Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề trên đây với những khía cạnh và mức độ khác nhau: Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Lê Xuân Th
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thừa kế có ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm mống và xuất hiệnngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài người Trong Bộ luật Dân sự nước tacũng như nhiều Bộ luật Dân sự của các nước trên thế giới, các quy định về thừa
kế giữ vai trò quan trọng, đặc biệt là khi cùng với sự phát triển của nền kinh tếthị trường, tài sản của thành viên trong xã hội cũng được tăng lên đáng kể cả về
số lượng và cả giá trị của nó Pháp luật thừa kế bảo hộ quyền thừa kế của côngdân, cho phép công dân được để lại tài sản của mình cho người khác theo dichúc hoặc theo pháp luật Chế định thừa kế được quy định tại phần thứ tư của
Bộ luật Dân sự năm 2015 gồm 4 chương từ Điều 609 đến Điều 662 đã tạo cơ sởpháp lý vững chắc để nhân dân thực hiện một trong những quyền cơ bản củamình đã được Hiến pháp năm 2013 khẳng định tại khoản 2 Điều 32 "Quyền sởhữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ"
Thừa kế và di sản thừa kế là vấn đề mang tính kinh tế, mang tính xã hộitruyền thống nhưng cũng là vấn đề phức tạp về mặt pháp lý Có thể nói, di sảnthừa kế là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc làm phát sinh và thực hiện quan
hệ dân sự về thừa kế Việc xác định khối di sản thừa kế và phân chia di sản thừa
kế là một trong những yếu tố pháp lý hết sức quan trọng Đích cuối cùng củatranh chấp thừa kế chính là xác định đúng khối di sản thừa kế và phân chia disản thừa kế theo đúng kỷ phần mà người thừa kế có quyền được hưởng, việc xácđịnh đúng di sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế có ý nghĩa rất quan trọngtrong việc giải quyết các vụ kiện về chia thừa kế Tuy nhiên, trong những nămgần đây, việc xác định di sản thừa kế- yếu tố quan trọng hàng đầu đối với việcgiải quyết các vụ kiện về thừa kế còn nhiều nan giải cả về mặt lý luận và trongthực tiễn áp dụng Trong bối cảnh hội nhập, với thực trạng của nền kinh tế thịtrường và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay thì vấn đề tài sảnthuộc quyền sở hữu của cá nhân ngày càng trở nên phức tạp và đa dạng, các vụkiện về tranh chấp thừa kế ngày càng gia tăng, phức tạp, tình hình kinh tế- xãhội có nhiều thay đổi, nên việc giải quyết các án kiện thừa kế trong đó việc xác
Trang 2định di sản thừa kế gặp nhiều khó khăn, có nhiều vụ án kéo dài nhiều năm hoặcqua nhiều cấp xét xử Vì vậy, vấn đề xác định di sản thừa kế và phân chia di sảnthừa kế cũng đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần giải quyết Các quyđịnh pháp luật hiện hành về thừa kế đã được xây dựng và không ngừng hoàn
thiện Trước tình hình đó, học viên chọn đề tài: " Xác định và phân chia di sản thừa kế theo pháp luật Việt Nam hiện nay".
