1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luan van cao cap ly luan chinh tri đào tạo nghề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện sóc sơn

53 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 311,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước taxác định công tác đào tạo nghề cho người lao động là một nhiệm vụ quantrọng để nâng cao chất lượng ngu

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước taxác định công tác đào tạo nghề cho người lao động là một nhiệm vụ quantrọng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trong đó vấn đề đào tạo nghềcho lao động nông thôn thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nôngthôn mới là một nhiệm vụ bức thiết Điều này càng có ý nghĩa hơn khi mànông nghiệp, nông thôn vẫn giữ một vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế,

là khu vực sản xuất đảm bảo an ninh lương thực trong điều kiện suy thoáikinh tế của toàn cầu

Trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, đòi hỏi quy mô và cơcấu giáo dục - đào tạo nghề và qua đó, quy mô và cơ cấu nhân lực kỹ thuậtkhác nhau Nếu như ở thời kỳ phát triển thấp, cơ cấu giáo dục – đào tạo theotrật tự ưu tiên sẽ là giáo dục phổ thông- giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đạihọc (và cơ cấu nhân lực sẽ là lao động phổ thông- công nhân kỹ thuật bậcthấp và bậc trung- lao động kỹ thuật bậc cao và lao động quản lý); thì ở thời

kỳ nền kinh tế phát triển cao (nhất là trong nền kinh tế tri thức), cơ cấu trên sẽ

là giáo dục đại học- giáo dục nghề nghiệp và giáo dục phổ thông (và cơ cấunhân lực sẽ là lao động kỹ thuật bậc cao và lao động quản lý - công nhân kỹthuật bậc trung và bậc thấp - lao động phổ thông) hoặc trong thời kỳ “Ngượclại”, giáo dục - đào tạo nghề lại là động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước

Theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2011 (của Tổng cục Thống kê Việt Nam), 70% dân số nước ta đang sống ở khu vực nông thôn, lao động

nông thôn hiện chiếm 75% tổng lực lượng lao động cả nước và chủ yếu tậptrung sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp, năng suất lao động thấp, phương

Trang 2

thức sản xuất lạc hậu, hiệu quả sản xuất không cao Giai đoạn 2005-2010, tốc

độ tăng trưởng lao động của cả nước đạt 2,79%, trong đó tốc độ tăng trưởngcủa lao động nông thôn là 2,18% Năm 2011, lực lượng lao động nông thôncủa cả nước là 34,8 triệu người, chiếm 74,5% tổng lực lượng lao động, trong

đó số người nằm trong độ tuổi lao động là 32,73 triệu người Lao động nôngthôn vùng đồng bằng sông Hồng chiếm 22,3%, vùng đồng bằng sông CửuLong chiếm 21,5%, Tây Bắc chiếm 3,18% và Tây Nguyên chiếm 5,59%

Với lực lượng dồi dào như vậy nhưng trình độ chuyên môn của laođộng nông thôn chưa cao Hiện lao động có việc làm và kỹ năng chuyên mônchỉ chiếm 16,8%, còn lại 83,2% là lao động chưa qua đào tạo, chưa có trình

độ kỹ thuật chuyên môn Thêm vào đó, hầu hết các thị trường lao động vẫnchỉ tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố có nhiều khu công nghiệp, khu chếxuất và ở ba vùng kinh tế trọng điểm Ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa,thị trường lao động lại chưa phát triển nên dẫn đến thực trạng là nơi thừa, nơithiếu lao động Đây cũng chính là hạn chế lớn nhất của lao động nông thônlàm cho việc khai thác nguồn nhân lực ở đây vẫn còn yếu kém Ngoài ra, lềlối làm ăn trong ngành nông nghiệp truyền thống và tình trạng ruộng đấtmanh mún, nhỏ lẻ như hiện nay đã hạn chế tính chủ động sáng tạo của ngườinông dân trong sản xuất, kinh doanh cũng như khả năng tiếp cận thị trườngcủa người lao động Có thể thấy, cùng lao động nông thôn dồi dào nhưng chấtlượng chưa cao cả về văn hoá, kỹ năng chuyên môn cũng như hiểu biết vềpháp luật, kỹ năng sống…

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực ở nông thônthấp, ảnh hưởng lớn đến tiến trình phát triển chính là do môi trường kinh tế,văn hóa - xã hội nông thôn chưa thực sự thay đổi lớn theo hướng phát triểnbền vững trên lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Quá trình đô thị hóanông thôn diễn ra với tốc độ cao nhưng mang nặng tính tự phát nên côngnghiệp - dịch vụ nông thôn khó phát triển; môi trường tự nhiên bị phá vỡ, sinh

Trang 3

thái bị mất cân bằng; thu nhập của nông dân tuy được cải thiện nhưng cònthấp; sự chênh lệch giữa các vùng, giữa nông thôn và đô thị ngày càng cách

xa Tác động của quá trình mất đất và sự thiếu chuẩn bị việc chuyển đổi nghềcho nông dân đã thúc đẩy tình trạng di dân tự do tìm việc làm ở đô thị hoặccác khu công nghiệp các tỉnh phía Nam Nhiều nơi, lực lượng lao động trênđồng ruộng đa số là phụ nữ, người già và trẻ em Từ đó, dẫn đến tình trạngsản xuất nông nghiệp bấp bênh; thu nhập từ lao động nông nghiệp không cólãi nên người lao động dễ dàng coi nhẹ sản xuất trên đồng ruộng Như vậy cóthể thấy khá rõ các yếu tố: môi trường xã hội và tự nhiên nông thôn suy giảm;trình độ kiến thức, kỹ năng lao động của người lao động nông thôn thấp; lựchút cán bộ khoa học - kỹ thuật khu vực nông nghiệp mỏng manh và trình độquản lý, tổ chức của đội ngũ cán bộ cơ sở (thôn, xã) yếu kém làm cho chấtlượng nguồn nhân lực khu vực nông thôn - chìa khóa mở ra sự thành công củacông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gặp nhiều thách thức

và trở ngại

Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn: giải pháp cấpbách và là ưu tiên số một hiện nay là đào tạo nghề cho lao đông nông thôn, họcần có trình độ chuyên môn và cập nhật kiến thức để đáp ứng nhu cầu pháttriển kinh tế của đất nước Bên cạnh đó, lao động trẻ nông thôn hiện naykhông chỉ thiếu kiến thức chuyên môn mà kiến thức xã hội, giao tiếp cộngđồng, phát triển bản thân còn nhiều khiếm khuyết Ở họ dạy nghề thôi chưa

