Là một cán bộ nghiên cứu, giảng dạy pháp luật về quyền con người,với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu thực trạng việc nội luậthóa các công ước quốc tế về quyền con người ở V
Trang 1MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Tôn trọng tính phổ quát của các quyền con người, Việt Nam đã gianhập hầu hết các công ước nhân quyền quốc tế chủ chốt, trong đó có Côngước về quyền Dân sự, Chính trị; Công ước về quyền Kinh tế, Xã hội, Vănhóa; Công ước về Xóa bỏ mọi Hình thức Phân biệt Chủng tộc; Công ước vềXóa bỏ mọi Hình thức Phân biệt Đối xử chống lại Phụ nữ; là nước thứ haitrên thế giới và nước châu Á đầu tiên tham gia Công ước Quyền Trẻ em; phêchuẩn 17 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế Ngày 22-10-2007, ViệtNam đã ký Công ước quốc tế về quyền của Người khuyết tật và hiện đangnghiêm túc xem xét việc ký Công ước chống Tra tấn; đồng thời nghiêm chỉnhthực hiện các nghĩa vụ thành viên Các văn bản pháp luật trong nước đượcban hành hoặc sửa đổi theo hướng nội luật hóa các công ước quốc tế mà ViệtNam tham gia, đồng thời không làm cản trở việc thực hiện các công ước này(Điều 3 và Điều 82 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008) Đây lànhững nỗ lực to lớn của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánhgiá cao 1
Chính phủ Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng cam kết và thực thi cáccông ước quốc tế về quyền con người trước hết và chủ yếu là trách nhiệm củaquốc gia thành viên Các quốc gia có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luậttrong nước phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt
là Hiến chương Liên hợp quốc có tính đến hoàn cảnh của mỗi nước để bảo đảmcho người dân được thụ hưởng quyền con người một cách tốt nhất 2, tr 4
Đặc biệt, với sự kiện Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ
150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ngày 07-11-2006, dự báo sẽ có
sự gia tăng nhanh chóng về số lượng các điều ước quốc tế (ĐƯQT) mà ViệtNam tham gia ký kết, gia nhập trong đó có nhiều nhiều điều ước liên quan
Trang 2đến quyền con người Do vậy, trách nhiệm của chúng ta là phải làm sao đảmbảo để các ĐƯQT được thực thi một cách tốt nhất Muốn vậy, trước hết cầnphải tạo sự hài hòa giữa nội luật với luật pháp quốc tế, điều đó có nghĩa làphải làm rõ và giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai phạm trù pháp luật quốc tế
và pháp luật quốc gia trong đó có pháp luật về quyền con người
Hiện nay, Việt Nam đã quy định về vị trí của ĐƯQT trong hệ thốngpháp luật Việt Nam, mối quan hệ giữa luật quốc gia và luật quốc tế ở Việt Namtại Luật số 41/2005/QH11 về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế(Quốc hội thông qua ngày 14-6-2005, Chủ tịch nước công bố ngày 24-6-2005,hiệu lực kể từ ngày 01-01-2006) và Luật Ban hành văn bản quy phạm phápluật (ban hành ngày 12-11-1996, được sửa đổi, bổ sung ngày 16-12-2002 vàngày 3-6-2008, có hiệu lực kể từ ngày 1-1-2009)
Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 là vănbản luật điều chỉnh một cách tổng thể các vấn đề liên quan đến công tácĐƯQT của Việt Nam Liên quan đến mối quan hệ giữa luật quốc gia và luậtquốc tế, Luật quy định về nguyên tắc, thứ bậc cũng như việc áp dụng ĐƯQT
Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật tuy chủ yếu điều chỉnhviệc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong nước nhưng cũng quy địnhviệc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật phải cân nhắc, tính toán đến cácĐƯQT mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập
Tuy nhiên, ngay trong giới khoa học pháp lý, vấn đề nội luật hóa cáccông ước quốc tế nói chung, công ước về quyền con người nói riêng vẫn đang
là vấn đề còn có nhiều quan niệm khác nhau Đây là một trong những đề tàigây ra nhiều tranh luận nhất trong giới luật gia Việt Nam hiện nay Nhữngvấn đề thường được đặt ra là, luật quốc gia và luật quốc tế nằm trong cùngmột hệ thống pháp luật hay đó là hai hệ thống pháp luật độc lập; vị trí của cácĐƯQT trong hệ thống pháp luật Việt Nam như thế nào và vấn đề về chuyểnhóa và thực thi ĐƯQT ở Việt Nam hiện nay ra sao?
Trang 3Điều đó cho thấy, cần phải nghiên cứu để làm rõ những vấn đề lý luận
và thực tiễn về nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người trongpháp luật Việt Nam, tạo cơ sở cho việc hiểu rõ về trách nhiệm của Nhà nướcViệt Nam là phải nghiêm túc chuyển hóa để thực hiện các chuẩn mực quốc tế
về quyền con trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay
Là một cán bộ nghiên cứu, giảng dạy pháp luật về quyền con người,với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu thực trạng việc nội luậthóa các công ước quốc tế về quyền con người ở Việt Nam hiện nay, tôi chọn
đề tài " Nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người trong pháp luật Việt Nam - Lý luận và thực tiễn" để làm luận văn tốt nghiệp Cao cấp Lý
luận Chính trị
1.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nội luật hóa các công ước quốc tế nói chung, công ước về quyền conngười nói riêng được coi là một trong những nghĩa vụ quan trọng của cácquốc gia thành viên công ước trong đó có Việt Nam Do đó, vấn đề nội luậthóa các công ước quốc tế về quyền con người đã được đề cập trong các vănkiện của Đảng cũng như các văn bản pháp luật của Nhà nước, trong đó phải
kể đến Luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT năm 2005 và Luật Ban hànhvăn bản quy phạm pháp luật năm 2008 như đã đề cập ở trên
Đặc biệt, có khá nhiều chuyên gia pháp lý quan tâm nghiên cứu đến vấn
đề này và đã xã hội hóa kết quả nghiên cứu qua sách tham khảo, trong giáo
trình giảng dạy tại các cơ sở đào tạo chuyên luật như: Giáo trình Luật quốc tế,
Lê Mai Anh và Nguyễn Văn Luận chủ biên, Trường Đại học Luật Hà Nội,
2002; Luật điều ước quốc tế, Lê Văn Hường, Nxb Tư pháp, 2005; Luật quốc
tế, lí luận và thực tiễn, Trần Văn Thắng và Lê Mai Anh, Nxb Giáo dục, 2001.
Ngoài ra, còn có các bài nghiên cứu được đăng tải trên các báo, tạp
chí như: "Hiệp định Pa-ri và một số vấn đề cơ bản của Luật Điều ước quốc
tế", Phạm Lan Dung và Nguyễn Hải Yến, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 6,
Trang 412/2002; "Vấn đề quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia trong
pháp luật và thực tiễn của Việt Nam", Đoàn Năng, Tạp chí Nhà nước và pháp
luật, số 2, 1998; "Cơ sở lý luận của hoạt động chuyển hóa điều ước quốc tế",
Lê Mai Anh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3, 2003; "Bàn về việc thực thi
điều ước quốc tế", Hoàng Ngọc Giao, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 3/2005;
"Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam", Bùi Ngọc Toàn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 2(69), 2006; "Các loại nguồn
của pháp luật Việt Nam hiện nay", Nguyễn Thị Hồi, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp, số 12(128), 2008; "Với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
trong quá trình hội nhập", Vũ Mão, Tạp chí Nghiên lập pháp, số 1, 2005;
"Mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế trong xu thế toàn
cầu hóa", Thái Vĩnh Thắng, Tạp chí Luật học, số 2, 2003 Ngoài ra, còn có
nhiều bài nghiên cứu được đăng tải trên các Website như: "Đảm bảo sự thống
nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia và quốc tế ở Việt Nam",
TS Lê Thành Long, http://www.lerap.org; "Về việc áp dụng Điều ước quốc tế
và quan hệ thứ bậc giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia", Nguyễn Bá
Diến, http://www.vnu.edu.vn
Bản thân tác giả bản luận văn đã tham gia nghiên cứu với tư cáchđồng tác giả, "Chương IX: Nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con
người trong pháp luật Việt Nam", trong sách: Luật quốc tế về quyền con
người của Viện Nghiên cứu quyền con người, Nxb Lý luận chính trị, 2005.
