1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Các khái niệm và điều luật của nhập khẩu song song

17 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 120,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Nhập khẩu song song” liên quán đến các vấn đề cơ bản của chính sách thương mại và sở hữu trí tuệ. Bản tóm lược này giới thiệu nội dung của nhập khẩu song song, tiến tới thảo luận các vấn đề kinh tế và phát triển phức tạp được đưa ra. a. Sở hữu trí tuệ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ Sở hữu trí tuệ được bảo vệ theo pháp luật riêng của từng nước trong khuôn khổ các quy tắc quốc tế. Theo hiệp định TRIPS của WTO hầu hết các quốc gia đã và đang thực hiện các quy định chung về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Một cách tổng quát, quyền sở hữu trí tuệ cấp giấy phép SHTT để chủ sở hữu bằng sáng chế có thể ngăn chặn những người khác trên thị trường làm và bán sáng chế đó. Quyền tác giả ngăn chặn việc sao chép và phân phối có mục đích từ những các nhân và tổ chức khác, nhãn hiệu cho phép doanh nghiệp ngăn chặn các doanh nghiệp khác sử dụng dấu hiệu đặc trưng của mình trong

Trang 1

1 Các khái niệm và điều luật của nhập khẩu song song

“Nhập khẩu song song” liên quán đến các vấn đề cơ bản của chính sách thương mại và sở hữu trí tuệ Bản tóm lược này giới thiệu nội dung của nhập khẩu song song, tiến tới thảo luận các vấn đề kinh tế và phát triển phức tạp được đưa ra

a Sở hữu trí tuệ và khai thác quyền sở hữu trí tuệ

Sở hữu trí tuệ được bảo vệ theo pháp luật riêng của từng nước trong khuôn khổ các quy tắc quốc tế Theo hiệp định TRIPS của WTO hầu hết các quốc gia đã và đang thực hiện các quy định chung về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Một cách tổng quát, quyền sở hữu trí tuệ cấp giấy phép SHTT để chủ sở hữu bằng sáng chế có thể ngăn chặn những người khác trên thị trường làm và bán sáng chế đó Quyền tác giả ngăn chặn việc sao chép và phân phối có mục đích từ những các nhân và tổ chức khác, nhãn hiệu cho phép doanh nghiệp ngăn chặn các doanh nghiệp khác sử dụng dấu hiệu đặc trưng của mình trong thương mại Những “quyền phủ định” này cho phép người sở hữu nó thực hiện kinh doanh các hàng hóa hay dịch vụ được bảo vệ đầu tiên trên thị trường chứ không phải ai khác.Quyền sở hữu trí tuệ bị giới hạn bởi học thuyết “khai thác quyền sở hữu trí tuệ” Học thuyết này là chung cho mọi hệ thống luật pháp Nó nêu ra rằng, quyền kiểm soát của người sỏ hữu quyền IP đối với hàng hóa hay dịch vụ sẽ kết thúc (hay bị khai thác) một khi hàng hóa hay dịch vụ đó được bán trên thị trường (bán lần đầu)

Để minh họa sự hoạt động của học thuyết này: Xem xét thương hiệu nổi tiếng về ô tô”mercedes”.Không công ty nào ngoại trừ Daimler có thể bán một chieecx xe mới với nhãn “Mercedes” được dán trên xe Nhueng một khi người tiêu dùng mua một chiếc mercedes từ một đại lý ủy quyền, người khách hàng đó có thể bán lại chiếc xe đó cho một người khác Và một khi Daimler bán chiếc xe đầu tiên, nó sẽ không thể tiếp tục kiểm soát những lần bán tiếp theo nữa Quyền sở hữu thương hiệu Mercedes đối với một chiếc ô

tô cụ thể nào đó sẽ bị khai thác khi chiếc xe đó bị bán cho khách hàng

b Địa lý nhập khẩu song song

Trang 2

Học thuyết của kiệt sức quyền cung cấp các cơ sở pháp lý cho "nhập khẩu song song".Đối với tất cả các nước, các quyền về IP( Parallel Importation) đang cạn kiệt khi hàng hóa, dịch vụ đầu tiên được bán trong các quốc gia lãnh thổ Khi một ô tô Mercedes là lần đầu tiên được bán cho người tiêu dùng

ở Bern, người tiêu dùng có thể bán lại mà ô tô ở Basel mà không có sự can thiệp của Daimler (chủ sở hữu nhãn hiệu trong Thụy Sĩ)

Nhưng các quốc gia không cần phải giới hạn các chính sách kiệt sức của họ (their exhaustion policies) đến lãnh thổ quốc gia Họ có thể cung cấp

mà sự kiệt sức vẫn xảy ra(exhaustion also occurs) khi một hàng hóa hay dịch

vụ được đặt trên thị trường ngoài lãnh thổ quốc gia 1 cách hợp pháp Vì vậy,

ví dụ, pháp luật Thụy Sĩ có thể quy định rằng khi một ô tô là hợp pháp đầu tiên được bán dưới nhãn hiệu Mercedes ở Đức (hoặc ở Hoa Kỳ), quyền nhãn hiệu của Daimler cho các xe ô tô đầu tiên bán hết theo tương ứng hoặc "song hành" Thụy Sĩ nhãn hiệu Mercedes Nếu người tiêu dùng mua một Mercedes mới ở Đức được tự do nhập khẩu và bán lại mà ô tô ở Thụy Sĩ Thuật ngữ

"Song song nhập khẩu" cho một hàng hóa hay dịch vụ là lần đầu được bán theo tương ứng hoặc "Song song" sở hữu trí tuệ ở nước khác, và sau đó nhập

Có ba khái niệm khác biệt địa lý của các kiệt sức và nhập khẩu song song: quốc gia, khu vực và quốc tế Theo một chính sách "quốc gia" kiệt sức, người giữ quyền IP chỉ dập tắt khi các dịch vụ tốt hay được đưa vào thị trường trong nước lãnh thổ Không có "nhập khẩu song song" cho phép Theo một chính sách "khu vực" kiệt sức, quyền chủ IP là dập tắt khi một dịch vụ hay hang hóa được đưa ra thị trường trong bất kỳ quốc gia của một khu vực xác định, như Liên minh châu Âu "Nhập khẩu song song" là cho phép, nhưng chỉ đối với hàng hoá đầu tiên được đặt trên thị trường trong khu vực lãnh thổ Theo một chính sách "quốc tế" kiệt sức, người giữ quyền sở hữu trí tuệ

bị chấm dứt khi một hang hóa hay dịch vụ được đưa vào thị trường bất cứ nơi nào trên thế giới "Nhập khẩu song song" là cho phép đối với hàng hoá, dịch

vụ hợp pháp đầu tiên được đặt trên thị trường bất cứ nơi nào thế giới

Một quốc gia có thể thông qua kiệt sức khác nhau và nhập khẩu song song với chính sách đối với các hình thức khác nhau của IP Về nguyên tắc,

Trang 3

một quốc gia có thể áp dụng một chính sách kiệt sức quốc tế cho các sáng chế, một khu vực chính sách đối với thương hiệu kiệt sức và kiệt sức một chính sách quốc gia về quyền tác giả Thực tế, các chính phủ làm chính sách

"kết hợp" kiệt sức cân nhắc dựa trên chính sách khác nhau

c Pháp lý theo quyết định

Các quyết định thi hành cho các nước có chính sách riêng và các quy tắc của họ đối với kiệt sức các quyền được ghi nhận trong Hiệp định TRIPS của WTO Điều này theo quyết định được tái khẳng định đối với các bằng sáng chế trong Tuyên bố Doha về Hiệp định TRIPS và Y tế công cộng, và nó

đã được thừa nhận trong Hiệp ước WIPO Bản quyền và WIPO Biểu diễn và ghi âm Hiệp ước (thông qua tiếp các TRIPS của WTO Hiệp định) Từ góc độ của luật sở hữu trí tuệ quốc tế, mỗi quốc gia được phép áp dụng các chính sách và quy luật của nó đối với sự cạn kiệt các quyền

và song song nhập khẩu

2 Khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội của nhập khẩu song song

a, Hạn chế nhập khẩu song song phân khúc thị trường

Luật pháp hạn chế nhập khấu song song cho phép nhà sản xuất phân khúc thị trường Quốc tế cho hàng hóa dịch vụ của họ Nhà sản xuất mà sản phẩm của

họ trên thị trường của 1 quốc gia nhất định có thế ngăn ngừa sản phẩm tương

tự được nhập khấu từ quốc gia khác bằng chỉ ra đúng là “ nhập khẩu song song” Phân khúc thị trường cho phép các nhà sản xuất có thế tính phí ( thi hành) các loại giá khác nhau với cùng 1 sản phấm trên các thị trường khác nhau Các nhà sản xuất không cần quan tâm rằng sản phẩm họ đặt tại thị trường quốc gia với mức giá thấp sẽ được nhập khẩu vào thị trường quốc gia khác nơi mà họ áp giá cao hơn

b, Phản ánh tích cực của người tiêu dùng đối với hàng hóa thông

thường.

Người tiêu dùng được hưởng lợi từ nhập khẩu song song Sản phẩm luôn sẵn có cho họ từ những nhà cung cấp với mức giá thấp nhất Nếu 1 người bán lẻ có thể có được cùng 1 sản phẩm với giá thấp hơn ở Pháp so với Thụy Sĩ, thì họ sẽ mua và nhập khẩu hàng hóa đó từ nhà phân phối tại Pháp

Trang 4

Điều này cho phép các nhà bán lẻ tính giá thấp hơn cho người tiêu dùng, và

có sức cạnh tranh hơn với những nhà bán lẻ khác Mở cửa thị trường để nhập khẩu song song cần phải có phản ánh phúc lợi tích cực cho người tiêu dùng bằng cách làm cho sản phẩm có sẵn với giá thấp

Người bán lẻ tìm kiếm để cung cấp cho người tiêu dùng hàng hóa giá thấp ủng hộ cho mở cửa nhập khẩu song song bởi vì điều này cho phép họ mua hàng hóa sản phẩm giá thấp nhất và luôn có sẵn trên thị trường thế giới

Ly thuyết thương mại quốc tê cơ bản khuyến khích sản xuất tạ nới có chi phí thấp vì nó giúp phân bổ hiệu quả nguồn nhân lực và cuối cùng là tối

đa hóa phúc lợi của người tiêu dùng toàn cầu Quốc tế hóa và mở cửa của nhập khẩu song song phù hợp với nền tảng, tiền đề cơ bản của tự do hóa thương mại, đó là, khuyến khích sản xuất hàng hóa dịch vụ có hiệu quả vì lợi ích của người tiêu dùng

c, Các ảnh hưởng tăng cường đối với hàng hóa thông thường.

Việc sản xuất hàng hóa ở các quốc gia đang fát triển thường tốn ít chi fí hơn là ở các quốc gia phát triển.Có nhiều lý do giải thích cho diều này,trong

đó nhìn chung do múc tiền công,chi phí va phúc lợi xã hội thấp hơn.Mức chi phí thấp hơn này là lý do chủ yếu giải thích các tổ chức đa quốc gia thườn muốn đặt các cơ sở sản xuất của họ tại các nước này.Từ quan điểm của học thuyết thương mại quốc tế,sự sẵn có của nguồn lao động đầu vào đang là lợi thế so sánh của nhiều nước đang phát triển.Trên cơ sở có lợi thế so sánh,khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ đóng vai trò quan trọng với sự

Nếu các nhà bán buôn và các nhà phân phối ở các nước đang phát triển

có thể xuất khẩu hàng hóa sản xuất tại địa phương với chi fí thấp hơn vào thị trường các nước phát triển thì nó sẽ làm gia tăng nhu cầu tiêu dùng cho các sản phẩm đó.Điều này cũng sẽ thúc đẩy sản xuất tại các nước đang phát triển.Các quy định giới hạn NKSS có thể làm giảm lợi ích of ưu thế về chi fí tại các nước đang phát triển.Phân đoạn thị trường cho phép các nhà sản xuất

ở các nước phát triển ngăn chặn việc nhập khẩu hang hóa từ những nơi rẻ hơn

Trang 5

sang các thị trương giá cao hơn.Nếu nhu càu thị trường ở các nước phát triển

bị giới hạn 1 cách không đúng bởi các quy định hạn chế NKSS no sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực cho sản xuất ở các nước đang phát triển

Theo quyền sở hữu trí tuệ,giới hạn NKSS cũng mang lại những tác động đặc biệt trái ngược cho những người được cấp giấy phép(authorized licensees) tại các nước dang phát triển bởi vì những người được cấp phép này

sẽ bị ngăn cấm xuất khẩu sản phẩm của họ (trực tiếp or thông qua các nhà phân phối) sang thị trường các nước fát triển giàu có

d Các nhà sản xuất muốn hạn chế nhập khẩu song song đối với hàng hóa thông thường

Các nhà sản xuất thướng có xu hướng phản đối mở cửa thị trường cho nhập khẩu song song vì điều này giới hạn khả năng áp đặt các mức giá khác nhau cho các thị trường khác nhau của họ, nhằm tạo nên sự phân biệt giá theo vùng Các nhà sản xuất ở các lĩnh vực hàng hóa khác nhau thường đưa ra những lý giải khác nhau về việc tại sao phân biệt giá lại có lợi

Các nhà sản xuất bán hàng hóa tiêu dùng như quần áo, tv, máy ảnh và máy tính thường dựa trên nhãn hiệu để tạo lập sự ưa chuộng của người tiêu dùng Họ phát triển thương hiệu của họ hoặc trực tiếp hoặc thông qua các nhà phân phối ở địa phương, bằng các phương tiện như quảng cáo, và bằng cách thiết lập các shop hàng hiệu các nhà sản xuất dựa trên nhãn hiệu lý luận rằng phân khúc thị trường cho phép họ đầu tư vào quảng cáo và hỗ trợ khách hàng tại những thị trường cụ thể mà ko phải lo lắng về việc nhập khẩu song song với giá rẻ hơn từ những thị trường không được đầu tư như thế Lấy ví dụ trường hợp chủ nhãn hiệu chanel về quần áo và mỹ phẩm có thể đầu tư vào 1 shop giới thiệu sản phẩm trong 1 khu vực đắt đỏ và áp giá cao, mà không phải lo rằng người tiêu dung sẽ mua chanel được nhập khẩu song song và bán trong các của hiệu thông thường

Phân khúc thị trường bằng việc hạn chế nhập khẩu ss sẽ làm tăng giá và làm tăng thặng dư sản xuất nhưng, điều này cũng có nghĩa là làm giảm phúc lợi của người tiêu dung vì bắt họ trả giá cao hơn cho cùng 1 loại hàng hóa

Trang 6

Hầu hết, người tiêu dung có xu hướng thích hàng tốt giá rẻ hơn là hàng giống hệt nhưng giá đắt, mặc dù có kèm theo cam kết dịch vụ tốt

e Các sản phẩm dược phẩm và nkss

Có nhiều tranh cãi về chính sách dành cho nhập khẩu ss một số sp nhạy cảm, đặc biệt là thuốc các loại thuốc mới thường được bảo vệ bởi giấy phép độc quyền nhãn hiệu các giấy độc quyền này có thể được dùng để ngăn cản nkss thuốc khi một quốc gia hạn chế phạm vi địa lí của exhaustion policy

Hoặc : Dược Phẩm và việc nhập khẩu song song

Có nhiều tranh cãi vef chính sách khác nhau đối với việc nhập khẩu song song các sản phẩm trợ cấp công cộng, đặc biệt là dược phẩm Điển hình của các loại thuốc mới là được bảo hộ từ bằng sáng chế Bằng sáng chế như một dạng của IP có thể được sử dụng để cản trở việc nhập khẩu song song thuốc trong khi một quốc gia bị giới hạn phạm vi địa lý bởi các chính sách can thiệp sâu của chính phủ.( ví dụ: chấp nhận việc can thiệp về mọi khía cạnh của chính phủ)

