Dù khái niệm được hiểu theo nghĩa nào thì Cạnh tranh là một điều tấtyếu của kinh tế, là một quy luật trong nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơchế thị trường và có nhiều thành phần ki
Trang 1SINH VIÊN: TRẦN KHẮC TIẾN
LỚP: CQ55/62.01
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH CỦA CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI THÉP
LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan dưới đây là công trình nghiên cứu của riêng em Các
Trang 2trong các công trình khác Nếu không đúng như đã nêu trên, em xin hoàn toànchịu trách nhiệm về đề tài của mình.
Hà Nội, ngày tháng năm 2021
Sinh viên Trần Khắc Tiến
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, với tình cảm chân thành, em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, côgiáo trường Học viện Tài chính nói chung, các thầy cô giáo Khoa Kinh tế nóiriêng, đặc biệt là thầy Đinh Văn Hải đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tậntình giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Đồng thời, em cũng xingửi lời cảm ơn tới các cán bộ trong công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất vàthương mại thép Quyết Hợp đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong thời gian
em thực tập tại đơn vị
Do trình độ và kiến thức về chuyên môn của em còn hạn chế nên trongnội dung phân tích, các đánh giá và giải pháp đưa ra không tránh khỏi nhữngthiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được những ý kiến quan tâm và góp ý đểkhóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2021
Sinh viên
Trần Khắc Tiến
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐÔ
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Viết đầy đủ
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu sự chuyển mình của nềnkinh tế Việt Nam Đất nước ta chuyển đổi cơ chế quản lí kinh tế từ cơ chếhành chính, tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lícủa Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Theo cơ chế mới này tất cảcác thành phần kinh tế đều được tự do phát triển, tự mình tìm thị trường kinhdoanh, tự hạch toán kinh doanh, mở rộng thị trường của mình Nếu doanhnghiệp nào làm ăn có lãi, có chỗ đứng trên thị trường thì sẽ tồn tại, nếu doanhnghiệp nào làm ăn thua lỗ thì sẽ bị đào thải khỏi thị trường Đặc biệt trong xuthế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các doanh nghiệp trongnước đang đứng trước những cơ hội to lớn đế xây dựng và phát triền nhưngbên cạnh đó cũng phải đối mặt với những khó khăn và thách thức to lớn, đặcbiệt là phải cạnh tranh với các doanh nghiếp nước ngoài, có ưu thế và pháttriển hơn về mọi mặt từ công nghệ, trình độ quản lý, trình độ lao động, chođến nguồn lực tài chính Do đó, hoạt động đầu tư nâng cao năng lực sản xuấtkinh doanh trong mỗi doanh nghiệp đã trở thành mối ưu tiên quan trọng trongđịnh hướng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất và thương mại thép Quyết Hợpđang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và thương mại sắt thép, cung cấp phôi,sắt thép, các sản phẩm lắp đặt,… phục vụ thi công những công trình xâydựng Cùng với phát triển của thế giới và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế,đất nước ta đang đổi mới và bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa;vừa xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, vừa phát triển nên kinh tế đất nước.Hiện nay nước ta đang xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu đôthị, văn phòng và nhà ở Do đó, ngành xây dựng đóng một vai trò rất quantrọng trong quá trình phát triển đất nước Hiện tại ngành công nghiệp sản xuất
và thương mại sắt thép trong nước, ngoài sự cạnh tranh của các đơn vị sản
Trang 9xuất trong nước còn chịu sự cạnh tranh khốc liệt của các công ty nước ngoài
có nền công nghiệp tiên tiến như Hàn Quốc, Trung Quốc…
Để đảm bảo có thể cạnh tranh và không bị yếu thế trên chính sân nhà,ngành sản xuất thương mại sắt thép cần phải đầu tư nâng cao chất lượng Đểlàm được điều đó, phụ thuộc rất nhiều vào trình độ năng lực của cán bộ nhânviên, những chiến lược sản xuất kinh doanh và đầu tư phù hợp Đầu tư là mộthoạt động rất quan trọng góp phần giúp công ty khai thác và phát huy mọinguồn lực để cạnh tranh với những công ty trong ngành khác Trong chiếnlược phát triển của mình, Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất và thươngmại thép Quyết Hợp luôn xác định đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh củasản phẩm là vấn đề then chốt để phát triển Tuy nhiên, hiệu quả của công tácnày vẫn chưa được đánh giá cao, năng lực cạnh tranh của sản phẩm tại công
ty trong những năm qua vẫn còn nhiều hạn chế Do vậy, trong thời gian thựctập tại công ty, em đã lựa chọn đề tài: “Nâng cao khả năng cạnh của công tytrách nhiệm hữu hạn sản xuất và thương mại thép Quyết Hợp” để làm luậnvăn tốt nghiệp của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
- Đánh giá được thực trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm kết cấu xâydựng, chỉ ra những kết quả và hạn chế trong hoạt động sản xuất kinh doanhcủa Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất và thương mại thép Quyết Hợp; Từ
đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Công tytrách nhiệm hữu hạn sản xuất và thương mại thép Quyết Hợp giai đoạn 2021-2023
2.2 Mục tiêu cụ thê
- Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp
- Thứ hai, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty trách nhiệm hữuhạn sản xuất và thương mại thép Quyết Hợp
Trang 10- Thứ ba, đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty tráchnhiệm hữu hạn sản xuất và thương mại thép Quyết Hợp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Năng lực cạnh tranh của công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất và thương mạithép Quyết Hợp
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: Tại công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất và thươngmại thép Quyết Hợp
- Thời gian nghiên cứu: số liệu từ 2018 -2020
3.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật lịch sử : xem xét sự vận động của các sự vật hiện tượng
trong mối quan hệ chặt chẽ với các sự vật hiện tượng khác và sự vận động củacác sự vật qua khác khoảng thời gian khác nhau
- Phương pháp duy vật biện chứng : đặt tình hình sản phẩm của công ty vào cácmối quan hệ với các yếu tố liên quan
- Phương pháp thống kê : sử dụng các số liệu, bảng số liệu, biểu đồ để phân tích thực trạng, xu hướng cạnh tranh sản phẩm của công ty các năm qua
- Phương pháp phân tích tổng hợp : trên cơ sở phân tích tác động của chính sách , yếu tố thị trường,… đưa ra những đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của sản phẩm tại công ty
- Phương pháp so sánh : nhằm mục đích cho thấy sự khác biệt và thay đổi giữa các năm và giữa các sản phẩm trong cùng loại về năng lực cạnh tranh
4 Kết cấu của đề tài
- Chương 1: Những vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty trách nhiệm hữu hạnsản xuất và thương mại thép Quyết Hợp
- Chương 3: Các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty tráchnhiệm hữu hạn sản xuất và thương mại thép Quyết Hợp
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP 1.1 Cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một kháiniệm có nhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm này được sử dụng cho cảphạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khuvực liên quốc gia…
Trong cuốn “Kinh tế chính trị Mác – Lênin” (2008, tr.217) có nêu:
“Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằmgiành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá đểthu được lợi nhuận siêu ngạch”
Ngoài ra trên thế giới còn có rất nhiều nhận định khác nhau về cạnh
tranh nhưng đều có thể rút ra đặc diểm chung như sau: Cạnh tranh là cố gắng
nhằm giành lấy phần hơn, phần thắng về mình trong môi trường cạnh tranh.