Hầu hết các công trình trên đều đã đi vào nghiên cứu một cách kháiquát vấn đề trách nhiệm chuyển hóa ĐƯQT trong pháp luật quốc gia, một sốbài nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề nội luật hóa các công ước quốc tế vềquyền con người Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp về
nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người trong pháp luật Việt Nam - Lý luận và thực tiễn Do đó, nghiên cứu đề tài luận văn này có tính thời
sự và cần thiết
Trang 53 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằmnâng cao hiệu quả việc nội luật hóa nội dung các công ước quốc tế về quyềncon người mà Việt Nam là thành viên, tạo cơ sở pháp lý cho việc tôn trọng
và bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản của con người theo nguyêntắc vừa bảo đảm tính phổ biến vừa phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội củaViệt Nam
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
Một là, phân tích cơ sở lý luận của việc nội luật hóa các công ước
quốc tế về quyền con người trong pháp luật Việt Nam
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng việc nội luật hóa các công ước
quốc tế về quyền con người trong pháp luật Việt Nam hiện nay
Ba là, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải
nhằm nâng cao hiệu quả nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền conngười trong pháp luật Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận về nội luật hóa và thực tếthực hiện việc nội luật hóa nội dung các công quốc tế về các quyền dân sự,chính trị; quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và quyền của các nhóm dễ bị tổnthương trong pháp luật Việt Nam hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người là việc chuyểnhóa nội dung của từng công ước trong pháp luật Việt Nam Trong khi đó Việt
Trang 6Nam đã tham gia 08 công ước và hai nghị định thư bổ sung về quyền conngười, nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về nội luật hóa công ước quốc tế
về quyền con người theo các nhóm quyền dân sự, chính trị; kinh tế, xã hội vàvăn hóa và quyền của một số nhóm chủ thể đặc biệt đó là nhóm dễ bị tổnthương như, phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người có HIV/AIDS và ngườidân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm cơ bản của Đảng và nhànước ta về Nhà nước và pháp luật, về các quyền cơ bản của con người trong
Mác-đó có quyền của các nhóm dễ bị tổn thương
Cơ sở lý luận nêu trên là nền tảng tư tưởng, lý luận để nghiên cứu vấn
đề nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người trong pháp luật ViệtNam - lý luận và thực tiễn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện bởi các phương pháp luận của chủ nghĩa duyvật biện chứng và duy vật lịch sử, chú trọng các phương pháp thống kê, tổnghợp, để phân tích so sánh sự tương thích giữa các quy định của pháp luật quốc
tế và pháp luật quốc gia về quyền con người Từ đó, rút ra những kết luận cầnthiết, đưa ra những đánh giá và những luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc đềxuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả nội luật hóa các côngước quốc tế về quyền con người trong pháp luật Việt Nam
Luận văn kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trìnhkhoa học đã công bố về nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con ngườitrong pháp luật Việt Nam
Trang 76 Những điểm mới về mặt khoa học của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu, đánh giá về nội luật hóacác công ước quốc tế về quyền con người trong pháp luật Việt Nam - Lý luận
và thực tiễn nên có những đóng góp mới về mặt khoa học sau đây:
- Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn nộiluật hóa các công ước quốc tế về quyền con người trong pháp luật Việt Nam
- Đánh giá hệ thống và cụ thể thực trạng việc nội luật hóa các côngước quốc tế về quyền con người trong pháp luật Việt Nam hiện nay theo cácnhóm quyền, và theo nhóm chủ thể dễ bị tổn thương
- Đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việcnội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người trong pháp luật Việt Nam
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần vào việc tìm hiểu đánhgiá thực trạng việc nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con ngườitrong pháp luật Việt Nam
Các giải pháp, kiến nghị có tính khoa học, thực tiễn có thể làm tài liệutham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về quyền con người, cho các cơquan lập pháp trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền conngười nhằm tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, các quyền và tự
do cơ bản của công dân
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 81.1.1 Các quan điểm cơ bản về mối quan hệ giữa điều ước quốc tế
và pháp luật quốc gia
Mối quan hệ giữa ĐƯQT và pháp luật quốc gia và việc áp dụngĐƯQT (chấp nhận hay chuyển hóa - nội luật hóa, các quy phạm ĐƯQT) thựcchất phản ánh nội hàm của mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia.Vấn đề này luôn là mối quan tâm hàng đầu của lý luận và thực tiễn của khoahọc pháp lý quốc tế cũng như pháp luật quốc gia từ trước đến nay và đang đặt
ra hàng loạt vấn đề bức thiết đòi hỏi có sự luận giải vừa mang tính khoa học,vừa mang tính chính trị pháp lý, vừa góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia,nhằm giải quyết các vấn đề cơ bản sau đây:
Thứ nhất, pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia có phải là hai bộ
phận cấu thành của cùng một hệ thống pháp luật thống nhất hay không, haychúng là các hệ thống pháp luật khác nhau; các quy phạm ĐƯQT có vị trí nhưthế nào trong mối tương quan so sánh với các quy phạm pháp luật quốc gia?
Thứ hai, việc áp dụng ĐƯQT được thực thi bằng phương thức nào,
nói một cách khác, ĐƯQT sau khi đã được hoàn tất các thủ tục ký kết, sẽđược áp dụng trực tiếp hay phải thông qua một thủ tục chuyển hóa bằng việcsửa đổi hoặc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia?
Việc giải quyết một cách triệt để các vấn đề nêu trên sẽ đặt nền móngcho những luận cứ khoa học vô cùng quý báu, nhằm xây dựng và hoàn thiện
cơ chế thực thi pháp luật quốc tế - đặc biệt là cơ chế thực thi các ĐƯQT theo
Trang 9nguyên tắc pacta sunt servanda; bảo vệ tối đa lợi ích dân tộc, bảo vệ triệt đểchủ quyền và an ninh quốc gia trong điều kiện hội nhập và toàn cầu hóa
Sự tương quan giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, cũng nhưmối quan hệ và tác động qua lại giữa chúng là vấn đề trung tâm không nhữngcủa khoa học pháp lý quốc tế, mà còn là đối tượng nghiên cứu lâu nay của khoahọc luật hiến pháp, khoa học lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, và vẫn làchủ đề của các cuộc tranh luận mà cho đến nay vẫn tiếp tục diễn ra trong nhiềulĩnh vực của khoa học pháp lý và chưa đến hồi kết thúc Như đã đề cập, tiêuđiểm của các cuộc tranh luận này đều tập trung vào việc giải quyết các vấn đề
cơ bản như: pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế là một hay là hai hệ thốngpháp luật độc lập với nhau; nếu là hai thì hệ thống pháp luật nào có vị trí ưutiên hơn; mối quan hệ giữa chúng được biểu hiện như thế nào v.v
Tuy nhiên, các quan điểm được đưa ra đều dựa trên hai học thuyết cơbản: Chủ nghĩa nhất nguyên luận (Moniste) và Chủ nghĩa nhị nguyên luận(Dualiste) Vì vậy, hai học thuyết này có xuất phát điểm dường như tráingược nhau
Các đại diện tiêu biểu cho thuyết Nhị nguyên luận là H.Triepel,D.A.Anzilotti cho rằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ
thống hoàn toàn riêng biệt, không thể viện dẫn một ĐƯQT trước tòa án quốc
gia, trừ khi điều ước đó đã được chuyển hóa vào bằng những quy định trongnước cụ thể
Trái ngược với thuyết Nhị nguyên luận, thuyết Nhất nguyên luận chorằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia nằm trong cùng một hệ thống phápluật Những người theo học thuyết này lại chia thành hai phái: phái ưu tiên phápluật quốc gia đặt chủ quyền quốc gia lên trên hết, theo đó luật quốc tế chỉ là một
bộ phận đối ngoại của các quốc gia; phái ưu tiên pháp luật quốc tế lại khẳngđịnh luật quốc gia phải phụ thuộc vào luật quốc tế, trong trường hợp pháp luậtquốc gia trái với luật pháp quốc tế thì pháp luật quốc gia sẽ bị coi là vô hiệu
Trang 10- Chủ nghĩa nhất nguyên (hay còn gọi là chủ nghĩa nhất hệ - Moniste)
Đại diện cho học thuyết này là H.Kelsel, A.Verdross, A.Zorn, A.Lasson,B.Kunz Học thuyết nhất nguyên quan niệm pháp luật là một hệ thống thốngnhất Cội nguồn sâu xa, xét về mặt lịch sử tư tưởng của học thuyết này, trướchết là dựa vào quan điểm của học thuyết pháp luật tự nhiên Trên cơ sở quanniệm cho rằng bản chất tốt đẹp của con người là do năng lượng của thiênnhiên mang lại nên không thể được xác định khác nhau, do đó mọi xung độtđược loại trừ
Học thuyết nhất nguyên đưa ra hai khả năng xác định mối quan hệgiữa luật quốc tế và luật quốc gia tùy theo vị trí ưu tiên của chúng Khả năngthứ nhất coi pháp luật của quốc gia có vị trí ưu tiên hơn (chủ nghĩa nhấtnguyên với sự ưu tiên của pháp luật quốc gia) và khả năng thứ hai là pháp luậtquốc tế có vị trí ưu tiên hơn (chủ nghĩa nhất nguyên với sự ưu tiên của phápluật quốc tế) 3
Khả năng thứ nhất, ưu tiên pháp luật quốc gia, học thuyết về sự ưu
tiên của pháp luật quốc gia đặt chủ quyền của quốc gia lên trên hết Pháp luậtquốc tế chỉ có giá trị áp dụng, nếu một quốc gia tự công nhận là nó có giá trịhiệu lực đối với mình
Trong mối tương quan với pháp luật của quốc gia, pháp luật quốc tếlúc này không còn giá trị độc lập nữa, mà chỉ được coi là một bộ phận cấuthành của pháp luật quốc gia, hoặc chỉ đơn thuần là "pháp luật của quốc giatrong quan hệ đối ngoại" Học thuyết này dần dần bị bác bỏ trong khoa họcpháp lý quốc tế hiện đại do có sự xuất hiện của các quan điểm trong pháp luậtquốc tế về "chủ quyền có hạn chế" của quốc gia
Khả năng thứ hai, ưu tiên pháp luật quốc tế, chủ nghĩa nhất nguyên
luận sau này dựa trên quan điểm cho rằng, luật quốc tế có trước luật quốc gia
Do đó, luật quốc tế có vị trí ưu tiên hơn luật quốc gia Nếu căn cứ vào quan
Trang 11điểm này thì sẽ loại trừ khả năng xung đột giữa luật quốc tế và luật quốc gia(trong trường hợp pháp luật quốc gia trái với pháp luật quốc tế thì pháp luậtquốc gia sẽ bị coi là vô hiệu) Quan điểm này khó được chấp nhận vì mâuthuẫn với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật các nước và vi phạm thô bạonguyên tắc chủ quyền quốc gia.