i, Giá tiêu dùng và lợi ích tiếp cận

Có sự khác nhau lớn trong giá cả các mặt hàng thuốc có bằng sáng chế giống nhau ( được làm từ cùng 1 công ty) trong các thị trường quốc gia khác nhau trên khắp thế giới Một điều khoản cho phép các dược phẩm có bằng sáng chế được nhập nhẩu song song công khai đem lại cho người tiêu dùng cách tiếp cận các sản phẩm đã có ủy quyền hợp pháp trên thị trường quốc tế với mức giá thấp nhất Điều này đem lại cho người tiêu dùng thặng dư và phúc lợi xã hội thông qua việc: (a) cung cấp cho người tiêu dùng mức giá thấp hơn cho cùng sản phẩm (b) làm cho những người có thu nhập thấp có thể tiếp cận với các dược phẩm có bằng sáng chế (C) làm giảm sức căng ngân sách dành, bao gồm nguồn quỹ dành cho các chương trình vì sức khỏe cộng đồng

Cần nhấn mạnh rằng thuốc nhập khẩu song song là sản phẩm “thật” bất

kể nơi mà chúng được đưa ra lần đầu tiên trên thế giới ( mặc dù đôi khi nhãn

Trang 7

hiệu phải được dịch phù hợp đối với các thị trường khác nhau ) Thuốc nhập khẩu song song không phải là thuốc giả, chúng không phải là loại thuốc bất hợp pháp có chất lượng không đạt tiêu chuẩn

ii) Lập luận phản đối việc nhập khẩu song song từ phía nhà sản xuất.

Có khá nhiều tranh luận từ những công ti sở hữu các dược phẩm đã được câp bằng sáng chế phản đối cho phép nhập khẩu song song sản phẩm của họ

a) Lợi ích từ việc phân biệt gia

Đầu tiên đó là phân biệt giá cho phép họ đạt được tổng doanh thu cao bằng việc tạo ra các mức giá tùy theo điều kiện các quốc gia Ví dụ là việc tính giá người tiêu dùng ở các quốc gia giàu có hơn sẽ cao hơn so với người tiêu dùng trong các quốc gia ít giàu có hơn Có 2 tranh luận phụ thuộc nhau được thực hiện bởi các nhà sản xuất đối với lợi ích từ việc phân biệt giá này Trước tiên đó là người tiêu dùng và chính phủ nên dành ưu tiên hơn khi các công ty thu được nhiều kinh phí hơn, họ có thế đầu tư sâu hơn trong việc nghiên cứu và phát triển, cuối cùng cung cấp những sản phẩm tốt hơn tới tay người tiêu dùng Lí do thứ hai đó là nếu không có sự phân biệt giá giữa các thị trường, các công ty sáng chế ra thuốc sẽ tăng giá ở những vùng có thu nhập thấp tránh làm giảm lợi nhuận của họ trong các vùng giàu có hơn Thêm nữa không có hạn chế trong nhập khẩu song song, các công ty sáng tạo ra sẽ tăng giá và cắt giảm nguồn cung về thuốc đến thị trường có thu nhập thấp ( thay vì bị sụt giảm toàn bộ lợi nhuận)

b, Sự không công bằng trong kiểm soat gia

Lý lẽ thứ 2 mà các nhà sản xuất dược phẩm gốc đưa ra là việc cho phép nhập khẩu song song tự do sẽ không công bằng với họ, vì hầu hết các nước

áp đặt một số hình thức kiểm soát giá lên các sản phẩm của họ Các nhà sản xuất không thể đặt mức "giá thị trường" cho các sản phẩm của mình, ngoại trừ tại Hoa Kỳ (nơi mà họ bán với giá cao hơn nhiều so với nơi khác) Nếu các nhà bán buôn và các nhà phân phối có thể xuất khẩu các sản phẩm bị kiểm soát giá thì sẽ làm giảm lợi nhuận của ngành dược phẩm tại các thị