Để có cạnh tranh phải có các điều kiện tiên quyết phải đề cập đến:
- Phải có nhiều chủ thể cùng nhau tham gia cạnh tranh: Đó là các chủ thể
có cùng mục đích, mục tiêu và kết quả phải giành giật, tức là phải có một đốitượng mà các chủ thể cùng hướng đến chiếm đoạt trong kinh tế Với các chủthể cạnh tranh bên bán, đó là các loại sản phẩm tương tự, có mục đích phục
vụ một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia cạnh tranh đều
có thể làm ra và được người mua chấp nhận Còn với chủ thể cạnh tranh bênmua là sự giành giật mua được các sản phẩm theo đúng mong muốn củamình
- Việc cạnh tranh phải được diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụthể, đó là các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia canh tranh phải tuânthủ Các ràng buộc này trong cạnh tranh kinh tế giữa các doanh nghiệp chính
Trang 12là các đặc điểm nhu cầu về sản phẩm của khách hàng, các ràng buộc của luậtpháp và thông lệ kinh doanh ở trên thị trường Còn giữa những người mua vớingười mua, hoặc giữa những người mua với những người bán là các thoảthuận được thực hiện có lợi hơn cả đối với người mua.
- Cạnh tranh có thể diễn ra trong một khoảng thời gian không cố địnhhoặc ngắn (từng vụ việc), hoặc dài (trong suốt quá trình tồn tại và hoạt độngcủa mỗi chủ thể tham cạnh tranh) Sự cạnh tranh có thể diễn ra trong khoảngthời gian nhất định, hoặc hẹp (một tổ chức, một địa phương, một ngành), hoặcrộng (một nước, giữa các nước)
Có rất nhiều khái niệm về Cạnh tranh, song có thể hiểu một cách chungnhất về cạnh tranh như sau: Cạnh tranh là mối quan hệ kinh tế mà ở đó cácdoanh nghiệp ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, kể cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn
để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường,giành lấy khách hàng cũng như điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất
Dù khái niệm được hiểu theo nghĩa nào thì Cạnh tranh là một điều tấtyếu của kinh tế, là một quy luật trong nền kinh tế hàng hóa vận động theo cơchế thị trường và có nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động sản xuấtkinh doanh
1.1.2 Các loại hình cạnh tranh
1.1.2.1 Căn cứ vào chủ thể tham thị trường
Cạnh tranh được chia thành 3 loại:
- Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người bán muốn bán hàng
hoá của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn mua với giá thấp nhất.Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữa hai bên
- Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ
thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc
Trang 13cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lên, người muaphải chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá mà họ cần.
- Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh
gay go và quyết liệt nhất, chiếm đa số trên thị trường Thực tế cho thấy khisản xuất hàng hoá càng phát triển càng có nhiều người bán dẫn đến cạnh tranhngày càng quyết liệt trên nhiều phương diện và nhiều hình thức đa dạng khácnhau Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật một mặt tác động đến cácnhà sản xuất, một mặt làm thay đổi nhu cầu của người mua, do đó nó dần làmbiến đổi vị trí của các yếu tố cạnh tranh Một cách chung nhất cạnh tranh là sựganh đua ở các giác độ: chất lượng, giá cả, nghệ thuật tổ chức tiêu thụ và thờigian Giá là yếu tố thứ nhất của cạnh tranh, đây là hình thức cạnh tranh được
sử dụng nhiều nhất Khi nhu cầu con người phát triển cao hơn thì yếu tố chấtlượng sản phẩm chiếm vị trí chính yếu Đến nay vào những năm cuối của thế
kỷ 20 thì với các doanh nghiệp lớn họ có với nhau sự cân bằng về giá cả thìyếu tố thời gian và tổ chức tiêu thụ sản phẩm là quan trọng nhất
1.1.2.2 Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế
Cạnh tranh được phân thành hai loại: Cạnh tranh trong nội bộ ngành vàcạnh tranh giữa các ngành
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịch
vụ Kết quả của cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển
- Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong
các ngành kinh tế khác nhau nhằm thu được lợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuậncao hơn so với vốn đầu tư bỏ ra đầu tư vào ngành khác Sự cạnh tranh giữacác ngành dẫn đến doanh nghiệp đang kinh doanh trong ngành có tỷ suất lợinhuận thấp chuyển sang kinh doanh ở ngành có tỷ suất lợi nhuận cao hơn
1.1.2.3 Căn cứ vào tính chất cạnh tranh
Cạnh tranh được phân thành 3 loại:
Trang 14- Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition): Là hình thức cạnh tranh
giữa nhiều người bán trên thị trường, trong đó, không người nào có đủ ưu thếkhống chế giá cả thị trường Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem làđồng nhất, tức là không khác nhau về quy cách, phẩm chất, mẫu mã
- Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition): Là hình thức
cạnh tranh giữa những người bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau.Mỗi sản phẩm đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau Đây là loại hình cạnhtranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay
- Cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition): Trên thị trường chỉ
có một hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó, giá cảcủa sản phẩm hay dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụthuộc vào quan hệ cung cầu
1.1.2.4 Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh
Cạnh tranh được chia thành hai loại:
- Cạnh tranh lành mạnh: Là cạnh tranh đúng pháp luật, phù hợp với
chuẩn mực xã hội và được xã hội thừa nhận; nó thường diễn ra sòng phẳng,công bằng và công khai
- Cạnh tranh không lành mạnh: Là cạnh tranh dựa vào kẽ hở của luật
pháp, trái với chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án (như chốn thuế, buôn lậu,móc ngoặc, hàng giả…)
1.2 Năng lực cạnh tranh
1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Khái niệm năng lực cạnh tranh đến nay vẫn chưa được phát biểu một
cách thống nhất Năng lực cạnh tranh có thể hiểu là là khả năng giành chiến
thắng trong sự ganh đua giữa các chủ thể trong cùng một môi trường và khi
cùng quan tâm tới một đối tượng Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các
góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranhdoanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm Năng lực cạnh tranh của
Trang 15doanh nghiệp cần được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệpdựa trên 3 yếu tố: các giá trị chủ yếu của doanh nghiệp, mục đích chính củadoanh nghiệp và các mục tiêu giúp các doanh nghiệp thực hiện chức năng củamình.
Cũng có thể hiểu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duytrì và mở rộng phương thức phục vụ, thu lợi nhuận của doanh nghiệp Đây làquan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năngtiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với các đối thủ và khả năng “thu lợi” của cácdoanh nghiệp
Hoặc năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịutrước sự tấn công của doanh nghiệp khác Chẳng hạn, Hội đồng Chính sáchnăng lực cạnh tranh của Mỹ đưa ra định nghĩa: Năng lực cạnh tranh là nănglực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới… Ủy ban Quốc gia
về Hợp tác Kinh tế có trích dẫn khái niệm năng lực cạnh tranh theo Từ điểnThuật Ngữ Chính sách Thương mại (1997), theo đó, năng lực cạnh tranh lànăng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại vềnăng lực kinh tế” Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chấtđịnh tính, khó có thể định lượng
Tóm lại, từ những quan niệm về năng lực cạnh tranh nêu trên có thể kháiquát như sau:
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì, nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao, bền vững.
gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhóm doanhnghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp
1.2.2 Công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 16Công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu tập hợp các yếu tố, các
kế hoạch, các chiến lược, các chính sách, các hành động mà doanh nghiệp sửdụng nhằm vượt trên các đối thủ cạnh tranh và tác động vào khách hàng để thoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng Từ đó tiêu thụ được nhiều sản phẩm,thu được lợi nhuận cao Nghiên cứu các công cụ cạnh tranh cho phép cácdoanh nghiệp lựa chọn những công cụ cạnh tranh phù hợp với tình hình thực
tế, với quy mô kinh doanh và thị trường của doanh nghiệp Từ đó phát huyđược hiệu quả sử dụng công cụ, việc lựa chọn công cụ cạnh tranh có tính chấtlinh hoạt và phù hợp ,không theo một khuân mẫu cứng nhắc nào Dưới đây làmột số công cụ cạnh tranh tiêu biểu và quan trọng mà các doanh nghiệpthương mại thường phải dùng đến chúng
1.2.2.1 cạnh tranh về sản phẩm
a cạnh tranh về chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sảnphẩm thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xácđịnh, phù hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm Nếu như trước kia giá cảđược coi là quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phải nhường chỗcho tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm Khi có cùng một loại sản phẩm, chấtlượng sản phẩm nào tốt hơn, đáp ứng và thoả mãn được nhu cầu của ngườitiêu dùng thì họ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn Nhất là trong nền kinh tếthị trường cùng với sự phát triển của sản xuất, thu nhập của người lao độngngày càng được nâng cao, họ có đủ điều kiện để thoả mãn nhu cầu của mình,cái mà họ cần là chất lượng và lợi ích sản phẩm đem lại Nếu nói rằng giá cả
là yếu tố mà khách hàng không cần quan tâm đến là hoàn toàn sai bởi giá cảcũng là một trong những yếu tố quan trọng để khách hàng tiêu dùng cho phùhợp với mức thu nhập của mình Điều mong muốn của khách hàng và của bất
Trang 17cứ ai có nhu cầu mua hay bán là đảm bảo được hài hoà giữa chất lượng và giácả.
Để sản phẩm của doanh nghiệp luôn là sự lựa chọn của khách hàng ở hiện tại và trong tương lai thì nâng cao chất lượng sản phẩm là điều cần thiết Nângcao chất lượng sản phẩm là sự thay đổi chất liệu sản phẩm hoặc thay đổi côngnghệ chế tạo đảm bảo lợi ích và tính an toàn trong quá trình tiêu dùng và sau khi tiêu dùng Hay nói cách khác nâng cao chất lượng sản phẩm là việc cải tiến sản phẩm có nhiều chủng loại, mẫu mã, bền hơn và tốt hơn Điều này làmcho khách hàng cảm nhận lợi ích mà họ thu được ngày càng tăng lên khi duy trì tiêu dùng sản phẩm của doang ghiệp Làm tăng lòng tin và sự trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp
Chất lượng sản phẩm được coi là một vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp nhất là đối với doanh nghiệp Việt Nam khi mà họ phải đương đầu đối với các đối thủ cạnh tranh từ nước ngoài vào Việt Nam Một khi chất lượng hàng hoá dịch vụ không được bảo đảm thì có nghĩa là khách hàng sẽ đến với doanh nghiệp ngày càng giảm, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng và thị trường dẫn tới sự suy yếu trong hoạt động kinh doanh Mặt khác chất lượng thể hiện tính quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ở chỗ nâng cao chất lượng sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng khối lượng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp, mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp Do vậy cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm là một yếu tố rất quan trọng và cần thiết mà bất cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ đều phải sử dụng nó
b Cạnh tranh về giá cả sản phẩm
Trang 18Giá cả được hiểu là số tiền mà người mua trả cho người bán về việc cung ứng một số hàng hoá dịch vụ nào đó Thực chất giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hoá để sản xuất
ra một đơn vị sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, khách hàng được tôn vinh là “Thượng đế” họ có quyền lựa chọn những gì họ cho là tốt nhất, khi có cùng hàng hoá dịch vụ với chất lượng tương đương nhau thì chắc chắn
họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn, để lợi ích họ thu được từ sản phẩm là tối ưu nhất Do vậy mà từ lâu giá cả đã trở thành một biến số chiến thuật phục
vụ mục đích kinh doanh Nhiều doanh nghiệp thành công trong việc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường là do sự khéo léo, tinh tế chiến thuật giá cả Giá cả
đã thể hiện như một vũ khí để cạnh tranh thông qua việc định giá sản phẩm: định giá thấp hơn giá thị trường, định giá ngang bằng giá thị trường hay chínhsách giá cao hơn giá thị trường
Với một mức giá ngang bằng với giá thị trường: giúp doanh nghiệp đánhgiá được khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra được biện pháp giảm giá màchất lượng sản phẩm vẫn được đảm bảo khi đó lượng tiêu thụ sẽ tăng lên, hiệuquả kinh doanh cao và lợi sẽ thu được nhiều hơn
Với một mức giá thấp hơn mức giá thị trường: chính sách này được ápdụng khi cơ số sản xuất muốn tập trung một lượng hàng hoá lớn, thu hồi vốn
và lời nhanh Không ít doanh nghiệp đã thành công khi áp dụng chính sáchđịnh giá thấp Họ chấp nhận giảm sút quyền lợi trước mắt đến lúc có thể đểsau này chiếm được cả thị trường rộng lớn, với khả năng tiêu thụ tiềm tàng.Định giá thấp giúp doanh nghiệp ngay từ đầu có một chỗ đứng nhất định đểđịnh vị vị trí của mình từ đó thâu tóm khách hàng và mở rộng thị trường
Trang 19Với chính sách định giá cao hơn giá thị trường: là ấn định giá bán sảnphẩm cao hơn giá bán sản phẩm cùng loại ở thị trường hiện tại khi mà lần đầutiên người tiêu dùng chưa biết chất lượng của nó nên chưa có cơ hội để sosánh, xác định mức giá của loại sản phẩm này là đắt hay rẻ chính là đánh vàotâm lý của người tiêu dùng rằng những hàng hoá giá cao thì có chất lượng caohơn các hàng hoá khác Doanh nghiệp thường áp dụng chính sách này khinhu cầu thị trường lớn hơn cung hoặc khi doanh nghiệp hoạt động trong thịtrường độc quyền, hoặc khi bán những mặt hàng quý hiếm cao cấp ít có sựnhạy cảm về giá.
Như vậy, để quyết định sử dụng chính sách giá nào cho phù hợp và thànhcông khi sử dụng nó thì doanh nghiệp cần cân nhắc và xem xét kỹ lưỡng xemmình đang ở tình thế nào thuận lợi hay không thuận lợi, nhất là nghiên cứu xuhướng tiêu dùng và tâm lý của khách hàng cũng như cần phải xem xét cácchiến lược các chính sách giá mà đối thủ đang sử dụng
c cạnh tranh về sự đa dạng hóa sản phẩm
Đa dạng hóa sản phẩm của doanh nghiệp là việc mở rộng danh mục sảnphẩm, nó gắn liền với quá trình dổi mới và hoàn thiện cơ cấu sản phẩm, nhằmđảm bảo doanh nghiệp thích ứng được với sự biến động của môi trường kinhdoanh
Đa dạng hóa sản phẩm là một khuynh hướng phát triển ngày càng phổbiến trong các doanh nghiệp công nghiệp, các tổ chức kinh tế lớn như tậpđoàn kinh doanh thực hiện đa dạng hóa sản phẩm, kinh doanh đã ngành và đalinh vực Số lượng và chủng loại hàng hóa lưu thông trên thị trường thực chấtcũng là một chỉ tiêu dánh giá mức độ phát triển của mỗi doanh nghiệp cũngnhư của nền kinh tế nói chung Trong thực tế việc thực hiện đa dạng hóa sản
Trang 20phẩm không những giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu kinh tế và phikinh tế như lợi nhuận hay thế lực thị trường mà còn đóng góp rất lớn vào sựphát triển của toàn xã hội nhờ tạo ra nhiều loại hàng hóa mang lại lợi ích vàthỏa màn nhu cầu của người tiêu dùng
Một trong những biện pháp giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro là đangdạng hóa sản phẩm để tạo ra các tuyến sản phẩm với nhiều thang , dòng bôtsung lẫn nhau thay vì chỉ tập trung sản xuất một sản phẩm khi các yếu tốkhách quan biến động có thể dẫn đến sự phá sản của doanh nghiệp
Việc đa dạng hóa sản phẩm trên cơ sở các nguồn lực có sẵn cho phépdoanh nghiệp tăng năng lực sản xuất, đạt được lợi nhuân tối đa ngoài ra còntăng thêm thu nhập cho người lao động
Tóm lại , thực hiện đa dạng hóa sản phẩm được coi là xu hướng tất yếukhách quan đối với các doanh nghiệp công nghiệp giúp doanh nghiệp tồn tại ,phát triển vững chắc trong nền kinh tế thị trường hiện nay
1.2.2 Cạnh tranh về uy tín thương hiệu
Thương hiệu là những dấu ấn, hình tượng tích cực và uy tín của sảnphẩm và doanh nghiệp đọng lại trong tâm trí của khách hàng và là tiền đềquan trọng cho hành động mua sắm và tiêu dùng
Thương hiệu như lời cam kết giữa doanh nghiệp và khách hàng Sựcảm nhận của người tiêu dùng đối với sản phẩm của doanh nghiệp thông quarất nhiều yếu tố như thuộc tính hóa, cảm nhận thông qua dịch vụ đi kèm uy tín
và hình ảnh của doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng
Trang 21Sứ mệnh doanh nghiệp, tầm nhìn chiến lược, tầm nhìn thương hiệu, các yếu tốcấu thành nên thương hiệu như logo, khẩu hiệu là những cam kết của doanhnghiệp muốn mang đến cho khách hàng những sản phẩm và dịch vụ tốt nhất.