Về Chủ nghĩa nhất nguyên dung hòa, trên cơ sở các luận điểm của hai
trường phái của chủ nghĩa nhất nguyên nói trên, đã xuất hiện chủ nghĩa nhấtnguyên dung hòa.Trường phái này đã được thừa nhận rộng rãi trong khoa họcpháp lý quốc tế Theo học thuyết này, các quy phạm pháp luật quốc tế có vị trícao hơn pháp luật quốc gia Tuy nhiên, học thuyết này công nhận có khả năngxung đột giữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Và để giải quyết xungđột, các quốc gia, do chịu ảnh hưởng của sự ràng buộc của pháp luật quốc tế,cần phải hủy bỏ các văn bản pháp luật của quốc gia mình trái với pháp luậtquốc tế Còn các văn bản pháp luật quốc gia tạm thời có vị trí thấp hơn so vớipháp luật quốc tế Vì thế, để thực hiện các cam kết quốc tế, quốc gia cần phảixây dựng các văn bản pháp luật trong nước cho phù hợp với pháp luật quốc
tế Trong trường hợp có sự xung đột giữa pháp luật quốc gia và pháp luậtquốc tế thì pháp luật quốc tế được ưu tiên áp dụng
Cộng hòa Pháp là một trong những quốc gia điển hình công nhận chủnghĩa nhất nguyên: Coi quy phạm pháp luật quốc tế (ĐƯQT) có vị trí ưu thếhơn so với pháp luật quốc gia Điều 55 Hiến pháp ngày 4-10-1958 của Cộnghòa Pháp, tại Mục 6 về ĐƯQT đã quy định: "Các điều ước quốc tế đã đượcphê chuẩn hoặc phê duyệt theo đúng quy định, có hiệu lực cao hơn luật, kể từngày công bố, với điều kiện điều ước quốc tế đó cũng được bên kia thực hiện".Các Điều từ 52 đến 55 cũng đã phản ánh học thuyết nhất nguyên luận trongHiến pháp của nước Pháp:
Pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế là một hệ thốngpháp luật thống nhất, trong đó luật quốc tế chiếm ưu thế so với pháp
Trang 12luật quốc gia Tuy vậy, nguyên tắc cơ bản này cũng có một số giới hạntrong quá trình áp dụng tại Cộng hòa Pháp Trong trật tự các quyphạm pháp luật, Điều ước quốc tế có vị trí dưới Hiến pháp, nhưng lại
có giá trị cao hơn các văn bản quy phạm pháp luật khác [6, tr 11-12] Pháp luật Hoa kỳ cũng có quy định tương tự, cũng áp dụng chủ nghĩanhất nguyên như ở Pháp Ví dụ, Điều 6 Hiến pháp Hoa kỳ quy định: "Hiến phápnày, các đạo luật của Hoa kỳ được ban hành theo Hiến pháp này, mọi điều ước
đã hoặc sẽ được ký kết dưới thẩm quyền của Hoa kỳ sẽ là luật tối cao của quốcgia Quan tòa ở các bang đều phải tuân theo những luật này " [6, tr 32-34]
Mặc dù vấn đề vị trí của ĐƯQT trong mối quan hệ với luật phápThụy Sĩ vẫn còn đang được tranh luận trong khoa học cũng như trong thựctiễn, nhưng hiện có một xu hướng nổi trội ở nước này, đó là, đặt cả ĐƯQT vàtập quán quốc tế ở vị trí trên các đạo luật Liên bang hoặc thậm chí còn xếpngang hàng với Hiến pháp
Tại Hà Lan, Hiến pháp của Hà Lan năm 1953 (được sửa đổi năm 1956)thậm chí còn cho phép các ĐƯQT được các cơ quan có thẩm quyền của HàLan ký kết có thể thay đổi và bác bỏ một cách hợp pháp các quy định của bảnthân Hiến pháp 3
- Chủ nghĩa nhị nguyên (chủ nghĩa lưỡng hệ - Dualiste)
Đại diện xuất sắc cho trường phái này là H Triepel, D.A Anzilotti,H.Lauterpacht, L.Ehrlich Trái ngược với chủ nghĩa nhất nguyên, coi phápluật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai bộ phận của một hệ thống thống nhất,chủ nghĩa nhị nguyên coi pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế là hai hệthống pháp luật hoàn toàn độc lập với nhau, mặc dù có những lĩnh vực có thểđan xen lẫn nhau, nhưng không phải là một Chủ nghĩa nhị nguyên xuất phát
từ chỗ cho rằng thẩm quyền, nguồn luật và đối tượng áp dụng của các quyphạm pháp luật của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia hoàn toàn khácnhau Pháp luật quốc gia điều chỉnh quan hệ giữa công dân với nhau và công
Trang 13dân với nhà nước; pháp luật quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia vàcác chủ thể khác của luật quốc tế với nhau, do đó, chỉ áp dụng cho các quan
hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế, còn pháp luật quốc gia chỉ áp dụng chocác chủ thể trong nước Học thuyết nhị nguyên lại được phân chia thành haitrường phái, đó là trường phái nhị nguyên cực đoan và trường phái nhịnguyên dung hòa
Chủ nghĩa nhị nguyên cực đoan dựa trên sự tách biệt hoàn toàn hai hệ
thống pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Do vậy, theo trường phái nàykhông có xung đột giữa hai hệ thống pháp luật trên Nếu một văn bản phápluật của quốc gia (luật, pháp lệnh, nghị định) trái với pháp luật quốc tế(ĐƯQT) thì cả pháp luật quốc tế lẫn pháp luật quốc gia đều có hiệu lực nhưnhau Tuy nhiên, quốc gia có nghĩa vụ hoàn thiện pháp luật trong nước củamình để có thể thực hiện được pháp luật quốc tế (thực thi các ĐƯQT) Nhưvậy, ở một mức độ nhất định, học thuyết này đã đặt pháp luật quốc tế(ĐƯQT) ở một vị trí ưu tiên hơn so với pháp luật quốc gia
Chủ nghĩa nhị nguyên luận dung hòa xuất phát từ chỗ tách biệt về cơ
bản hai hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia - nhưng không phủnhận khả năng xung đột giữa hai hệ thống đó Xung đột giữa pháp luật quốc
tế và pháp luật quốc gia không chỉ được giải quyết theo cách của chủ nghĩanhất nguyên, với một trật tự trên dưới của hai bộ phận pháp luật Cả hai hệthống được xem như là hai vòng tròn có phần giao nhau Vùng giao nhau nàyxuất hiện thông qua các quy định dựa vào nhau, dẫn chiếu đến nhau hoặc sựchuyển hóa các quy phạm từ hệ thống pháp luật này sang hệ thống pháp luậtkhác Hệ quả là pháp luật quốc tế chiếm ưu thế nổi trội so với pháp luật quốcgia Cũng theo trường phái này, sự chuyển hóa của quy phạm pháp luật quốc
tế (ĐƯQT) vào pháp luật quốc gia đòi hỏi phải có một văn bản chính thốngcủa cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Và văn bản này sẽ tạo ra khả năng
mở cửa lĩnh vực chủ quyền quốc gia đối với pháp luật quốc tế Học thuyếtnày hiện nay đang được một số nước như Cộng hòa Liên bang Đức, Italia, Hà
Trang 14Lan, Vương quốc Anh áp dụng Xu hướng này đã được phản ánh khá rõ néttrong Công ước Viên năm 1969 của Liên hợp quốc về Luật ĐƯQT Điều 27Công ước này quy định: "Một bên không thể viện những quy định của phápluật trong nước của mình làm lý do để không thi hành luật điều ước".
Tóm lại, chủ nghĩa nhất nguyên dung hòa và chủ nghĩa nhị nguyêndung hòa đã có những bước phát triển mới và đã xích lại gần nhau Theo haihọc thuyết này, pháp luật quốc tế có vị trí ưu tiên trên thực tế, và pháp luậttrong nước mặc dù có trái với pháp luật quốc tế, nhưng vẫn còn hiệu lực.Điểm khác biệt duy nhất giữa hai học thuyết này là vị trí độc lập hoặc vị trítrên dưới của hai hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia
- Các quan điểm khác
Hiện nay, ngày càng có nhiều luật gia cũng như các chuyên gia về luậtquốc tế không tán thành các nội dung của các thuyết nhất nguyên luận vàthuyết nhị nguyên luận
Vì, theo thuyết Nhị nguyên luận, pháp luật quốc gia và pháp luật quốc
tế là hai hệ thống hoàn toàn độc lập Như vậy quan điểm này mâu thuẫn vớithực tế là đời sống quốc tế xây dựng trên cơ sở cởi mở hòa nhập với nhau chứkhông trên cơ sở tách biệt với nhau Hơn nữa yêu sách đòi đặt trật tự phápluật chỉ ở cấp quốc gia ngang hàng với một trật tự pháp luật của toàn bộ nhânloại là một yêu sách thái quá
Theo thuyết Nhất nguyên luận, nếu trật tự pháp luật quốc gia được đặtlên vị trí hàng đầu, tức là khi đó trật tự pháp luật của cả thế giới ở dưới mộttrật tự pháp luật mang tính quốc gia thì quả thật là phi logic Còn nếu đặt trật
tự pháp luật quốc tế lên trên thì sẽ đe dọa đến chủ quyền cũng như quyền dântộc tự quyết của các quốc gia thành viên
Có thể nói, hai hệ thống pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế đều
có vị trí "tối cao trong môi trường của mình" Luật quốc tế có chủ thể của
riêng mình là các quốc gia và các tổ chức quốc tế Luật quốc gia cũng vậy,
Trang 15chủ thể của nó là Nhà nước và các pháp nhân, cá nhân trên lãnh thổ đó Bêncạnh tính độc lập tác động như vậy, luật quốc tế và luật quốc gia cũng có mốiquan hệ gắn bó mật thiết Một trong những biểu hiện của điều này là cácĐƯQT ngày càng trở thành một nguồn quan trọng của luật các quốc gia, đồngthời hướng luật quốc gia một số nước, đặc biệt là các nước đang phát triển,phát triển theo chiều hướng tiến bộ Chẳng hạn, các ĐƯQT về nhân quyền đãtác động tích cực đến sự thay đổi pháp luật về nhân quyền ở các nước còn tồntại chính sách phân biệt chủng tộc, giới tính… Ngược lại, cũng có rất nhiềuquy phạm của luật quốc tế được xây dựng dựa trên các quy phạm pháp luậttiến bộ của một số quốc gia Ví dụ, nguyên tắc bình đẳng giữa các quốc gia cóchủ quyền, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau có xuấtphát điểm chính là từ nguyên tắc đối ngoại của Nhà nước tư sản Pháp;
Nguyên tắc dân tộc tự quyết được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp
quốc; Tuyên ngôn của phong trào không liên kết… có nền tảng là Sắc lệnh về
hòa bình của Nhà nước Xô viết…
Từ thực tế trên, các luật gia quốc tế có quan niệm về mối quan hệ giữaluật quốc tế và luật quốc gia hiện nay là, luật quốc tế và luật quốc gia là hai hệthống pháp luật tồn tại song hành và có mối quan hệ mật thiết với nhau, trong
đó nhấn mạnh tính ưu thế của luật quốc tế so với luật quốc gia Quan điểmnày đảm bảo vững chắc hơn cho việc thực thi những nguyên tắc cơ bản củapháp luật quốc tế cũng như độc lập chủ quyền của mỗi quốc gia thành viên
Cá nhân chúng tôi đồng ý với quan điểm này khi tiếp cận về mối quan
hệ giữa ĐƯQT về quyền con người với pháp luật quốc gia về quyền con người
1.1.2 Việc áp dụng điều ước quốc tế của các quốc gia
Về việc áp dụng ĐƯQT của các quốc gia hiện tồn tại một số quanđiểm sau:
- Chấp nhận hay chuyển hóa
Trang 16Cho dù theo cách suy luận của chủ nghĩa nhất nguyên hay theo thiếtchế của chủ nghĩa nhị nguyên, thì các quốc gia đều có nghĩa vụ là làm chopháp luật quốc gia phù hợp với pháp luật quốc tế Về vấn đề này hiện nay cóhai quan điểm chính, quan điểm thứ nhất cho rằng ĐƯQT có hiệu lực trựctiếp trong các lĩnh vực của pháp luật quốc gia mà không cần phải có sựchuyển hóa (nội luật hóa) các ĐƯQT vào pháp luật quốc gia; còn theo quanđiểm thứ hai cho rằng pháp luật quốc tế không áp dụng trực tiếp trong cáclĩnh vực của pháp luật quốc gia; ĐƯQT muốn phát huy hiệu lực của mình ởtrong các nước thì đòi hỏi phải được chuyển hóa vào nội luật, nghĩa là toàn bộhoặc một phần nội dung của điều ước đó phải được chuyển đổi dưới các hìnhthức văn bản quy phạm pháp luật (phương thức chuyển hóa ĐƯQT thườngđược quy định trong hiến pháp và các đạo luật quan trọng về ĐƯQT của cácquốc gia).