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, vấn đề áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật trongtrong hoạt động giải quyết các vụ án về phân chia di sản thừa kế đã được giớikhoa học pháp lý và đặc biệt là những người làm công tác xét xử của ngành toà ánquan tâm Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề trên đây với những khía
cạnh và mức độ khác nhau: Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Lê Xuân Thân, Luận án tiến sĩ luật (2004); Cơ sở
lý luận và thực tiễn của những qui định chung về thừa kế trong Bộ luật Dân sự, Nguyễn Minh Tuấn, Luận án tiến sĩ luật (2006); Tiến trình phát triển pháp luật thừa kế Việt Nam trong 60 năm qua, Phùng Trung Tập, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2/2006; Một số vấn đề về thừa kế tiền gửi ngân hàng, Nguyễn Thanh, Tạp chí Ngân hàng, số 17/2006; Cần xác định nội dung cụm từ "những người có quyền thừa kế di sản của nhau" trong Điều 644 Bộ luật Dân sự, Phạm Văn Tuyết, Tạp chí Luật học, số 2/2005; Di sản thừa kế trong pháp luật dân sự một số nước trên thế giới, Trần Thị Nhuệ, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 10/2006; Quyền thừa kế trong luật dân sự La Mã cổ đại, Nguyễn Đình Huy, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 4/2001; Những điểm mới của các qui định về thừa kế trong Bộ luật Dân sự 2005, Lê Minh Hùng, Tạp chí Khoa học pháp lý, số
5/2006…
Các công trình khoa học được liệt kê trên đây đã đề cập đến việc áp dụngpháp luật về lĩnh vực thừa kế Tuy nhiên, từ thực tế, pháp luật về thừa kế phảiđược xây dựng và không ngừng được hoàn thiện cho phù hợp với quá trình xâydựng và phát triển toàn diện đất nước Hiện nay, những quy định về quyền thừa kế
đã chiếm một vị trí quan trọng với số lượng điều luật đáng kể có tính khái quát cao
và quy định tương đối đầy đủ, toàn diện về thừa kế trong Bộ luật Dân sự Nhưng kể
Trang 3từ khi Nhà nước ban hành Bộ luật Dân sự đầu tiên năm 1995 và Bộ luật Dân sựnăm 2005, thì những quy định của Bộ luật Dân sự về quyền thừa kế khi được Tòa
án các cấp áp dụng để giải quyết những tranh chấp về quyền thừa kế, nhưng vẫntồn tại không ít khó khăn, lúng túng vì trong Bộ luật Dân sự vẫn còn có những quyđịnh trong chế định thừa kế chưa thật sự phù hợp với thực tế của đời sống xã hội,nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập Vì vậy, Nhà nước đã banhành Bộ luật Dân sự năm 2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2017 Kể từ khi Bộ luật Dân sự năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24 tháng 11 năm
2015, chưa có một công trình nào nghiên cứu về xác định và phân chia di sản thừa
kế theo Bộ luật Dân sự năm 2015; vì vậy, đề tài của tiểu luận này mong muốnnghiên cứu về mặt cơ sở lý luận các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay vềviệc xác định di sản thừa kế và phân chia di sản thừa kế
3 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin
về Nhà nước và pháp luật, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật,pháp chế, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta hiện nay, quan điểmđổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp trong thời kỳ mới
Để làm rõ vấn đề này, tiểu luận đã sử dụng phương pháp nghiên cứu nhưphương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, logic và
hệ thống trong toàn bộ nội dung tiểu luận
Với tư cách là một bài tiểu luận, tác giả nghiên cứu một cách toàn diện
và có hệ thống những vấn đề cơ bản sau:
- Khái niệm di sản, khái niệm di sản thừa kế
- Xác định di sản thừa kế, ý nghĩa của việc xác định di sản thừa kế
- Phân chia di sản thừa kế
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
1 Khái niệm di sản thừa kế
1.1 Khái niệm về di sản
Trên phương diện Triết học, trong thế giới không ở đâu có tận cùng cả
bề rộng lẫn bề sâu, cũng như không ở đâu lại ngừng trệ, không biến đổi vàkhông có sự tiếp nối, kế thừa của các quá trình, của các sự vật và hiện tượng,trong đó có kế thừa tự nhiên và kế thừa chủ động Sự kế thừa, tiếp nối là biểuhiện của "cái" có trước và "cái" có sau; cái để lại từ thời trước, của xã hội trước,của người trước cho thời sau, cho đời sau và cho người sau đang tồn tại Đểchỉ những gì mà thời trước hay người trước để lại, người ta thường dùng hai từ
"di sản" Thuật ngữ "di sản" là một từ ghép Hán Việt được tách ra làm hai từ đểhiểu Trước hết "di" trong Từ điển tiếng Việt được hiểu ở các khía cạnh sau:
- "Di" biểu hiện sự chuyển động ra khỏi vị trí nhất định thông qua sự tácđộng nào đó lên một vật để lại dấu vết nhất định
