 Nguyên tắc thực nghiệm sư phạm 83
3.3 Phương pháp thực nghiệm 83
3.3.1 Lựa chọn phương pháp thực nghiệm 83
3.3.2 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm 83
3.4 Tổ chức thực nghiệm 88
3.4.1 Chuẩn bị thực nghiệm 88
3.4.2 Tổ chức thực nghiệm 89
3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 89
3.5.1 Kết quả bài kiểm tra của học sinh trước thực nghiệm 89
3.5.2 Kết quả đánh giá sự tiến bộ của học sinh sau thực nghiệm 91
Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 104
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Một số điểm khác biệt giữa chương trình định hướng năng lực và chương
trình định hướng nội dung [10] 12 Bảng 1.2: Một số điểm khác biệt giữa đánh giá năng lực người học và đánh giá kiến
thức, kĩ năng [23] 18 Bảng 3.1: Bảng tiêu chí đánh giá các biểu hiện của năng lực vận dụng kiến thức, kĩ
năng đã học 84 Bảng 2.2: Các mức độ đánh giá các biểu hiện của năng lực vận dụng kiến thức, kĩ
năng đã học của học sinh 86 Bảng 3.3: Tổng hợp điểm kiểm tra kết quả học tập của HS trước thực nghiệm 90 Bảng 3.4: Kết quả năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học của HS qua bài kiểm
tra trước thực nghiệm 90 Bảng 3.5: Kết quả năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học của HS qua bài kiểm
tra số 1 91 Bảng 3.6: Tổng hợp điểm kiểm tra kết quả học tập của HS sau bài kiểm tra số 1 92 Bảng 3.7: Phân bố tần suất kết quả điểm bài kiểm tra số 1 92 Bảng 3.8: Kết quả năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học của HS qua bài kiểm
tra số 2 93 Bảng 3.9: Tổng hợp điểm kiểm tra kết quả học tập của HS sau bài kiểm tra số 2 94 Bảng 3.10: Phân bố tần suất kết quả điểm bài kiểm tra số 2 94
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chương trình giáo dục theo hướng phát triển năng lực được nhắc đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ XX và ngày nay nó đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học, đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức Theo chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, môn Địa lí giúp học sinh có được những kiến thức địa lí trong cuộc sống, bên cạnh đó còn mở rộng nền tảng tri thức kĩ năng phổ thông cốt lõi Môn Địa lí có nhiều khả năng
và cơ hội để góp phần phát triển ở học sinh các năng lực chung như: giao tiếp và hợp tác, tự chủ và tự học, giải quyết vấn đề và sáng tạo; và năng lực địa lí – một biểu hiện của năng lực khoa học
Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học đem lại cho học sinh nhiều cơ hội thực hành, phát triển khả năng tư duy, suy luận khoa học và giải quyết các vấn đề mới trong học tập và cuộc sống Đặc biệt là những vấn đề về mối quan hệ giữa tự nhiên và
xã hội loài người Việc hình thành và phát triển cho học sinh năng lực này giúp các em luôn tự tin, thích ứng tốt với những thay đổi của cuộc sống Bên cạnh đó, phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh góp phần đào tạo nên nguồn lao động chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của thời đại
Môn Địa lí ở trường trung học phổ thông có nhiều cơ hội để hình thành và phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh Bởi đây là một môn khoa học có tính liên ngành, với nội dung gắn liền với thực tiễn cuộc sống Địa lí 10 cung cấp cho học sinh những tri thức khái quát về địa lí tự nhiên đại cương và địa lí kinh tế xã hội đại cương Thông qua quá trình học tập trên lớp, các em có ý thức bảo
vệ tài nguyên thiên nhiên, ý thức trách nhiệm của cá nhân với cộng đồng và xã hội Ngoài ra, các em còn được tìm hiểu, khảo sát thực tế các vấn đề về tự nhiên, kinh tế -
Trang 7xã hội của địa phương thông qua các hoạt động học tập Như vậy, thông qua quá trình học tập học sinh được tích lũy kinh nghiệm, kiến thức và đương đầu với các tình huống, giải quyết các vấn đề được đặt ra Chất lượng học tập của học sinh từ đó cũng được cải thiện một cách rõ ràng
Tuy nhiên, hiện nay việc thực hiện dạy học theo định hướng phát triển năng lực vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là việc dạy học với mục tiêu hình thành và phát triển cho học sinh các năng lực theo chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018 vẫn chưa thực sự được áp dụng rộng rãi trong dạy học Địa lí ở nhà trường trung học phổ thông Thậm chí, nhiều giáo viên vẫn chưa hiểu rõ về năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh hoặc trong quá trình dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh vẫn chưa thực sự hiệu quả
Từ những lí do trên tôi đã chọn đề tài “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở trường trung học phổ thông” với
mong muốn góp phần vào quá trình nghiên cứu để đổi mới dạy học Địa lí ở các trường phổ thông hiện nay
3 Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức,
kĩ năng đã học cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở trường trung học phổ thông
- Đưa ra những yêu cầu và nguyên tắc của việc dạy học phát triển thành phần năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh
- Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng
đã học cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở trường THPT
- Thiết kế một số kế hoạch bài học minh hoạ về việc phát triển thành phần năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở trường THPT
Trang 8- Thực nghiệm sư phạm, đánh giá tính khả thi của đề tài nghiên cứu
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở trường trung học phổ thông” là
một số biện pháp để phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh trong dạy học Địa lí ở trường trung học phổ thông nhằm đáp ứng yêu cầu về đổi mới giáo dục Địa lí ở nhà trường trung học phổ thông ở nước ta hiện nay
5 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: trong dạy học Địa lí 10 – THPT (chương trình chuẩn)
- Phạm vi đối tượng khảo sát: đề tài chủ yếu khảo sát giáo viên ở các trường: THPT Xuân Đỉnh, THCS & THPT Nguyễn Tất Thành, THPT Huỳnh Thúc Kháng,…
- Phạm vi trường thực nghiệm sư phạm: trường THPT Huỳnh Thúc Kháng
- Phạm vi bài thực nghiệm: bài 32 – Địa lí các ngành công nghiệp (tiếp theo) (Địa lí 10 – chương trình chuẩn); bài 41 + 42 – Môi trường, tài nguyên thiên nhiên và
sự phát triển bền vững (Địa lí 10 – chương trình chuẩn)
- Phạm vi thời gian: năm học 2020-2021
6 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Dạy học theo theo hướng phát triển năng lực đã được đề cập đến nhiều tài tiệu
cả trong và ngoài nước
6.1 Ở nước ngoài
Khi thảo luận về năng lực, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều nhất đến khái niệm này ở phương diện năng lực hành động P.D Ashworth và Judy Saxton đã khẳng định trong tác phẩm “On competence, Journal of further and higher education” năng lực hành động là một khía cạnh mô tả hành động của con người và chưa được xác định một cách
rõ ràng về thuộc tính cá nhân, hành động hay kết quả của hành động Ý tưởng về mô hình năng lực cũng được tham chiếu đến từng cá nhân với những đòi hỏi về kĩ năng cao hơn và có xu thế đơn giản hóa mối quan hệ giữa lí thuyết với thực hành [18, tr.3-25] Tác phẩm “The competent manager: A model for effective performance” đã nghiên cứu về các thành tố của năng lực được hình thành đơn lẻ với từng cá nhân và kết nối chặt chẽ với nhau Vì thế, các năng lực mang tính đặc thù, biểu hiện cho mỗi cá
Trang 9nhân, nó được thể hiện qua cách suy nghĩ, hành động trước mỗi tình huống của từng người và được đánh giá trong cả một quá trình” [38]
Theo Howard Gardner năng lực là sự huy động đồng thời 8 lĩnh vực trí năng của
cá nhân, bao gồm: ngôn ngữ, lôgic toán học, không gian, vận động cơ thể, âm nhạc, giao tiếp, tự nhận thức, và tự nhiên [42]
Trong The European Framework of 8 Key Competences (Khung 8 năng lực của Châu Âu) [21, tr.4] đã nhấn mạnh 8 năng lực chính là: các năng lực cốt lõi; năng lực số; năng lực khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học; năng lực ngôn ngữ; năng lực đọc hiểu; năng lực nhận thức và diễn tả văn hóa, năng lực khởi nghiệp; năng lực công dân; năng lực cá nhân, xã hội và học tập
Năm 1999, trong công trình Concepts of competence, Definition and Selection of competencies (Khái niệm và sự lựa chọn năng lực), Franz E.Weinert [41] đã đưa ra 9 cách tiếp cận năng lực với những yếu tố ảnh hưởng từ các góc độ khác nhau