- Học thuyết về chấp nhận
Học thuyết về sự chấp nhận hiệu lực trực tiếp của quy phạm ĐƯQTrất gần với chủ nghĩa nhất nguyên Học thuyết này khước từ việc ban hànhmột văn bản thi hành của Nhà nước như là cầu nối giữa quy phạm pháp luậtquốc tế và sự áp dụng nó ở trong nước Theo học thuyết này, các quy phạmpháp luật quốc tế được áp dụng trực tiếp ở trong nước Tuy nhiên, các quyphạm này không vì thế mà mất đi tính chất của nó với tư cách là các quyphạm pháp luật quốc tế Với sự chấp nhận, các quy phạm điều ước được côngnhận như là pháp luật trong nước
Trong thực tiễn lập pháp và hành pháp, học thuyết về sự chấp nhậnđược vận dụng ở các nước theo hệ thống pháp luật Ănglô Xắc-xông Xuất phátđiểm của sự phát triển này là nguyên tắc được ghi nhận trong luật của Vươngquốc Anh: "Luật quốc tế là một bộ phận của Luật quốc gia" (Blackstone).Nguyên tắc này cũng được ghi nhận trong Hiến pháp Hoa Kỳ 3
Trang 17Theo hệ thống pháp luật nhất nguyên của mình, các Tòa án của HàLan áp dụng trực tiếp và tức thời các quy phạm điều ước mà không cần mộtthể thức chuyển hóa vào nội luật.
Mặc dù, Hiến pháp Liên bang Thụy Sĩ không có quy định rõ về mốiquan hệ giữa luật quốc tế và luật trong nước, nhưng có một nguyên tắc bấtthành văn và đã được ngầm định trong Hiến pháp rằng, ĐƯQT và nhữngnguyên tắc chung của luật quốc tế có hiệu lực tức thời và không cần có cácthủ tục đặc biệt Tòa án Liên bang đã nhiều lần khẳng định quan điểm này,rằng luật quốc tế phải được xem như luật của Liên bang Thụy Sĩ, "bởi vì bảnchất của nó phải tương đương với luật trong nước" Chỉ khi các nguyên tắccủa luật tập quán quốc tế không đủ rõ ràng và do đó không phù hợp cho việc
áp dụng và thực hiện tức thời thì luật Liên bang Thụy Sĩ mới cần sửa đổi vàthực hiện chúng; về phía các điều ước thì không cần phải có bất kỳ sự thayđổi chính thức nào để thành đạo luật của Liên bang
Theo pháp luật châu Âu, Tòa án châu Âu đã công bố rằng, luật củaCộng đồng chung châu Âu không chỉ là luật của các nước thành viên, được ápdụng trực tiếp đối với các Tòa án của các nước đó, mà nó còn cao hơn luậtpháp của các nước thành viên, vượt lên trên sự xung đột với luật pháp quốc gia
Thực tiễn tư pháp của Cộng hòa Pháp hiện đang nghiêng theo xu hướng
là, chỉ ban hành một số lượng rất ít các đạo luật nhằm chuyển hóa đối với cácĐƯQT mà nước Pháp là thành viên, còn nếu ĐƯQT có hiệu lực áp dụng trựctiếp thì không cần chuyển hóa ĐƯQT vào nội luật [6, tr 11-12] Tuy nhiên,
để ĐƯQTcó hiệu lực áp dụng trực tiếp, phải đáp ứng được hai điều kiện
Thứ nhất, các nước kết ước phải thật sự mong muốn ĐƯQT đó có
hiệu lực áp dụng trực tiếp; thứ hai, sự mong muốn này phải được thể hiện
ngay trong điều ước thông qua những quy định rõ ràng và cụ thể Nếu không
có hai điều kiện này thì nước Pháp sẽ ban hành một đạo luật chuyển hóa để
đảm bảo pháp luật của Pháp phù hợp với ĐƯQT [6, tr 22]
Trang 18- Học thuyết về sự chuyển hóa
Trái ngược với học thuyết về sự chấp nhận, học thuyết về sự chuyểnhóa thể hiện rõ tính nhị nguyên luận Học thuyết này xuất phát từ chỗ cho rằngcác quy phạm pháp luật quốc tế không thể được áp dụng như các quy phạm phápluật trong nước vì pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia là hai hệ thống độc lậpvới nhau Những quy phạm ĐƯQT muốn được áp dụng trong nước thì phảiđược chuyển đổi (chuyển hóa) thành quy phạm pháp luật trong nước Qua sựchuyển hóa này các quy phạm pháp luật quốc tế phát huy hiệu lực với căn cứ ápdụng mới, mà theo căn cứ này bên cạnh các quốc gia, các chủ thể trong nướccũng là đối tượng áp dụng của pháp luật quốc tế Thông qua việc chuyển hóa,quy phạm pháp luật quốc tế sẽ được chuyển đổi thành pháp luật trong nướcthông qua một, hoặc một số văn bản thi hành (luật, nghị định) Đối với ĐƯQT,mỗi điều ước sẽ được chuyển hóa thành pháp luật trong nước bằng một vănbản pháp luật riêng biệt, phù hợp với quy định của pháp luật quốc gia Vềphương diện pháp luật quốc tế, thì không tồn tại loại văn bản thi hành này
Pháp luật nhiều nước bên cạnh việc thừa nhận ưu thế của ĐƯQT sovới pháp luật quốc gia, còn quy định rằng, ĐƯQT chỉ có hiệu lực ở trongnước sau khi có hành vi chuyển đổi (Điều 25, Điều 29 Luật Cơ bản của Cộnghòa Liên bang Đức; Điều 38 - Các nguyên tắc chung về luật của Italia; Điều 28Hiến pháp năm 1975 của Hy Lạp) 3
1.2 VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Gia nhập công ước quốc tế về quyền con người là một quyết địnhchính trị quan trọng trên cả hai phương diện đối nội và đối ngoại của mộtquốc gia trong đó có Việt Nam Khi tham gia các công ước quốc tế về quyềncon người, Việt Nam phải thực hiện nghĩa vụ của một quốc gia thành viên củacông ước là phải tự nguyện chấp nhận sự ràng buộc về mặt pháp lý kể cả cơ
Trang 19chế giám sát do công ước quy định Với tư cách là một quốc gia thành viêncủa hầu hết các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người,Việt Nam phải
có trách nhiệm thực hiện các công ước là tôn trọng, bảo vệ và thực hiện đến
mức cao nhất nội dung công ước.
Tôn trọng là Nhà nước trong khi xây dựng chính sách, pháp luật không
được đưa ra những qui định trái với cam kết quốc tế Tất nhiên Việt Nam cóthể đưa ra những quy định hạn chế một số quyền trong pháp luật quốc gia phùhợp với qui định của công ước quốc tế
Bảo vệ là Nhà nước phải có trách nhiệm can thiệp, giải quyết bất cứ
một sự vi phạm qui định nào trong công ước từ phía người dân hay cơ quancông quyền, tổ chức chính trị - xã hội, kinh tế
Thực hiện là Nhà nước phải có chương trình, kế hoạch, cung cấp các
nguồn lực con người và tài chính để hiện thực hóa nội dung công ước Đốivới các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, đó là việc xây dựng và thực hiện cácchương trình, kế hoạch nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinhthần của người dân, giảm thiểu bất bình đẳng, tạo lập những cơ hội như nhaucho tất cả mọi người Nhà nước thực hiện công ước quốc tế thông qua bộ máylập pháp, hành pháp và tư pháp; thông qua đội ngũ cán bộ và công chức củamình, nhưng trách nhiệm trước cộng đồng quốc tế về mặt pháp lí không phải
là các cá nhân mà là Chính phủ
1.2.1 Vị trí của công ước quốc tế về quyền con người trong pháp luật Việt Nam
- Khái quát quan điểm của Việt Nam về quyền con người
Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa làđộng lực của sự nghiệp xây dựng đất nước Nhà nước Việt Nam khẳng địnhcon người là trung tâm của các chính sách kinh tế - xã hội, thúc đẩy và bảo vệquyền con người là nhân tố quan trọng cho phát triển bền vững, bảo đảm
Trang 20thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Mọi chủ trương,
đường lối, chính sách của Việt Nam đều nhằm phấn đấu cho mục tiêu "dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" 6, tr 53, tất cả vì con
người và cho con người Từng là nạn nhân của nhiều cuộc chiến tranh xâmlược, bị vi phạm nghiêm trọng các quyền con người của thân phận một dântộc thuộc địa, hơn ai hết, Việt Nam hiểu rõ rằng quyền con người vừa mangtính phổ biến, thể hiện khát vọng chung của nhân loại, được ghi nhận trongHiến chương của Liên hợp quốc, vừa có tính đặc thù đối với từng xã hội vàcộng đồng Chính phủ Việt Nam cho rằng, trong một thế giới ngày càng đadạng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa cácchuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặcthù về lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội, các giá trị văn hóa, tôn giáo, tínngưỡng, phong tục tập quán của mỗi quốc gia và khu vực Không một nướcnào có quyền áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hóa của mình cho mộtquốc gia khác Quan điểm nhất quán của Việt Nam là, cần tiếp cận một cáchtoàn diện tất cả các quyền con người về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, vănhóa trong một tổng thể hài hòa, không được xem nhẹ bất cứ quyền nào Đồngthời, các quyền và tự do của mỗi cá nhân chỉ có thể được bảo đảm và pháthuy trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích chung của dân tộc và cộng đồng;quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ đối với xã hội Việc chỉ ưu tiên hoặc tuyệtđối hóa các quyền dân sự, chính trị và một số quyền tự do cá nhân, khôngquan tâm thích đáng đến quyền phát triển, các quyền kinh tế, xã hội và vănhóa của cả cộng đồng là cách tiếp cập phiến diện, không phản ánh đầy đủ bứctranh toàn cảnh về quyền con người Chính phủ Việt Nam khẳng định, việcbảo đảm và thúc đẩy quyền con người trước hết là trách nhiệm và quyền hạncủa mỗi quốc gia Các quốc gia có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luậttrong nước phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt
là Hiến chương Liên hợp quốc có tính đến hoàn cảnh của mỗi nước để bảođảm cho người dân được thụ hưởng quyền con người một cách tốt nhất Do
Trang 21khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trịtruyền thống văn hóa… nên cách tiếp cận về quyền con người của mỗi quốcgia có thể khác nhau Việc hợp tác và đối thoại giữa các quốc gia để thúc đẩy
và bảo vệ quyền con người là một yêu cầu cần thiết và khách quan Việt Namủng hộ việc tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quyền con người trên
cơ sở đối thoại bình đẳng, xây dựng, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau, khôngcan thiệp vào công việc nội bộ của nhau, vì mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo
vệ ngày càng tốt hơn các quyền con người Việt Nam cũng cho rằng khôngnước nào có quyền sử dụng vấn đề quyền con người làm công cụ can thiệpvào công việc nội bộ các quốc gia, gây sức ép chính trị, thậm chí sử dụng vũlực hoặc làm điều kiện trong quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại với nướckhác Trong một thế giới phụ thuộc lẫn nhau, các quyền con người chỉ có thểđược tôn trọng và bảo vệ trong một môi trường hòa bình, an ninh, bình đẳng
và phát triển bền vững, trong đó các giá trị nhân bản được tôn trọng và bảo
vệ Cuộc đấu tranh vì các quyền con người cần tiến hành đồng thời với cácbiện pháp ngăn chặn các cuộc chiến tranh, xung đột, khủng bố, nghèo đói,dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia đang hàng ngày, hàng giờ đe dọa hòabình, an ninh, độc lập và phồn vinh của mọi quốc gia, ngăn cản việc thúc đẩy
và bảo vệ quyền con người trên toàn thế giới
Các quan điểm nêu trên của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với cácnguyên tắc, nội dung cơ bản và xu thế phát triển theo hướng tiến bộ của luậtpháp quốc tế nói chung và trong lĩnh vực quyền con người nói riêng Xuấtphát từ chủ trương không ngừng phát triển quyền con người, Nhà nước ViệtNam đã và đang xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm cácquyền con người được tôn trọng và thực hiện một cách đầy đủ nhất Theothống kê chưa đầy đủ, từ năm 1986 đến nay, Quốc hội đã thông qua 58 Luật,
43 Pháp lệnh, trong đó có những bộ luật lớn trực tiếp bảo đảm các quyền conngười như: Bộ luật Hình sự (BLHS), Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Bộ
Trang 22luật Dân sự (BLDS), Bộ luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Hôn nhân và giađình, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Phòng, chống HIV/AIDS; Luật Trợgiúp pháp lý; Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; LuậtChăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhànước, Luật Người khuyết tật, Luật Người cao tuổi v.v…
Quyền con người, một khi đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận,
sẽ trở thành ý chí chung của toàn xã hội, được xã hội tuân thủ và được phápluật bảo vệ 7, tr 446-449
- Vị trí của công ước quốc tế về quyền con người trong pháp luật Việt Nam
Sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi năm 1975,năm 1977 Việt Nam tham gia Liên hợp quốc Tính đến nay, Việt Nam lầnlượt tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người và một
số công ước trên nhiều lĩnh vực khác, đó là: Công ước quốc tế về các quyềndân sự, chính trị; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa;Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước xóa bỏ mọihình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em và
2 Nghị định thư kèm theo; Công ước về ngăn ngừa và trừng phạt tội ác Apácthai; Công ước về không áp dụng luật pháp đối với tội phạm chiến tranh và tộichống nhân loại Hiện nay, Việt Nam đang trong lộ trình chuẩn bị tham giaCông ước chống tra tấn và sử dụng các hình thức trừng phạt hay đối xử kháctàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người, năm 1984; Công ước quốc tế
về quyền của người khuyết tật
Ngoài ra, Việt Nam còn tham gia nhiều điều ước mang nội dung nhânquyền trên lĩnh vực lao động của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và LuậtNhân đạo của Hội Chữ thập đỏ quốc tế
Trang 23Cần phải lưu ý rằng, không phải các quyền và tự do cơ bản của conngười trong pháp luật Việt Nam chỉ ra đời từ khi Việt Nam tham gia các côngước nhân quyền quốc tế Trái lại, các quyền này đã được ghi nhận ngay từnhững văn kiện lập hiến đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay lànước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Do những lý do lịch sử, thuật ngữ
"quyền con người" dường như không được sử dụng trong một thời gian dài,
điều đó không có nghĩa là pháp luật Việt Nam thiếu các chế định nhân quyền.Tuy nhiên, khi Việt Nam tham gia các ĐƯQT về quyền con người thì việcbảo đảm các quyền con người của người dân đã được thúc đẩy thêm Bởi lẽ,
từ đây, Nhà nước Việt Nam chấp nhận cơ chế giám sát quốc tế theo các côngước, cũng như nhận được sự hợp tác quốc tế trên lĩnh vực này
Khi tham gia các Công ước quốc tế về quyền con người, Việt Namthực hiện quyền bảo lưu một số điểm Chẳng hạn, với Công ước Xóa bỏ mọihình thức phân biệt chủng tộc, Việt Nam bảo lưu các Điều 17(1), 18(1) về hạnchế không cho một số nước tham gia Công ước, và Điều 22 về việc sử dụngTòa án Quốc tế giải quyết các bất đồng liên quan tới Công ước Việt Nam bảolưu các Điều 9 về sử dụng Tòa án Quốc tế, Điều 12 về quyền của các lãnh thổquản thác và Điều 11 về hạn chế việc tham gia của một số quốc gia khi thamgia Công ước về tội phạm chiến tranh và tội ác chống nhân loại Với Côngước Quốc tế về các Quyền Dân sự, Chính trị, Việt Nam bảo lưu Mục 1, Điều 26
và Mục 1, Điều 48 về cấm không cho một số quốc gia tham gia Công ước.Việt Nam bảo lưu Mục 1, Điều 29 về sử dụng trọng tài và Tòa án quốc tếtrong Công ước Quốc tế về Xóa bỏ mọi Hình thức Phân biệt Đối xử chống lạiPhụ nữ Các bảo lưu này của ta chủ yếu xuất phát từ lập trường của ta đối vớicác nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia và không can thiệp vào côngviệc nội bộ của các nước Việt Nam còn bảo lưu một số vấn đề trong một vàiNghị định thư không bắt buộc của một số công ước, như cho phép cá nhânkhiếu kiện chính phủ lên cơ quan nhân quyền Liên hợp quốc, và về xóa án tửhình, không phải là trường hợp đặc biệt, ngoại lệ trong cộng đồng quốc tế
Trang 24Có hai nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 29 trong Công ướcViên, năm 1969 về Luật ĐƯQT, bao gồm:
Một là, nguyên tắc Pacta sunt servanda - nguyên tắc tận tâm thực hiện
cam kết quốc tế Điều 26 Phần III Công ước Viên về Luật Điều ước năm 1969quy định nguyên tắc Pacta sunt servanda như sau: "Mọi điều ước đã có hiệulực đều ràng buộc các bên tham gia điều ước và phải được các bên thi hànhvới thiện ý"
Hai là, nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của các ĐƯQT về nhân quyền
một cách thực tế trong phạm vi lãnh thổ của các quốc gia thành viên
Trong đó, nguyên tắc tự nguyện và thiện chí tuân thủ các cam kết
quốc tế (Pac ta sunt Servanda) là một yếu tố nền tảng của cơ chế pháp lý
quốc tế được Liên hợp quốc đặc biệt quan tâm
Hiến chương Liên hợp quốc ghi nhận: "Tất cả các nước thành viênLiên hợp quốc đều phải làm tròn những nghĩa vụ mà họ phải đảm nhận theo
Hiến chương này" 8, tr 20 Tính phổ cập của nguyên tắc tự nguyện trong
việc thực hiện các ĐƯQT, nhất là trong mối quan hệ giữa pháp luật quốc giavới luật quốc tế đã được khẳng định trong Công ước Viên năm 1969 (ViệtNam là thành viên từ năm 2001): "Mỗi thành viên điều ước không thể việndẫn những quy định của pháp luật quốc gia để biện minh cho việc không thihành một điều ước"
Trên một phương diện khác, nếu trách nhiệm phát sinh theo quy địnhcủa những thỏa thuận quốc tế xung đột với trách nhiệm thành viên Liên hợpquốc theo quy định của Hiến chương Liên hợp quốc, thì "Trách nhiệm theoquy định của Hiến chương có vị trí ưu tiên" 8, tr 101 Là thành viên củaLiên hợp quốc và nhiều ĐƯQTvề quyền con người, Nhà nước Việt Nam luôntôn trọng các tập quán quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, các nguyên tắccủa pháp luật quốc tế nói chung và các quy định về trách nhiệm quốc gia đượcquy định trong các ĐƯQT mà Việt Nam đã ký kết, phê chuẩn hoặc gia nhập
Trang 25Mặc dù, Hiến pháp Việt Nam chưa có quy định cụ thể về vị trí củaĐƯQT trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nhưng pháp luật Việt Nam đã cónhiều văn bản quy định về giá trị ưu tiên của ĐƯQT đối với pháp luật quốc
gia Theo khoản 2 Điều 759 BLDS năm 2005: "Trong trường hợp ĐƯQT mà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy địnhkhác với quy định của Bộ luật này, thì áp dụng quy định của ĐƯQT đó ".Khoản 2 Điều 2 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, năm 2004 ghinhận "trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng quy định của điều
ước quốc tế đó." Theo Điều 3 Luật Di sản văn hóa: "Trong trường hợp điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có
quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó" Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật tuy chủ yếu điều chỉnh việc ban hành văn bảnquy phạm pháp luật trong nước nhưng cũng quy định việc soạn thảo văn bảnquy phạm pháp luật phải cân nhắc, tính toán đến các ĐƯQT mà Việt Nam đã
ký kết hoặc gia nhập
Luật ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT năm 2005 đã quy định:trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và ĐƯQT mà Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đềthì áp dụng quy định của ĐƯQT (khoản 1 Điều 6) Do đó, các quy định củacác ĐƯQT mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia sẽ được thực thi kể cả trongtrường hợp pháp luật Việt Nam còn chưa quy định đầy đủ Điều 6 của Luật kýkết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tề năm 2005 khẳng định "Điều ước
và quy định của pháp luật trong nước" gồm 3 điểm cơ bản:
1 Ưu tiên áp dụng ĐƯQT trong trường hợp có sự khác nhau giữa cácquy định trong văn bản luật Việt Nam và ĐƯQT về cùng một vấn đề
Trang 262 Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm khônglàm cản trở việc thực hiện ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên có quy định vềcùng một vấn đề.