- "Di" còn được hiểu là dời đi nơi khác, thoát khởi vị trí ban đầu, biểuhiện của sự chuyển động từ nơi này đến nơi khác, từ điểm này đến điểm khác trongkhông gian và thời gian (không gian là điều kiện căn bản của sự tồn tại của vậtchất, còn thời gian là điều kiện căn bản của sự biến đổi trạng thái của vật chất)
- "Di" với nghĩa khác là sự truyền lại, lưu lại, để lại cho đời sau, thế hệsau, người "đi" sau, như: "di bản", "di cảo" "Di" với nghĩa để lại lời dạy, lời căndặn của một người trước khi chết, như "di huấn", "di chúc" Với các nghĩa trênđây, "di" có thể hiểu một cách chung nhất là sự dịch chuyển sự vật, hiện tượnglàm thay đổi vị trí của chúng trong không gian và thời gian Sự thay đổi vị trícủa chúng bao giờ cũng thể hiện yếu tố "trước" và "sau" Nó có thể diễn ra trongmột thời gian ngắn hoặc trong một thời gian dài
Từ "sản" trong tiếng Việt được hiểu ở các khía cạnh sau:
- Sinh ra, làm ra, tạo ra sản phẩm để sinh sống;
- Cái do con người tạo ra là kết quả tự nhiên của quá trình lao động, sản xuất;
- Là từ dùng để chỉ gia tài, sản nghiệp mang tính tổng thể của những tàisản trong một khối
Trang 5Với các nghĩa trên đây, "sản" được hiểu một cách chung nhất là tài sảnhoặc khối tài sản nằm trong sự chiếm hữu và sử dụng để mang lại lợi ích chocon người
Từ "di" được ghép với từ "sản" thành "di sản" nhằm để chỉ của cải, giatài, sản nghiệp, cái mà thời trước để lại cho đời sau Trong từ điển tiếng Việt thì
"di sản" được hiểu với nghĩa là:
- Tài sản của người chết để lại
- Cái của thời trước để lại Ví dụ như di tích lịch sử, di vật lịch sử Hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa thông thường thì "di sản" là tài sản củangười chết để lại hoặc những cái mà thời trước để lại cho đời sau, bao gồm:
- Các giá trị vật chất là các tài sản đáp ứng nhu cầu nào đó của con người
- Các giá trị tinh thần thuộc về đời sống nội tâm, những tư duy, ý tưởng,
ý nghĩa định hướng cho hoạt động của con người Thuật ngữ "di sản" được dùngtrong rất nhiều lĩnh vực hoạt động của con người Chúng được dùng phổ biếnnhất là trong lĩnh vực văn hóa, kinh tế, khảo cổ học và đặc biệt là pháp luật
Theo Điều 612, Bộ luật Dân sự 2015, "Di sản bao gồm tài sản riêng củangười chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác"
Ta thấy phần khái niệm di sản có đề cập về tài sản, vậy tài sản là gì?Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản được quy định là:
"1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản
có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai"
Như vậy, dù có nhiều định nghĩa khác nhau về di sản, nhưng tựu chunglại, ta có thể khẳng định, di sản là:
- Phần tài sản riêng của người chết
- Phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác
- Trong đó, tài sản ở đây bao gồm cả các quyền tài sản của người chết để lại
1.2 Khái niệm về di sản thừa kế
Từ trước đến nay trong khoa học pháp lý của nước ta chưa có một khái niệmthống nhất, cụ thể về di sản thừa kế Xuất phát từ tầm quan trọng của di sản thừa kế
là yếu tố đầu tiên trong quan hệ thừa kế đã rút ra được khái niệm thừa kế trênphương diện pháp lý: "Di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp
Trang 6pháp của người chết khi còn sống để lại, là đối tượng của quan hệ dịch chuyển tàisản đó cho những người thừa kế được Nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện"
Tuy nhiên về di sản thừa kế có nhiều cách hiểu khác nhau, thậm chí ngaytrong pháp luật qua mỗi thời kì cũng quy định khác nhau Cùng với sự phát triểncủa nền kinh tế- xã hội của Việt Nam Với những chính sách đổi mới đất nước,phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đến nay thành phần, khối lượng giá trịtài sản thuộc sở hữu tư nhân- nguồn của di sản thừa kế cũng ngày một phongphú, nhiều hơn và lớn hơn Di sản thừa kế là tài sản thuộc quyền sở hữu củangười để lại di sản khi còn sống Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự
2015, tài sản được quy định là:
"1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản
có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai"
Trong đó, về tài sản theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005,
"Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản"
Như vậy, theo Bộ luật Dân sự năm 2015 thì thành phần di sản bao gồmcác loại tài sản khác nhau và không hạn chế về số lượng
Qua đó cho thấy, di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữuhợp pháp của người đã chết, quyền về tài sản người đó Quyền sở hữu tài sản làmột trong những quyền cơ bản của công dân được nhà nước bảo hộ "1 Mọingười có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệusinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổchức kinh tế khác 2 Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luậtbảo hộ " (Điều 32 Hiến pháp năm 2013)