đủ mà cần đưa cả kỹ năng sống vào giảng dạy

Nhận thức rõ được vai trò của giáo dục, đào tạo nghề nghiệp đối vớiviệc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và qua đó tạo ra sự phát triển tươnglai, Chính phủ của nhiều nước đã có chiến lược dài hạn phát triển giáo dục –đào tạo và đầu tư thỏa đáng ngân sách cho lĩnh vực này Chẳng hạn, hàngnăm, Mỹ đã chi khoảng 5%-7% GDP cho việc đào tạo và phát triển nhân tài,các nước công nhiệp phát triển khác cũng đầu tư cho giáo dục- đào tạo rất

Trang 4

lớn, như Hà Lan 6,7% GDP, Pháp 5,7%, Nhật 5,0 Ngoài ra, Chính phủ cácnước công nghiệp phát triển còn có chính sách huy động sự tham gia mạnh

mẽ cuả các doanh nghiệp, các tập đoàn lớn đầu tư cho phát triển giáo dụcnghề nghiệp, nhất là phát triển các trung tâm đào tạo chất lượng cao, tạo ranhững nhà kỹ thuật, những nhà phát minh, sáng chế hàng đầu trong các lĩnhvực khác nhau của nền kinh tế tạo cho Nhật bản một vị thế là cường quốckinh tế đứng thứ hai trên thế giới

Ngay ở Đông Nam Á, một số nước cũng đã có chiến lược đầu tư chophát triển giáo dục- đào tạo nghề khá ấn tượng, trong đó phải kể đến Brunei

Để trang bị cho thế hệ trẻ những kiến thức và kỹ năng trong một thế giớihiện đại, Quốc vương đã đề ra một số định hướng về chiến lược được gọi là "

Hệ thống giáo dục quốc gia cho thế kỷ XXI- SPN 21", hướng tới đào tạo conngười phát triển cả về trình độ và kỹ năng, đáp ứng nhu cầu của các ngành,nghề cần thiết trong những thập niên đầu thế kỷ mới; đồng thời, nâng caotrình độ kiến thức và kỹ năng cho đội ngũ giáo viên, những người làm côngtác giảng dạy, có tính chất quyết định đối với công tác đào tạo thế hệ tươnglai…

Ở nước ta, ngay từ Đại hội lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định: “Pháttriển giáo dục- đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sựnghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huynguồn lực con người- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tếnhanh và bền vững” Phát triển giáo dục- đại học gắn với nhu cầu phát triểnkinh tế- xã hội; xây dựng nền giáo dục theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa,

xã hội hóa”; thực hiện công bằng trong giáo dục

Đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng đã đề ra chủ trươngphát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề giai đoạn 2006 - 2010 là: “Phát triểnmạnh hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳngnghề, trung cấp nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và

Trang 5

cho xuất khẩu lao động” và “Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghềtiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới Đẩy mạnh xã hội hoá,khuyến khích phát triển các hình thức dạy nghề đa dạng, linh hoạt: dạy nghềngoài công lập, tại doanh nghiệp, tại làng nghề” Đặc biệt Dự thảo Chiến lượcphát triển kinh tế- xã hội 2011-2020 đã được thông qua tại Đại hội lần thứ XI(năm 2011) cũng đã nêu rõ: Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồnnhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nềngiáo dục quốc dân là một trong ba khâu đột phá chiến lược…Đẩy mạnh dạynghề và tạo việc làm, nhất là ở nông thôn và vùng đô thị hoá; hỗ trợ các đốitượng chính sách, người nghèo học nghề Đây là những định hướng rất cơbản, là căn cứ để phát triển đào tạo nghề, nhằm góp phần nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực lao động nông thôn ở nước ta trong giai đoạn tới

Đối với Sóc Sơn, là huyện ngoại thành Hà Nội có tổng diện tích tựnhiên là 30.651ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp 13.599,1 ha (chiếmtrên 40%) Trong những năm qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Thủ đô

và đất nước đời sống nhân dân trong huyện từng bước được nâng lên rõ rệt,quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, là một trong những địa phương mấtnhiều đất canh tác do có các dự án chạy qua, diện tích đất nông nghiệp dần bịthu hẹp lại, dẫn tới tình trạng dư thừa về lao động nhất là lao động nông thôn

Một thực tế hiện nay tình trạng không ít người nông dân trong huyệnkhông còn thiết tha với đồng ruộng (số này chủ yếu là lực lượng lao động chủchốt trong gia đình) Sóc Sơn hiện có tổng số trên 60.000 hộ với 270.000nhân khẩu, trong đó tỷ lệ nhân khẩu làm nông nghiệp chiếm 95,15% Mỗinăm trên địa bàn huyện có khoảng hàng chục nghìn lao động đi làm việc tạicác khu công nghiệp - dấu hiệu đáng mừng, vì đã tạo được công ăn việc làm

và thu nhập ổn định cho người lao động vùng nông thôn Song cũng là điềuthật đáng lo ngại, bởi thực chất trong tổng số lao động có việc làm như đã nêu

ở trên thì chiếm tới 70% có tư tưởng và động cơ muốn được thoát ly khỏi

Trang 6

đồng ruộng để kiếm mỗi tháng trên dưới 1 triệu đồng Thế nhưng họ đâu cóbiết được rằng, những tiêu cực do mặt trái của cơ chế thị trường khi tuyểndụng công nhân vào các Công ty, cứ mỗi một hồ sơ phải mất từ 5-7 triệuđồng, để rồi thời gian chỉ trong vòng 6 tháng lại phải thôi việc, với lý do hếtsức đơn giản là "không đáp ứng được yêu cầu kĩ thuật nên phải thay ngườikhác"

Để góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nông nghiệp, nông dân,nông thôn ở Sóc Sơn, trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội của huyện được đặtlên hàng đầu Gắn công nghiệp hoá, đô thị hoá với phát triển nông nghiệp,nông thôn và chuyển dịch lao động trong nông nghiệp, bảo đảm an sinh xãhội và giải quyết tốt các vấn đề bức xúc hiện nay trong các vùng nông thôn

trên địa bàn huyện Sóc Sơn, tôi chọn đề tài: “Đào tạo nghề nâng cao chất

lượng nguồn nhân lực lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Sóc Sơn” làm luận văn