3 Căn cứ vào yêu cầu, nội dung, tính chất của ĐƯQT, Quốc hội, Chủtịch nước, Chính phủ sẽ quyết định chấp nhận sự ràng buộc của ĐƯQT, đồngthời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần ĐƯQT đó đối với cơquan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước đã rõ ràng, chitiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc banhành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện ĐƯQT đó
Có thể thấy rõ công thức chung được quy định trong các văn bản quyphạm pháp luật hiện hành của Việt Nam là nếu pháp luật trong nước có quyđịnh khác hoặc trái với công ước quốc tế về quyền con người mà Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập, thì công ước quốc tế có giá trị ưu tiên ápdụng Từ đó cho thấy, công ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam đã ký kết hoặc gia nhập có giá trị pháp lý ưu tiên hơn so với pháp luậttrong nước Đồng thời, Nhà nước Việt Nam cũng khẳng định là tùy theo tínhchất, mức độ, phạm vi điều chỉnh mà điều ước có thể áp dụng trực tiếp hoặcđược chuyển hóa để thực hiện trên tinh thần ưu tiên cho việc áp dụng điềuước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi và áp dụng ĐƯQT
1.2.2 Hình thức và phương thức chuyển hóa điều ước quốc tế về quyền con người vào pháp luật Việt Nam
- Chuyển hóa ĐƯQTvề quyền con người vào pháp luật quốc gia
Việc chuyển hóa ĐƯQT về quyền con người vào pháp luật quốc giatheo quy định của từng công ước là một trong số các nghĩa vụ bắt buộc đốivới mỗi quốc gia thành viên công ước, mặc dù công ước chấp nhận có nhữnghạn chế nhất định do sự khác biệt về điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội vàpháp luật của từng nước Điều 2 của Công ước quốc tế về các quyền Dân sự,Chính trị năm 1966 quy định:
Trang 27Mỗi quốc gia thành viên của công ước này cam kết tôntrọng và bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩmquyền pháp lý của mình các quyền đã được công nhận trong côngước này, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ,tôn giáo, chính kiến hoặc mọi quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc
và xã hội
Trong trường hợp quy định trên đây chưa được thể hiệnbằng các biện pháp lập pháp hoặc các biện pháp khác thì mỗi quốcgia thành viên của công ước này cam kết sẽ tiến hành các biện phápcần thiết phù hợp với quy trình nêu trong Hiến pháp của mình vànhững quy định của công ước này để ban hành pháp luật và nhữngbiện pháp cần thiết khác, nhằm mục đích thực hiện có hiệu quả cácquyền được công nhận trong công ước này [21]
Quy định của Công ước về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 đốivới nghĩa vụ phải ban hành văn bản pháp luật trong nước để thực thi các camkết quốc tế về nhân quyền của quốc gia thành viên cũng được thể hiện ở nhiềuĐƯQT về quyền con người khác Đây là một trong số các hoạt động pháp lýthuộc nghĩa vụ của các quốc gia thành viên các công ước quốc tế về quyềncon người
Nghĩa vụ nội luật hóa các công ước quốc tế về quyền con người khôngchỉ bó hẹp trong động thái pháp lý của Nhà nước để ban hành văn bản phápluật Nghĩa vụ này còn được thực hiện với yêu cầu cao hơn, đó là việc quốcgia thành viên bằng các hoạt động pháp lý của Nhà nước tạo ra sự tương thíchgiữa hệ thống các quy phạm pháp luật quốc gia về quyền con người với cáccam kết quốc tế của quốc gia tại các công ước quốc tế về quyền con người.Thực chất đây là quá trình làm cho các quy phạm của công ước quốc tế vềquyền con người có hiệu lực như quy phạm pháp luật trong nước để tạo cơ sở
pháp lý cho việc thực hiện các ĐƯQT về quyền con người
Trang 28Như trên đã đề cập, hiện nay, trên thế giới có hai hình thức chuyển
hóa công ước quốc tế về quyền con người vào pháp luật quốc gia: Một là, trực
tiếp áp dụng Công ước quốc tế, xem công ước mà quốc gia đó là một bộ phận
cấu thành của pháp luật quốc gia; hai là, gián tiếp đưa các quy phạm của công
ước quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia Nói cách khác, đó là quá trình
"nội luật hóa" công ước quốc tế
Đối với các quốc gia không áp dụng trực tiếp các ĐƯQT vào hệ thốngpháp luật của mình, sau khi tham gia điều ước, hoạt động lập pháp có vị tríquan trọng hàng đầu trong việc chuyển hóa các quy phạm của điều ước vào hệthống pháp luật quốc gia Hoạt động này bao gồm: rà soát các văn bản quyphạm pháp luật, điều chỉnh, sửa đổi những văn bản đó cho phù hợp với cácchuẩn mực của điều ước, kể cả việc sửa đổi Hiến pháp nếu cần thiết Cácquốc gia cũng có thể xây dựng các văn bản pháp luật mới, nếu cần, để chuyểnhóa đầy đủ ĐƯQT vào hệ thống pháp luật quốc gia Việt Nam kết hợp cả haihình thức này
Như vậy, nội luật hóa nội dung các công ước quốc tế về quyền con
người là hoạt động bao gồm: rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, điều
chỉnh, sửa đổi những văn bản đó cho phù hợp với các chuẩn mực của côngước, kể cả việc sửa đổi Hiến pháp nếu cần thiết Các quốc gia cũng có thể xâydựng các văn bản pháp luật mới, nếu cần, để chuyển hóa đầy đủ công ướcquốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia Trên cơ sở pháp luật quốc gia đãđược bổ sung, điều chỉnh theo công ước, các cơ quan hành pháp, tư pháp triểnkhai việc hoạch định và thực thi chính sách, chương trình kinh tế, xã hội vàvăn hóa, bảo đảm các quyền dân sự, chính trị; kinh tế xã hội và văn hóa chomọi công dân; chú trọng quan tâm đảm bảo quyền của các nhóm và lợi íchcủa cộng đồng
Trên cơ sở pháp luật quốc gia đã được bổ sung, điều chỉnh theo côngước, các cơ quan hành pháp, tư pháp triển khai công tác của mình thích hợp
Trang 29với những yêu cầu mới như hoạch định, thực thi chính sách, chương trìnhkinh tế, xã hội và văn hóa, bảo đảm các quyền dân sự, chính trị; kinh tế, xãhội và văn hóa và quyền của các nhóm dễ bị tổn thương.
Với tư cách là một quốc gia thành viên của các công ước quốc tế về
quyền con người, Việt Nam "nghiêm chỉnh tuân thủ Điều ước quốc tế mà Việt
Nam đã ký kết" Việt Nam đã thực hiện việc chuyển hóa nội dung của các
Công ước mà Việt Nam đã gia nhập vào quá trình xây dựng hệ thống các vănbản pháp luật trong nước Hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam từ saukhi tham gia các công ước đã không ngừng được bổ sung, sửa đổi và hoànthiện, phù hợp với các ĐƯQT mà Việt Nam đã tham gia Điều này được thểhiện trong toàn bộ quá trình xây dựng pháp luật của Việt Nam Tuy nhiên,việc bảo đảm quyền con người ở mỗi quốc gia phải tính đến những đặc thù vềlịch sử, văn hóa cho nên, để nội luật hóa các quy định của pháp luật quốc tế
về quyền con người, Việt Nam, một mặt, phải tuân thủ, tôn trọng các nguyêntắc, chuẩn mực của pháp luật quốc tế về quyền con người, thực hiện nghiêmchỉnh các cam kết quốc tế; mặt khác, cần xây dựng các quy phạm pháp luậtbảo đảm quyền con người phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể củaViệt Nam
Dưới góc độ lập pháp, trong trường hợp việc thực hiện ĐƯQT đòi hỏiphải sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hay ban hành văn bản quy phạm pháp luật củaViệt Nam, cơ quan đề xuất ký kết, tham gia và các cơ quan nhà nước hữuquan có trách nhiệm tự mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩmquyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc ban hành văn bản đó theo quyđịnh của pháp luật
Theo quy định tại Điều 6 Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQTnăm 2005 của Việt Nam, để giải quyết "điểm vênh" giữa ĐƯQT và quy địnhcủa pháp luật trong nước: 1 Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật
và ĐƯQT mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định
Trang 30khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của ĐƯQT; 2 Việc banhành văn bản quy phạm pháp luật phải đảm bảo không làm cản trở việc thựchiện ĐƯQT mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quyđịnh về cùng một vấn đề
Về hiệu lực của ĐƯQT ở Việt Nam được quy định tại Điều 62 Luật
Ký kết, gia nhập và thực hiện ĐƯQT năm 2005: "Điều ước quốc tế hoặc một
phần của điều ước quốc tế có thể được áp dụng tạm thời trong thời gian hoànthành thủ tục để điều ước quốc tế có hiệu lực theo quy định của điều ước quốc
tế đó hoặc theo thoả thuận giữa bên Việt Nam và bên ký kết nước ngoài"
Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ quyết định áp dụng trực tiếp toàn
bộ hoặc một phần ĐƯQT mà Việt Nam là thành viên
Từ đó cho thấy, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và giành vị trí ưutiên trong hệ thống pháp luật quốc gia cho các ĐƯQT về quyền con người màViệt Nam đã ký kết hoặc gia nhập
- Cách thức áp dụng nội dung điều ước quốc tế vào thực tế pháp luật Việt Nam
Xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế, Nhà nướccủa mỗi quốc gia là thành viên của ĐƯQT đều có quyền hạn và trách nhiệm xácđịnh cách thức thực thi các điều khoản của ĐƯQT trong phạm vi quyền lựcpháp lý của mình Hành vi này được các chuyên gia về luật quốc tế gọi là
"chuyển hóa ĐƯQT vào luật quốc gia" (với các tên gọi khác nhau:
"incorporation", "transformation", "reception") Thực tế thực thi ĐƯQT tạicác quốc gia hiện nay thường tồn tại hai cách thức chuyển hóa ĐƯQT vàopháp luật quốc gia: chuyển hóa trực tiếp và chuyển hóa gián tiếp