Ý nghĩa của những quy định trong pháp luật dân sự về di sản thừa kế:
Xuất phát từ tầm quan trọng là đối tượng được dịch chuyển trong quan
hệ thừa kế, di sản thừa kế là yếu tố đầu tiên cần được xác định để xem xét cácyếu tố tiếp sau trong quan hệ để lại và nhận di sản thừa kế Pháp luật quy định disản thừa kế và việc dịch chuyển nó từ người chết sang cho những người cònsống khác là mang tính khách quan, đáp ứng được quyền lợi chính đáng của cácchủ thể trong quan hệ thừa kế, qua đó, thực hiện được các chức năng điều chỉnhcủa pháp luật, tạo điều kiện để các chủ thể xử sự theo yêu cầu của pháp luật và
Trang 7phù hợp với đạo đức xã hội Đặc biệt, nó tạo cơ sở pháp lý về các tiêu chí khixác định di sản thừa kế Theo từng trường hợp cụ thể, quy định của pháp luật về
di sản thừa kế cho phép xác định nguyên tắc, căn cứ để giải quyết các tranh chấp
về di sản thừa kế Quy định của pháp luật về di sản thừa kế được sử dụng ýnghĩa là cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế, nhằm để bảo vệquyền lợi hợp pháp cho các chủ thể trong quan hệ thừa kế Những quy định củapháp luật về di sản thừa kế góp phần điều tiết, ổn định các quan hệ tài sản tronggiao lưu dân sự Những quy định của pháp luật về di sản thừa kế là cơ sở quantrọng cho việc xác định các loại tài sản nào được để lại thừa kế, phạm vi đượcđịnh đoạt trong tài sản chung, quyền phân định di sản của người có di sản,quyền của người được hưởng di sản thừa kế Đó cũng là cơ sở pháp lý được ápdụng khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc thừa kế
1.3 Đặc điểm di sản thừa kế
Ta có thể thấy, di sản thừa kế có nhiều đặc điểm khác so với các loại tàisản khác Qua phần khái niệm di sản đã nêu ở trên, ta có thể khái quát đặc điểm
di sản thừa kế như sau:
- Di sản thừa kế không bao gồm nghĩa vụ tài sản của người chết để lại
mà chỉ bao gồm tài sản, các quyền tài sản được xác lập dựa trên căn cứ hợp pháp
mà người chết để lại cho những người hưởng thừa kế Nhưng nói vậy, không cónghĩa người hưởng thừa kế không chịu trách nhiệm gì về nghĩa vụ tài sản màngười chết để lại mà người hưởng thừa kế thực tế sẽ thực hiện nghĩa vụ tài sản
đó chỉ trong phạm vi tài sản thừa kế người chết để lại mà thôi
- Di sản do người chết để lại bao gồm cả nghĩa vụ mà người đó khi chết
đi chưa thực hiện thì chỉ được thực hiện trong phạm vi di sản thừa kế của người
đó để lại (1), vì đó là nghĩa vụ của bản thân người chết, không phải của ngườihưởng thừa kế từ di sản đó Trong trường hợp nghĩa vụ tài sản phải thực hiện
( 1) Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015: Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.
1 Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2 Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.
3 Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4 Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.
Trang 8lớn hơn hoặc bằng khối di sản người chết để lại, nói cách khác, sau khi sử dụnghết tài sản để thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết, ta coi như người chếtkhông để lại di sản thừa kế (không có di sản thừa kế).
- Những người hưởng thừa kế có quyền nhận hoặc từ chối nhận di sản củangười chết để lại (1) qua đó sẽ không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản của ngườicủa người chết để lại, trừ trường hợp người nhận thừa kế tự nguyện
- Quan hệ thừa kế chỉ phát sinh khi người để lại di sản bị chết Nói cáchkhác, di sản xuất hiện khi người chủ sở hữu di sản của nó chết Cái chết ở đâykhông chỉ là cái chết về mặt sinh học mà còn có thể là cái chết về mặt pháp lýđược quy định theo pháp luật (2)
- Người hưởng thừa kế có quyền thừa kế tài sản do người chết để lại,theo di chúc hoặc theo pháp luật Mối liên hệ phụ thuộc giữa sở hữu và thừa kế,trong đó tài sản được coi là di sản thừa kế khi nó thuộc quyền sở hữu hoặcquyền sử dụng hợp pháp của người để lại di sản
- Được pháp luật quy định về thời điểm mở thừa kế và địa điểm mở thừa
kế Từ đây nhằm xác định đâu là di sản thừa kế để tiến hành phân chia di sản.Điểm này chứng tỏ sự khác biệt với các loại tài sản thông thường trong quan hệgiao dịch dân sự
1.4 Đặc trưng của di sản thừa kế
Di sản thừa kế là một loại tài sản đặc biệt phát sinh trong quan hệ thừa
kế, thể hiện quyền định đoạt của người chết và quyền hưởng di sản của nhữngngười thừa kế Tuy nhiên, không phải tài sản nào cũng có thể trở thành di sảnthừa kế Và ngược lại, không phải di sản nào cũng là tài sản Vì vậy, những đặctrưng của nó sẽ giúp ta phân biệt được sự khác nhau giữa di sản thừa kế vànhững loại tài sản khác
( 1) Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015: Từ chối nhận di sản.