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Khái quát những vấn đề lý luận về phát triển nâng cao chất lượngnguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước;

- Đánh giá thực trạng, dự báo tình hình phát triển nguồn nhân lực laođộng nông thôn ở huyện Sóc Sơn trong thời gian tới;

Trang 7

- Đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu đào tạo nghề nâng caochất lượng nguồn nhân lực lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệphóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở huyện Sóc Sơn.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lao độngnông thôn trên địa bàn huyện Sóc Sơn trong quá trình đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Thực hiện trên phạm vi 26 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Sóc Sơn;thời gian được thực hiện từ 1996 (thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước)

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận nghiên cứu: Dựa trên những quan điểm lý luận của chủ

nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp

nghiên cứu khoa học chủ yếu là: phương pháp lịch sử - lôgic, tổng hợp, phântích, thống kê, có sử dụng phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo vàphụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN

VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

NGUỒN NHÂN LỰC LAO ĐỘNG NÔNG THÔN VỚI QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG

THÔN

1.1 MỘT SỐ NHẬN THỨC VỀ NGUỒN NHÂN LỰC LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRONG CÔNG CUỘC CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM

1.1.1 Nhận thức chung nguồn nhân lực

Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sựphát triển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, conngười …Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất,

có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọiquốc gia từ trước đến nay Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phongphú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ,

có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạtđược sự phát triển như mong muốn

Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trongcông cuộc hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồidào, con người Việt Nam có truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nềntảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ lànguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh Vậy nguồn nhân lực là gì?

Trang 9

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực TheoLiên Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinhnghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triểncủa mỗi cá nhân và của đất nước”.

Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn conngười bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân Nhưvậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh cácloại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên

Theo tổ chức lao động quốc tế thì: nguồn nhân lực của một quốc gia làtoàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động

Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồnnhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồnlực con người cho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân

cư có thể phát triển bình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả nănglao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồmcác nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động,sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình laođộng, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quátrình lao động

Kinh tế phát triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân sốtrong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động Nguồn nhân lực đượcbiểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổilao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thểhuy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn,kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động Nguồn lao động là tổng

số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặcđang tích cực tìm kiếm việc làm Nguồn lao động cũng được hiểu trên haimặt: số lượng và chất lượng Như vậy theo khái niệm này, có một số được

Trang 10

tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: nhữngngười không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức lànhững người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi laođộng quy định nhưng đang đi học…

Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị

có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộlực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống vàkinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng

để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại vàtương lai của đất nước

Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một ''tài nguyên đặcbiệt'', một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy việc phát triển conngười, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong

hệ thống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tốbảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia.Đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhấtcho sự phát triển bền vững

Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn cónhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực Theo quanniệm của Liên hiệp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đàotạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

và nâng cao chất lượng cuộc sống

Có quan điểm cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực: là gia tăng giá trịcho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như

kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có nhữngnăng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn vàngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội

Trang 11

Một số tác giả khác lại quan niệm: Phát triển là quá trình nâng caonăng lực của con người về mọi mặt: thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân

bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệthống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế- xã hội

Từ những luận điểm trình bày trên, phát triển nguồn nhân lực củamột quốc gia: chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lựctrên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trìnhtạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực Nói một cách kháiquát nhất, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụngnăng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế - xã hội và sự hoàn thiệnbản thân mỗi con người

Như vậy, phát triển nguồn nhân lực với nội hàm trên đây thực chất là

đề cập đến vấn đề chất lượng nguồn nhân lực và khía cạnh xã hội của nguồnnhân lực của một quốc gia

Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người,một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật)ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyênmôn, kỹ thuật nhất định (Đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuậtlành nghề)

Giữa chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao cómối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng.Nói đến chất lượng nguồn nhân lực là muốn nói đến tổng thể nguồn nhân lựccủa một quốc gia, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận cấuthành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lượng nhất Bởi vậy,khi bàn về nguồn nhân lực chất lượng cao không thể không đặt nó trong tổngthể vấn đề chất lượng nguồn nhân lực nói chung của một đất nước

Trang 12

Nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứng đượcyêu cầu của thị trường (yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước),

đó là: có kiến thức: chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng: kỹ thuật, tìm và

tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làmviệc tốt, trách nhiệm với công việc

Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao cao phải là những con ngườiphát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cựcchính trị- xã hội, về đạo đức, tình cảm trong sáng Nguồn nhân lực chất lượngcao có thể không cần đông về số lượng, nhưng phải đi vào thực chất

Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựatrên tri thức và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồnnhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng thể hiện vai tròquyết định của nó Các lý thuyết tăng trưởng gần đây chỉ ra rằng, một nềnkinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột

cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng caochất lượng nguồn nhân lực Trong đó động lực quan trọng nhất của sự tăngtrưởng kinh tế bền vững chính là những con người, đặc biệt là nguồn nhân lựcchất lượng cao, tức là những con người được đầu tư phát triển, có kỹ năng,kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành “nguồnvốn - vốn con người, vốn nhân lực” Bởi trong bối cảnh thế giới có nhiều biếnđộng và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia cónguồn nhân lực chất lượng cao, có môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư,

có môi trường chính trị- xã hội ổn định

1.1.2 Nguồn nhân lực lao động nông thôn

Nông thôn Việt Nam có nguồn lao động dồi dào và tiềm năng, là nơicung cấp và hậu thuẫn đắc lực cho các khu đô thị và khu công nghiệp Tuynhiên, nguồn lao động này vẫn còn ít cơ hội để phát huy khả năng cống hiến

Trang 13

của mình cho sự phát triển nông thôn Đây là thách thức đối với chính laođộng nông thôn và các nhà hoạch định chính sách.