Như đã đề cập, pháp luật Việt Nam thừa nhận hai cách thức áp dụngĐƯQT vào thực tiễn pháp luật đó là: áp dụng trực tiếp và áp dụng gián tiếp
Trang 31Áp dụng trực tiếp có nghĩa là khi ĐƯQT đã được ký kết và có hiệu lực
thì mọi cá nhân, tổ chức là đối tượng điều chỉnh của điều ước đó đều có nghĩa
vụ thi hành và công dân hoàn toàn có thể viện dẫn các quy định của ĐƯQT
đó trước Tòa án để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình Đây là cách thức thựcthi ĐƯQT được áp dụng rộng rãi trong pháp luật các nước trên thế giới từgiữa thế kỷ XX nhưng cho đến nay hãy còn khá mới mẻ đối với pháp luậtViệt Nam Sở dĩ như vậy bởi lâu nay tâm lí chung của cả các cơ quan hữuquan và người dân Việt Nam thường hiểu chưa đúng rằng pháp luật chỉ baogồm các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành chứ không bao gồm cảcác cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên Đây là hệ quả của công táctuyên truyền các ĐƯQT còn chưa thực sự sâu rộng Tuy nhiên, trong thựctiễn cũng đã có một số quy định của ĐƯQT được áp dụng trực tiếp vào đờisống pháp luật Chẳng hạn, trong nghị quyết của Quốc hội phê chuẩn Nghịđịnh thư gia nhập WTO đã liệt kê các quy định liên quan đến nội dung camkết được áp dụng trực tiếp của Việt Nam là: Luật doanh nghiệp, Luật luật sư,Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật,Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Điện ảnh Hoặc Hiệp định về thuế chẳng hạn, đây làloại hiệp định luôn có hiệu lực cao hơn nội luật và được áp dụng trực tiếp, bởi
lẽ có hay không có hành vi chuyển hóa hầu như không có ý nghĩa thực tếtrong trường hợp áp dụng mức thuế đã cam kết giữa các quốc gia
Còn áp dụng gián tiếp là việc quốc gia thành viên ban hành một đạo luật
để chuyển hóa các quy định của ĐƯQT vào nội luật Trường hợp này xảy ra khinội dung của ĐƯQT chưa đủ cụ thể, rõ ràng để có thể áp dụng trực tiếp vào thựctiễn pháp luật hoặc nội dụng điều ước đó có điều khoản trái hoặc chưa được quyđịnh trong Hiến pháp Cách thức này đã được tiến hành để chuyển hóa một số
điều ước về quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự trong pháp lệnh về quyền
ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ
quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam; chuyển hóa nội dung Công ước
về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) vào Luật Bình
Trang 32đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; chuyển hóa nội dung Công ước
quốc tế về quyền trẻ em (CRC) vào Luật Chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em…
Nhiều quy định của các ĐƯQT khác cũng đã được chuyển hóa thành các quyđịnh trong các đạo luật của Việt Nam, nhất là từ khi chúng ta gia nhập WTOnhư: BLDS, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại…có
nhiều quy định tương thích với các quy định của Công ước BERN về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật, Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp; Pháp
lệnh về công nhận và thi hành của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam hài hòa với
các quy tắc của Công ước New York năm 1958…
Nếu như trước kia, việc chuyển hóa ĐƯQT vào pháp luật quốc giacòn chưa được quy định cụ thể, thì với việc Quốc hội thông qua Luật ký kết,gia nhập và thực hiện ĐƯQT năm 2005, vấn đề áp dụng trực tiếp ĐƯQT vàođời sống pháp luật đã chính thức được thừa nhận Theo đó, trong trường hợpnội dung của ĐƯQT đã cụ thể, rõ ràng, Nhà nước sẽ không cần phải thực hiệncác thủ tục chuyển hóa ĐƯQT bằng việc ban hành các văn bản quy phạmpháp luật truyền thống vừa phức tạp, vừa tốn kém, mà chỉ cần ra quyết địnhthừa nhận toàn bộ hoặc một phần nội dung của ĐƯQT đó để nội dung điềuước có thể đi vào cuộc sống Điều này hứa hẹn đem đến những biến chuyển tolớn cho công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế của nước nhà trong bối cảnh toàncầu hóa diễn ra mạnh mẽ và sâu rộng như hiện nay
- Mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thực thi điều ước quốc tế về quyền con người ở Việt Nam.
+ Mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thực thi ĐƯQT
Để đi đến ký kết một ĐƯQT, Bộ Tư pháp đã phải tiến hành một quytrình thẩm định kỹ lưỡng về tính hợp hiến, mức độ tương thích các quy địnhpháp luật trong nước… Nhưng khi nội dung của điều ước được thi hành trongthực tiễn thì hoàn toàn vẫn có thể xảy ra mâu thuẫn giữa quy định của hai hệthống pháp luật quốc gia và quốc tế
Trang 33Thực tế này có thể là do tình trạng văn bản hướng dẫn thi hành có nộidung không thống nhất với văn bản được hướng dẫn, dẫn đến làm vô hiệu hóaluật Thực trạng này thậm chí còn xảy ra ở cả các văn bản pháp luật trong nước.
Nguyên nhân thứ hai có thể dẫn ra ở đây đó là trong quá trình giảithích luật mới phát hiện ra các mâu thuẫn có thể có nhưng chưa phát hiệnđược trong quá trình thẩm tra, phê duyệt
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam hoàn toàn có nguy cơphải đối mặt với các ĐƯQT có nội dung trái Hiến pháp Mà theo quy địnhcủa pháp luật Việt Nam thì nội dung ĐƯQT mà Việt Nam ký kết phải phùhợp với các quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam
Theo đó, có thể hiểu, pháp luật Việt Nam không chấp nhận nhữngđiều khoản trong các điều ước có nội dung trái với Hiến pháp Điều này xét
về một phương diện nào đó hoàn toàn không có lợi cho các quan hệ ngoạigiao của Việt Nam Như vậy đòi hỏi chúng ta cần phải có cách xử lí khéo kéocho vấn đề này để đảm bảo được các quyền tự chủ và dân tộc tự quyết mà vẫn
thể hiện được chủ trương hội nhập quốc tế theo phương châm: "Việt Nam là
bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực"
+ Vấn đề giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thực thi ĐƯQT
Về vấn đề giải quyết mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thực thi
ĐƯQT, trong pháp luật Việt Nam hiện nay mới chỉ có quy định: Trong trường
hợp văn bản quy phạm pháp luật và Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế Từ đây có thể đưa ra phương thức xử lí
những điểm chưa thống nhất giữa ĐƯQT và các văn bản luật trong nước nhưsau: để thực hiện điều khoản trái hoặc chưa được quy định trong nội luật thì có
Trang 34thể áp dụng trực tiếp ĐƯQT đó mà không cần chuyển hóa nội dung điều ướcvào pháp luật trong nước hoặc sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản quy phạmpháp luật trong nước cho phù hợp sau khi ĐƯQT có hiệu lực thi hành Tuynhiên, chỉ với quy định này thì chúng ta hãy còn bỏ ngỏ việc giải quyết mâuthuẫn phát sinh giữa ĐƯQT và Hiến pháp Một số nước, trong đó tiêu biểu làCộng hòa Pháp, đã đưa ra cách giải quyết tương đối linh hoạt cho vấn đề này
là tiến hành sửa đổi Hiến pháp cho phù hợp với nội dung ĐƯQT mà Nhànước tham gia kết ước Vậy nên chăng, ở Việt Nam, pháp luật cho phép đưavào nội dung của điều ước những điều khoản có nội dung trái với Hiến phápnhưng trước khi chấp nhận ràng buộc thì phải tiến hành sửa đổi Hiến pháp?Bởi cần phải lưu ý rằng, pháp luật quốc gia vẫn trong quá trình tiếp cận vớiluật pháp quốc tế, những quy định trong nội luật chưa hẳn lúc nào cũng là tối ưu,nhất là trong khi tình hình thế giới biến đổi không phải từng ngày mà từng giờ
Bên cạnh giải pháp tình thế được đưa ra khi "việc đã rồi" như trên, vềlâu dài, chúng ta cần tăng cường hơn nữa công tác chủ động nghiên cứu, phântích ĐƯQT để có thể xây dựng các quy phạm pháp luật trên cơ sở tính đếnĐƯQT mà Việt Nam sắp hoặc có thể trở thành thành viên trong tương lai.Mong rằng Việt Nam sẽ sớm có được một hệ thống pháp luật tương đối phùhợp với chuẩn luật pháp quốc tế
Tiểu kết chương 1
1 Nói chung, thật khó có thể đưa ra được một quan điểm hoàn toànthỏa đáng về các vấn đề liên quan đến mối quan hệ điều ước quốc tế và phápluật quốc gia trong thời điểm hiện nay, khi mà luật pháp quốc gia còn chưathực sự có được những quy định cụ thể, rõ ràng về vấn đề này, và giới luật giahãy còn nhiều tranh cãi chưa thể thống nhất trong một sớm một chiều Bởi cảhai hệ thống pháp luật trong nước và quốc tế đều là những thực thể động,không ngừng thay đổi để bắt nhịp với sự phát triển của đời sống xã hội Do
Trang 35vậy, cần phải xác định nhiệm vụ giải quyết tốt mối quan hệ giữa hai hệ thốngpháp luật này là một quá trình lâu dài và sẽ không bao giờ hết tính thời sự
2 Khi tham gia các công ước quốc tế về quyền con người, Việt Namphải tận tâm tận lực để thực hiện nghĩa vụ của một quốc gia thành viên côngước, trong đó có nghĩa vụ nội luật hóa các công ước để đảm bảo tính hài hòagiữa pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về quyền con người
3 Một khi các chuẩn mực quốc tế về quyền con người đã được nộiluật hóa trong pháp luật Việt Nam sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc tôn trọng vàbảo đảm các quyền cơ bản của mọi công dân Việt Nam trên tất cả các mặt dân
sự, chính trị; kinh tế, xã hội và văn hóa; quyền của các nhóm dễ bị tổn thương
Trang 36Chương 2
THỰC TRẠNG NỘI LUẬT HÓA CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ
VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HIỆN NAY
Nhà nước Việt Nam luôn coi con người là mục tiêu và động lực của
sự nghiệp phát triển đất nước Mọi chính sách phát triển của Việt Nam luônlấy con người làm trung tâm; phát triển kinh tế vì con người; tăng trưởng kinh
tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bướcphát triển và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với pháttriển văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí, bảo vệ và cải thiện môi trường
Tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người đãthể hiện quyết tâm chính trị của Đảng, sự nỗ lực, cố gắng của Nhà nước vànhân dân Việt Nam trong hội nhập quốc tế về cam kết bảo đảm tôn trọng vàthực hiện các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế về nhân quyền Đồng thời, việc nàycũng đưa đến những trách nhiệm và nghĩa vụ lớn đối với Nhà nước ta trongviệc thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến các ĐƯQT mà Việt Nam là thànhviên, trước hết là trong lĩnh vực xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp
Nhà nước Việt Nam đã xác định rõ việc xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ và thúc đẩyquyền con người, quyền công dân Chính phủ Việt Nam đã và đang thực hiệnChiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Chiến lược cải cách tưpháp, Chương trình cải cách hành chính nhằm mục tiêu xây dựng và hoànthiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chínhtrị, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, bảo đảm các quyền conngười, quyền tự do, dân chủ của công dân
Trang 37Trên tinh thần đó, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, từ năm 1986đến nay, Việt Nam đã ban hành và sửa đổi khoảng 13.000 văn bản luật và
dưới luật, trong đó các quyền con người, quyền công dân trên các lĩnh vực dân
sự, chính trị; kinh tế xã hội và văn hóa; quyền của các nhóm dễ bị tổn thương
được ghi nhận theo hướng ngày càng đầy đủ, cụ thể và toàn diện hơn 1
Thực tế cho thấy, một trong những thuận lợi cho công tác "nội luậthóa" các ĐƯQT về quyền con người là bản thân pháp luật Việt Nam mà tiểubiểu là các bản Hiến pháp đã được ban hành với nội dung về cơ bản đã phùhợp và ghi nhận hầu hết các quyền cơ bản của con người được quy địnhtrong các công ước quốc tế cơ bản về quyền con người mà Việt Nam là thànhviên, trong đó đặc biệt phải kể đến hai Công ước quốc tế quan trọng nhất vềnhân quyền năm 1966
Các chuẩn mực quốc tế về quyền con người; các quyền tự do cơ bảncủa con người là nội dung xuyên suốt cả bốn Hiến pháp của nước ta (Hiếnpháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến phápnăm 1992) Đặc biệt, trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1992 chothấy, Nhà nước ta đã quyết tâm cao độ để đưa các nguyên tắc cơ bản đượcghi nhận trong các Công ước quốc tế về nhân quyền mà Nhà nước Việt Nam
đã ký kết vào văn kiện luật pháp tối cao của đất nước Từ nội dung của cácbản Hiến pháp cho thấy, các quyền dân sự, chính trị; kinh tế, xã hội và vănhóa, quyền của trẻ em, phụ nữ, của người thiểu số, người khuyết tật trong…ngày càng được thể hiện rõ nét, đầy đủ và hoàn thiện cả về bề rộng và bềsâu, được bảo đảm bằng các cơ chế, biện pháp thực hiện hiệu quả hơn Hiếnpháp 1992 đã khẳng định tại Điều 50: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xãhội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trongHiến pháp và luật"
Trang 38Cỏc quyền hiến định về dõn sự, chớnh trị; kinh tế, xó hội và văn húa;quyền của cỏc nhúm dễ bị tổn thương đó được cụ thể húa, kế thừa và phỏttriển theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn trong phỏp luật Việt Nam.
2.1 NỘI LUẬT HểA CÁC QUYỀN DÂN SỰ, CHÍNH TRỊ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Quyền con người trờn cỏc lĩnh vực dõn sự, chớnh trị cú vị trớ quantrọng trong hệ thống cỏc quyền con người Về cơ bản cỏc quyền dõn sự, chớnhtrị đó được nội luật húa vào hệ thống phỏp luật của Việt Nam dưới hỡnh thứcthể hiện trong khỏi niệm quyền cụng dõn
Phỏp luật Việt Nam thừa nhận cỏc quyền đó được ghi nhận trong
Cụng ước quốc tế về cỏc quyền dõn sự, chớnh trị năm 1966 Cú thể khẳng
định cỏc văn bản phỏp luật Việt Nam đó thể hiện đầy đủ cỏc quyền dõn sự,chớnh trị được thừa nhận trong Tuyờn ngụn Nhõn quyền thế giới và cỏc cụngước quốc tế về nhõn quyền, đặc biệt là Cụng ước về quyền dõn sự, chớnh trịnăm 1966 (ICCPR)
Phỏp luật quốc tế ghi nhận cỏc quyền dõn sự, chớnh trị cơ bản, bao gồm:quyền dõn tộc tự quyết; quyền sống; quyền tự do và an ninh cỏ nhõn; quyền bỡnhđẳng trước phỏp luật và được phỏp luật bảo vệ một cỏch bỡnh đẳng; quyềnkhụng bị bắt làm nụ lệ, nụ dịch hay bị cưỡng bức lao động; quyền tự do đi lại
và lựa chọn chỗ ở; quyền tự do tư tưởng, tớn ngưỡng và tụn giỏo; quyền tự dongụn luận, bỏo chớ và thụng tin; quyền tự do lập hội, hội họp hũa bỡnh; quyền
được bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý nhà nước 9, tr 569-593.
Các quyền dân sự, chính trị đợc cụ thể hoá trong các Bộ luật Dân sự,
Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dình sự, Bộ luật Tố tụnghình sự; các đạo luật nh: Luật Quốc tịch, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Bầu cử
đại biểu Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồngnhân dân, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, Luật Tổ chức
Trang 39Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Báo chí, LuậtXuất bản, Luật Đặc xá, Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Phòng chống tham nhũng,Luật bồi thờng Nhà nớc, Luật Hôn nhân và Gia đình, Pháp lệnh Dân chủ ở cơ
sở, Pháp lệnh Tín ngỡng Tôn giáo v các văn bản hà các văn bản h ớng dẫn thi hành Đặc biệt,Việt Nam đã và đang chú trọng xây dựng và hoàn thiện các văn bản luật và d-
ới luật liên quan đến các quyền dân sự, chính trị trong những lĩnh vực nhạycảm nh: Bộ luật Thi hành án, Luật Hội, Luật Trng cầu ý dân, Luật Tiếp cậnthông tin
2.1.1 Quyền dõn tộc tự quyết với tư cỏch là quyền tập thể của quyền con người
Quyền dõn tộc tự quyết là nguyờn tắc cơ bản của luật phỏp quốc tếhiện đại, theo đú cỏc chủ thể luật phỏp quốc tế thừa nhận và tụn trọng quyền
tự quyết của cỏc dõn tộc và nhõn dõn cỏc nước Nội dung chủ yếu: 1) Cỏc dõntộc thuộc địa và phụ thuộc cú quyền đấu tranh kể cả đấu tranh vũ trang đểgiành độc lập, cú quyền nhận mọi sự ủng hộ, giỳp đỡ kể cả giỳp đỡ quõn sự
để tiến hành đấu tranh giải phúng; 2) Mỗi dõn tộc và nhõn dõn mỗi nước cúquyền thành lập quốc gia dõn tộc độc lập, bao gồm cả quyền sỏp nhập hoặcphõn tỏch quốc gia hay lónh thổ, khụng cú sự can thiệp từ bờn ngoài; cú toànquyền tự do quyết định chế độ, tương lai chớnh trị và con đường phỏt triểnkinh tế, xó hội và văn húa của mỡnh, tự quyết định cỏc vấn đề nội bộ khụng cú
sự can thiệp của nước ngoài; cú chủ quyền đối với tài nguyờn thiờn nhiờn củamỡnh; 3) Tụn trọng bỡnh đẳng dõn tộc khụng phõn biệt đối xử; cỏc nướckhụng được dựng ỏp lực để tước bỏ quyền tự quyết, tự do và độc lập của dõntộc và nhõn dõn nước khỏc; khụng được thống trị, ỏp bức và búc lột dõn tộc,
kể cả cỏc hỡnh thức lệ thuộc và khụng được ỏp đặt bất cứ xu hướng chớnh trịnào đối với dõn tộc và nhõn dõn nước khỏc
Nguyờn tắc dõn tộc tự quyết được ghi nhận trong Hiến chương Liờnhợp quốc, Tuyờn bố của Liờn hợp quốc về trao trả độc lập năm 1960, Tuyờn
Trang 40ngôn thế giới về quyền con người năm 1948, Tuyên bố của Liên hợp quốc vềcác nguyên tắc của luật pháp quốc tế 24-10-1970, Hiệp định Pari về Việt Namnăm 1973, v.v Qua đấu tranh giành độc lập, nhân dân Việt Nam đã đưa vàoluật pháp quốc tế hiện đại nguyên tắc tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản củacác dân tộc và nhân dân các nước là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toànvẹn lãnh thổ Nguyên tắc này đã được ghi nhận trong Hiệp định Pari về ViệtNam năm 1973 và trong nhiều Nghị quyết của Hội Luật gia Dân chủ Quốc tế
từ 1967 đến 1970; đặc biệt và cụ thể là trong Công ước ICCPR năm 1966
ICCPR xác định rõ tất cả các dân tộc đều có quyền tự quyết bao gồm:
tự do quyết định thể chế chính trị của mình; tự do phát triển kinh tế xã hội,văn hóa; tự do định đoạt tài nguyên thiên nhiên và có nghĩa vụ tôn trọng camkết quốc tế và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế
Tư tưởng về quyền dân tộc tự quyết với ý nghĩa là quyền tập thể củaquyền con người đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập tới trong Tuyên ngônđộc lập Đây có thể được xem như là phác thảo Điều 1 của hai công ước quốc
tế về nhân quyền (1966) Như vậy, tư tưởng về quyền dân tộc tự quyết trongTuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi trước nhận thức chung
của cộng đồng quốc tế hơn 20 năm Đó là đóng góp lớn lao của Chủ tịch Hồ
Chí Minh và cách mạng Việt Nam trong việc phát triển sáng tạo tư tưởngnhân quyền của nhân loại ở thế kỷ XX 10
Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam, khẳng định tại Điều 1: "NướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thốngnhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời"
Quá trình đấu tranh giành quyền dân tộc tự quyết ở Việt Nam đượcthực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm hướng tới xây dựng nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa, đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vìnhân dân, trong đó, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và Nhà nướcbảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân