1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

SKKN XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI VẬN DỤNG THỰC TIỄN TRONG CHƯƠNG TRÌNH VI SINH VẬT SINH học 10

28 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 141,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN cung cấp các câu hỏi tự luận vận dụng các kiến thức đã học chương vi sinh vật học lớp 10 vào thực tiễn cuộc sống. các kiến thức về lên men, phân giải protein, ứng dụng làm sữa chua, dưa chua, nước mắm... ứng dụng kiến thức về vi rút, bệnh truyền nhiễm...

Trang 1

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN

Trình độ chuyên môn: Đại học

Chức vụ, đơn vị công tác: Tổ trưởng tổ Hóa - Sinh - Kỹ NN trường THPT

7 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2015 - 2016

HỌ TÊN TÁC GIẢ (KÍ TÊN) XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

TÓM TẮT SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

Qua thực tiễn giảng dạy môn Sinh học 10 nhiều năm tôi nhận thấy phầnSinh học Vi sinh vật có rất nhiều nội dung kiến thức gắn liền với thực tiễncuộc sống hàng ngày Nếu như giáo viên không có sự liên hệ thực tế, không

có những hiểu biết rõ về ứng dụng của vi sinh vật trong thực tiễn, không biếttích hợp những kiến thức thực tiễn vào bài giảng thì học sinh sẽ thấy rất nhàmchán, tiếp thu kiến thức một cách thụ động, nhớ kiến thức một cách máy móc

Trang 2

Việc vận dụng kiến thức thực tiễn một cách linh hoạt vào các bài giảng sẽgiúp học sinh hứng thú với môn học, tiếp nhận kiến thức mới một cách dễdàng, không những thế còn giúp phát triển tư duy cho các em, giúp các em có

sự hiểu biết sâu rộng về nhiều hiện tượng thực tiễn mà các em gặp phải trongcuộc sống hàng ngày

Vì thực tế nói trên tôi đã chọn đề tài: ''Xây dựng hệ thống câu hỏi thực tiễn áp dụng trong dạy học phần Sinh học Vi sinh vật - Sinh học 10''.

2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến

- Điều kiện áp dụng sáng kiến: Hệ thống các câu hỏi về vi sinh vật gắn liềnvới thực tiễn đời sống

- Thời gian áp dụng: Áp dụng trong học kì 2 khi giảng dạy về phần Sinh học

Vi sinh vật

- Đối tượng áp dụng sáng kiến: Học sinh khối lớp 10 THPT

3 Nội dung sáng kiến

Xây dựng hệ thống câu hỏi có liên quan đến thực tiễn cuộc sống hàngngày trong các bài giảng phần sinh học Vi sinh vật và áp dụng vào giảng dạycho học sinh khối lớp 10 THPT Vận dụng hệ thống các hiện tượng, ứng dụngthực tế trong cuộc sống đã xây dựng để dạy học Sinh học nhằm giáo dục ýthức và tăng hứng thú học tập bộ môn cho học sinh

4 Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến

Sau khi áp dụng sáng kiến trên tôi nhận thấy cả giáo viên và học sinhđều đạt tới mục tiêu của mình Giáo viên đã khơi dạy ở học sinh niềm yêuthích môn học, hứng thú say mê hơn với môn học, kích thích khả năng sángtạo, tò mò, ham hiểu biết ở người học sinh Học sinh tiếp thu kiến thức mớinhanh hơn, có thêm nhiều kiến thức thực tiễn hơn, đạt kết quả cao hơn trongmôn học

5 Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến

Để sáng kiến có kết quả cao hơn và áp dụng mở rộng thì giáo viên cầnđầu tư tìm tòi, nghiên cứu các tài liệu để nâng cao sự hiểu biết của mình, đầu

tư nhiều hơn vào các bài giảng; nhà trường cần tạo điều kiện thuận lợi cho

Trang 3

giáo viên về thời gian, tài liệu tham khảo để giáo viên có thể tự nghiên cứu,học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ vủa mình.

Trang 4

còn mong muốn làm sao khơi dậy được ở học sinh lòng yêu thích môn học,say mê nghiên cứu, học tập biết cách vận dụng những kiến thức mình đãđược học vào thực tiễn đời sống sao cho có hiệu quả

Vì vậy mục đích của việc xây dựng các câu hỏi có liên quan đến thựctiễn đời sống để áp dụng giảng dạy trong các bài học phần vi sinh vật nhằmgây hứng thú học tập, lòng say mê, ham muốn nghiên cứu khoa học và cácphẩm chất tốt đẹp khác của người học sinh Qua đó cũng nhằm nâng cao chấtlượng bộ môn học, đồng thời khi giáo viên sử dụng các câu hỏi vận dụng đó

có thể phát hiện và bồi dưỡng các em học sinh có nhận thức khá, giỏi, pháthuy năng lực, khả năng tư duy của các em

2 Các giải pháp, biện pháp thực hiện

2.1 Tổ chức các hoạt động hướng dẫn học sinh liên hệ các nội dung học với thực tiễn đời sống

Trong quá trình giảng bài giáo viên luôn đặt ra những câu hỏi liên quanđến đời sống hàng ngày như: Tại sao dưa cà muối lại bảo quản được lâu? Tạisao có thể giữ thức ăn tương đối lâu trong tủ lạnh? Xung quanh chúng ta córất nhiều VSV gây bệnh nhưng vì sao đa số chúng ta vẫn sống khoẻmạnh? Học sinh sẽ thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trìnhdạy và học giáo viên luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa các kiến thứcsách giáo khoa với thực tiễn đời sống hàng ngày

2.2 Một số hình thức áp dụng các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống trong tiết dạy.

- Đặt tình huống dẫn vào bài mới

Nếu khi dẫn vào bài mới giáo viên đặt ra cho học sinh một tình huốngthực tiễn hoặc giả định thì sẽ gây được sự chú ý của học sinh, kích thích họcsinh khám phá kiến thức mới trong bài

Ví dụ 1: Để dẫn vào bài mới cho tiết học bài 22: Dinh dưỡng, chuyểnhóa vật chất và năng lượng ở VSV giáo viên có thể nêu một số vấn đề liênquan tới đời sống để học sinh liên hệ vào bài như: Những tác nhân gây bệnhchủ yếu ở người là gì? Tác nhân nào làm cho thức ăn hàng ngày của chúng ta

Trang 5

bị ôi thiu nếu không được bảo quản? Học sinh sẽ trả lời dựa trên sự hiểu biếtcủa mình Sau đó giáo viên dẫn dắt học sinh tìm hiểu về đặc điểm của vi sinhvật.

Ví dụ 2: Để mở đầu cho bài thực hành lên men etilic giáo viên có thểđặt câu hỏi: Tại sao rắc bột men vào rá xôi rồi ủ lại một thời gian xôi chuyểnthành rượu nếp nóng rực? Ở gia đình hay địa phương em người ta nấu rượubằng phương pháp nào? Qua đó giáo viên dẫn dắt học sinh tìm hiểu quá trình

hô hấp và lên men ở vi sinh vật và tiến hành thí nghiệm lên men eitlic

- Dùng để dẫn dắt, chuyển ý giữa các mục lớn trong bài:

Để bài giảng có thể cuốn hút học sinh giáo viên cần linh hoạt trongkhâu chuyển ý giữa các phần, các mục lớn trong bài giúp cho kiến thức trongbài được liền mạch, logic Có nhiều cách dẫn dắt khác nhau trong đó việc sửdụng câu hỏi thực tiễn có liên quan đến nội dung kiến thức cần tìm hiểu đểgợi mở cho học sinh cũng là một các hay

Ví dụ: Trong bài 31: ''Virut gây bệnh và ứng dụng của virut trong thựctiễn'' khi kết thúc mục I, để chuyển sang mục II giáo viên có thể đặt câu hỏi: ''Tại sao nói nhờ ứng dụng của kĩ thuật di truyền trong sản xuất dược phẩm màngười ta đã cứu được rất nhiều bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường?'' Virut có vaitrò gì đối với đời sống con người không?