Năm 2016, Khoirudin Asfani và cộng sự đã chỉ ra rằng phương pháp giảng dạy của giáo viên, sự hài lòng trong học tập của học sinh và thành tích cũng như động lực của các em là những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của quá trình hình thành và phát triển năng lực cho học sinh Muốn đạt hiệu quả cao, chúng ta phải chú trọng đến thái độ, kĩ năng, kiến thức, bằng cấp, năng lực, đặc điểm tính cách của giáo viên và khả năng giao tiếp, động lực và điều kiện học tập của học sinh, điều kiện cơ sở vật chất, môi trường lớp học [43]
Wege cho rằng việc học chính là sự tham gia vào một cộng đồng thực hành, không chỉ bao gồm các sự kiện địa phương hay sự tham gia trong một số hoạt động cùng với một số người nhất định mà còn là quá trình tham gia tích cực thực hành vào cộng đồng xã hội hơn và xây dựng các bản sắc liên quan đến các cộng đồng này [20, tr.3-4] Thuật ngữ “cộng đồng thực hành” cung cấp một bối cảnh học tập, nhấn mạnh vào khâu then chốt hình trong quá trình thành năng lực (thực hành)
Với quan niệm phát triển năng lực gắn liền với nhận thức về văn hóa, ngay từ năm 1993, Lev Vygotsky [47] đã nhấn mạnh rằng bản chất của việc học tập vốn là được trải nghiệm vào một môi trường văn hóa cụ thể
Chương trình giáo dục của Anh [39] đã chú ý đến hai nhóm kĩ năng mà học sinh
Trang 10cần có là: chức năng và cá nhân, tư duy, học tập và hướng đến 2 nhiệm vụ trọng tâm: cung cấp cơ hội thành công cho tất cả học sinh và phát triển đầy đủ năng lực trí tuệ, tinh thần, đạo đức, xã hội, văn hóa, thể chất để các em có trải nghiệm, hình thành kinh nghiệm và tạo ra các cơ hội cho tương lai Chương trình nhằm cá thể hóa các năng lực của người học thông qua những tác động tích cực
Trong chương trình giáo dục của Hàn Quốc [44] hướng đến các mục tiêu chung nhằm giúp học sinh: phát triển cá tính riêng của cá nhân, kiến thức và kĩ năng; khám phá con đường nghề nghiệp với kiến thức và hiểu biết; tạo ra các giá trị mới dựa trên
di sản văn hoá quốc gia; cải thiện cộng đồng với tư cách công dân Các mục tiêu trên
đề cao năng lực sáng tạo của cá nhân trong quá trình vận dụng kiến thức, kĩ năng nhằm tạo ra các giá trị mới và cải thiện cộng đồng Quá trình phát triển năng lực được thể rõ ở mục tiêu của từng cấp học
Chương trình giáo dục Pháp [45, tr.4] chỉ ra mục tiêu của giáo dục bắt buộc là phải đảm bảo cung cấp cho học sinh những công cụ cần thiết để làm chủ một nền tảng chung, bao gồm tổng thể các kiến thức và năng lực Những quy định về năng lực được thể hiện rõ trong khung kiến thức và năng lực thiết yếu cho học sinh gồm 7 năng lực chính: làm chủ tiếng Pháp; sử dụng một ngoại ngữ khác; các thành tố cơ bản của toán học và văn hóa, khoa học và công nghệ; làm chủ các kĩ thuật cơ bản của ICT; văn hóa nhân văn; các năng lực xã hội và công dân; tự chủ và sáng tạo Ở từng năng lực này,
sự gắn kết giữa kiến thức, kĩ năng và thái độ đều được mô tả rất cụ thể Đây là những năng lực xuyên suốt và cũng là yêu cầu đầu ra đối với quá trình dạy học qua tích hợp nội dung, môn học và chọn chủ đề học tập rộng, xuyên môn, gắn với thực tiễn
Trang 11học phổ thông trong Pisa và khung đánh năng lực toán học.[13]
Tác phẩm “Phát triển chương trình đại học theo hướng tiếp cận năng lực: xu thế và nhu cầu” của tác giả Hoàng Thị Tuyết đã giới thiệu những mô hình phát triển chương trình đại học theo hướng phát triển năng lực trên thế giới Theo tác giả, phát triển chương trình đại học theo hướng phát triển năng lực ở Việt Nam là một đường lối chiến lược để làm cho giáo dục đại học Việt Nam gắn đào tạo với nhu cầu kinh tế - xã hội.[34]
Trong cuốn “Lí luận dạy học hiện đại - một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học”, 2012 của tác giả Benrd Meier và Nguyễn Văn Cường đã đề cập đến giáo dục định hướng phát triển năng lực và một số quan điểm, phương pháp và kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực cho học sinh.[15]
Trong cuốn “Lí luận dạy học hiện đại - cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học” (2014) của tác giả Benrd Meier và Nguyễn Văn Cường, đã đề cập đến phát triển năng lực như là mục tiêu dạy học, định hướng phát triển năng lực là một xu hướng giáo dục quốc tế Tác giả cũng đưa ra các quan điểm, phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học nhằm phát triển năng lực của người học.[16]
Trong bài “Năng lực và đánh giá theo năng lực”, Hoàng Hòa Bình nhấn mạnh hai đặc trưng cơ bản của năng lực là: được bộc lộ qua hoạt động và đảm bảo hoạt động
có hiệu quả Theo tác giả, cách hiểu về năng lực chính là cơ sở để đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả giáo dục [5, tr 21- 32]
Đỗ Hương Trà (2015) giới thiệu các chủ đề tích hợp với các mức độ tích hợp khác nhau Giáo viên không chỉ được cung cấp cụ thể những chỉ dẫn mà còn nâng cao sự tự tin, tính chủ động và sáng tạo trong việc lựa chọn cách thức tổ chức dạy học các chủ đề tích hợp để đáp ứng mục tiêu dạy học và phát triển đa dạng các năng lực của học sinh Dạy học không phải là tạo ra kiến thức hay truyền đạt kiến thức mà dạy cho người học học cách đáp ứng hiệu quả các đòi hỏi cơ bản liên quan đến môn học và có khả năng vượt ra ngoài phạm vi môn học để chủ động, thích với cuộc sống trong tương lai [37]
Lương Việt Thái [7, tr.28] chỉ ra rằng sự thành thạo trong quá trình phát triển năng lực cho học sinh phải được phát triển các thành phần và phải được thực hành
Trang 12trong những tình huống thực tiễn Vì thế, trong quá trình dạy học, giáo viên cần phải tạo cơ hội cho học sinh được trải nghiệm, nhằm đạt được sự thành thạo đối với những năng lực riêng biệt thông qua các thực hành trong các bối cảnh và kinh nghiệm học tập
ở tất cả các lớp
Thấy được vai trò quan trọng của việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực, năm 2018 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra chương trình giáo dục phổ thông mới với mục tiêu của giáo dục phổ thông là: “giúp người học làm chủ kiến thức phổ thông, biết vận dụng hiệu quả kiến thức vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội;
có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại” [1, tr.6] Phần lớn các công trình nghiên cứu và tư liệu trên đây đều trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vấn đề dạy học theo định hướng phát triển năng lực Tuy nhiên, chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, có hệ thống và đề xuất các biện pháp nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh trong chương trình Địa lí 10 ở trường THPT
7 Giả thuyết nghiên cứu
Nếu áp dụng một số biện pháp nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh như đề xuất trong đề tài nghiên cứu thì sẽ nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, nhất là theo hướng phát triển năng lực; góp phần đổi mới phương pháp dạy học Địa lí ở trường trung học phổ thông
8 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
8.1 Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm thực tiễn
Thực tiễn giáo dục là nguồn gốc, là động lực, là tiêu chuẩn và là mục đích của quá trình nghiên cứu khoa học giáo dục, quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học giáo dục cho phép ta nhìn thấy sự xuất hiện, sự phát triển, diễn biến và kết thúc của các sự vật hiện tượng trong thực tiễn, phát hiện quy luật tất yếu của sự phát triển đối tượng, giúp các nhà khoa học kiểm tra kết quả nghiên cứu trong hoạt động thực tiễn giáo dục, cải tạo thực tiễn giáo dục
Trang 13- Quan điểm hệ thống
Nghiên cứu theo quan điểm hệ thống cho phép nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện về hiện tượng giáo dục, thấy được mối quan hệ của hệ thống với các đối tượng khác trong hệ thống lớn, từ đó xác định được các con đường tổng hợp, tối ưu để nâng cao chất lượng giáo dục
- Quan điểm tích hợp
Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học giáo dục, quan điểm tiếp cận tích hợp là chỉ một quan niệm giáo dục toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối Tích hợp còn có nghĩa là thành lập một loại hình nhà trường mới, bao gồm các thuộc tính trội của các loại hình nhà trường vốn có
- Quan điểm lịch sử
Trong nghiên cứu cho phép ta nhìn thấy toàn cảnh sự xuất hiện, sự phát triển, diến biến và kết thúc của các sự vật hiện tượng, mặt khác giúp ta phát hiện qui luật tất yếu của sự phát triển đối tượng, giúp các nhà khoa học nghiên cứu và hoạt động thực tiễn giáo dục tránh được những sai lầm không đáng có
- Quan điểm dạy học phát triển năng lực
Đổi mới phương pháp dạy học Địa lí ở nhà trường phổ thông theo hướng phát triển năng lực là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Dạy học phát triển năng lực người học không chỉ chú ý tích cực hóa học sinh về mặt trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề với những tình huống thực tiễn trong cuộc sống và nghề nghiệp
8.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập và xử lí thông tin
Tác giả thu thấp và xử lí các thông tin từ các nguồn tài liệu gồm sách báo, tạp chí chuyên ngành, các báo cáo khoa học, các đề tài nghiên cứu, các trang web cung cấp thông tin và các chỉ thị, nghị quyết của ngành giáo dục có liên quan đến đề tài Để đề tài đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm, trong quá trình thu thập tài liệu phải đặc biệt chú ý đến nội dung chương trình sách giáo khoa Địa lý 10 (chương trình chuẩn), sách hướng dẫn của giáo viên, cùng với các tài liệu tham khảo khác
- Phương pháp điều tra, quan sát
Đề tài sử dụng phương pháp khảo sát giáo viên và học sinh ở một số trường trung
Trang 14học phổ thông thông qua phiếu khảo sát với hệ thống câu hỏi trắc nghiệm, thăm lớp,
dự giờ,… Phương pháp này được sử dụng để khảo sát thực trạng dạy học theo hướng phát triển năng lực Từ đó, đề xuất các biện pháp thích hợp trong việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh
- Phương pháp chuyên gia
Là một phương pháp không thể thiếu khi tác giả thực hiện đề tài Tác giả sử dụng phương pháp để tham khảo và xin ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu, các chuyên gia về vấn đề đề tài đang nghiên cứu Từ những góp ý của các nhà nghiên cứu, tác giả
đã chỉnh sửa và hoàn thiện đề tài của mình
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Để kiểm chứng tính khoa học và thực tiễn của đề tài, phải tiến hành thực nghiệm
sư phạm Đó là cách trực tiếp giảng dạy hoặc nhờ một số giáo viên có kinh nghiệm ở một số trường phổ thông giúp đỡ giảng dạy phần bài giảng do tác giả thiết kế theo mục đích của đề tài Sau đó dùng phiếu thăm dò lấy ý kiến của giáo viên và học sinh nhằm kiểm nghiệm các kết quả lý thuyết mà đề tài đưa ra Phân tích các kết quả thực nghiệm thu được, rút ra những nhận định cần thiết và từ đó đề ra một số kiến nghị giúp cho việc dạy học địa lý đạt được hiệu quả như mong muốn
- Phương pháp thống kê toán học
Vận dụng lý thuyết xác suất thống kê và thống kê toán học để xử lý, phân tích các kết quả thu được sau khi tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, nhằm đánh giá tính khả thi của đề tài, đồng thời là căn cứ khoa học để xác định xu hướng phát triển của đối tượng để đề xuất những biện pháp thực hiện cho tốt
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở trường THPT
Trang 15Chương 2: Biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở trường THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC, KĨ NĂNG ĐÃ HỌC CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 10 Ở TRƯỜNG THPT
1.1 Hướng đổi mới giáo dục phổ thông ở nước ta hiện nay
1.1.1 Hướng đổi mới chung
Căn cứ theo Quyết định số 404/QĐ - TTg của thủ tướng chính phủ ngày
27/3/2015 “Phê duyệt đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông” [30, 36] Chương trình giáo dục phổ thông được đổi mới cả về chương trình, và
chuẩn đầu ra
Nổi bật nhất của chương trình giáo dục phổ thông mới là việc chuyển từ chương trình theo hướng nội dung sang chương trình theo hướng năng lực Chương trình theo hướng theo nội dung giúp truyền thụ cho người học một cách có hệ thống kiến thức, tri thức khoa học Nhưng nó lại cứng nhắc về mặt nội dung, không phù hợp với thời kỳ phát triển khoa học công nghệ hiện đại, làm chương trình trở nên cũ kĩ lạc hậu Không chỉ vậy, việc thực hiện chương trình dạy học theo hướng nội dung chủ yếu kiểm tra đánh giá dựa vào việc học sinh tại hiện tri thức mà không hướng tới khả năng vận dụng kiến thức đã học vào những tình huống thực tiễn Còn đối với giáo dục hướng năng lực, nó giúp đảm bảo đầu ra của việc dạy học, phát triển toàn diện phẩm chất nhân cách của học sinh, chú trọng năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh, để học sinh có thể ứng dụng trong những tình huống thực tiễn, nhằm chuẩn
bị cho người học năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp trong tương lai
Chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành cùng Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 đã chỉ ra rất rõ về những phẩm chất, năng lực cần hình thành và phát triển ở học sinh Trong đó, năm phẩm chất cần hình thành ở học sinh là: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm Ngoài ra chương trình giáo dục phổ thông mới cũng hướng tới việc phát triển các năng lực chung và năng lực đặc thù, thời phát triển tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh Các năng lực chung gồm có: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp
Trang 17tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Các năng lực đặc thù gồm: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã quy định rất rõ về các năng lực đặc thù cho từng môn học Yêu cầu cần đạt của môn Địa lí cấp trung học phổ thông về năng lực đặc thù là phát triển năng lực khoa học Địa lí với ba thành phần lực: nhận thức khoa học địa lí; tìm hiểu địa lí; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
Chương trình theo hướng năng lực và chương trình theo hướng nội dung có một
số điểm khác biệt như sau:
Bảng 1.1: Một số điểm khác biệt giữa chương trình theo hướng năng lực và chương
trình theo hướng nội dung [10]
Chương trình theo hướng
- Mục tiêu dạy học được mô tả chi tiết có thể quan sát và đánh giá được
- Học là để sống, học để biết làm
- Chú trọng hình thành kiến thức, kĩ năng thái độ
- Mục tiêu mô tả không chi tiết, khó có thể quan sát đánh giá được
- Lấy mục tiêu học để thi, học
để hiểu làm trọng tâm
Nội dung
- Nội dung được dạy cần đạt được chuẩn đầu ra theo quy định Chương trình chỉ quy định nội dung chính
- Quan tâm các kĩ năng thực hành, việc vận dụng kiến thức, kĩ năng tao thực tiễn cuộc sống
- Nội dung có tính mở, tạo điều kiện
để học sinh dễ cập nhật tri thức mới và vận dụng trong cuộc sống hàng ngày
- Nội dung được dạy dựa vào khoa học chuyên môn, chương trình quy định rất rõ phần này
Trang 18- Coi trọng việc tổ chức hoạt động, học sinh được chủ động tham gia các hoạt động học tập, tự tìm tòi tri thức
- Người học có nhiều cơ hội được bày tỏ ý kiến, tham gia phản biện
- Giáo viên sử dụng nhiều phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực
- Giáo viên là người truyền thụ tri thức, học sinh tiếp thu những tri thức được quy định sẵn trong sách giáo khoa
- Người học thụ động ít có sự phản biện
- Giáo viên chủ yếu sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống (thuyết trình,…)
Kiểm tra,
đánh giá
Quan tâm đến sự tiến bộ của người học Chú trọng khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào thực tiễn Học sinh được đánh giá lẫn nhau
Đánh giá chủ yếu dựa vào việc ghi nhớ kiến thức của học sinh Chưa quan tâm tới khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Người dạy được toàn quyền quyết định trong quá trình đánh giá
Sản phẩm
giáo dục
- Khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học vào thực tiễn cuộc sống
- Người học không phụ thuộc vào sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu
- Học sinh năng động, sáng tạo, tự tin
- Khả năng ghi nhớ của học sinh
- Phụ thuộc nhiều vào sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu
- Học sinh ít năng động sáng tạo
Trang 191.1.2 Đổi mới phương pháp giáo dục
Nghị quyết 29 – NQ/TW đã định hướng quá trình đổi mới phương pháp giáo dục
là “tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú
ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [1]
Trong chương trình giáo dục phổ thông mới cũng đã đưa ra nội dung về việc đổi mới phương pháp giáo dục Trong đó giáo viên, phải ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Lúc này học sinh là người chủ động tìm kiếm, nắm vững tri thức, giáo viên chỉ là người định hướng, tạo môi trường tình huống học tập, khuyến khích học sinh học tập
Đổi mới phương pháp dạy học được thể hiện qua 4 đặc trưng sau:
Một là: dạy học là việc tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập Từ đó học sinh có
cơ hội được khám phá tri thức chứ không thụ động tiếp thu nội dung bài học Chuỗi hoạt động học tập có sự gắn kết với nhau về mặt nội dung, hoạt động đa dạng tránh gây nhàm chán cho học sinh, giúp các em có sự tích cực trong học tập
Hai là: giáo viên cần rèn luyện cho học sinh phương pháp để các em biết cách sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết tự mình tìm kiếm tri thức, biết cách suy luận, tìm tòi, phát hiện kiến thức mới Từ đây, học sinh cũng có thể hình thành và phát triển năng lực tự chủ và tự học