Trang 8

trường bán với giá cao hơn, và do đó làm giảm số tiền có sẵn để đầu tư cho hoạt động R&D

c, Bảo đảm an toàn công cộng

Lý lẽ thứ 3 mà các nhà sản xuất dược phẩm gốc đưa ra là nhập khẩu song song có thể là mối nguy cho an toàn công cộng, bởi vì những mặt hàng dược phẩm được nhập khẩu đã được bán lần đầu cho các nhà bán buôn và các nhà phân phối, trong khi những người này có thể không đáng tin cậy bằng các nhà sản xuất gốc

iii, Đánh giá những lý lẽ đưa ra trong ngành dược phẩm

a Tăng cường R&D

Lập luận chung rằng người tiêu dùng trên toàn thế giới sẽ được lợi hơn nếu các nhà sản xuất gốc kiếm được nhiều doanh thu đã vấp phải những phải đối nhất định Lập luận này dựa vào giả định rằng mức doanh thu cao hơn sẽ dẫn tới mức đầu tư lớn hơn cho hoạt động R&D và cuối cùng sẽ tạo ra những loại thuốc mới Tuy nhiên, các nhà sản xuất gốc chỉ dành trung bình là 15% tổng doanh thu vào hoạt động này, trong khi đó lại dành mức % doanh thu cao hơn rất nhiều cho các hoạt động quảng cáo, phân phối và quản lý Phần lớn chi phí quảng cáo và phân phối là dành cho các loại thuốc “lifestyle” như Viagra (những thuốc không dùng để chữa bệnh nguy hiểm đến tính mạng hay vết thương mà để chữa trị các chứng như chọc đầu, mụn trứng cá….) Những khoản đầu tư vào R&D đáng kể nhất là dành cho các thuốc “lifestyle” và việc tạo ra các thay đổi nhỏ trong các loại thuốc đã có (để tạo ra loại thuốc gọi là

“me-too” drug) Nếu như người tiêu dùng buộc phải trả cho hoạt động R&D của ngành dược phẩm thì chắc hẳn phải có những cách hiệu quả hơn về chi phí thay vì trả giá cao hơn cho những nhà sản xuất gốc

b, Gia thấp cho những nước nghèo hơn

Thật khó để đánh giá những lý lẽ liên quan đến lợi ích của việc phân biệt giá cho những nước nghèo bởi vì có rất ít bằng chứng cho thấy phần lớn

việc áp dụng giá cả ưu đãi sẽ mang lại lợi ích cho người nghèo( chỗ này theo

Trang 9

tớ hiểu là thuốc gia thấp chưa chắc đã đến tay người tiêu dùng mà có thể được xuất khẩu ngược trở lại nước phat triển thông qua nhập khẩu song song – nhà sx thuốc gốc rất lo ngại vấn đề này) Cuối những năm 1990,

những nhà sản xuất gốc bán sản phẩm của mình cho những nước kém phát triển với giá bằng, hoặc thậm chí cao hơn so với các nước phát triển bởi

vì chỉ có một phân khúc nhỏ của thị trường là những người giàu có ở các nước đang phát triển có đủ khả năng mua những loại thuốc mới Mặc dù ngày nay, một số nhà sản xuất gốc tổ chức những chương trình nhằm cung cấp thuốc kháng sinh và thuốc điều trị bệnh sốt rét giá rẻ cho một vài nước đang phát triển, nhưng điều đó một phần là để cạnh tranh với những công ty sản xuất thuốc và cung ứng với giá thấp của Ấn Độ Rõ ràng không phải phân biệt giá hoàn toàn chỉ là mang lại lợi ích cho người nghèo, và cũng chưa hẳn cho phép nhập khẩu song song sẽ đe dọa thị trường Dù trong trường hợp nào thì cũng có một biện pháp vừa cho phép phân biệt giá vừa không cần hạn chế nhập khẩu song song, đó là thỏa thuận hạn chế việc tái xuất khẩu những sản phẩm có giá ưu đãi đi kèm với sự giám sát của chuỗi những nhà cung ứng sản phẩm Đến nay, rất ít bằng chứng cho thấy các sản phẩm thuốc giá ưu đãi dành cho các nước đang phát triển như HIV-AIDS hay thuốc điều trị sốt rét