Thương hiệu nhằm phân đoạn thị trường Trong kinh doanh các công tyluôn đưa ra một tổ hợp các thuộc tính lý tưởng về các thế mạnh, lợi ích đíchthực và đặc trưng nổi trội của hàng hóa, dịch vụ sao cho phù hợp với từngnhóm khách hàng cụ thể Thương hiệu với chức năng nhận biết và phân biệt
sẽ giúp doanh nghiệp phân đoạn thị trường Mọi doanh nghiệp không thể đảmbảo cam kết rằng sẽ đem đến cho khách hàng của mình hàng hóa dịch vụ, tốtnhất ở mọi nơi, với tất cả các đối tượng khách hàng Chính vì vậy tầm nhìnthương hiệu, chiến lược thương hiệu giúp doanh nghiệp phân đoạn thị trườngnhằm mục đích cung cấp những điều tốt nhất thỏa mãn nhu cầu của Kháchhàng
Thương hiệu tạo nên sự khác biệt trong quá trình phát triển của sảnphẩm Xuất phát từ những định vị khác nhau cho từng chủng loại hàng hóavới những thương hiệu khác nhau, quá trình phát triển sản phẩm cũng đượckhắc sâu hơn trong tâm trí của người tiêu dùng Cùng với sự phát triển củasản phẩm, cá tính thương hiệu sẽ định hình và rõ nét, thông qua các chiếnlược sản phẩm sẽ phải phù hợp và hài hòa hơn cho từng loại hàng hóa Thôngthường mỗi chủng loại hàng hóa sẽ tạo ra sự khác biệt cơ bản về công dụng vàtính năng chủ yếu của chúng thường mang những thương hiệu nhất định phụthuộc vào chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, vì thế thương hiệu tạo ra
sự khác biệt dễ nhận thấy trong quá trình phát triển của một hoặc một dòngsản phẩm
Thương hiệu mang lại những lợi ích cho doanh nghiệp Thương hiệumang lại những nổi bật nhất định cho doanh nghiệp, đó là khách hàng tin
Trang 22tưởng vào chất lượng sản phẩm và yên tâm sử dụng sản phẩm thu hút đượckhách hàng bởi lẽ nhãn hiệu hàng hóa cũng như tên giao dịch của doanhnghiệp, người ta biết đến trước bởi nó gắn với sản phẩm dịch vụ, muốn cóđược uy tín vững chắc doanh nghiệp phải đảm bảo chất lượng giữ đống đềuchất lương đó, điều đó làm cho khách hàng yên tâm hơn và tin tưởng khi sửdụng hàng hóa từ đó dễ thu hút thêm khách hàng.
Chính vì vậy mà thương hiệu trở thành một trong những công cụ cạnhtranh bên vững của doanh nghiệp
1.2.3 cạnh tranh về công nghệ
Để có năng lực cạnh tranh doanh nghiệp phải được trang bị bằng côngnghệ hiện đại Công nghệ hiện dại là công nghệ sử dụng ít nhân lực, thời giantạo ra sản phẩm ngắn, tiêu hao năng lượng và nguyên liệu thấp, năng suất cao,tính linh hoạt cao, chất lượng sản phẩm tốt, ít gây ô nhiễm môi trường Sửdụng công nghệ hiện đại sẽ giúp cho doanh nghiệp tăng năng suất lao động,giảm giá thành, chất lượng sản phẩm, do đó làm tăng khả năng cạnh trnah củasản phẩm Doanh nghiệp cần lựa chọn công nghệ phù hợp, nắm bắt được chu
kỳ sống của công nghệ, thời gian hoàn vốn của công nghệ phải ngắn doanhnghiệp cần phải đào tạo đội ngũ cán bộ nhân viên có đủ khả năng trình độ vàkiểm soát công nghệ nhằm phát huy tối đa năng suất thiết kế của công nghệ
1.2.4 Cạnh tranh về trình độ tổ chức và quản lý của doanh nghiệp
Trình độ tổ chức quản lý được thể hiện thông qua cơ cấu tổ chức, bộmáy quản trị, cơ chế quản lý, hệ thống thông tin quản lý, bầu không khí vàđặc biệt là nề nếp hoạt động của doanh nghiệp Một doanh nghiệp biết tập hợpsức mạnh đơn lẻ của thành viên và biến thành sức mạnh tổng hợp thông quatổ chức thì doanh nghiệp đó sẽ tận dụng được những lợi thế tiềm ẩn của tổ
Trang 23chức mình Đây là một đòi hỏi đối với các nhà quản trị cấp cao Không thểnói doanh nghiệp có được cấu trúc tốt nếu không có một sự nhất quán trongcách nhìn nhận về cơ cấu doanh nghiệp Cơ cấu doanh nghiệp tốt đồng nghĩavới việc có được một cơ cấu phòng ban hợp lý, quyền hạn và trách nhiệmđược xác định rõ ràng Bên cạnh đó ở mỗi phòng ban việc thực hiện tốt nềnếp tổ chức cũng ảnh hưởng rất lớn tới phương thức thông qua quyết định củanhà quản trị, quan điểm của họ đối với các chiến lược và điều kiện môi trườngcủa doanh nghiệp Một nề nếp tốt có thể dẫn dắt mọi người tích cực hơn trongcông việc và lôi cuốn họ vào quá trình đạt được tới những mục tiêu chung củadoanh nghiệp.
Tổ chức quản lý tốt trước hết là áp dụng phương pháp quản lý hiện đại
đã được doanh nghiệp của nhiều nước áp dụng thành công như: phương phápquản lý theo tình huống, quản lý theo tiếp cận quá trình và tiếp cận hệ thống,quản lý theo chất lượng như: ISO 9000 ISO 1400,… Bản thân doanh nghiệpphải tự tìm kiếm và đào tạo cán bộ quản lý cho chính mình Muốn có đượcđội ngũ cán bộ quản lý tài giỏi và trung thành, thì doanh nghiệp phải có một
cơ chế quản lý, ngoài yếu tố chính sách đãi ngộ, doanh nghiệp phải định hình
rõ triết lý dùng người, phải trao quyền chủ động cho cán bộ và phải thiết lậpđược cơ cấu tổ chức đủ linh hoạt, thích nghi cao với sự thay đổi Cùng quy
mô, trình độ, chất lượng nguồn lực tài chính, công nghệ, nhân lực như nhau,
cơ chế quản lý khác nhau sẽ tạo ra tổng năng lực cạnh tranh khác nhau (Tổnghợp lực, hay năng lực tích hợp) Hoàn thiện và đổi mới cơ chế quản lý ngàycàng được coi là một trong những phương pháp nâng cao khả năng cạnh tranhhữu hiệu và bền vững ngay cả trong điều kiện kỹ thuật công nghệ và tài chínhkhông thay đổi
1.2.5 Cạnh tranh về nguồn lực tài chính
Trang 24Nguồn lực tài chính: Là một nguồn lực liên quan trực tiếp tới khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao làdoanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào, luôn đảm bảo huy động được vốn trongnhững điều kiện cần thiết, có nguồn vốn huy động hợp lý, có kế hoạch sửdụng vốn hiệu quả để phát triển lợi nhuận và phải hạch toán các chi phí rõràng để xác định được hiểu quả chính xác.
“Buôn tài không bằng dài vốn”, nếu doanh nghiệp không có nguồn vốndồi dào thì sẽ hạn chết rất lớn tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp như:hạn chế về việc sử dụng công nghệ hiện đại, hạn chế vè việc đào tạo nâng caotrình độ của cán bộ và nhân viên, hạn chế triển khai nghiên cứu, ứng dụng,nghiên cứu thị trường, hạn chế hiện đại hóa hệ thống tổ chức quản lý… Trongthực tế không có doanh nghiệp nào có thể tự có đủ vốn để triển khai tất cả cácmặt trong hoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy, điều quan trọng nhất là DNphải có kế hoạch huy động vốn phù hợp, hiệu quả và phải có chiến lược đadạng hóa nguồn cung vốn Có vậy doanh nghiệp mới có thể chiến thắng đốithủ và đứng vững trong môi trường kinh doanh đầy biến động và cạnh tranhkhác nghiệt
1.2.6 Cạnh tranh về nguồn nhân lực
Nhân lực là một nguồn lực rất quan trọng vì nó đảm bảo nguồn sángtạo trong mọi tổ chức Mọi quan điểm kinh doanh đều xuất phát từ con người,mọi chỉ đạo hay thực thi cũng do con người Trình độ nguồn nhân lực thể hiện
ở trình độ quản lý các cấp lãnh đạo, trình độ chuyên môn của cán bộ côngnhân viên, trình độ tư tưởng văn hóa của mọi thành viên trong doanh nghiệp.Trình độ nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xámcao, thể hiện trong kết cấu kỹ thuật của sản phẩm, mẫu mã, chất lượng… và
từ đó uy tín, danh tiếng của sản phẩm sẽ ngày càng tăng, doanh nghiệp sẽ tạo
Trang 25được vị trí vững chắc của mình trên thương trường và trong lòng công chung,hướng tới sự phát triển bền vững.
1.2.7 Các công cụ cạnh tranh khác
1.2.7.1 Dịch vụ sau bán hàng
Hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp không dừng lại sau lúc bán hàngthu tiền của khách hàng mà để nâng cao uy tín và trách nhiệm đến cùng đốivới người tiêu dùng về sản phẩm của doanh nghiệp thì doanh nghiệp cần phảilàm tốt các dịch vụ sau bán hàng
Nội dung của hoạt động dịch vụ sau bán hàng:
- Cam kết thu lại sản phẩm và hoàn trả tiền cho khách hoặc đổi lại hàngnếu như sản phẩm không theo đúng yêu cầu ban đầu của khách hàng
- Cam kết bảo hành trong thời gian nhất định
- Chăm sóc khách hàng sau khi bán sản phẩm và tiếp thu các nhận xét của khách hàng về sản phẩm để nâng cao sự hài lòng của khách hàng cho lầngiao dịch tiếp theo
Qua các dịch vụ sau bán hàng, doanh nghiệp sẽ lắm bắt được sản phẩmcủa mình có đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng hay không
1.2.7.2 Phương thức thanh toán
Đây cũng là một công cụ cạnh tranh được nhiều doanh nghiệp sử dụng,phương thức thanh toán gọn nhẹ, rườm rà hay nhanh chậm sẽ ảnh hưởng đếncông tác tiêu thụ và do đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp trên thị trường
Trang 26Các doanh nghiệp có thể áp dụng các phương pháp như:
- Đối với khách hàng ở xa thì có thể trả tiền hàng qua ngân hàng, vừanhanh vừa đảm bảo an toàn cho cả khách hàng lẫn doanh nghiệp
- Với một số trường hợp đặc biệt, các khách hàng có uy tín với doanhnghiệp hoặc khách hàng là người mua sản phẩm thường xuyên của doanhnghiệp thì có thể cho khách hàng trả chậm tiền hàng sau một thời gian nhấtđịnh
- Giảm giá đối với khách hàng thanh toán tiền ngay hoặc mua với sốlượng lớn
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong môi trường cạnh tranh, năng lực sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp không chỉ được đo bằng chính năng lực nội tại của từng doanhnghiệp, mà cần được so sánh tương quan giữa các doanh nghiệp với nhau.Yếu tố cạnh tranh không những là môi trường và động lực của sự phát triển
mà còn là yếu tố quan trong làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải sản xuất và cung cấp các sảnphẩm và dịch vụ mà thị trường cần để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng vàphong phú của người tiêu dùng từ đó khẳng định được sức mạnh của mìnhtrên thương trường Tiếp cận theo góc độ kinh tế chính trị thì năng lực cạnhtranh trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tạo nên bởi các yếu
tố dưới đây
1.2.2.1 các chỉ tiêu định lượng
(a) Thị phần của doanh nghiệp
Đây là một chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp Thị phần được hiểu là phần thi trường tiêu thụ sản
Trang 27phẩm mà doanh nghiệp chiếm lĩnh Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanhnghiệp có khả năng cạnh tranh cao và ngược lại Để giành giật các mục tiêuthị phần trước đối thủ, doanh nghiệp thường phải có chính sách giá phù hợpthông qua mức giảm giá cần thiết, nhất là khi bắt đầu thâm nhập thị trườngmới.