Ba là: trong quá trình xây dựng các hoạt động học tập, giáo viên cần chú ý tới việc tăng cường phối hợp các hoạt động học tập cá nhân với học tập hợp tác (học tập theo nhóm) Với đặc trưng thứ ba này, học sinh có cơ hội được suy nghĩ, thực hiện các nhiệm vụ học tập, trao đổi và thảo luận nhiều hơn
Bốn là: cần chú trọng đánh giá kết quả học tập trong suốt quá trình học, thông qua hệ thống câu hỏi/bài tập, sự quan sát của giáo viên Tạo cho học sinh cơ hội để rèn luyện phát triển kĩ năng tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng
Trang 20Để đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông theo hướng phát triển năng lực, chúng ta có một số biện pháp cụ thể sau: cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống, kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học, vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, vận dụng dạy học theo tình huống, vận dụng dạy học theo hướng hành động, tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hỗ trợ dạy học, sử dụng các kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo, tăng cường các phương pháp dạy học đặc thù của bộ môn, bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh [8]
* Phương pháp giáo dục địa lí theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh
Để hình thành, phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung cho học sinh, giáo viên cần thực hiện theo một số hướng phương pháp giáo dục môn địa lí như sau:
- Thông qua tổ chức các hoạt động học tập, môn Địa lí giáo dục cho học sinh thế giới quan khoa học, lòng yêu nước, tình yêu thiên nhiên, yêu thương người lao động; thái độ tôn trọng những giá trị nhân văn; ý thức, niềm tin, trách nhiệm và hành động cụ thể trong việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; rèn luyện cho học sinh đức tính chăm chỉ, sự trung thực trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Môn Địa lí có nhiều ưu thế cho việc hình thành, phát triển các năng lực chung cho học sinh (các năng lực đã được quy định trong chương trình tổng thể, chương trình giáo dục phổ thông năm 2018)
+ Năng lực tự chủ và tự học được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động học tập như thu thập thông tin, báo cáo địa lí, khảo sát, điều tra thực tế địa phương hay vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tế,…
+ Năng lực giao tiếp và hợp tác được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động thảo luận nhóm, phương pháp dạy học thảo luận, dạy học dự án,…
+ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động phát hiện vấn đề, nêu giả thuyết hoặc giả định, tính logic trong giải quyết vấn đề, đề xuất các giải pháp để giải quyết một vấn đề nào đó, đánh giá giải
Trang 21pháp giải quyết vấn đề, tưởng tượng khoa học, giải quyết vấn đề mới phải tự học lí thuyết và công cụ địa lí
* Hình thành, phát triển năng lực trong bộ môn địa lí gồm:
- Thành phần năng lực nhận thức khoa học địa lí được phát triển khi giáo viên tạo cho học sinh cơ hội huy động những hiểu biết, kinh nghiệm sẵn có để tham gia hình thành kiến thức mới Đặc biệt chú ý tới việc tổ chức các hoạt động tiếp cận sự vật và hiện tượng địa lí diễn ra trong cuộc sống theo mối quan hệ không gian - thời gian, trả lời các câu hỏi cơ bản như: cái gì vậy ở đâu, như thế nào,… Chú trọng rèn luyện cho học sinh kĩ năng phân tích các mối liên hệ
- Để phát triển thành phần năng lực tìm hiểu địa lí, giáo viên tạo điều kiện cho học sinh sử dụng các công cụ của địa lí học như: atlat địa lí, bản đồ, lược đồ, biểu đồ,
sơ đồ, lát cắt, mô hình, bảng số liệu, tranh ảnh,… để tìm tòi, khám phá kiến thức; tăng cường khai thác internet trong học tập; tổ chức cho học sinh học tập ngoài thực địa, trong môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội ở địa phương
- Để phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học môn địa lí, học sinh cần có cơ hội để cập nhật thông tin và liên hệ thực tế, tiếp cận với các tình huống thực tiễn; thực hiện các chủ đề học tập khám phá từ thực tiễn, vận dụng các kiến thức, kĩ năng địa lí để giải quyết một số vấn đề thực tiễn phù hợp Giáo viên cần đặc biệt quan tâm, rèn luyện cho học sinh kĩ năng phát hiện vấn đề, lập kế hoạch nghiên cứu, giải quyết vấn đề, đánh giá kết quả giải quyết vấn đề, nêu giải pháp khắc phục hoặc cải tiến, tăng cường sử dụng các bài tập đòi hỏi vận dụng kiến thức thực tế và tư duy phản biện, sáng tạo
1.1.3 Đổi mới về kiểm tra đánh giá
Đổi mới giáo dục cần gắn liền với đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh Đây là quá trình thu thập, phân tích và xử lí thông tin, giải thích thực trạng việc đạt mục tiêu giáo dục, từ đó giáo viên sẽ tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra những quyết định sư phạm giúp học sinh ngày càng tiến bộ trong học tập
Theo quan điểm dạy học phát triển năng lực, đánh giá kết quả học tập theo hướng phát triển năng lực không tập trung vào khả năng tái hiện, ghi nhớ kiến thức
Trang 22của học sinh mà đánh giá kết quả dựa theo việc học sinh vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống khác nhau Kết quả kiểm tra đánh giá có một vai trò quan trọng, nó giúp giáo viên và học sinh có cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy và hoạt động học; là căn cứ thay đổi hoạt động quản lí giáo dục, vừa xác nhận sự tiến bộ và thành tích học tập của học sinh, đồng thời tạo nên động lực để học sinh tiếp tục cố gắng Vì vậy đánh giá phải phản ánh đúng mức độ của chuẩn chương trình (từng cấp học của từng môn học) Kết quả kiểm tra đánh giá cần khách quan, chính xác, kịp thời
để việc điều chỉnh hoạt động dạy, hướng dẫn hoạt động học được thực hiện một cách kịp thời nhằm nâng cao dần năng lực học sinh
Kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực học sinh có một số điểm nổi bật sau:
Một là, chuyển từ đánh giá tổng kết với mục đích phân loại, xếp hạng kết quả học tập của học sinh sang đánh giá quá trình, đánh giá định kỳ theo từng bài học, chủ
đề, từng chương nhằm phản hồi để điều chỉnh quá trình dạy và học
Hai là, chuyển từ đánh giá kiến thức, kĩ năng sang đánh giá năng lực của người học Thay vì đánh giá việc ghi nhớ kiến thức của học sinh, giáo viên cần đánh giá năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học học sinh vào những tình huống thực tiễn
Ba là, quá trình kiểm tra đánh giá cần được kết hợp với quá trình dạy học, nó được coi như là một biện pháp quan trọng để phát triển năng lực học sinh
Bốn là, tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình kiểm tra, đánh giá Sử dụng công nghệ thông tin như một công cụ để việc kiểm tra đánh giá đạt hiệu quả tốt hơn
Trong Nghị quyết 29 – NQ/TW cũng đã yêu cầu đổi mới hình thức và phương pháp thi, kiểm tra - đánh giá kết quả giáo dục theo hướng phát triển năng lực học sinh
Trang 23Bảng 1.2: Một số điểm khác biệt giữa đánh giá năng lực người học và đánh giá kiến
kiến thức, kĩ năng đã học vào giải
quyết vấn đề thực tiễn của cuộc
sống
- Đánh giá vì sự tiến bộ của người
học
- Xác định việc đạt kiến thức, kĩ năng theo mục tiêu của chương trình
- Đánh giá, xếp hạng giữa những người học
- Những kiến thức, kĩ năng, thái độ
nhiều môn học, nhiều hoạt động
giáo dục và những trải nghiệm bản
thân học sinh trong cuộc sống xã
hội
- Đánh giá theo các mức độ phát
triển năng lực của người học
- Những kiến thức kĩ năng thái độ
ở một môn học
- Đánh giá việc người học có đạt được hay không một nội dung đã được học
Kết quả
đánh giá
- Năng lực người học phụ thuộc
vào độ khó của nhiệm vụ hoặc bài
tập đã hoàn thành
- Thực hiện được nhiệm vụ càng
khó, càng phức tạp sẽ được gọi là
năng lực cao hơn
- Năng lực người học phụ thuộc vào số câu hỏi, nhiệm vụ hay bài tập đã hoàn thành
- Càng đạt được nhiều đơn vị kiến thức, kĩ năng thì càng được coi là
có năng lực
Trang 24* Đánh giá kết quả giáo dục Địa lí theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực
- Đánh giá kết quả giáo dục trong môn địa lí nhằm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình và sự tiến bộ của học sinh để hướng dẫn, điều chỉnh các hoạt động học tập sao cho phù hợp hơn
- Căn cứ để đánh giá kết quả giáo dục của học sinh là các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực được quy định trong chương trình tổng thể và chương trình môn địa lí
- Nội dung đánh giá không chỉ là kiến thức mà cần tăng cường đánh giá các kĩ năng của học sinh như: làm việc với bản đồ, atlat, biểu đồ, sơ đồ, bảng số liệu, tranh ảnh, quan sát thu thập xử lí và hệ thống hóa thông tin, sử dụng các dụng cụ học tập ngoài trời, sử dụng công nghệ và thông tin cho học tập Chú trọng đánh giá khả năng vận dụng kiến thức vào những tình huống cụ thể
- Đa dạng hóa các hình thức đánh giá Tăng cường đánh giá thường xuyên với tất
cả học sinh bằng nhiều hình thức khác nhau Kết hợp giữa đánh giá của giáo viên với
tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng
- Kết quả giáo dục được đánh giá bằng hình thức định tính và định lượng thông qua đánh giá thường xuyên, định kì Trên cơ sở đó, tổng hợp kết quả đánh giá chung
về phẩm chất, năng lực và sự tiến bộ của học sinh
1.2 Một số vấn đề về dạy học phát triển năng lực
1.2.1 Một số khái niệm liên quan
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: "Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện
mức độ thông thạo, tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn một hay một số hoạt động nào đó Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy
Trang 25cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân" [35]
Nhắc đến năng lực là muốn nói tới khả năng hành động của con người để thực hiện một công việc nào đó có hiệu quả, vì vậy nhà Tâm lí học người Pháp Denyse
Tremblay cho rằng: "Năng lực là khả năng hành động đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết vấn đề của cuộc sống" [5]
Đặng Thành Hưng: “Năng lực là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [21]
Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy” [33] Tâm hội nghị chuyên đề của hội đồng châu âu, F.E Weinert đã phân tích các định nghĩa về năng lực và đưa ra kết luận về khái niệm năng lực của học sinh trong quá trình học tập các môn học: “Năng lực học sinh là sự kết hợp giữa kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề” Ông còn cho biết năng lực là sự kết hợp của bốn năng lực: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, và năng lực cả thể.[50]
Phần lớn định nghĩa về năng lực của các tài liệu nước ngoài cho rằng năng lực thuộc phạm trù khả năng Vì vậy, giải thích năng lực bằng các khái niệm không thực
sự chính xác Theo từ điển Tiếng Việt, khả năng là “cái có thể xuất hiện, có thể xảy ra trong điều kiện nhất định” Người có năng lực trong một lĩnh vực nào đó sẽ thực hiện được công việc tương ứng Trong khi khả năng chỉ là sự tồn tại ở dạng tiềm năng (có thể hoàn thành được công việc nhưng cũng có thể không hoàn thành được) [28]
Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo
“năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức,
kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… thực hiện thành công một loại hành động nhất định, đảm kết quả mong muốn trong những
Trang 26điều kiện cụ thể.” [3]
Mặc dù có nhiều khái niệm nhưng cách hiểu về năng lực đều xác định nó là khả năng thực hiện, phải biết làm chứ không chỉ biết và hiểu Trong quá trình thực hiện hành động phải gắn liền với ý thức và trách nhiệm, dựa trên cơ sở là kiến thức và kĩ năng Năng lực chính là khả năng hành động
* Dạy học phát triển năng lực
Dạy học là toàn bộ các thao tác, hoạt động có mục đích nhằm chuyển các giá trị tinh thần, sự hiểu biết, giá trị văn hóa mà nhân loại hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người Theo quan điểm này, dạy học là quá trình đào tạo ra nguồn lao động đáp ứng được nhu cầu của xã hội Tuy nhiên việc dạy học luôn đi sau sự phát triển xã hội Bởi vậy, quá trình dạy học chỉ yêu cầu tái hiện lại những nội dung kiến thức hàn lâm, không ứng dụng được vào cuộc sống hàng ngày
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, nhằm đáp ứng yêu cầu cho sự phát triển của đất nước khái niệm về dạy học đã có sự thay đổi Lúc này, dạy học là quá trình gồm các thao tác, nhằm tổ chức định hướng cho người học từng bước chiếm lĩnh tri thức để từ đó giải quyết được các vấn đề thực tế
Như vậy dạy học phát triển năng lực có thể hiểu là quá trình tổ chức các hoạt động học tập Trong đó đặc biệt chú ý tới việc học sinh phát triển năng lực như thế nào
1.2.2 Đặc điểm của dạy học phát triển năng lực
Dạy học phát triển năng lực đặc biệt quan tâm đến chuẩn “đầu ra” của học sinh Dựa theo việc vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào cuộc sống, dạy học phát triển năng lực có một số đặc điểm sau:
Mục tiêu của dạy học phát triển năng lực chú trọng đến quá trình hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực thông qua việc vận dụng kiến thức, kĩ năng vào trong cuộc sống Mục tiêu bài học được mô tả một cách chi tiết Nó phải đánh giá, phải đo lường được năng lực của học sinh Sau quá trình học tập, học sinh phải biết được cách làm, phải giải quyết được các vấn đề trong cuộc sống hằng ngày
Về nội dung dạy học theo hướng phát triển năng lực, nó thường tập trung phục
vụ “đầu ra”, tức là dạy học sinh cách vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào cuộc sống Chú trọng vào các kĩ năng thực hành, nội dung bài học thường có tính mở, liên
Trang 27quan đến thực tiễn, cập nhật được tình hình thực tế Từ đó, học sinh có điều kiện để vận dụng kiến thức, kĩ năng vào trong cuộc sống
Về phương pháp tổ chức, trong hoạt động dạy học giáo viên chỉ đóng vai trò là người tổ chức các hoạt động, là người cố vấn chúc các em có cơ hội học tập và tự mình khám phá tri thức Khi xây dựng các hoạt động học tập, giáo viên cần chú ý tạo cho học sinh cơ hội được tự tìm tòi khám phá tri thức Kế hoạch bài dạy khi xây dựng cần phân hóa và bám sát trình độ nhận thức của học sinh để các em có thể tiếp thu nội dung bài học một cách hiệu quả nhất Bên cạnh đó, học sinh cũng cần có cơ hội để được bày tỏ ý kiến, phản biện,…
Hình thức tổ chức của dạy học theo hướng phát triển năng lực có sự đa dạng Giáo viên có thể sử dụng hình thức bài lên lớp, ngoại khóa hay thực địa,… để tạo ra nhiều cơ hội cho học sinh học tập chiếm lĩnh tri thức Cũng vì hình thức tổ chức đa dạng nên học sinh tích cực tham gia hoạt động học tập Đặc biệt với hình thức học tập ngoại khóa hay thực địa, các em học sinh được tự mình quan sát, đánh giá, nhận xét và giải thích các hiện tượng có thực trong cuộc sống hằng ngày Từ đó, các em có thể vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các tình huống thực tế
Về kiểm tra đánh giá, trong dạy học theo hướng phát triển năng lực giáo viên cần chú ý tới việc kiểm tra đánh giá vì sự tiến bộ của người học Lúc này kiểm tra đánh giá không còn là việc học sinh ghi nhớ kiến thức như thế nào mà phải kiểm tra đánh giá được khả năng học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào các tình huống trong thực tiễn Bên cạnh đó lúc này học sinh được tự mình tham gia vào quá trình đánh giá, được tự đánh giá bản thân và đánh giá đồng đẳng
Trong dạy học theo hướng phát triển năng lực, sản phẩm học tập cũng đa dạng hơn Đầu tiên, sau quá trình học tập học sinh cần phải có thái độ tự tin, năng động Thứ hai là việc các em có thể vận dụng kiến thức, kĩ năng vào cuộc sống Các em không còn phụ thuộc nhiều vào các tài liệu, học liệu, sách giáo khoa mà có thể tự mình khám phá các tri thức thông qua internet, hay thông qua những vấn đề của địa phương
Có thể thấy, các đặc điểm của dạy học phát triển năng lực đã bao quát được tất cả các yếu tố Dựa vào những đặc điểm này giáo viên có thể xây dựng những kế hoạch bài học nhằm phát triển năng lực cho học sinh, đặc biệt là năng lực vận dụng kiến thức
Trang 28kĩ năng đã học
1.2.3 Hình thành và phát triển năng lực trong dạy học Địa lí ở trường THPT
Theo chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, trong quá trình dạy học bộ môn Địa lí, giáo viên cần hình thành và phát triển 3 năng lực chung và 3 thành phần năng lực đặc thù cho học sinh Cụ thể là:
Năng lực chung: năng lực tự chủ và tự học (tự lực; tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng; tự điều chỉnh tình cảm thái độ, hành vi của mình; thích ứng với cuộc sống; định hướng nghề nghiệp; tự học, tự hoàn thiện), năng lực giao tiếp
và hợp tác (xác định mục đích, nội dung, phương tiện và thái độ giao tiếp; thiết lập, phát triển các quan hệ xã hội, điều chỉnh và hoá giải các mâu thuẫn; xác định mục đích
và phương thức hợp tác; xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân; xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác; tổ chức và thuyết phục người khác; đánh giá hoạt động hợp tác; hội nhập quốc tế), năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo (nhận ra ý tưởng mới; phát hiện và làm rõ vấn đề; hình thành và triển khai ý tưởng mới; đề xuất, lựa chọn giải pháp; thiết kế, tổ chức hoạt động; tư duy độc lập) [3]
Thành phần năng lực đặc thù gồm: năng lực nhận thức khoa học địa lí (nhận thức thế giới theo quan điểm không gian; giải thích các hiện tượng và quá trình địa lí), tìm hiểu địa lí (sử dụng các công cụ địa lí học, tổ chức học tập ở thực địa, khai thác internet phục vụ môn học), vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học (cập nhật thông tin và liên hệ thực tế, thực hiện chủ đề học tập khám phá từ thực tiễn, vận dụng tri thức địa lí giải quyết một số vấn đề thực tiễn) [4]
Trong đó, yêu cầu cần đạt của năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học bao gồm:
- Tìm kiếm được thông tin từ các nguồn tin cậy để cập nhật số liệu, tri thức về thế giới, khu vực, đất nước, về xu hướng phát triển trên thế giới và trong nước; liên hệ được thực tế địa phương, đất nước, để làm sáng rõ hơn kiến thức địa lí
- Trình bày ý tưởng và xác định được cụ thể chủ đề nghiên cứu ở địa phương; vận dụng được kiến thức, kĩ năng địa lí vào việc nghiên cứu chủ đề, viết được báo cáo hoàn chỉnh và trình bày kết quả nghiên cứu theo các hình thức khác nhau
- Vận dụng được các kiến thức, kĩ năng địa lí để giải quyết một số vấn đề thực
Trang 29tiễn phù hợp với trình độ học sinh và ứng xử phù hợp với môi trường sống
1.3 Mục tiêu và nội dung môn Địa lí 10 ở trường trung học phổ thông
1.3.1 Mục tiêu môn Địa lí 10 ở trường THPT
Theo chương trình giáo dục phổ thông năm 2006, chương trình môn Địa lí 10 ở trường THPT gồm các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, thái độ - tình cảm; đồng thời, trong quá trình dạy và học, giáo viên cũng cần chú ý hình thành và phát triển ở học sinh các phẩm chất và năng lực
- Về kiến thức: cung cấp cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản, cần
thiết về:
+ Trái Đất, các thành phần cấu tạo của Trái Đất, các hiện tượng, sự vật địa lí và tác động qua lại giữa chúng Một số quy luật phát triển của môi trường tự nhiên trên Trái Đất
+ Dân cư và các hoạt động của con người trên Trái Đất, mối quan hệ giữa dân
cư, hoạt động sản xuất và môi trường
+ Sự cần thiết phải khai thác hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường
và phát triển bền vững
- Về kĩ năng: hình thành và phát triển ở học sinh
+ Kĩ năng học tập và nghiên cứu địa lí: quan sát, nhận xét, phân tích, so sánh, đánh giá các sự vật, hiện tượng địa lí; phân tích, sử dụng bản đồ, Atlat; vẽ phân tích biểu đồ, đồ thị, lát cắt; phân tích số liệu thống kê
+ Kĩ năng thu thập, xử lí và thông báo thông tin địa lí
+ Kĩ năng vận dụng tri thức địa lí để giải thích các hiện tượng, sự vật địa lí và bước đầu tham gia giải quyết những vấn đề của cuộc sống phù hợp với khả năng của học sinh
- Về thái độ, tình cảm: góp phần bồi dưỡng cho học sinh
+ Tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước thông qua ứng xử thích hợp với tự nhiên + Niềm tin vào khoa học, ham học hỏi, hứng thú, say mê tìm hiểu các sự vật, hiện tượng địa lí
+ Có ý chí tự cường dân tộc, niềm tin vào tương lai của đất nước, có tâm thế sẵn
Trang 30sàng tham gia xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước; có ý thức trách nhiệm và tham gia tích cực vào các hoạt động sử dụng hợp lí, bảo vệ, cải tạo môi trường; nâng cao chất lượng cuộc sống của gia đình, cộng đồng
1.3.2 Nội dung môn Địa lí 10 ở trường THPT
Chương trình Địa lí 10 – THPT gồm 53 tiết và được giảng dạy trong 37 tuần (trong đó học kì I có 36 tiết với 19 tuần, học kì II có 17 tiết với 18 tuần)
Nội dung môn Địa lí 10 trong sách giáo khoa Địa lí lớp 10 gồm 40 bài (theo chương trình giảm tải) và được chia thành 2 phần là địa lí tự nhiên đại cương và địa lí kinh tế xã hội đại cương
* Phần một: Địa lí tự nhiên (gồm 20 bài, trong đó có 3 bài thực hành)
- Chương I - Bản đồ: một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lí trên bản
đồ, phương pháp sử dụng bản đồ, atlat địa lí để tìm hiểu đặc điểm của các đối tượng, hiện tượng địa lí
- Chương II - Vũ trụ Hệ quả các chuyển động của Trái Đất: khái quát Vũ Trụ, hệ Mặt Trời trong Vũ Trụ, Trái Đất trong hệ mặt trời Các hệ quả của chuyển động tự quay quanh trục và chuyển động quay quanh Mặt Trời của Trái Đất
- Chương III - Cấu trúc của Trái Đất, các quyển của lớp vỏ Địa lí: cấu trúc của lớp vỏ Trái Đất Khái niệm, đặc điểm của các quyển của lớp vỏ Địa lí (thạch quyển, khí quyển, thuỷ quyển, thổ nhưỡng quyển và sinh quyển)
- Chương IV - Một số quy luật của lớp vỏ địa lí: khái niệm lớp vỏ địa lí, trình bày nguyên nhân, biểu hiện của quy luật thống nhất và hoàn chỉnh, quy luật địa đới và phi địa đới
- Nội dung bài thực hành liên quan đến việc xác định một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ; nhận xét về sự phân bố các vành đai động đất, núi lửa và các vùng núi trẻ trên bản đồ; đọc bản đồ sự phân hóa các đới và các kiểu khí hậu trên trái đất, phân tích biểu đồ một số kiểu khí hậu
* Phần hai: Địa lí kinh tế xã hội (gồm 20 bài, trong đó có 4 bài thực hành)
- Chương V - Địa lí dân cư: gồm các vấn đề về dân cư như dân số, sự gia tăng dân số, cơ cấu dân số, sự phân bố dân cư, các loại hình quần cư và đô thị hóa và phân tích bản đồ dân cư thế giới
- Chương VI - Cơ cấu nền kinh tế: khái niệm nguồn lực, phân biệt được các
Trang 31nguồn lực và vai trò của chúng Khái niệm cơ cấu nền kinh tế, các bộ phận hợp thành
cơ cấu ngành kinh tế
- Chương VII - Địa lí nông nghiệp: nội dung liên quan đến các vấn đề của ngành nông nghiệp như vai trò, đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân
bố ngành nông nghiệp Địa lí ngành trồng trọt và chăn nuôi
- Chương VIII - Địa lí công nghiệp: nội dung gồm vai trò, đặc điểm và các nhân
tố ảnh hưởng đến ngành công nghiệp Địa lí các ngành công nghiệp và một số hình thức chủ yếu của tổ chức lãnh thổ công nghiệp
- Chương IX - Địa lí dịch vụ: gồm vai trò, các nhân tố và đặc điểm phân bố các ngành dịch vụ Địa lí ngành giao thông vận tải
- Chương X - Môi trường và sự phát triển bền vững: gồm các nội dung liên quan đến môi trường, tài nguyên thiên nhiên và sự phát triển bền vững
- Nội dung bài thực hành liên quan tới việc phân tích bản đồ phân bố dân cư thế giới, vẽ và phân tích biểu đồ về sản lượng lương thực, dân số của thế giới và một số quốc gia, vẽ biểu đồ tình hình sản xuất một số sản phẩm công nghiệp trên thế giới, viết báo cáo ngắn về kênh đào Xuy-ê và kênh đào Pa-na-ma
Chương trình Địa lí 10 ở trường THPT được xây dựng theo nguyên tắc đồng tâm, xoáy trôn ốc Nó có sự kế thừa của chương trình Địa lí cấp THCS nhưng nâng cao và
mở rộng nhiều kiến thức hơn Nội dung môn học có nhiều phần liên quan đến thực tiễn cuộc sống như những hiện tượng tự nhiên, những vấn đề về môi trường hay kinh tế xã hội Đây là điều thuận lợi để giáo viên thiết kế bài dạy nhằm phát triển ở học sinh năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học Bên cạnh đó, những nội dung liên quan đến các lĩnh vực kinh tế xã hội, đòi hỏi học sinh phải liên tục cập nhật số liệu để có những đánh giá, nhận xét đúng nhất với tình hình thực tế
1.3.3 Khả năng tổ chức dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở trường trung học phổ thông
Mục tiêu của chương trình Địa lí lớp 10 ở trường trung học phổ thông rất phù hợp để tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh Trong quá trình học tập bộ môn Địa lí, học sinh đã được rèn luyện và phát triển các kĩ năng của bộ môn ở cấp trung học cơ sở Điều này giúp các
em có thể phát hiện, phân tích, chứng minh được một số hiện tượng xảy ra trên bề mặt
Trang 32Trái Đất, ở các châu lục, khu vực, quốc gia, hay ở chính nơi mà các em đang sinh sống Các em hoàn toàn có thể vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học để đưa ra các giải pháp, giải thích mối quan hệ giữa các đối tượng địa lí Trong từng nội dung bài học hay chủ đề học tập, mục tiêu về kiến thức cũng như năng lực cũng đã thể hiện rất
rõ yêu cầu GV phải tổ chức hoạt động nhằm giúp học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các tình huống trong cuộc sống
Cấu trúc nội dung, chương trình Địa lí cũng tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh Chương trình địa lí 10 gồm 2 phần là địa lí tự nhiên đại cương và địa lí kinh tế xã hội đại cương Học sinh được tìm hiểu theo một cấu trúc logic, khoa học Các nội dung có sự gần gũi, liên kết với cuộc sống hàng ngày như các hệ quả chuyển động của Trái Đất (hiện tượng mùa, giờ và đường chuyển ngày quốc tế, hiện tượng ngày đêm dài ngắn khác nhau,…), nội dung về các thành phần của lớp vỏ Trái Đất (thạch quyển, khí quyển, thuỷ quyển, thổ nhưỡng quyển và sinh quyển),… Hệ thống kiến thức về địa lí tự nhiên sẽ là nền tảng để học sinh có thể giải thích các hiện tượng