- Liên hệ các kiến thức có liên quan đến thực tiễn đời sống trong bài giảng:

Sau khi học xong một vấn đề gì đó nếu học sinh thấy có ứng dụng thựctiễn cho cuộc sống thì các em sẽ chú ý hơn, tìm tòi, chủ động tư duy để tìmhiểu, để nhớ hơn Do đó, mỗi bài học giáo viên đưa ra được một số ứng dụngthực tiễn sẽ lôi cuốn được sự chú ý của học sinh Tuy nhiên giáo viên cũngcần chú ý khi giải thích các vấn đề, không nên đi quá sâu vào vấn đề đó sẽmất nhiều thời gian và không phù hợp Giáo viên phải biết lựa chọn cách giảithích sao cho ngắn gọn, phù hợp, dễ nhớ, dễ hiểu, đúng cơ sở khoa học

Ví dụ: Tại sao dưa, cà muối lại bảo quản được lâu? (Khi muối dưa,càaxit lactic do vi khuẩn lactic tiết ra cùng với nồng độ muối cao kìm hãm sinhtrưởng của các vi khuẩn khác,đặc biệt là vi sinh vật gây thối rau quả)

Trang 6

- Dùng để củng cố, bổ sung , mở rộng kiến thức cho học sinh:

Sau khi tìm hiểu xong nội dung bài học nếu giáo viên đặt câu hỏi củng

cố giải thích một hiện tượng nào đó có liên quan đến nội dung bài sẽ giúp họcsinh chú ý hơn, tìm tòi, chủ động tư duy để tìm hiểu, khắc sâu kiến thức hơn.Hoặc giáo viên cũng có thể mở rộng thêm kiến thức cho học sinh thông quagiải thích các hiện tượng gắn với nội dung bài học

Ví dụ: Để củng cố kiến thức về quá trình phân giải các chất ở vi sinhvật giáo viên có thể đặt câu hỏi mở rộng kiến thức cho học sinh như: Cùngmột enzim vi sinh vật (amilaza, proteaza, xenlulaza, ) khi nào thì enzim cólợi, khi nào thì enzim có hại đối với con người? Cho ví dụ?

Dựa trên câu trả lời của học sinh giáo viên có thể mở rộng thêm kiếnthức về lợi ích và tác hại của ví sinh vật đối với con người: Vi sinh vật không

có ý thức làm lợi hay làm hại cho con người mà do con người chủ động điềukhiển chúng Có lợi khi con người chủ động sử dụng vi sinh vật phục vụ chochính lợi ích của mình, có hại khi để chúng phát triển tự do, gây hư hỏng thức

ăn, đồ dùng, Ví dụ: nếu con người chủ động dùng các enzim amilaza,prôtêaza hoặc xenlulaza để xử lí nước thải giàu tinh bột, prôtêin hoặcxenlulôzơ, sẽ cho nước thải sạch, sử dụng các enzim trên vào công nghiệp bộtgiặt sẽ làm tăng hiệu quả giặt tẩy Trái lại, cũng vẫn các vi sinh vật trên, nếu

để chúng sinh trưởng tự do trên các đồ ăn, thức uống, rau quả các enzim dochúng sinh ra sẽ phân giải làm hư hỏng thực phẩm, gây ôi thiu, làm giảm chấtlượng các loại lương thực, đồ dùng, hàng hóa,

2.3 Hệ thống các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống áp dụng khi dạy học phần Sinh học vi sinh vật

2.3.1 Câu hỏi áp dụng cho chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng

Trang 7

Bùn ao hồ và một số kênh rạch thường có màu đen và mùi hôi thối là do các

vi sinh vật khử sunfat phân giải các chất hữu cơ trong điều kiện kị khí, tạo ra

H2S: 4H2 + H2SO4 → H2S + 4H2O + Q

H2S có mùi thối (mùi trứng ung), còn màu đen là do H2S kết hợp với Fe(trong tự nhiên, Fe rất phổ biến trong đất và trong nước) tạo thành FeS (Sắtsunfua) kết tủa màu đen

Vi khuẩn khử sunfat cũng tham gia vào quá trình hình thành quặng lưu huỳnh

và mỏ dầu hỏa Sự khử sunfat và hình thành H2S cũng thấy trong dạ dày độngvật nhai lại H2S còn ăn mòn kim loại của các công trình dưới đất và dướinước

Câu hỏi 2: Vì sao không nên bón phân đạm cùng với phân chuồng trên những ruộng lúa ngập nước?

Vi khuẩn phản nitrat hóa có khả năng dùng nitrat chủ yếu làm chất nhận điện

tử Tùy theo từng loài vi khuẩn mà sản phẩm của khử nitrat dị hóa là N2, N2Ohay NO, đây đều là những chất mà cây trồng không hấp thụ được Quá trìnhphản nitrat hóa xảy ra mạnh khi đất bị kị khí như khi dùng phân đạm (nitrat)cùng với phân chuồng trên những ruộng lúa ngập nước, phân nitrat dùng đểbón cho lúa bị nhóm vi khuẩn này sử dụng rất nhanh nên có thể bị mất hết màcây trồng không kịp sử dụng

Câu hỏi 3: Thế nào là đạm sinh học? Tại sao người ta thường trồng xen kẽ cây họ đậu với cây ngũ cốc?

Đạm sinh học là dạng đạm do các vi sinh vật tổng hợp từ nitơ tự do bằng phảnứng sinh học dưới tác dụng của enzim Nhờ enzim nitrogenaza xúc tác quátrình phân cắt liên kết 3 trong phân tử nitơ rồi liên kết với hiđrô trong khôngkhí tạo thành NH3, từ đó chuyển tiếp thành các dạng nitơ khác

Trồng xen cây họ đậu với cây ngũ cốc khác nhằm tăng cường nguồn đạm sinhhọc cho đất trồng , vừa cung cấp cho cây đậu, vừa cung cấp cho cây ngũ cốc.Đồng thời biến đổi các nguồn thức ăn khó tan trong đất thành thức ăn dễ tan:cây đậu có khả năng biến đổi chất khó hấp thụ thành dễ hấp thụ nhờ axit do rễcây tiết ra, do đó có tác dụng cải tạo đất

Trang 8

* Câu hỏi áp dụng trong tiết dạy bài 24: Thực hành: Lên men êtilic

Câu hỏi 1: Em hãy phân biệt rượu, bia và vang?

Rượu êtilic (C2H5OH) được chưng cất từ dịch lên men đường nhờ nấm men.Vang là dịch lên men rượu không qua chưng cất nhờ nấm men trên dịch nướcquả (chủ yếu là dịch quả nho)

Bia là dịch lên men rượu nhẹ không qua chưng cất nhờ nấm men trên môitrường có đường malt (lúa mạch mọc mầm) và hoa bia, có quá trình lên menphụ trong điều kiện lạnh bão hòa CO2

Câu hỏi 2: Vì sao trong giai đoạn lên men rượu không nên mở nắp bình rượu

- Khi có đủ O2, nấm men oxi hóa glucozo thành CO2 và H2O

Vì vậy trong giai đoạn lên men rượu, nếu mở nắp bình ra O2 trong không khí

sẽ tràn vào bình, glucozo sẽ bị oxi hóa hoàn toàn làm cho rượu trở nên nhạt

Câu hỏi 3: Vì sao rượu chưng cất bằng phương pháp thủ công ở một số vùng

dễ làm người uống đau đầu?

Nấu rượu thủ công bằng nồi đồng xảy ra phản ứng:

Đây không phải là quá trình lên men giấm

Axit axetic tạo thành trong sản xuất giấm cổ truyền từ rượu êtilic là sản phẩmcủa quá trình oxi hóa với sự tham gia của oxi trong không khí:

C2H5OH + O2 → CH3COOH + H2O

Trang 9

Gọi lên men giấm là do thói quen, coi mọi sự chuyển hóa nhờ vi sinh vật đều

là lên men Ở đây quá trình chuyển hóa được thực hiện bởi vi khuẩn axetic một loại vi khuẩn hiếu khí có trong màng giấm

-Câu hỏi 5: Tại sao rượu vang hoặc sâmpanh đã mở thì phải uống hết?

Rượu vang hoặc sâmpanh đã mở thì phải uống hết vì để đến hôm sau dễ bịchua Rượu nhạt đi do axetic bị oxi hóa tạo ra giấm

Đây là quá trình oxi hóa hiếu khí đượct hực hiện bởi một nhóm vi khuẩn gọi

là vi khuẩn axêtic Quá trình oxi hóa này có thể biểu hiện như sau:

C2H5OH → CH3COOH + H2O(Etanol) (Axit axêtic)Nếu để lâu nữa thì axit axêtic bị oxi hóa tạo thành CO2 và nước làm giấm bịnhạt đi

* Câu hỏi áp dụng trong tiết dạy bài 24: Thực hành: Lên men lactic

Câu hỏi 1: Chữ ''Sinh học'' trong bột giặt sinh học là gì và ý nghĩa của nó?

Chữ ''Sinh học'' trong bột giặt sinh học có nghĩa là bột giặt chứa một hoặcnhiều loại enzim để tẩy sạch một số vết bẩn Các enzim đó là enzim ngoại bàocủa vi sinh vật, có thể được sử dụng rộng rãi Ví dụ: amilaza để loại bỏ tinhbột; prôtêaza loại bỏ prôtêin; lipaza để loại bỏ mỡ

Câu hỏi 2: Tại sao cơ thể người không tiêu hóa được xenlulôzơ? Những động vật nào có thể tiêu hóa được xenlulôzơ (Là thành phần có trong rơm, rạ, cỏ )? Vì sao?

Cơ thể người không tiêu hóa được xenlulôzơ vì không có enzim để tiêu hóaxenlulôzơ Những động vật nhai lại như trâu, bò, dê, cừu trong dạ cỏ củachúng có chứa hệ vi sinh vật có thể tiết ra enzim xenlulaza giúp phân giảixenlulôzơ, hêmixenlulozo và pectin trong rơm, rạ thành các chất đơn giản mà

cơ thể hấp thụ được

Câu hỏi 3: Có phải sản phẩm tổng hợp nào của vi sinh vật cũng đều có ích không?

Trang 10

Không phải sản phẩm tổng hợp nào của vi sinh vật cũng đều có ích, nhiều độc

tố của vi sinh vật trong đó có một số là enzim đã mang lại tác hại cho conngười như gây ngộ độc, bệnh tật, tử vong,

Ví dụ: độc tố là một trong số các sản phẩm do vi sinh vật tổng hợp Khi nhiễmvào đồ ăn, thức uống, một số vi sinh vật không chỉ phân giải, làm giảm giá trịdinh dưỡng của thực phẩm mà còn tiết độc tố Độc tố có 3 loại:

- Độc tố tế bào (do vi khuẩn bạch hầu và vi khuẩn lị tiết ra)

- Độc tố thần kinh (do vi khuẩn độc thịt tiết ra)

- Độc tố ruột (do vi khuẩn tả và E Coli tiết ra)

Aflatoxin, fumonisin là những loại độc tố đáng sợ nhất trong số các độc tố donấm sinh ra Những chất này thường gặp trong lạc hoặc ngô bị mốc, có thểgây ung thư gan, xơ gan, ung thư vòm họng,

Câu hỏi 4: Cùng một enzim vi sinh vật (amilaza, proteaza, xenlulaza, ) khi nào thì enzim có lợi, khi nào thì enzim có hại đối với con người? Cho ví dụ?

Vi sinh vật không có ý thức làm lợi hay làm hại cho con người mà do conngười chủ động điều khiển chúng

Có lợi khi con người chủ động sử dụng vi sinh vật phục vụ cho chính lợi íchcủa mình, có hại khi để chúng phát triển tự do, gây hư hỏng thức ăn, đồdùng,

Ví dụ: nếu con người chủ động dùng các enzim amilaza, prôtêaza hoặcxenlulaza để xử lí nước thải giàu tinh bột, prôtêin hoặc xenlulôzơ, sẽ chonước thải sạch, sử dụng các enzim trên vào công nghiệp bột giặt sẽ làm tănghiệu quả giặt tẩy Trái lại, cũng vẫn các vi sinh vật trên, nếu để chúng sinhtrưởng tự do trên các đồ ăn, thức uống, rau quả các enzim do chúng sinh ra

sẽ phân giải làm hư hỏng thực phẩm, gây ôi thiu, làm giảm chất lượng cácloại lương thực, đồ dùng, hàng hóa,

Câu hỏi 5: Tại sao khi nướng bánh mì lại trở nên xốp?

Khi làm bánh mì, bánh bao có sử dụng nấm men (nấm men được trộn vào bộtbánh), đây là những vi sinh vật sinh sản nhanh và biến đường, O2 có trong bột

Trang 11

mì thành CO2, sinh khối và vitamin Khi nướng, những ổ CO2 trong bột sẽgiãn nở ra và tăng thể tích làm cho bánh mì nở, rỗng ruột và trở nên xốp hơn

Câu hỏi 6: Trong làm tương và làm nước mắm có sử dụng cùng một loại vi sinh vật không?

Trong làm tương và làm nước mắm không cùng sử dụng một loại vi sinh vật.Làm tương nhờ nấm vàng hoa cau là chủ yếu, chúng tiết ra enzim proteaza đểphân giải prôtêin trong đậu tương

Làm nước mắm là nhờ một loại vi khuẩn kị khí trong ruột cá là chủ yếu,chúng tiết ra enzim proteaza để phân giải protein của cá

Câu hỏi 7: Tại sao khi để quả vải chín qua 3 - 4 ngày thì có mùi chua?

Quả vải chín qua 3 - 4 ngày thì có vị chua vì dịch quả vải chứa rất nhiềuđường cho nên dễ bị nấm men ở trên vỏ xâm nhập vào và diễn ra quá trình lênmen, sau đó các vi sinh vật chuyển hóa đường thành rượu và từ rượu thànhaxit

Câu hỏi 8: Làm sữa chua là ứng dụng của quá trình lên men nào? Vì sao sữa chua là loại thực phẩm rất bổ dưỡng?

Làm sữa chua là ứng dụng của quá trình lên men lactic Trong sữa chua chếtạo sẵn có thể đã sử dụng hỗn hợp nấm men và vi khuẩn lactic, cho nên trongsữa chua thành phẩm có 1 - 2% rượu, 1% axit lactic, rất nhiều loại vitamin vàprotein dễ đồng hóa

Sữa chua là loại thực phẩm rất bổ dưỡng vì có chứa nhiều chất dễ đồng hóanhư axit lactic, vitamin, nhân tố sinh trưởng do vi khuẩn lactic đồng hìnhsinh ra khi lên men đường lactozo Trong sữa chua hầu như không có vi sinhvật gây bệnh vì môi trường axit đã ức chế các vi sinh vật này

Câu hỏi 9: Muối dưa, cà là ứng dụng của quá trình lên men nào? Vì sao dưa nếu để lâu có thể sẽ bị khú hoặc có lớp váng trắng trên bề mặt? Những biện pháp nào tránh được hiện tượng này? Làm thế nào để muối được dưa, cà ngon?

Muối dưa, cà là ứng dụng của quá trình lên men lactic tự nhiên, do vi khuẩnlactic

Trang 12

Về mùa hè, dưa muối có thể bị nhớt, đó là vì lớp dịch nhầy do vi khuẩn lênmen lactic dị hình sinh ra.

Khi dưa đã chua, nếu để lâu, không đậy cẩn thận, có thể xuất hiện lớp vángtrắng ở bề mặt nước dưa, cà là do một loại nấm (nấm sợi, nấm men ) từkhông khí xâm nhập vào, phát triển trên bề mặt, chúng phân giải axit lacticthành CO2 và H2O làm cho pH trở về trung tính, tạo điều kiện cho các loại vikhuẩn gây thối khác phát triển làm dưa bị hỏng

Quá trình ủ chua thức ăn cho gia súc cũng tương tự như quá trình muối chuarau quả Nguyên liệu ở đây là các loại thân, lá cây ngô, có lượng đường khá(3 - 4 %) Trong quá trình ủ chua có sự phát triển tự nhiên của cả vi khuẩnlactic đồng hình và dị hình làm tăng giá trị dinh dưỡng của thức ăn ủ chua chogia súc

Những biện pháp nhằm tránh hiện tượng này:

- Dùng nồng độ muối phù hợp

- Dùng nước ấm để muối dưa

- Tạo độ chua ban đầu bằng cách cho thêm đường, ít nước chanh, hành, ítnước dưa cũ

- Nén chặt tạo môi trường kị khí

Muốn muối được dưa, cà ngon phải tạo điều kiện ngay từ đầu vi khuẩn lacticlấn át được vi khuẩn gây thối Do đó phải cho đủ muối, nhưng không đượcquá nhiều vì sẽ ức chế ngay cả vi khuẩn lactic làm dưa không chua được

Câu hỏi 10: Vì sao trẻ nhỏ ăn kẹo mà không súc miệng nhiều lần hoặc đánh răng rất dễ bị sâu răng?

Trong khoang miệng có nhiều loại vi sinh vật, trong đó có vi khuẩn lactic lênmen đồng hình Trẻ nhỏ hay ăn kẹo, có nhiều đường ở trong miệng, vi khuẩnlactic đồng hình sẽ tiến hành lên men biến đường thành axit lactic ăn mònchân răng, tạo điều kiện cho các vi khuẩn gây viêm nhiễm khác xâm nhập làmsâu răng

Câu hỏi 11: Xì dầu khác tương ở điểm nào? Để sản xuất xì dầu có cần vi sinh vật không?

Trang 13

So với tương, xì dầu có hàm lượng đạm cao, ít đường và khoogn chứa phần tửrắn Xì dầu được sản xuất bằng cách thủy phân protein của khô đậu tươnghoặc khô lạc (bã đậu tương hoặc lạc sau khi ép dầu, phơi khô) nhờ protêazacủa nấm mốc thu được dịch chứa axit amin và polipeptit.

Câu hỏi 12: Để sản xuất nước mắm, người ta xếp cá vào chum, rắc muối, nén cho nước muối ngập cá, sau 1 - 2 tháng sẽ được nước mắm Thành phần chính của nước mắm là gì?

Vi khuẩn tự nhiên sống ở cá hoặc từ môi trường tiết enzim proteaza phân giảiprotein cá thành polipeptit và axit amin Do đó, thành phần chính của nướcmắm là 2 chất kể trên

Câu hỏi 13: Nem chua được làm bằng thịt lợn sống hoàn toàn mà không qua đun nấu Vậy ăn nem chua có đảm bảo sạch hay không? Tại sao thịt sống để vài ngày mà không bị hư hỏng?

Làm nem chua là ứng dụng của quá trình lên men lactic tự nhiên, làm chuathịt, pH thấp sẽ ức chế vi khuẩn gây hư hỏng thịt Nhưng nếu trong quá trìnhlàm nem chua không đảm bảo vệ sinh thì sẽ tạo điều kiện cho vi khuẩn lênmen thối hoạt động Vì vậy nếu nem chua được làm đúng quy trình, đảm bảo

vệ sinh an toàn thực phẩm thì sẽ tốt cho sức khỏe

Câu hỏi 14: Vì sao một số loài vi khuẩn có khả năng kháng thuốc?