1 Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa
vụ tài sản của mình đối với người khác.
khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết.
3 Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản.
( 2) Điều 71, Bộ luật Dân sự 2015: Tuyên bố chết.
Khoản 2 Điều 72 Bộ luật Dân sự 2015: Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết "Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố là đã chết được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế".
Trang 9Đầu tiên, di sản thừa kế phải là tài sản của người chết, do người đó tích
lũy và có được một cách hợp pháp (theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015)
Thứ hai, di sản đó phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế, nếu không
thì sẽ coi như người chết không để lại di sản
Thứ ba, tài sản đó phải là tài sản được phép lưu thông dân sự Hay nói
cách khác, những tài sản đó phải là tài sản hợp pháp
2 Xác định di sản thừa kế và ý nghĩa của việc xác định di sản thừa kế
2.1 Xác định di sản thừa kế
Như đã trình bày ở phần trên, theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự2015: "Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chếttrong tài sản chung với người khác", thì di sản thừa kế được định nghĩa bao gồm:
- Tài sản riêng của người chết
- Phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác
- Các quyền về tài sản do người chết để lại
2.1.1 Di sản thừa kế là tài sản riêng của người chết
Tài sản riêng của người chết được hiểu là phần tài sản về phương diệnpháp lý không bị chối từ hay chịu một rằng buộc nào với chủ thể khác, được xácđịnh khi người đó còn sống là tài sản do người đó tạo ra bằng thu nhập hợp pháp(tiền lương, tiền được trả công lao động, tiền thưởng, tiền nhuận bút, tiền trúng
xổ số ) tài sản được tặng cho, được thừa kế, tư liệu sinh hoạt riêng (quần áo, xemáy, ô tô, ), nhà ở, tư liệu sản xuất các loại, vốn dùng để sản xuất kinh doanh
- Tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý được dùng làm đồ trang sức hoặcđược dùng làm của cải để dành
- Nhà ở, diện tích mà người đó có nhà bị cải tạo xã hội chủ nghĩa, đượcnhà nước để lại cho để ở và xác định là thuộc quyền sở hữu của người đó Nhà
do được thừa kế, tặng cho, mua, trao đổi hoặc tự xây dựng được các cơ quan nhànước có thẩm quyền cho phép và đã làm thủ tục sang tên, trước bạ
- Vốn, cổ phần, vật tư, tư liệu sản xuất của những người sản xuất cá thểhoặc của các tư nhân được sản xuất kinh doanh hợp pháp
- Tài liệu, dụng cụ máy móc của người làm công tác nghiên cứu
Trang 10- Cây cối mà người được giao sử dụng đất trồng và hưởng hoa lợi trênđất đó.