có trong cuộc sống Đồng thời, dựa vào nội dung này, các em học sinh cũng có thể giải quyết các vấn đề liên quan tới sự phát triển kinh tế xã hội hay việc tổ chức lãnh thổ các ngành kinh tế với bảo vệ môi trường sống hiện nay
Sách giáo khoa là một tài liệu quan trọng và không thể thiếu trong quá trình dạy học Cách thiết kế sách giáo khoa Địa lí 10 cũng tạo điều kiện thuận lợi để thiết kế các hoạt động học tập nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh Trong hoặc sau mỗi bài học, trong sách giáo khoa luôn có những câu hỏi liên
hệ thực tế địa phương Đây là gợi ý quan trọng để GV thiết kế những tình huống, lồng ghép những vấn đề thực tế vào các hoạt động học tập Từ đó, học sinh có điều kiện để vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học Một số vấn đề học sinh có thể liên hệ như:
ô nhiễm nguồn nước và không khí, sức ép về dân số lên các vấn đề kinh tế xã hội,…
1.4 Tâm sinh lí và trình độ nhận thức của học sinh lớp 10 ở trường THPT
1.4.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 10 ở trường THPT
Học sinh lớp 10 ở bậc trung học phổ thông ở độ tuổi từ 15 đến 16 tuổi Đây là độ tuổi có sự phát triển mạnh mẽ cả về thể chất cũng như tâm lí Cùng với đó, các hoạt động nhận thức, tri giác của học sinh cũng đã phát triển mạnh hơn và ở mức cao hơn
Trang 33so với bậc học trung học cơ sở
Trong độ tuổi này còn có sự chuyển đổi vai trò, vị thế một cách rõ ràng nhất Các
em học sinh nhận thức được vai trò và vị thế của mình trong gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội Sự quản lí của người lớn đang dần giảm sút để các em dần tự lực phát triển Các em có thể tham gia vào các hoạt động Đoàn, hay các câu lạc bộ mà bản thân yêu thích, được tự do chọn nghề nghiệp tương lai, phong cách học tập,… Trong giai đoạn này, học sinh đang dần được và phải tự chịu trách nhiệm về những quyết định và hành động của bản thân Dựa vào đặc điểm tâm sinh lí này, giáo viên
có thể lựa chọn nội dung học tập sao phù hợp với sở thích của các em để các em có tinh thần tích cực tham gia các hoạt động học tập Bên cạnh đó, cần để các em học sinh thấy được nhiệm vụ, trách nhiệm học tập của bản thân để cố gắng hơn nữa trong quá trình học tập
Cũng trong giai đoạn này, học sinh đã dần ý thức được về bản thân, cơ thể; các
em đã có thể tự đánh giá về thẩm mĩ hay phẩm chất của bản thân hoặc bạn bè,… Cái tôi được thể hiện rõ ràng hơn thông qua việc các em tự đánh giá khả năng cũng như năng lực của bản thân ở mức độ cao hơn Vì vậy, học sinh luôn sẵn sàng và tích cực tham gia vào quá trình khám phá, tìm tòi hay cố gắng giải quyết các vấn đề mang tính chất mạo hiểm hay khó khăn Vì vậy, trong quá trình dạy học, GV cần kích thích sự tò
mò để các em học sinh tích cực tham gia vào quá trình học tập Giáo viên có đưa để ra các tình huống thực tiễn để các em chủ động giải quyết, tìm tòi các vấn đề,… Ở độ tuổi này, các em không thích sự áp đặt của người lớn Học sinh thích tranh luận hay đơn giản chỉ muốn được bộc lộ, bày tỏ ý kiến, thái độ, quan điểm của mình Từ đó,
GV có thể tạo cơ hội cho học sinh được bày tỏ ý kiến, quan điểm hay giao nhiệm vụ
để các em tự mình tư duy và giải quyết vấn đề,…
Trong độ tuổi từ 15 đến 16 tuổi, học sinh đang dần hình thành lí tưởng nghề nghiệp hay ước mơ tương lai và bắt đầu thực hiện chúng Các em đam mê, hăng say và hứng thú tìm tòi những điều mình đam mê Cùng với đó là điều kiện KTXH đang ngày càng phát triển và hiện đại, học sinh có thể tự tìm hiểu những điều mà mình quan tâm thông qua sách báo hay internet,… GV cần định hướng cho học sinh để các em có được những lựa chọn chính xác nhất Bên cạnh đó, GV cũng cần tạo ra những nhiệm
Trang 34vụ học tập, những tình huống để học sinh được tự tìm kiếm thông tin, cập nhật số liệu hay liên hệ thực tiễn Từ đó, các em sẽ thấy được tính thực tiễn trong môn học và từ đó
cố gắng hơn nữa trong quá trình học tập để đạt được ước mơ Ngoài ra, trong quá trình dạy học, GV cần tìm cách để HS hứng thú với bài giảng dù bộ môn đó không phải điều mà các em yêu thích Để HS hứng thú với bài học, GV cần làm cho các em thấy được tính thực tiễn của môn học, sự liên kết của những lí thuyết và thực tế cuộc sống hàng ngày Lúc này các em không chỉ học kiến thức mà còn có thể vận dụng nó để giải quyết các tình huống thực tế trong cuộc sống
Học sinh lớp 10 - THPT là thời kì mà HS có khả năng gắn kết, phát triển Các em
có khả năng giao lưu, hợp tác, trao đổi thông tin trong mọi lĩnh vực Đồng thời, ở mỗi
em HS sẽ bộc lộ những khả năng đặc biệt khác nhau như: khả năng lãnh đạo, khả năng thuyết trình, hay các năng khiếu như ca hát, hội họa, diễn kịch,… Đây là đặc điểm quan trọng để GV thiết kế các hoạt động học tập sao cho phong phú và thu hút được sự quan tâm, chú ý của HS Bên cạnh đó, việc trao đổi, thảo luận để giải quyết vấn đề sẽ giúp quá trình học tập đạt hiệu quả cao nhất
Từ những đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 10 nêu trên, có thể nói rằng, phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh lớp 10 là việc làm rất cần thiết Nó không chỉ giúp các học sinh chiếm lĩnh được tri thức mà còn giúp các em
có thể vận dụng các tri thức đó vào cuộc sống
1.4.2 Trình độ nhận thức của học sinh lớp 10 ở trường THPT
Học sinh lớp 10 - THPT là giai đoạn bắt đầu của sự phát triển mạnh mẽ nhất của trí não, cơ thể cùng với hệ thần kinh của các em cũng được hoàn thiện và phát triển, tạo điều kiện cho sự phát triển của trí tuệ Lúc này trí nhớ của HS phát triển rõ rệt Các
em không còn ghi nhớ do học thuộc khô khan mà biết cách sắp xếp, lưu trữ và ghi nhớ tri thức một cách khoa học (hiểu rõ bản chất của vấn đề chứ không phải học thuộc lòng) Vì học sinh hiểu được bản chất vấn đề, nên các em hoàn toàn có điều kiện để vận dụng những kiến thức ghi nhớ được vào các tình huống thực tế trong cuộc sống Mỗi em có phong cách học tập cũng như ghi nhớ khác nhau Tuy nhiên, có một
số HS chỉ nhớ đại khái, chung chung; cũng có những em coi thường việc ghi nhớ và đánh giá thấp việc ôn lại bài GV trong quá trình thiết kế hoạt động học tập cần giảm
Trang 35bớt hay hạn chế những lí thuyết suông gây nhàm chán Cần phải có những PPDH phù hợp với những lí thuyết trừu tượng khó nhớ khó thuộc, để các em tham gia tích cực hơn vào quá trình học tập Giải pháp được đưa ra đó là đưa những tình huống, hiện tượng có thực trong cuộc sống vào nội dung bài học Từ đó học sinh sẽ tích cực tham gia học tập, tránh trường hợp HS chán nản với việc học thuộc những lí thuyết không
áp dụng được vào thực tế
Bên cạnh việc phát triển về trí nhớ, những cảm giác và sự tri giác của HS bậc THPT cũng đã phát triển như người lớn Các em có khả năng quan sát hiện tượng, hành động,… rồi đưa ra nhận xét hay kết luận Đồng thời, quá trình gắn kết giữa việc
tư duy và ngôn ngữ cũng được phát triển mạnh mẽ Các em có thể tự tư duy giải quyết một vấn đề nào đó rồi trình bày ý kiến của mình, thậm chí, các em còn có thể tranh luận để bảo vệ ý kiến của mình và phản biện lại ý kiến của các bạn khác Từ đó, giáo viên hoàn toàn có thể đưa ra những chủ đề bài học để học sinh tự nghiên cứu, quan sát các hiện tượng và báo cáo trình bày phản diện để bảo vệ ý kiến của mình Điều này không chỉ giúp học sinh tích cực tham gia vào quá trình học tập, mà còn tạo điều kiện
để các em phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
Trong lứa tuổi này, hoạt động tự duy của HS cũng được phát triển Các em có khả năng tư duy lí luận trừu tượng một cách sáng tạo và độc lập Các năng lực được phát triển mạnh mẽ hơn cả trong giai đoạn này Trước các vấn đề HS thường đặt câu hỏi “tại sao” để hiểu sâu sắc hơn về vấn đề đó Ví dụ trong cuộc sống hằng ngày các
em đã gặp hiện tượng ngày đêm dài ngắn khác nhau Trong câu ca dao “đêm tháng năm chưa nằm đã sáng, ngày tháng mười chưa cười đã tối” học sinh hoàn toàn có thể quan sát và nhận xét được hiện tượng này, đồng thời dựa vào kiến thức của môn học địa lí lớp 10 các em học sinh hoàn toàn có thể giải thích được hiện tượng này Chính vì những kiến thức liên quan đến thực tế cuộc sống đã khiến cho các em học sinh hãy tích cực tham gia vào quá trình học tập
Học sinh lớp 10 đã có nhiều kinh nghiệm hơn so với các cấp/bậc học trước Từ