Vì những loài vi khuẩn này có chứa plasnit kháng thuốc Loại plasmit này cóchứa các gen có khả năng sinh ra enzim, các enzim này đã làm phân hủy một

số chất kháng sinh dẫn đến chất kháng sinh mất tác dụng đối với vi khuẩn đó.Ngoài ra các vi khuẩn còn có khả năng sử dụng các ''bơm'' là các proteinxuyên màng để bơm kháng sinh đã xâm nhập ra khỏi tế bào

Câu hỏi 15: Chất kháng sinh là gì? Chất kháng sinh do vi sinh vật nào tạo ra? Cơ chế tác dụng của chất kháng sinh đối với vi khuẩn và tác hại của việc lạm dụng thuốc kháng sinh?

Chất kháng sinh là những chất hóa học do một số vi sinh vật tạo thành có khảnăng ức chế sự phát triển của sinh vật hoặc tế bào ung thư ngay ở nồng độ rấtnhỏ

Trang 14

Chất kháng sinh có thể có nguồn gốc thiên nhiên hoặc kháng sinh bán tổnghợp, chúng được tạo ra từ xạ khuẩn, nấm sợi, vi khuẩn nhưng chủ yếu là xạkhuẩn (80%).

Cơ chế tác dụng:

- Làm ngừng tổng hợp thành tế bào dẫn đến phá hủy tính chất thẩm thấu của

tế bào

- Ức chế tổng hợp prôtêin hoặc dẫn đến tổng hợp các prôtêin bất thường

- Phá hủy sự trao đổi ADN và ARN

Tác hại của việc lạm dụng thuốc kháng sinh:

- Giảm khả năng tạo kháng thể của cơ thể

- Gây hiện tượng nhờn thuốc, kháng thuốc ở vi sinh vật do xuất hiện cácchủng đột biến kháng thuốc,

- Tiêu diệt cả những vi sinh vật sống cạnh tranh với những vi sinh vật có hạitrong cơ thể

- Gây ra tác dụng phụ có hại cho cơ thể

2.3.2 Câu hỏi áp dụng cho chương II: Sinh trưởng và sinh sản ở vi sinh vật

* Câu hỏi áp dụng trong tiết dạy bài 25 + 26: Sinh trưởng, sinh sản của vi sinh vật.

Câu hỏi 1: Hệ thống dạ dày - ruột của người là hệ thống nuôi cấy liên tục hay không liên tục đối với vi sinh vật?

Hệ thống dạ dày - ruột của người là hệ thống nuôi cấy liên tục đối với vi sinhvật vì quá trình này được diễn ra liên tục: dạ dày thường xuyên được bổ sungthức ăn từ bên ngoài vào đồng thời thường xuyên thải các sản phẩm tiêu hóa

ra ngoài, do đó tương tự như một hệ thống nuôi cấy liên tục

Câu hỏi 2: Tại sao trong đường ruột của cơ thể người giàu chất dinh dưỡng nhưng các vi khuẩn không thể sinh sản với tốc độ cực đại?

Trong đường ruột của người có nhiều loại vi sinh vật khác nhau, chúng cạnhtranh chất dinh dưỡng đồng thời tiết ra các chất kìm hãm nhau nên không thểsinh sản với tốc độ cực đại

Ngày đăng: 24/02/2022, 08:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Sách giáo khoa Sinh học 10 - Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên) - Nhà xuất bản Giáo Dục Khác
2. Sách giáo viên Sinh học 10 - Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên) - Nhà xuất bản Giáo Dục Khác
3. Bài tập Sinh học 10 - Phạm Văn Ty (Chủ biên) - Nhà xuất bản Giáo Dục Khác
4. Thiết kế bài giảng Sinh học 10 - Trần Khánh Phương - Nhà xuất bản Hà Nội Khác
5. Bài tập chọn lọc Sinh học 10 Cơ bản và nâng cao - Ngô Văn Hưng - Nhà xuất bản Giáo Dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w