- Nếu thị phần tương đối bằng 1, thì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
và của đối thủ như nhau
Thị trường hay nói chính xác - khách hàng là nơi bắt đầu và cũng là nơikết thúc quá trình tái sản xuất kinh doanh, quyết định thị phần của doanhnghiệp Căn cứ vào nhu cầu của khấch hàng, doanh nghiệp đưa ra các quyếtđịnh sản xuất và khi quá trình sản xuất kết thúc, sản phẩm của doanh nghiệplại được đưa ra thị trường để đáp ứng các nhu cầu đó Số lượng khách hàngquyết định quy mô thị trường hàng hoá của doanh nghiệp Nếu quy mô thịtrường lớn, doanh nghiệp có thể tăng đầu tư sản xuất sản phẩm, chiếm lĩnh thịphần và tăng sản lượng bán
Trang 28b Lợi nhuận của doanh nghiệp
Lợi nhuận của doanh nghiệp: Là phần chênh lệch khi so sánh giữa tổngdoanh thu và tổng chi phí với nhau
LN = ∑DT - ∑CP
Trong đó: LN là lợi nhuận của doanh nghiệp
∑DT: Tổng doanh thu của doanh nghiệp
∑CP: Tổng chi phí bỏ ra trong hoạt động kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận: Tỷ suất lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp, nóphản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và cũng thể hiện tínhhiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Ta xem xét chỉ tiêu cụ thể sau:
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu (P1):
Trang 29• Tỷ suất lợi nhuận theo vốn kinh doanh (P3)
P3 = ×100 (%)
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận theo vốn kinh doanh cho biết khi doanhnghiệp đầu tư 100 đồng vốn vào kinh doanh thì thu lại bao nhiêu đồng lợinhuận
c Quy mô về vốn
Vốn kinh doanh giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc sử dụng tối
ưu các nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh Vốn kinhdoanh là một trong các điều kiện để doanh nghiệp thực hiện phân phối và sửdụng các tiềm năng hiện có và tương lai về sức lao động, nguồn hàng hóa vàcác nguồn lực khác của kinh doanh để mở rộng và phát triển thị trường Mộtdoanh nghiệp có tổng vốn kinh doanh lớn sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn,
do có điều kiện mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ,…
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả
sử dụng vốn kinh doanh Vì vậy, DN phải có biện pháp sử dụng vốn kinhdoanh đúng hướng, hợp lý, tiết kiệm và đem lại hiệu quả kinh doanh cao nhất
d năng xuất lao động
Năng suất lao động: Trong kinh doanh thương mại, năng suất lao động
là mức lưu chuyển hàng hóa bình quân của một cán bộ công nhân viên trongkinh doanh hay trực tiếp kinh doanh trong một đơn vị thời gian (năm, quý,tháng) hoặc mức thụ nhập bình quân của một cán bộ công nhân viên trongkinh doanh hoặc trực tiếp kinh doanh trong một đơn vị thời gian
Công thức tính năng suất lao động (W) như sau:
W =
Trang 30W =
Năng suất lao động càng cao phản ánh doanh nghiệp càng có khả nănggiảm phí, hạ giá thành, do đó có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường.Trong điều kiện hội nhập kinh tế quóc tế và cạnh tranh ngày càng gay gắt hiệnnay, để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải chú trọng phát triển chiềusâu, nâng cao năng suất, chất lượng, trong đó đặc biệt là năng suất lao động
e hoạt động marketing của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động marketing trong doanh nghiệpđóng vai trò quyết định đến vị trí của doanh nghiệp Doanh nghiệp hoạt độngkinh doanh không thể tách khỏi thị trường, họ cũng không hoạt động mộtcách đơn lẻ mà diễn ra trong quan hệ với thị trường, với môi trường bên ngoàicủa công ty Do vậy bên cạnh các chỉ tiêu tài chính, sản xuất, quản trị, côngnghệ thì tiêu chí quan trọng và không thể thiếu được để đảm bảo cho doanhnghiệp tồn tại và phát triển đó là Marketing
Bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường, lập danh mục hàng hoá đến việcthực hiện sản xuất, phân phối và khi hàng hoá được bán hoạt động marketingvẫn được tiếp tục, cho nên hoạt động marketing có liên quan chặt chẽ đễn cáclĩnh vực quản trị khác trong doanh nghiệp Hệ thống bán hàng và các hoạtđộng maketing giúp cho sản phẩm dễ dàng đến với khách hàng từ đó lan tỏadựa trên tâm lý tiêu dùng Một doanh nghiệp thực hiện tốt hoạt động Marketing kết hợp hài hòa với các chức năng khác sẽ giúp không chỉ nhằm lôikéo khách hàng mà còn tìm ra các công cụ có hiệu quả thoả mãn nhu cầukhách hàng từ đó đem lại lợi nhuận cho công ty Sức mạnh cạnh tranh đượctạo ra bởi hoạt động maketing và bán hàng là hết sức to lớn
Trang 311.2.2.2 các chỉ tiêu định tính
a Nhãn hiệu
Nhãn hiệu có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phát triển và khả năngtiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trong kinh doanh Nhãn hiệu thường gánvới sản phẩm nên khách hàng sẽ lựa chọn sản phẩm thông qua nhãn hiệu Mộtnhãn hiệu tốt cũng đồng nghĩa với một sản phẩm tốt và ngược lại khách hàngtìm mua sản phẩm trên cơ sở mức độ đánh giá khác nhau về hình ảnh củanhãn hiệu trên thương trường Mức độ chấp nhận nhãn hiệu tương ứng vớimức độ chấp nhận sản của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có nhãn hiệu nổitiếng trên thị trường sẽ thu hút được nhiều khách hàng và đem lại lợi thế cạnhtranh lớn cho doanh nghiệp
b Thương hiệu
Thương hiệu: Là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm với dấuhiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt bao bì hàng hóa nhằm khẳng định chấtlượng và xuất xứ sản phẩm Thương hiệu thể hiện hình ảnh, vị thế của doanhnghiệp trên thương trường và trong lòng người tiêu dùng Do đó, khi doanhnghiệp có hình ảnh tốt thì sẽ gây được ấn tượng trong tâm trí khách hàng, có
uy tín với khách hàng, bạn hàng, giúp đỡ cho doanh nghiệp giành được lợi thếtrong cạnh tranh trên thị trường Vì vậy, doanh nghiệp phải không ngừng nângcao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và xây dựng chữ tín trong kinh doanh
c Khả năng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng
Nhu cầu của khách hàng có thể đòi hỏi ở các mức độ khác nhau Mộtsản phẩm được xác định theo cách nhìn của nhà doanh nghiệp chưa hẳn là sảnphẩm mà khách hàng mong muốn Vì vậy, doanh nghiệp phải nắm bắt đượctâm lý và mong muốn của khách hàng để thỏa mãn được đầy đủ và tốt nhấtnhu cầu của khách hàng
Trang 32Trên thị trường cạnh tranh khốc liệt, doanh nghiệp phải không ngừngnâng cao khả năng cạnh tranh của mình Và thỏa mãn nhu cầu của khách hàngmột cách tốt nhất thì doanh nghiệp đó đã thực hiện được công việc là tiêu thụđược sản phẩm, đồng thời giữ được khách hàng hiện tại và lôi kéo được kháchhàng tiềm năng đến với doanh nghiệp.
d Khả năng thích ứng với thị trường
Môi trường kinh doanh có thể đem lại đến cho doanh nghiệp những cơhội hấp dẫn nhưng cũng có thể đem lại những nguy cơ, đặc biệt là những tácđộng tiêu cực không thể lường trước được của thị trường luôn đe dọa, gây bấtlợi và tổn thât cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trường kinh doanh luôn luôn vận động và biến đổi Mọi đối thủđều cố gắng thích ứng với điều kiện mới và chấp nhận thách thức để tiến lên.Nếu doanh nghiệp không dám chấp nhận cuộc chơi, không đối mặt với thayđổi để loại bỏ những thách thức và tóm lấy cơ hội, thì mãi mãi doanh nghiệpchỉ ở bên ngoài cuộc chơi Vì vậy, các nhà Doanh nghiệp phải có những biệnpháp, cách thức chấp nhận những thay đổi, cho dù kết quả đem lại đôi khikhông được như mong muốn của doanh nghiệp Có vậy thì doanh nghiệp mới
có thể thành công trên thương trường
Như vậy, trong điều kiện biến động của môi trường kinh doanh hiệnnay, để tồn tại và phát triển tất cả các tổ chức buộc phải có khả năng thay đổi
và thích ứng một cách tốt nhất với những biến động trong dài hạn Bời vì nếudoanh nghiệp có khả năng thích nghi cao sẽ cho phép doanh nghiệp nhanhchóng ổn định đi vào hoạt động, tìm kiếm khách hàng và bạn hàng, giúp chodoanh nghiệp có thể phản ứng nhanh chóng với những biến động khó lườngcủa môi trường kinh doanh và giành được lợi thế cao trong cạnh tranh
1.3 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp
Trước những áp lực ngày càng cao của môi trường kinh doanh hiện nay,mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì cần phải biết chấp nhận cạnh
Trang 33tranh Khả năng cạnh tranh là điều kiện cần để doanh nghiệp có thể đối đầuvới các đối thủ trên thương trường, do đó doanh nghiệp phải không ngừngnâng cao khả năng cạnh tranh của mình bằng cách tận dụng nững điểm mạnhhay cơ hội trong kinh doanh và hạn chế tối đa những yếu điểm hay rủi rodoanh nghiệp có thể gặp phải Từ đó, giúp doanh nghiệp có thể cạnh tranhđược với các đối thủ và dần chiếm lĩnh thị trường.