được xuất khẩu trở lại các nước phát triển( tức là thuốc gia rẻ đến tay người tiêu dùng chứ không phải là xuất khẩu lại nước phat triển đề ăn chênh lệch gia).

c, Kiểm soat gia

Hầu hết các nước kiểm soát giá thuốc bằng cách cấp bằng sáng chế như một phương tiện để bảo vệ lợi ích cho ngành y tế công cộng Vấn đề ở đây là, các nhà sản xuất thuốc có đồng ý bán thuốc ở mức giá mà chính phủ quy định hay không Nếu nhà sản xuất phản ứng lại việc kiểm soát giá bằng cách hạn chế quá mức nguồn cung thuốc, chính phủ có thể sử dụng luật pháp để can thiệp, và nếu cần, sẽ thực hiện bắt buộc chuyển giao bằng sáng chế Ở thị trường dược phẩm miễn phí của Mỹ, nhà sản xuất thuốc phải chịu chi phí lớn hơn tất cả các thị trường khác Bằng những lập luận logic của mình, nhà sản xuất thuốc sẽ phản ứng bằng cách tăng giá thuốc ở tất cả mọi nơi trừ Mỹ Lúc này loại bỏ kiểm soát giá cũng khó có thể phát huy tác dụng Vì vậy, chính phủ các nước cho phép nhập khẩu song song nhằm bình ổn giá thuốc khi có

Trang 10

ảnh hưởng của việc kiểm soát giá lên giá thuốc cũng không phải là không có

d, Đảm bảo chất lượng sản phẩm

Thuốc nhập khẩu song song là các sản phẩm của nhà sản xuất gốc nhưng thiếu sự kiểm soát trực tiếp của nhà sản xuất Điều đó là bởi, những loại thuốc này được bán cho nhà phân phối hoặc nhà buôn, những người chỉ đảm nhận nhiệm vụ xuất khẩu và nhập khẩu thuốc Có rất ít bằng chứng về việc làm giả hoặc những can thiệp khác đến chất lượng của thuốc nhập vào thị trường nước phát triển Ở hầu hết các nước phát triển, thuốc nhập khẩu là đối tượng chịu sự quản lý rất chặt chẽ của chính phủ Rất khó để các sản phẩm thuốc với chất lượng không rõ ràng xâm nhập vào các thị trường này Những nhà nhập khẩu song song thuốc vì thế cũng là đối tượng có thể và nên

bị chính phủ quản lý

iv, Hạn chế lựa chọn thay thế.

Theo những nhận xét trước đó,co thể phân chia vấn đề cạn quyền(exhaustion) và NKSS theo 3 fạm vi địa lý:quốc gia,khu vực và quốc tế.Như là 1 lựa chọn thay thế để mở cửa thị trường quốc giacho NKSS thuốc

từ bất kì nơi đâu trên thế giới,1 chính phủ có thể quyết định mở cửa thị trường NKSS cho các nhóm nước tương đối đồng nhất trong điều kiện về mức thu nhập và sự giám sát thường xuyên.Do đó,ví dụ liên minh châu Âu cho phép NKSS thuốc từ 27 quốc gia thành viên nhưng không cho phép với các nước bên ngoài EU.Điều này xóa tan đi vấn đề liệu sự khác biệt về giá cả

mà ưu tiên hơn cho các nước nghèo dang phát triển sẽ bị ngăn cản bởi NKSS quốc tế.Điều này cũng làm xóa bỏ trên quy mô lớn vấn đề về "chất lượng" kể

từ khi diều này được giả định rằng sự giám sát xuyên suốt EU la giong nhau (It lso largely eliminates the "quality" issue since it is assumed that regulatory supervision throughout the EU is similar).điều này sẽ không loại trừ các vấn

đề xoay quanh việc điều chỉnh giá nhưng nó sẽ gây ra sự sụt giảm bởi vì giá

cả ở thị trường EU có thể giảm đi nhờ vào việc mở rộng sự đa dạng cũn như khi so sanh với thị trường thế giới( prices in the EU are less likely to be

Ngày đăng: 27/02/2022, 17:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w