Đó là những tài sản mà khi người đó còn sống có quyền sở hữu tài sảncủa mình một cách độc lập và tự mình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sảntheo ý chí của riêng mình mà không bị phụ thuộc vào ý chí của người khác vàchỉ tuân theo pháp luật
Trong quan hệ vợ chồng, tài sản riêng của vợ hoặc chồng được xác địnhcăn cứ vào các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình (Điều 43, Điều 44Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014)
Tài sản riêng của vợ hoặc chồng được xác định là tài sản có trước thời
kỳ hôn nhân hoặc có trong thời kỳ hôn nhân nhưng do được tặng cho riêng,được thừa kế riêng mà người có tài sản riêng đó không định đoạt ý chí nhậpvào khối tài sản chung của vợ chồng thì tài sản đó vẫn thuộc quyền sở hữuriêng của vợ hoặc của chồng Tài sản riêng của người vợ hoặc của ngườichồng còn xác định được, trường hợp vợ, chồng thỏa thuận bằng văn bản tàisản chung hoặc yêu cầu tòa án chia khi có lý do chính đáng thì phần tài sảncủa vợ hoặc chồng được chia là tài sản riêng của mỗi người Những tài sảnchung của vợ chồng không chia thì vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng.Những tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp là tàisản chung của vợ chồng Tuy nhiên khi xác định tài sản chung và tài sản riêngcủa người vợ hoặc của người chồng, cần thiết phải phân biệt những trườnghợp cụ thể sau đây
Thứ nhất: Vợ chồng đã chia tài sản chung theo các căn cứ hợp pháp thì
phần tài sản được chia của mỗi người là tài sản riêng, việc khai thác tài sản đóthuộc sở hữu của riêng chủ sở hữu là vợ hoặc chồng, theo đó các khoản thuđược từ tài sản riêng đó là tài sản riêng
Thứ hai: Trước thời kỳ hôn nhân, vợ hoặc chồng có tài sản riêng là tư
liệu sản xuất, sau khi kết hôn, tài sản đó không được nhập vào tài sản chung của
vợ chồng thì vẫn là tài sản riêng của người chồng hoặc của người vợ có tài sản
đó Nhưng tài sản riêng của người chồng hoặc của người vợ được khai thác và
Trang 11thu được những lợi ích nhất định thì các khoản lợi có được từ việc khai thác tàisản riêng đó là của chung vợ chồng.
2.1.2 Di sản thừa kế là phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác
Phần tài sản này có thể là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng hoặc là sởhữu chung theo phần của nhiều người dựa vào cách thức và căn cứ xác lập nêncác hình thức sở hữu chung đó
- Tài sản của người chết trong khối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng:Trong xã hội hiện đại, nam nữ kết hôn trên cơ sở tình chân chính, bình đẳng, tựnguyện Cuộc sống chung dẫn đến việc vợ chồng phải cùng chung sức, chung ýchí tạo dựng nên khối tài sản phục vụ cuộc sống gia đình Bởi vậy, việc hìnhthành khối tài sản chung là một tất yếu của thực tế đời sống vợ chồng Tài sảnchung của vợ chồng bao gồm: "Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ,chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợitức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân;tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sảnkhác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng
có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặcchồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giaodịch bằng tài sản riêng" (Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014)
Theo quy định này, ta thấy có hai căn cứ để xác định khối tài sản chungcủa vợ chồng:
- Căn cứ pháp lý: Căn cứ pháp lý để xác định khối tài sản chung của vợchồng là sự ra đời và tồn tại của quan hệ vợ chồng
Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Những tài sản do vợ hoặc chồngtạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tứcphát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong "thời kỳ hôn nhân"được coi là tài sản chung của vợ chồng
- Căn cứ vào nguồn gốc tài sản: Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và giađình năm 2014 thì tài sản chung của vợ chồng gồm: "Tài sản chung của vợchồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản
Trang 12xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp phápkhác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặcđược tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của
vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng choriêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng" Thời kỳ hôn nhân làthời gian quan hệ vợ chồng tồn tại trước pháp luật Như vậy, tất cả các thu nhập
mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân cùng với các tài sản mà vợ hoặcchồng đó có được trước đây nhưng đã nhập chung vào khối tài sản đó đều làkhối tài sản chung hợp nhất của vợ chồng Vợ chồng cùng nhau tạo lập, pháttriển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người, có quyền ngang nhautrong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Luật Hôn nhân và giađình năm 2014, tại Điều 66 quy định về việc "Giải quyết tài sản của vợ chồngtrong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết
2 Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng đượcchia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản Phần tài sảncủa vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy địnhcủa pháp luật về thừa kế
"
Vì vậy, khi một bên chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết, mộtnửa khối tài sản chung đó là tài sản của người chết và được chuyển cho ngườithừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật về thừa kế Ngoài ra, theokhoản 1 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: "Vợ, chồng cóquyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc khôngnhập tài sản riêng vào tài sản chung" Như vậy, tài sản của riêng mình thì vợhoặc chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt nó Do đó, nếu một bên vợhoặc chồng chết trước thì di sản của người chết là một nửa tài sản chung cộngvới tài sản riêng của người ấy
Ngoài trường hợp tài sản là sở hữu chung hợp nhất của hai vợ chồng,trong trường hợp người con dâu, con rể tham gia lao động chung trong gia đình
Trang 13của bố mẹ chồng hay bố mẹ vợ góp phần xây dựng khối tài sản bằng sức laođộng của họ trong gia đình mà họ làm dâu hay ở rể, thì khi xác định di sản của
bố mẹ chồng, hay bố mẹ vợ còn phải coi khối tài sản của gia đình là tài sảnthuộc sở hữu chung và người con dâu hay con rể là đồng chủ sở hữu đối vớikhối tài sản chung đó Ngoài việc được hưởng công sức đóng góp trong việc duytrì cho sự tồn tại và làm tăng tài sản thì người con dâu hay con rể đó được hưởngphần tài sản của mình trong khối tài sản chung hiện có với tư cách là một đồngchủ sở hữu Bởi vậy, nếu người con dâu hay con rể mà cũng ở chung với bố mẹchồng hay bố mẹ vợ thì khi người con dâu hay con rể chết, khối tài sản trong giađình bố mẹ chồng hay bố mẹ vợ được coi là sở hữu chung theo phần xác định tàisản của họ được bao nhiêu trong khối tài sản của gia đình thì đó chính là di sảncủa người chết
- Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung theo phần: Nếu tàisản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung hợp nhất, trongkhối tài sản đó không thể phân định được phần của mỗi người trong khối tài sản
đó là bao nhiêu hay bao gồm những tài sản gì thì "sở hữu chung theo phần là sởhữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác địnhđối với tài sản chung" (Khoản 1 Điều 209 Bộ luật Dân sự 2015)
Thực tế cho thấy có rất nhiều trường hợp do nhiều người cùng góp vốn
để cùng sản xuất kinh doanh, nên có khối tài sản thuộc sở hữu chung của nhiềungười (đồng chủ sở hữu với một khối tài sản nhất định) Vấn đề đặt ra là phảixác định được giới hạn của quyền sở hữu đó do người chết để lại đến đâu để xácđịnh phạm vi di sản của người đó làm căn cứ xác định di sản thừa kế của họ.Dựa vào căn cứ xác lập quyền sở hữu chung theo phần, nếu xác định được mộtcách rạch ròi công sức đóng góp hay tiền của bỏ ra để tạo nên khối tài sản chungthì quyền sở hữu của một người đối với khối tài sản sẽ tương đương với phầncông sức hay phần giá trị mà họ đã bỏ ra Và phần tài sản thuộc sở hữu củangười đó là di sản thừa kế khi họ chết
Ví dụ: Anh Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Quang H và chị Bùi Thị C cùngmua chung một căn nhà có trị giá 1.800.000.000 đồng, mỗi người góp
Trang 14600.000.000 đồng để mua Sau đó anh Nguyễn Văn B không may bị tai nạn chếtthì 1/3 giá trị ngôi nhà đó là di sản thừa kế của anh Nguyễn Văn B.
2.1.3 Di sản thừa kế là quyền tài sản do người chết để lại
* Các quyền tài sản do người chết để lại
Đối với các quyền tài sản do người chết để lại, Bộ luật Dân sự quy địnhnhững người thừa kế có các quyền tài sản do người chết để lại kể từ thời điểm
mở thừa kế
Khi còn sống người để lại di sản thừa kế tham gia vào các giao dịch dân