Nâng cao khả năng cạnh tranh sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi để đápứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng, làm cho khách hàng tin rằng sảnphẩm của doanh nghiệp là tốt nhất, thoả mãn nhu cầu của họ nhất Giúpdoanh nghiệp gia tăng được thị phần, nâng cao được uy tín, tăng doanh thu,lợi nhuận, hoàn thành tốt trách nhiệm với nhà nước
Ngày nay khi nền kinh tế thị trường ở Việt Nam càng ngày càng pháttriển thì sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn với sự xâm nhập mạnh
mẽ của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài hơn hẳn các doanh nghiệp ViệtNam về tiềm lực tài chính cũng như khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý.Như vậy, để đứng vững và vươn lên trong môi trường đó nhất thiết các doanhnghiệp Việt Nam phải tìm mọi giải pháp để tự hoàn thiện mình hơn Doanhnghiệp phải xác định được vị thế của mình trên thị trường tiềm năng như thếnào để có được những chiến lược phù hợp nhất cho doanh nghiệp phát triểnnhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Tóm lại có thể khẳng định việc nâng cao khả năng cạnh tranh là một điềutất yếu của các doanh nghiệp muốn tồn tại và đứng vững trên thị trường ngàymột nhiều thách thức như hiện nay
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khôngchỉ chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô mà còn phụ thuộcvào các nhân tố thuộc nội bộ ngành cũng như các yếu tố trong bản thân nội tại
Trang 34doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm Các yếu tố khách quan thuộcmôi trường bên ngoài có những tác động qua lại nhất định tới khả năng tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp Vì vậy khi phân tích năng lực cạnh tranhtrong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cần phân tích theo hai yếu tố:Yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan
1.4.1 Nhân tố khách quan
1.4.1.1 Môi trường kinh tế
Một trong những nhân tố đầu tiên tác động mạnh mẽ đến năng lực cạnhtranh trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải kể đến là nền kinh tế.Chỉ khi nền kinh tế phát triển ổn định mới có thể tạo lập nền tài chính quốcgia ổn định, cân bằng tiền tệ, kiểm soát tốt lạm phát Kinh tế phát triển thúcđẩy quá trình tích tụ, tập trung tư bản, tăng nguồn vốn đầu tư phát triển… Sựphát triển kinh tế xã hội kéo theo khả năng thanh toán và nhu cầu tiêu dùngsản phẩm của người dân tăng lên, đây là một yếu tố thúc đẩy sự phát triển củadoanh nghiệp Ngược lại, một nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thoái, nền tàichính quốc gia sẽ không ổn định, đồng tiền mất giá, tỷ lệ lạm phát cao, sứcmua giảm sút Trong điều kiện như vậy doanh nghiệp sẽ phải đối phó vớinhiều khó khăn như giá nguyên liệu đầu vào cao, năng suất sản xuất thấp,chất lượng sản phẩm giảm sút do chi phí đắt đỏ,… Vì vậy để đứng vững vàvượt qua, nhà quản lý doanh nghiệp cần sáng suốt và nhạy bén trong việc nắmbắt tình hình nền kinh tế từ đó chèo lái doanh nghiệp vượt qua được thời kìkhó khăn khủng hoảng này
1.4.1.2 Môi trường chính trị - pháp lý
Yếu tố chính trị, pháp luật được thể hiện ở mức độ ổn định chính trị củaquốc gia, cơ sở hành lang pháp lý… Các doanh nghiệp muốn sản xuất kinhdoanh trên thị trường đều phải tuân theo hệ thống pháp luật và nghị định,chính sách của chính phủ về chỉ tiêu hoạt động, chất lượng mấu mã sảnphẩm Tính ổn định và chặt chẽ của nó tác động rất lớn đến khả năng cạnh
Trang 35tranh của doanh nghiệp Môi trường chính trị pháp lý tạo ra khuôn khổ hoạtđộng thống nhất, đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng Đâycũng là yếu tố ảnh hưởng lớn đến quyết định đầu tư mở rộng sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, mức đầu tư vốn của nước ngoài vào việc phát triểnsản phẩm đồng thời ảnh hưởng đến mức độ chi mua hàng hóa của người tiêudùng.
Để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình các doanh nghiệp cần cậpnhật, nắm bắt nhanh và hiểu rõ các yếu tố của môi trường chính trị pháp lý từ
đó xây dựng chiến lược tầm nhìn hướng đến sự phát triển vững mạnh lâu dài
- Xu hướng tự do hoá thương mại sẽ thúc đẩy cạnh tranh trong kinhdoanh ngày càng mạnh mẽ hơn Xu hướng này làm cho thị trường có nhiềubiến động dẫn đến nhiều sự thay đổi trong tổ chức quản lý, cơ cấu đầu tư…
- Xu hướng phát triển công nghệ trên thế giới tạo nên cuộc chạy đua đổimới ở mỗi quốc gia và tác động trực tiếp đến nội bộ từng ngành từ doanhnghiệp Đặc biệt đối với những ngành đòi hỏi tốc độ phát triển về dây chuyềnsản xuất công nghệ cao thì máy móc thiết bị tối tân chính là nguồn lực tạo rasức mạnh cạnh tranh, là vũ khí cạnh tranh của doanh nghiệp Do đó đòi hỏidoanh nghiệp phải có khả năng nắm bắt và đón đầu được sự phát triển khoahọc công nghệ, phải có kế hoạch đổi mới công nghệ để nâng cao năng xuất,nâng cao hiệu quả hoạt động tăng khả năng cạnh tranh
Trang 361.4.1.4 Văn hoá xã hội
Tất cả các doanh nghiệp đều phải phân tích các yếu tố xã hội để nhậnbiết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra đối với sản phẩm của mình Các quanniệm về chất lượng cuộc sống ở mỗi địa phương, phong tục tập quán, sự ảnhhưởng của truyền thống văn hóa dân tộc cũng tác động nhiều đến thói quentiêu dùng của người dân đối với việc lựa chọn các sản phẩm dịch vụ Khi mộthay nhiều yếu tố thay đổi chúng có thể tác động đến năng lực cạnh tranh củacác sản phẩm mà doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh
Đây là yếu tố không những có tác động đáng kể tới sự lựa chọn và tiêudùng hàng hóa của khách hàng mà còn tác động lớn đến các quyết định củadoanh nghiệp khi lựa chọn biểu tượng logo, mẫu mã, kiểu dáng cho sảnphẩm…Mỗi doanh gnhiệp ngay từ khi bắt đầu sản xuất kinh doanh cầnnghiên cứu kỹ yếu tố này nhằm nắm bắt tốt nhu cầu thị trường đồng thời nângcao năng lực sản xuất kinh doanh đặc biệt trong Marketing và quản lý thươnghiệu
Trang 37Để giảm tính độc quyền và sức ép từ phía các nhà cung cấp, các doanhnghiệp phải biết tìm đến các nguồn lực tin cậy, ổn định và giá cả hợp lý vớiphương châm là đa dạng hoá các nguồn cung cấp, thực hiện nguyên tắc
“Không bỏ tiền vào một ống” Mặt khác trong quan hệ này doanh nghiệp nêntìm cho mình một nhà cung cấp chính có đầy đủ sự tin cậy, nhưng phải luôntránh sự lệ thuộc, cần phải xây dựng kế hoạch cung ứng cho mình Như vậydoanh nghiệp cần phải thiết lập mối quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp để
họ cung cấp đầy đủ về số lượng
1.4.1.6 Đối thủ cạnh tranh hiện tại
Doanh nghiệp luôn phải đối phó với hàng loạt các đối thủ cạnh tranh.Vấn đề quan trọng ở đây là không được coi thường bất kỳ đối thủ nào, nhưngcũng không nên coi đối thủ là kẻ địch Cách xử lý khôn ngoan nhất khôngphải là hướng mũi nhọn vào đối thủ của mình mà ngược lại vừa phải xác định,điều khiển và hoà giải, lại vừa phải hướng suy nghĩ và sự quan tâm của mìnhvào khách hàng, có nghĩa là mình đã thành công một phần trong cạnh tranh.Mặt khác cũng nên quan tâm tới việc dự đoán trong tương lai và định hướngtới khách hàng Trên thực tế cho thấy cạnh tranh có thể diễn ra trên nhiều mặtkhác nhau nhưng có thể nói cạnh tranh với nhau chủ yếu là khách hàng Vìthế, trong cạnh tranh người được lợi nhất là khách hàng, nhờ có cạnh tranh màkhách hàng được tôn vinh là thượng đế Để có và giữ được khách hàng, doanhnghiệp cần phải tìm cách sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng tốt hơn,đẹp hơn và rẻ hơn, không những thế còn phải chiều lòng khách hàng, lôi kéokhách hàng bằng cách hoạt động quảng cáo khuyến mãi và tiếp thị
Có thể nói rằng khi doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác mới bắtđầu bước chân vào thị trường thì họ là những đồng nghiệp, những đối tác đểgây dựng thị trường, để hình thành nên một khu vực cung cấp hàng hoá vàdịch vụ cho khách hàng Nhưng khi có người khách hàng đầu tiên bước vào
Trang 38khu vực thị trường này, thì họ sẽ trở thành đối thủ của nhau, họ tìm mọi cách
để lôi kéo khách hàng về phía mình
Trong những thời điểm và những giai đoạn khác nhau thường có nhữngđối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường và những đối thủ yếu hơn rút rakhỏi thị trường Để chống lại các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, các doanhnghiệp thường thực hiện các chiến lược như phân biệt sản phẩm, nâng caochất lượng sản phẩm, bổ sung những đặc điểm mới của sản phẩm, khôngngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm của mình có những đặc điểm khác biệtnổi trội hơn trên thị trường Doanh nghiệp nên đề phòng và lường trước cácđối tác làm ăn, các bạn hàng, bởi vì họ có thể trở thành những đối thủ cạnhtranh tiềm ẩn
Nếu ở trong một thị trường kinh doanh nhất định, doanh nghiệp vượt trộihơn các đối thủ về chất lượng sản phẩm, về giá cả và chất lượng phục vụ thìdoanh nghiệp đó có khả năng cạnh tranh và sẽ có điều kiện để tiến xa hơn sovới các đối thủ
Trang 391.4.2 Nhân tố chủ quan
1.4.2.1 Nguồn nhân lực
Con người là yếu tố quyết định mọi thành bại của hoạt động kinh doanh.Bởi vậy, doanh nghiệp phải chú ý việc sử dụng con người phát triển nhân sự,xây dụng môi trường văn hoá và có nề nếp, tổ chức của doanh nghiệp Đồngthời doanh nghiệp phải quan tâm đến các chỉ tiêu rất cơ bản như số lượng laođộng, trình độ nghề nghiệp, năng suất lao động, thu nhập bình quân, năng lựccủa cán bộ quản lý
Con người là yếu tố chủ chốt, là tài sản quan trọng và có giá trị cao nhấtcủa doanh nghiệp Bởi chỉ có con người mới có đầu óc và sáng kiến để sángtạo ra sản phẩm, chỉ có con người mới biết và khơi dậy được nhu cầu conngười, chỉ có con người mới tạo được uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp
mà những yếu tố này hình thành nên khả năng cạnh tranh Vậy muốn nângcao khả năng cạnh tranh của mình doanh nghiệp phải chú ý quan tâm đến tất
cả mọi người trong doanh nghiệp, từ những người lao động bậc thấp đến nhàquản trị cấp cao nhất, bởi mỗi người đều có một vị trí quan trọng trong cáchoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Những người lãnh đạo chính lànhững người cầm lái con tàu doanh nghiệp, họ là những người đứng mũi chịusào trong mỗi bước đi của doanh nghiệp, là những người có quyền lực caonhất và trách nhiệm thuộc về họ cũng là nặng nề nhất Họ chính là nhữngngười xác định hướng đi và mục tiêu cho doanh nghiệp, còn thực hiện quyếtđịnh của họ là những nhân viên dưới quyền
Trong bất cứ một doanh nghiệp nào chỉ có nhà lãnh đạo giỏi vẫn chưa
đủ, vẫn chỉ mới có người ra quyết định mà chưa có người thực hiện nhữngquyết định đó Bên cạnh đó phải có một đội ngũ nhân viên giỏi cả về trình độ
và tay nghề, có óc sáng tạo, có trách nhiệm và có ý thức trong công việc Cónhư vậy họ mới có thể đưa ra những sản phẩm có chất lượng tốt mang tínhcạnh tranh cao
Trang 40Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp nào có đội ngũ lãnh đạo giỏi,tài tình và sáng suốt thì ở đó công nhân viên rất yên tâm để cống hiến hếtmình, họ luôn có cảm giác là doanh nghiệp mình sẽ luôn đứng vững và pháttriển, trách nhiệm và quyền lợi của họ được bảo đảm, được nâng đỡ và pháthuy Ở đâu có nhân viên nhiệt tình, có trách nhiệm, có sự sáng tạo thì ở có sựphát triển vững chắc, bởi những quyết định mà ban lãnh đạo đưa ra đã cóngười thực hiện Như vậy để có năng lực cạnh tranh thì những người trongdoanh nghiệp đó phải có ý thức và trách nhiệm và nghĩa vụ về công việc củamình Muốn vậy khâu tuyển dụng, đào tạo và đãi ngộ nhân sự là vấn đề quantrọng, nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
1.4.2.2 Hoạt động Marketing
Trong quá trình cạnh tranh kinh doanh của doanh nghiệp, hệ thống bánhàng và các hoạt động marketing là yếu tố tất yếu giúp quảng bá sản phẩmđến với người tiêu dùng và thoả mãn nhu cầu của khách hàng một cách tốtnhất Sức mạnh cạnh tranh được tạo ra bởi hoạt động marketing và bán hànghết sức to lớn Chất lượng lao động phục vụ khách hàng góp phần không nhỏtới việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ Nó xây dựng hình ảnh tốt đẹpcủa doanh nghiệp trong lòng khách hàng, giữ khách hàng trung thành với sảncủa doanh nghiệp
1.4.2.3 Năng lực về tài chính
Vốn là tiền đề vật chất cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.Bất cứ hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối nào cũng đều phải xem xéttính toán đến tiềm lực tài chính của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có tiềmlực lớn về tài chính sẽ rất thuận lợi trong việc huy động vốn đầu tư, trong muasắm đổi mới công nghệ và máy móc cũng như có điều kiện để đào tạo và đãingộ nhân sự Những thuận lợi đó sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao được trình
độ chuyên môn tay nghề cho cán bộ, nhân viên, nâng cao chất lượng sảnphẩm, hạ thấp chi phí để nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Nếu