Phát triển nông thôn bền vững theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạihoá là chủ trương lớn của nước ta, nhằm nhấn mạnh đến việc sử dụng cácnguồn nhân lực một cách hiệu quả để thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển

Do vậy, các chính sách phát triển nông thôn cần được xây dựng và thực hiệntrên cơ sở kết hợp hài hoà và hợp lý giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội

và bảo vệ môi trường một cách hài hoà

Giải pháp cấp bách và là ưu tiên số một hiện nay là đào tạo nghề cholao đông nông thôn, họ cần có trình độ chuyên môn và cập nhật kiến thức đểđáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước Bên cạnh đó, lao động trẻnông thôn hiện nay không chỉ thiếu kiến thức chuyên môn mà kiến thức xãhội, giao tiếp cộng đồng, phát triển bản thân còn nhiều khiếm khuyết Ở họdạy nghề thôi chưa đủ mà cần đưa cả kỹ năng sống vào giảng dạy

Những năm gần đây công tác dạy nghề đã có nhiều tiến triển, nhiềulao động đã ý thức được việc học nghề và số người tham gia các khoá đào tạotăng rõ rệt Số lao động qua đào tạo ngày càng tăng đã góp phần giải quyếtviệc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm lao động nôngnghiệp, tăng lao động ngành nghề phi nông nghiệp và đẩy mạnh hợp tác quốc

tế về lao động Quy mô đào tạo dạy nghề trong những năm qua tăng nhanh,chỉ tiêu đào tạo bình quân hàng năm tăng 20% Quy mô tuyển sinh dạy nghềtrong 3 năm - từ năm 2006 đến 2008 là 4,3 triệu người (năm 2008 là 1,54triệu người), trong đó lao động nông thôn chiếm 52% Tuy nhiên, các ngànhnghề nông - lâm - ngư nghiệp chỉ chiếm 5% số học sinh Số lao động nôngthôn được học nghề ngắn hạn và sơ cấp nghề bằng chính sách hỗ trợ theoQuyết định 81/2005/QĐ-TTg giai đoạn 2006-2008 là 990.000 người Nhiềuđịa phương đã khuyến khích các thành phần kinh tế, các tổ chức đoàn thể dạynghề cho lao động nông thôn, nhất là lứa tuổi thanh niên nhằm phát triển các

Trang 14

nghề truyền thống Bình quân hàng năm, các làng nghề đã đào tạo được thêmviệc làm cho khoảng 250.000 lao động Riêng các cơ sở dạy nghề thuộc BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn trong 3 năm từ năm 2006-2008 đã tuyểnsinh được 120.322 người, trong đó quy mô tuyển sinh năm 2008 là 48.000học sinh, lao động nông thôn chiếm trên 85%.

Không thể phủ nhận được những thành quả của công tác đào tạo nghềcho lao động nông thôn mang lại Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận một thực tế

là thời gian qua, số lượng và chất lượng dạy nghề cho lao động nông thôn,đặc biệt là dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn vẫn chưa đáp ứngđược yêu cầu Bên cạnh đó, năng lực hệ thống các trường đào tạo và dạy nghềcòn nhiều hạn chế Mạng lưới cơ sở dạy nghề nói chung tuy đã phát triểnnhưng lại tập trung chủ yếu ở vùng đô thị Ở khu vực nông thôn và miền núi,vùng sâu vùng xa, số lượng cơ sở dạy nghề rất ít Đến nay, cả nước còn 253huyện chưa có trung tâm dạy nghề; 31% phòng học và 20,7% số nhà xưởngthực hành của các cơ sở dạy nghề là nhà cấp 4, nhà tạm, tập trung chủ yếu ởcác cơ sở đào tạo do địa phương quản lý, các tỉnh khó khăn, huyện nghèo Độingũ giáo viên dạy nghề cho lao động nông thôn còn thiếu về số lượng, cơ cấungành nghề đào tạo chưa phù hợp, chất lượng còn hạn chế Hiện nay, có 42trung tâm dạy nghề không có giáo viên cơ hữu; 39 trung tâm dạy nghề chỉ có

1 giáo viên cơ hữu; 100 trung tâm có từ 2-3 giáo viên cơ hữu Ngoài ra, cáccán bộ quản lý dạy nghề ở một số cơ sở dạy nghề chưa đạt chuẩn về trình độchuyên môn, thiếu kinh nghiệm quản lý

Công nghiệp hoá nông thôn là chủ trương xây dựng nông thôn ViệtNam phát triển bền vững và thu hẹp khoảng cách khác biệt giữa nông thôn vàthành thị Vì vậy, phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn lao động nông thôn,tạo cơ hội để lao động tiếp cận được thị trường và có việc làm ổn định, tăngthu nhập cũng là một trong các cách góp phần làm cho nông thôn ngày càngđổi mới và phát triển

Trang 15

1.1.3 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là quá trìnhxây dựng, phát triển cơ sở vật chất – kỹ thuật, chuyển từ lao động thủ công làchủ yếu sang lao động sử dụng máy móc, thiết bị, công nghệ tiên tiến, hiệnđại và chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội nông thôn theo hướng tiến lên hiệnđại, gắn nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ, cho phép khai thác, pháthuy có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế so sánh của đất nước trong quá trình

mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế Hội nghị Trung ương 7 khóa X về nôngnghiệp, nông dân, nông thôn khẳng định: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóanông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩaquan trọng hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Vấn đề hiện nay nông dân đã nỗ lực thâm canh, tăng vụ, quay vòng đấtnhanh, kinh doanh tổng hợp, nhưng việc làm chưa đầy đủ, thu nhập thấp, đờisống của nông dân vẫn còn nhiều khó khăn (hiện còn khoảng 70% dân sốnông thôn thu nhập dưới mức bình quân chung của xã hội) Chính vì vậy,công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nhằm nâng cao năngsuất trên đất, nhờ đó tăng thu nhập cho nông dân

Nông thôn cung cấp các nguồn lực như: nhân lực, vốn….để thực hiệncông nghiệp hóa, hiện đại hóa Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngthôn theo hướng phát triển công nghiệp, dịch vụ đồng thời cũng là quá trìnhchuyển lao động từ ngành nông nghiệp sang ngành công nghiệp và dịch vụtheo hướng lao động công nghiệp, dịch vụ tăng tuyệt đối, còn lao động nôngnghiệp giảm tuyệt đối và tương đối Như vậy, “nông nghiệp, nông dân, nôngthôn” có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xâydựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh

tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc

Trang 16

phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinhthái của đất nước.

Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ởnước ta hiện nay là không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cưdân nông thôn, phát triển hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanhhơn ở các vùng còn nhiều khó khăn, nông dân được đào tạo có trình độ sảnxuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực, đủ bản lĩnh chính trị,năng lực làm chủ nông thôn mới Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàndiện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hành hóa lớn có năng suất, chấtlượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo an ninh lương thực quốcgia Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại

Yêu cầu cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn theo hướng xã hội chủ nghĩa, tức là gắn phát triển lực lượng sản xuất vớicủng cố, hoàn thiện quan hệ sản xuất mới ở nông thôn, xây dựng nông thônmới; đặt trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế nóichung, đảm bảo lợi ích toàn diện của đất nước cả về kinh tế, xã hội, an ninhquốc phòng, môi trường sinh thái; đạt trong xu thế chung là quốc tế hóa vàkhu vực hóa nền kinh tế nhằm khai thác triệt để lợi thế so sánh của đất nước;kết hợp hài hòa kinh nghiệm truyền thống với công nghệ, kỹ thuật hiện đại,tiên tiến theo hướng: nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựngnông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển

đô thị theo quy hoạch là căn bản, phát triển toàn diện, hiện đại hóa nôngnghiệp là then chốt

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn phảigắn với Chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới; gắn với chuyểnđổi, xây dựng và phát triển đa dạng các loại hình kinh tế hợp tác trên cơ sở tựnguyện của các hộ nông dân theo hướng chuyển đổi hợp tác xã kiểu cũ thànhhợp tác xã kiểu mới làm dịch vụ sản xuất cho kinh tế hộ như dịch vụ kỹ thuật,

Trang 17

bảo vệ thực vật, nhân giống và cung cấp giống, dịch vụ điện, nước, dịch vụlàm đất, dịch vụ tài chính, dịch vụ thương mại, tiêu thụ sản phẩm…

Như vậy, ngay lúc này chúng ta phải nhận thức sâu sắc rằng vị tríquan trọng của nông nghiệp, nông thôn – nơi sinh sống của đại bộ phận dân

cư, lao động xã hội; nơi sử dụng diện tích lớn đất đai; nơi có điều kiện để pháttriển; nơi chứa đựng nguồn nội lực to lớn và đang là lợi thế của đất nước ta.Phải tập trung cao hơn với những dự án thiết thực cụ thể để đẩy nhanh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đưa nông nghiệp, nông thônphát triển, từng bước thay đổi bộ mặt kinh tế nông thôn, xóa đói, giảm nghèo,cải thiện đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho sự ổn định và phát triển bền vữngcủa đất nước, thực hiện “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

1.1.4 Vai trò nguồn nhân lực lao động nông thôn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội ở nước ta hiện nay

Nông nghiệp, nông dân và nông thôn là nội dung có tầm quan trọngđặc biệt trong sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ởnước ta hiện nay Chiến lược phát triển đất nước của Đảng cũng như các camkết của Chính phủ trên lộ trình hội nhập kinh tế thế giới, giải quyết tốt các nộidung đặt ra đối với nông nghiệp, nông dân, nông thôn thực sự là chìa khóa đểđạt tới sự phát triển toàn diện, bền vững

Nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách về pháttriển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Chỉ tính từ năm 2000 đến năm 2007

đã có 34 nghị quyết, quyết định về các chính sách đầu tư, hỗ trợ phát triểnnông nghiệp, nông dân, nông thôn Nhờ đó, đời sống người dân được cảithiện, diện mạo nông thôn nhiều vùng quê đổi thay và phát triển theo hướngtích cực Nông nghiệp đã đạt tốc độ tăng trưởng cao và tăng đều qua các năm,bảo đảm được an ninh lương thực, kim ngạch xuất khẩu tăng Có thể nói, pháttriển nông nghiệp, xóa đói, giảm nghèo là một trong những thành tựu kinh tếlớn nhất của nước ta trong thời kỳ đổi mới

Trang 18

Về chất lượng nguồn nhân lực nông thôn hiện nay: Nội tại vấn đềnông nghiệp, nông dân và nông thôn ở nước ta vẫn còn chứa đựng nhiềumảng yếu Trong quá trình tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trongđiều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, những mảng yếu đó càng bộc

lộ rõ hơn Một trong những mảng yếu đó là chất lượng nguồn nhân lực chưađáp ứng được yêu cầu phát triển Những cơ hội đem lại cho người lao độngtrong lộ trình thực hiện các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới(WTO) là việc làm tăng do sự xuất hiện nhiều nghề mới ở các lĩnh vực mới,khu vực mới; thị trường lao động phát triển, sự di chuyển lao động giữa cácvùng và lãnh thổ, giữa các doanh nghiệp tăng cao Người lao động Việt Namvừa có thể tham gia sâu vào quá trình phân công lao động quốc tế vừa có cơhội để tiếp nhận khoa học và công nghệ tiên tiến Chúng ta đang có một lựclượng lao động xã hội rất lớn Nguồn lao động của Việt Nam hằng năm được

bổ sung nhiều nhưng cơ hội để họ có được việc làm bảo đảm thu nhập ổnđịnh đời sống lại không dễ dàng Số lao động đã được đào tạo không chỉchiếm tỷ lệ thấp mà còn bất cập do chất lượng đào tạo kém; cơ cấu đào tạo bấthợp lý, mất cân đối giữa đào tạo nghề và đào tạo ở cấp bậc đại học, cao đẳng.Thêm nữa, số đã qua đào tạo đối với thanh niên ở khu vực nông thôn lạichiếm tỷ lệ rất thấp so với khu vực đô thị Quá trình đô thị hóa nông thôn đãlàm gia tăng áp lực về thiếu việc làm cho khu vực này thêm trầm trọng; đồngnghĩa với việc gia tăng tỷ lệ chất lượng nguồn nhân lực thấp

Mâu thuẫn nội tại chất lượng nguồn nhân lực nông thôn nước ta càngphát sinh thêm do chúng ta chưa tìm ra được lối thoát về đào tạo để nâng caochất lượng nhân lực cho khu vực này Hiện nay, hơn 78% lao động ở nước tachưa qua đào tạo, trong số đó 63% là lao động ở địa bàn nông nghiệp, nôngthôn Đây thực sự là một số liệu đáng để chúng ta phải suy nghĩ và trăn trở