đó, các em có thể dựa vào những kinh nghiệm mình tích lũy được để giải quyết vấn
đề Đây được xem như là một thành phần để kích thích các em tham gia tích cực vào quá trình học tập Chính bởi sự phát triển trong hoạt động tư duy của HS, GV cần giao
Trang 36nhiệm vụ phù hợp với trình độ nhận thức của các em Thay vì những chuẩn kiến thức
là nêu hay trình bày thì ở độ tuổi này các em có thể giải quyết các nhiệm vụ ở mức độ cao hơn như phân tích, giải thích,…
GV cần dựa vào trình độ nhận thức của HS để thiết kế hoạt động học tập sao cho đáp ứng được nhu cầu của các em Giáo viên cần phải cập nhật những nội dung liên quan đến thực tiễn cuộc sống, để các em học sinh có cơ hội được tự tư duy chiếm lĩnh tri thức
Từ đó, HS sẽ xây dựng một hệ thống tri thức khoa học làm hành trang cho tương lai
1.5 Thực trạng phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở các trường THPT
1.5.1 Tình hình dạy học của giáo viên
Để đánh giá đúng thực trạng dạy và học, tác giả đã thăm dò ý kiến giáo viên và học sinh các trường Trung học phổ thông ở các tỉnh/thành phố Hà Nội, Vĩnh Phúc, Nghệ An, Quảng Ninh
Nội dung tìm hiểu về các vấn đề sau:
- Hiểu biết của giáo viên địa lí ở trường Trung học phổ thông về năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
- Hiện trạng tổ chức dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh
- Những khó khăn trong quá trình dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
- Những đề xuất nhằm nâng cao năng lực của giáo viên Địa lí về việc dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học
Sử dụng hình thức phát phiếu hỏi ý kiến cho 58 giáo viên bộ môn tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội, tỉnh Nghệ An, tỉnh Vĩnh Phúc, tỉnh Quảng Ninh, tôi rút ra được một số đánh giá về hiện trạng của việc dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở trường phổ thông như sau:
- 100% giáo viên nhận thấy việc phát triển năng lực vận dụng, kiến thức kĩ năng
đã học cho học sinh là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng nhằm đào tạo nguồn lao động có chất lượng trong tương lai
- Tuy nhiên, chỉ có 31% giáo viên nêu được đầy đủ các biểu hiện của năng lực
Trang 37vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học Phần lớn, các giáo viên đang bỏ quên các biểu hiện như: trình bày ý tưởng và xác định được cụ thể chủ đề nghiên cứu ở địa phương; vận dụng được kiến thức, kĩ năng địa lí vào việc nghiên cứu chủ đề, viết báo cáo, hoàn chỉnh và trình bày kết quả nghiên cứu theo các hình thức khác nhau, người học có những ứng xử phù hợp với môi trường sống
- Về mức độ vận dụng các biểu hiện của dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh
Mức độ sử dụng (%) Rất
thường xuyên
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Chưa từng
sử dụng Giao cho người học tìm kiếm thông tin
Tạo ra bối cảnh, tình huống học tập 18,9 34,5 39,6 7,0 Lấy các tình huống ở địa phương 22,4 29,3 34,5 13,8
Để người học được nghiên cứu chủ đề,
Để người học giải quyết các vấn đề
Hiện nay, các giáo viên đã và đang thực hiện dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học Tuy nhiên, mức độ này vẫn còn khá thấp Chủ yếu các thầy, cô giáo tập trung vào việc giao cho học sinh tự tìm kiếm thông tin trên internet, đối với việc tạo ra buổi cảnh tình huống học tập và để học sinh được nghiên cứu các chủ đề, viết báo cáo và trình bày thì có tỉ lệ tương đối thấp Thậm chí với những hoạt động như lấy các tình huống ở địa phương, để người học được nghiên cứu chủ đề phải viết báo cáo, trình bày và để người học giải quyết các vấn đề thực tiễn tỉ lệ giáo viên chưa từng sử dụng vẫn ở mức cao (hơn 10%) Từ đây, ta có thể thấy được mức độ dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học mặc dù đã được thực hiện tuy nhiên tỉ lệ này vẫn còn thấp và cần được cải thiện trong thời gian sắp tới
- Giáo viên tự đánh giá kĩ năng tổ chức hoạt động dạy học ở các mức độ:
Trang 38Mức độ tổ chức hoạt động (%) Rất thành
thạo Thành thạo thường Bình tìm hiểu thêm Cần Giao cho người học tìm kiếm thông
Tạo ra bối cảnh, tình huống học tập 13,8 22,4 36,2 27,6
Lấy các tình huống ở địa phương 15,5 24,1 29,3 31
Để người học được nghiên cứu chủ
đề, viết báo cáo, trình bày,… 16,3 22,4 41,4 25,9
Để người học giải quyết các vấn đề
Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học, phần lớn giáo viên đều tự đánh giá bản thân ở mức bình thường và cần tìm hiểu thêm Nhiều giáo viên gặp khó khăn trong quá trình tổ chức hoạt động cũng như thu hút học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động học tập đó
- Một số khó khăn giáo viên thường gặp phải trong quá trình dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học như: xác định nội dung kiến thức mà học sinh có thể vận dụng vào thực tế, khối lượng kiến thức trong chương trình còn nhiều nên không đủ thời gian để liên hệ với thực tiễn, cơ sở vật chất kĩ thuật chưa đáp ứng được nhu cầu của quá trình dạy học, học sinh chưa thực sự tích cực tham gia vào quá trình học tập, nhiều giáo viên còn chưa hiểu rõ về năng lực vận dụng kiến thức kĩ năng
đã học,… Từ những khó khăn nêu trên, tác giả có cơ sở để đề xuất những biện pháp nhằm giúp quá trình dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học đã được học tốt hơn
- Các biện pháp nhằm nâng cao năng lực cho giáo viên Địa lí trong việc dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh Trong số 58 giáo viên tham gia trả lời phiếu hỏi ý kiến, có đến 89,6% giáo viên đề xuất cần bồi dưỡng cho giáo viên, tăng cường tích cực học hỏi trao đổi kinh nghiệm,… Bên cạnh đó, trong quá trình dạy học giáo viên cũng cần sử dụng đa dạng các phương pháp và kĩ thuật dạy học để tạo hứng thú, giúp học sinh tích cực tham gia học tập Giáo viên cần đầu tư
Trang 39nhiều hơn để trau dồi những kiến thức thực tế, cập nhật xu hướng để đưa ra những tình huống phù hợp gần gũi với học sinh Ngoài ra, để đạt được hiệu quả cao nhất, giáo viên cũng cần đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá
1.5.2 Tình hình học tập của học sinh
Qua quá trình hỏi ý kiến 153 học sinh, có đến 97% học sinh cho rằng nội dung của môn học địa lí có sự gần gũi, liên quan đến cuộc sống hằng ngày, và các em học sinh rất thích điều đó Đây cũng chính là nguyên nhân khiến các em yêu thích bộ môn địa lí
Tuy nhiên, chỉ có 32,6% học sinh tham gia trả lời phiếu hỏi ý kiến có thể vận dụng kiến thức địa lí để giải quyết tình huống trong thực tiễn
Về mức độ học sinh sử dụng các kĩ năng địa lí:
Mức độ sử dụng (%) Rất
thường xuyên Thường xuyên thoảng Thỉnh Chưa từng sử dụng
Liên hệ kiến thức với địa phương 13,7 24,8 46,4 15,1 Nghiên cứu các vấn đề của địa phương 11,8 15,7 51,6 20,9 Nghiên cứu chủ đề, viết báo cáo,
Đã biết cách thực
hiện Chưa biết cách thực hiện
Nghiên cứu chủ đề, viết báo cáo, trình bày 73,5 26,5
Trang 401.5.3 Nguyên nhân của thực trạng dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học cho học sinh trong dạy học Địa lí 10 ở các trường THPT
* Nguyên nhân khách quan
- Các phương tiện, thiết bị dạy học và không gian lớp học có nhiều hạn chế làm ảnh hưởng đến hoạt động học tập của học sinh
- Số học sinh trong một lớp quá đông thường từ 40 đến 48 học sinh một lớp Điều đó khiến cho giáo viên khó quản lí theo dõi học sinh đặc biệt là trong các hoạt động thảo luận nhóm
- Thời gian học tập trên lớp còn nhiều hạn chế, khối lượng kiến thức của chương trình địa lí lớp 10 lớn, khá hàn lâm và trừu tượng nên quá trình học tập mất nhiều thời gian Đặc biệt trong các hoạt động học tập thảo luận nhóm
* Nguyên nhân chủ quan
- Giáo viên vẫn chưa nắm vững được các biểu hiện của năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học Điều này làm giảm bớt hiệu quả trong quá trình dạy học Bên cạnh đó, nhiều giáo viên còn chưa sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực khiến cho học sinh không hứng thú trong các hoạt động học tập Học sinh nhàm chán
và khó có thể tiếp thu bài học Một yếu tố không nhỏ phải kể đến đó là việc kiểm tra đánh giá vẫn chưa được thực hiện đúng cách Phần lớn hiện nay kết quả kiểm tra đánh giá phụ thuộc vào giáo viên Việc này khiến học sinh không có cơ hội thể hiện bản thân, khó theo dõi quá trình học tập phát triển của mình, từ đó làm cản trở quá trình học tập và vận dụng những kiến thức kĩ năng vào cuộc sống
- Có nhiều học sinh vẫn chưa tích cực, không chủ động tham gia quá trình học tập Đây là trở ngại lớn nhất trong quá trình dạy học phát triển năng lực vận dụng kiến
thức, kĩ năng đã học