Đặc điểm dễ nhận thấy ở người lao động của một nền sản xuất nôngnghiệp có trình độ thấp ở Việt Nam như hiện nay là vẫn mang nặng tính chấtcủa người sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, năng lực ứng dụng khoa học - công nghệ

Trang 19

và các tiến bộ kỹ thuật vào thực tiễn rất hạn chế, nên đa số họ là những ngườithụ động, tư duy cạnh tranh kém, tính tự do và manh mún cao Từ đó thu nhậpcủa họ thấp, khả năng chuyển đổi nghề khi bị mất đất hoặc cơ hội tham giavào môi trường lao động công nghiệp đòi hỏi các kỹ năng và tính kỷ luật laođộng cao là không dễ dàng

Hiện nay nước ta có 10 triệu hộ nông dân với hơn 30 triệu lao độngtrong độ tuổi, nhưng mới có 17% trong số đó được đào tạo chủ yếu thông quacác lớp tập huấn khuyến nông sơ sài Trong số 16,5 triệu thanh niên nôngthôn đang cần có việc làm ổn định thì chỉ có 12% tốt nghiệp phổ thông trunghọc; 3,11% có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ trung cấp trở lên (thấp hơn 4lần so với thanh niên đô thị) Với trình độ như vậy họ khó có thể áp dụng tiến

bộ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp có ứng dụng công nghệ cao, đủ sứccạnh tranh với sản phẩm hàng hóa nông sản trong khu vực và cũng khó có thểtìm được việc làm ở các doanh nghiệp đòi hỏi lao động phải qua đào tạo vàđạt trình độ tay nghề cao Do đó, nhiều nơi sau khi chuyển ruộng đất cho sảnxuất công nghiệp, nếu doanh nghiệp có ưu tiên tuyển lao động trẻ cho các hộmất đất thì họ cũng khó có thể đảm nhận công việc kỹ thuật để đạt được mứcthu nhập cao, nên dù có những cơ hội chuyển đổi nghề, người lao động nôngthôn (bao gồm cả thanh niên đến tuổi lao động và người chủ gia đình bị mấtđất) đều khó tiếp nhận những nghề mới Tình trạng nguồn lao động trình độthấp, chưa được đào tạo nghề (cả nghề nông và phi nông) cùng với sự thiếukiến thức, tác phong sống và tính kỷ luật, kỹ năng lao động trong lao độngcông nghiệp kém nên rất khó đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng cao trướctốc độ của công nghiệp hóa và hội nhập Từ đó có thể thấy rằng, thu nhập củangười lao động ở khu vực nông thôn thấp và ngày càng cách xa ở khu vực đôthị Những điểm vừa nêu trên đây là một rào cản và thách thức lớn nhất tronggiai đoạn hiện nay đối với người lao động khu vực nông thôn

Trang 20

Cũng cần phải nói đến một thực trạng có ảnh hưởng quan trọng đếnchất lượng nguồn nhân lực nông thôn là đội ngũ cán bộ cơ sở Theo số liệuđiều tra thống kê năm 2006, cả nước có 81.300 công chức xã Về trình độ họcvấn: có 0,1% chưa biết chữ; 2,4% có trình độ tiểu học; 21,5% trung học cơ sở

và 75% trung học phổ thông Về trình độ chuyên môn: 9% cao đẳng, đại học;39,4% trung cấp; 9,8% sơ cấp; 48,7% chưa đào tạo Về trình độ quản lý nhànước: có tới 55% chưa qua bất kỳ lớp học quản lý nhà nước nào; 85% khônghiểu biết gì về vi tính ở vùng nào cũng có cán bộ chưa qua đào tạo Tại cáctỉnh vùng núi Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ tỷ lệ còn cao hơn Đó là lý

do chủ yếu dẫn đến tình trạng trì trệ, yếu kém, thiếu khả năng vận động tổchức, chỉ đạo quần chúng thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương, cơ

sở Tình trạng lúng túng trong giải quyết các công việc phát sinh từ thực tế,thậm chí còn làm sai lệch chính sách, pháp luật không phải là hiện tượng cábiệt Lực lượng khoa học kỹ thuật nông nghiệp ở nông thôn hiện chỉ chiếm0,5% - 0,6% lao động trực tiếp ở khu vực này Bất cập nữa là về chính sách

sử dụng và thu hút cán bộ, người lao động có trình độ cao cũng đang bộc lộ

sự bảo thủ, lạc hậu, chậm đổi mới, không thỏa mãn được các yêu cầu cơ bản,tối thiểu hiện nay, ít nhất là về lợi ích, vì vậy không thu hút được lực lượnglao động có trình độ cao về làm việc ở địa phương, thậm chí còn khó “giữchân” được những cán bộ khoa học - kỹ thuật đang công tác tại các cơ sở ởnông thôn Tình trạng này càng làm cho chất lượng nguồn nhân lực nông thôntrở nên thấp kém hơn

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực ở nông thônthấp, ảnh hưởng lớn đến tiến trình phát triển chính là do môi trường kinh tế,văn hóa - xã hội nông thôn chưa thực sự thay đổi lớn theo hướng phát triểnbền vững trên lộ trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Quá trình đô thị hóanông thôn diễn ra với tốc độ cao nhưng mang nặng tính tự phát nên côngnghiệp - dịch vụ nông thôn khó phát triển; môi trường tự nhiên bị phá vỡ, sinh

Trang 21

thái bị mất cân bằng; thu nhập của nông dân tuy được cải thiện nhưng cònthấp; sự chênh lệch giữa các vùng, giữa nông thôn và đô thị ngày càng cách

xa Tác động của quá trình mất đất và sự thiếu chuẩn bị việc chuyển đổi nghềcho nông dân đã thúc đẩy tình trạng di dân tự do tìm việc làm ở đô thị hoặccác khu công nghiệp các tỉnh phía Nam Nhiều nơi, lực lượng lao động trênđồng ruộng đa số là phụ nữ, người già và trẻ em Từ đó, dẫn đến tình trạngsản xuất nông nghiệp bấp bênh; thu nhập từ lao động nông nghiệp không cólãi nên người lao động dễ dàng coi nhẹ sản xuất trên đồng ruộng Như vậy cóthể thấy khá rõ các yếu tố: môi trường xã hội và tự nhiên nông thôn suy giảm;trình độ kiến thức, kỹ năng lao động của người lao động nông thôn thấp; lựchút cán bộ khoa học - kỹ thuật khu vực nông nghiệp mỏng manh và trình độquản lý, tổ chức của đội ngũ cán bộ cơ sở (thôn, xã) yếu kém làm cho chấtlượng nguồn nhân lực khu vực nông thôn - chìa khóa mở ra sự thành công củacông nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn gặp nhiều thách thức

và trở ngại

Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn: Mục tiêu củacông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2020 đã được Đảng ta xácđịnh là:

- Phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, đa dạng, bền vững

có chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao Tốc độ tăng trưởng bìnhquân đạt 3%- 3,5%/năm

- Xây dựng một nông thôn mới giàu đẹp, kinh tế phát triển, kết cấu hạtầng hiện đại, môi trường sinh thái sạch đẹp, bản sắc văn hóa được giữ gìn

- Nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.Tăng thu nhập của nông dân đạt khoảng 2.000 - 2.500 USD/năm Xây dựngngười nông dân thành người lao động văn minh có văn hóa, có kiến thức kinhtế- kỹ thuật, biết kinh doanh và có đời sống khá giả

Trang 22

Để đạt mục tiêu đó thì việc đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhânlực nông thôn bao gồm đào tạo nghề cho nông dân, kiến thức tổ chức quản lýkinh tế - xã hội cho đội ngũ cán bộ cơ sở, tăng cường lực lượng cán bộ khoahọc - kỹ thuật nông nghiệp, phát triển kết cấu hạ tầng cấp xã cho các vùngnông thôn phải được coi là giải pháp trọng điểm, là khâu ”đột phá” Tronggiai đoạn tới, bám sát vào mục tiêu trên để đề ra kế hoạch đào tạo, bồi dưỡngnguồn nhân lực tương thích Theo đó, đến năm 2020, có khoảng 60% - 70%lao động nông nghiệp sẽ được chuyển sang các ngành công nghiệp, dịch vụ.

Số lao động này phải được đào tạo nghề cơ bản và số nông dân còn lại phảiđược đào tạo nghề nông đạt tỷ lệ khoảng 40%

Về nội dung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trước hết là chútrọng việc đào tạo nghề nông cho nông dân và các chủ trang trại nhằm giúp

họ nâng cao kiến thức hiểu biết về khoa học - kỹ thuật hướng tới năng suấtlao động cao, chất lượng tốt, giá thành hạ, bảo đảm vệ sinh an toàn thựcphẩm; biết làm nghề nông một cách khoa học, có kỹ năng quản lý, có kiếnthức thị trường để lựa chọn nghề sản xuất ra loại sản phẩm có giá trị kinh tếcao; đồng thời, bồi dưỡng kiến thức xây dựng nông thôn mới để giúp họ thamgia vào quá trình xây dựng kế hoạch phát triển làng, xã, tự giác đóng góp xâydựng và quản lý sau xây dựng các công trình hạ tầng của cộng đồng

Đào tạo nghề cho nông dân chủ yếu là tập huấn, bồi dưỡng kiến thứccho lao động nông nghiệp qua các Trung tâm học tập cộng đồng tại thôn, làng

do một tổ chức đoàn thể hoặc hợp tác xã nơi đó chủ trì Sử dụng các mô hìnhmẫu của chương trình khuyến nông Kết hợp hình thức đào tạo, bồi dưỡng ởtrình độ cao hơn tại hệ thống các trường cao đẳng, trung cấp nông nghiệp…

Đào tạo nghề công nghiệp - dịch vụ cho lao động nông thôn, chủ yếu

là thanh niên, học sinh mới tốt nghiệp hệ phổ thông hoặc bổ túc văn hóa giúp

họ chuẩn bị sẵn điều kiện chuyển sang lao động nghề phi nông nghiệp trongnước Với lực lượng lao động này, cần đặc biệt coi trọng dạy nghề, ngoại ngữ,

Trang 23

kỹ năng giao tiếp phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu lao động đang tăng cao về

số lượng và đòi hỏi chất lượng tốt Hình thức đào tạo cho họ chủ yếu qua các

cơ sở dạy nghề chuyên nghiệp tại địa phương

Đào tạo nâng cao kiến thức và năng lực cho đội ngũ cán bộ xã vàquyết tâm chuẩn hóa đội ngũ cán bộ cơ sở Nội dung đào tạo cho đội ngũ cán

bộ xã chủ yếu là về kiến thức luật pháp, quản lý kinh tế - xã hội, kỹ năng tổchức thực hiện các chủ trương, đề án của cấp trên ở địa bàn thôn, xã Thựchiện chuẩn hóa đội ngũ cán bộ cơ sở trước hết là ở vùng khó khăn, vùng sâu,vùng xa theo các tiêu chí cơ bản: cán bộ tối thiểu phải có trình độ học vấntrung học phổ thông cơ sở và có chứng chỉ được đào tạo sơ cấp về quản lýnhà nước Và, chỉ bố trí cán bộ vào bộ máy lãnh đạo, quản lý ở cơ sở khi họ

có đủ tiêu chuẩn

Tiếp tục phát triển thêm các trường nội trú, trung học cơ sở, trung họcphổ thông (theo cụm xã) cho các huyện vùng núi khó khăn, gắn với dạy nghềcho học sinh cuối cấp để tạo ra nguồn bổ sung về cán bộ và lao động có taynghề cao

Nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông nông thôn Về nội dung này,cần tập trung thực hiện đồng bộ nâng cấp cơ sở vật chất và nâng cao chấtlượng đội ngũ giáo viên Chú trọng sự đồng đều về chất lượng giáo dục theoyêu cầu đổi mới đồng bộ, toàn diện Thực hiện kiên cố hóa 100% phòng họctheo chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo Phấn đấu đến năm 2020, các tỉnhvùng khó khăn (Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Trung Bộ) phổ cậptrung học cơ sở, các tỉnh còn lại phải đạt phổ cập trung học phổ thông

Để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông ở địa bàn nông thôn, nhất

là ở các xã, huyện khó khăn, cần có chính sách hỗ trợ phù hợp, có tính khả thicao Đó là:

Trang 24

- Tiếp tục đầu tư kinh phí cho kiên cố hóa phòng học ở khu vực nôngthôn chưa hoàn thành Hỗ trợ 100% kinh phí sách giáo khoa và sinh hoạt phícho học sinh thuộc diện nghèo hoặc đối tượng chính sách xã hội cho học sinhcác trường nội trú;

- Hỗ trợ thúc đẩy dạy nghề, bằng việc điều chỉnh, bố trí ngân sách hỗtrợ mua sắm thiết bị đào tạo nghề cần thiết cho các trung tâm giáo dục cộngđồng Tăng kinh phí đầu tư xây dựng các mô hình khuyến nông, xây dựng môhình nông thôn mới hơn trước Hỗ trợ kinh phí để ít nhất mỗi huyện có mộtTrung tâm dạy nghề tổng hợp theo chuẩn của Bộ Lao động, Thương binh và

Xã hội (do doanh nghiệp đầu tư và thực hiện) Giúp cho người học nghề đượcvay ngân hàng không lãi suất tiền học phí (ngân sách nhà nước hỗ trợ lãi suấtngân hàng) Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp tự đào tạo công nhân(bằng chính sách hỗ trợ một phần kinh phí dạy nghề cho công nhân, nhân viênmới tuyển chưa có chứng chỉ nghề);

- Hỗ trợ 100% kinh phí cho đào tạo cán bộ cơ sở và có chính sách đưacán bộ khoa học - kỹ thuật về nông thôn thông qua việc yêu cầu thực hiện chế

độ nghĩa vụ đối với sinh viên đại học (các ngành liên quan đến nông nghiệp,nông thôn) về công tác tại cơ sở xã thời hạn từ 3 đến 5 năm Cùng với ápdụng nghĩa vụ đi thực tế và phục vụ nông thôn là khuyến khích chế độ đãingộ Ngoài tiền lương, đối tượng này còn được hưởng ít nhất 50% lương vàsau thời hạn nghĩa vụ, họ sẽ được ưu tiên xét tuyển bổ sung cho lượng côngchức và các đơn vị sự nghiệp nông nghiệp các cấp

1.2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO NGHỀ, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC

“Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa côngnghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao

Trang 25

động nông thôn” là một trong những nội dung của Chương trình mục tiêuquốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 Đây được coi làgiải pháp giảm nghèo nhanh và phát triển bền vững, cần được triển khai thựchiện đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, cùng các bộ, ngành liên quan.Tuy nhiên, phải bảo đảm yêu cầu phù hợp với đặc điểm về tự nhiên, môitrường, kinh tế, văn hóa, xã hội và vấn đề dân tộc của từng vùng, miền Đâycũng được Đảng và Nhà nước ta coi là một nhiệm vụ chiến lược của sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đối với địa bàn nông nghiệp,nông thôn.

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn được coi là một trong nhữnggiải pháp quan trọng hàng đầu để nâng cao chất lượng lao động cho khu vựcnày Đề án đào tạo mỗi năm 1 triệu lao động nông thôn nói riêng đến năm

2020 được kỳ vọng sẽ tạo ra những thay đổi cả về chất và lượng đối với laođộng nông thôn nói chung và lực lượng lao động Việt Nam nói riêng

Sau 2 năm thực hiện Đề án, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội Phạm Thị Hải Chuyền, Phó trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện

Đề án 1956 đánh giá: Mặc dù đã có được những kết quả bước đầu hết sứcquan trọng, nhưng công tác dạy nghề cho lao động nông thôn trong 2 năm quamới chủ yếu tập trung vào các mô hình thí điểm, việc đào tạo mở rộng ở cácđịa phương vẫn còn có hạn chế, yếu kém: còn tình trạng nghề đào tạo chưaphù hợp với nhu cầu, điều kiện của người học, chưa gắn chặt với kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội của địa phương và nhu cầu sử dụng lao động củadoanh nghiệp Nhiều xã chưa hoàn thành quy hoạch phát triển kinh tế - xãhội Không đạt chỉ tiêu về số lượng dạy nghề cho lao động nông thôn (chỉ đạt87%) Có 9 tỉnh, thành không đạt mục tiêu tỷ lệ lao động nông thôn học nghề

có việc làm theo mục tiêu của Đề án

Trang 26

Theo phân tích của Văn phòng Hỗ trợ Tư vấn Phản biện và Giám định

Xã hội, thì xã hội hóa các hoạt động đào tạo nghề là một trong những chủtrương quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề, tuy nhiên rất nhiềucác cơ sở sử dụng lao động hiện nay tỏ ra không mặn mà với các chính sáchnày bởi chính sách xã hội hóa chưa thực sự có tính “thu hút” Công tác tuyêntruyền, định hướng nghề nghiệp cho lao động nông thôn hiện nay cần phảiđược quan tâm đúng mức bởi rất nhiều lao động ở nông thôn hiện nay thiếuđịnh hướng về nghề nghiệp

Bên cạnh đó, thông tin về thị trường lao động tiếp tục là một tháchthức trong quá trình đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm tại nhiều địaphương Tại nhiều địa phương sự gắn kết giữa các cơ sở đào tạo với các cơ sở

sử dụng lao động là rất hạn chế, số lao động được đào tạo theo nhu cầu củadoanh nghiệp là rất thấp

Theo đánh giá từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, thực tế chothấy, để thực hiện Đề án có hiệu quả, phải huy động sự tham gia, chỉ đạo tíchcực, hiệu quả của các Bộ có liên quan trong việc xây dựng quy hoạch, kếhoạch phát triển ngành, lĩnh vực; huy động sự tham gia của doanh nghiệp,nông dân sản xuất giỏi trong việc xác định nhu cầu, tổ chức dạy nghề, tổ chứclao động sản xuất, bao tiêu sản phẩm hàng hóa…; cần huy động tất cả các loạihình cơ sở đào tạo tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn; huy độngnhững người sản xuẩt giỏi, thợ lành nghề trong các doanh nghiệp, nghệ nhântrong các làng nghề… tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là một chủ trương lớn của Đảng,Nhà nước và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thực hiện thắng lợi Nghịquyết về nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việc thực hiện thành công đề ánnày chắc chắn sẽ tạo nên động lực và nền tảng vững chắc trong việc thực hiệnmục tiêu nông nghiệp – nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Ngày đăng: 27/02/2022, 00:47

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w