sự như mua bán, cho vay nhưng người mua chưa trả hết tiền hoặc người vaychưa trả hết nợ; người gây thiệt hại theo hợp đồng, ngoài hợp đồng chưa bồithường được; người đi thuê, mượn tài sản chưa trả lại tài sản; những tài sảntrong hợp đồng cầm cố, thế chấp chưa chuộc lại Những người thừa kế cóquyền yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ tài sản Có nghĩa là những ngườithừa kế có quyền hưởng những quyền về tài sản do người chết để lại Các quyềntài sản này được gọi là tài sản theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015.Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong quan
hệ dân sự như quyền đòi những món nợ do người để lại di sản chưa kịp nhận củangười mang nghĩa vụ trong quan hệ hợp đồng mua bán, cho vay; quyền đòi lạitài sản cho thuê, cho mượn, chuộc lại tài sản cầm cố, thế chấp, quyền bồi thườngthiệt hại do vi phạm hợp đồng, ngoài hợp đồng
- Quyền được nhận tiền bảo hiểm: Khi còn sống, người để lại di sản thừa
kế có ký kết những hợp đồng bảo hiểm thì những người thừa kế của họ có quyềnyêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng bảo hiểm đã ký kết
và tất nhiên là không vượt quá mức thỏa thuận hoặc pháp luật quy định
- Quyền nhận tiền công lao động, tiền nhuận bút, tiền hưu trí, tiền trợcấp, tiền đoạt giải các cuộc thi, tiền chi phí cho việc thực hiện không có ủyquyền… mà người chết chưa kịp nhận
- Khi tác giả của các tác phẩm văn học, nghệ thuật công trình khoa học,các đối tượng sở hữu công nghiệp chết thì những người thừa kế của tác giả đó cóquyền được hưởng các quyền tài sản liên quan đến các tác phẩm công trình khoahọc, đối tượng sở hữu công nghiệp Khi chủ sở hữu tác phẩm, đối tượng sở hữu
Trang 15công nghiệp, mà sử dụng vào sản xuất kinh doanh thì phải trả cho những ngườithừa kế của tác giả một số tiền nhất định theo quy định của pháp luật Số tiềnnày là di sản thừa kế mà người chết để lại Còn các tác phẩm, đối tượng sở hữucông nghiệp này là di sản thừa kế được chuyển cho người thừa kế Người thừa
kế có quyền sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng cho người khác hoặc định đoạtquyền sở hữu của mình Người thừa kế tài sản của chủ sở hữu có quyền thừa kếtheo quy định của pháp luật trừ các quyền nhân thân thuộc quyền của tác giả
* Các quyền tài sản không là di sản thừa kế
Tuy nhiên, những quyền tài sản trong tương lai nhưng lại gắn liền vớinhân thân của người chết thì không phải là di sản Đó là: Tiền lương hưu, tiềntrợ cấp thương tật, tiền tử tuất, tiền cấp dưỡng Những quyền tài sản này khôngphải là di sản thừa kế
- Tiền lương hưu là tiền bảo hiểm xã hội được Nhà nước trả cho nhữngngười làm việc trong các cơ quan Nhà nước, các tổ chức mà người đó hưởnglương từ ngân sách của Nhà nước, hoặc những người đó làm việc trong cácdoanh nghiệp đóng tiền bảo hiểm xã hội cho người đó theo đúng thời gian và
số tiền quy định Khi người lao động không làm việc nữa (hết tuổi lao động)được Nhà nước trả tiền bảo hiểm xã hội bằng lương hưu cho chính họ, có vậymới bảo đảm thu nhập ổn định về lâu dài cho cuộc sống của họ đến khi họchết Khi người được Nhà nước cho hưởng lương hưu chết, thì Nhà nước chấmdứt nghĩa vụ đối với người đó mà không thể chia phần lương này cho nhữngngười thừa kế
- Tiền cấp dưỡng: Trong trường hợp vợ chồng ly hôn, người vợ hoặcngười chồng phải cấp dưỡng cho nhau hoặc phải cấp dưỡng nuôi con hàngtháng Số tiền này chỉ những người này mới được hưởng Bởi vậy khi ngườiđược cấp dưỡng chết thì số tiền cấp dưỡng đó là không thể chuyển dịch chongười khác như di sản thừa kế
- Tiền được trợ cấp: Người bị thương phục vụ trong chiến tranh, người bịthương tật do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phát sinh từ quá trình làm việc
ở một nghề nào đó, thì hàng tháng Nhà nước trợ cấp cho họ số tiền nhất định để
hỗ trợ thêm người đó trong việc chữa bệnh và khắc phục khó khăn về suy giảm
Trang 16sức lao động nói riêng và sức khỏe nói chung thì khi người được hưởng trợ cấp
đó chết thì không thể chuyển dịch tiền trợ cấp cho người được thừa kế
- Tiền tử tuất: Là tiền trợ cấp cho nhân thân gia đình liệt sĩ, người laođộng đang tham gia quan hệ lao động cũng như những người lao động đó chấmdứt quan hệ lao động nhưng đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội mà bị chết.Tùy theo nguyên nhân họ bị chết mà họ hưởng chế độ hàng tháng hay chế độtuất một lần cho nên tiền tử tuất không phải là di sản thừa kế
- Trong cuộc sống xã hội có nhiều lĩnh vực mà con người tham gia hoạtđộng Cho dù là lĩnh vực nào khi một người có những đóng góp, cống hiến, cónhững thành tích đáng kể cho việc bảo vệ và xây dựng đất nước đều được Nhànước ghi nhận và tặng thưởng Huân chương, Huy chương, Bằng khen Đó làhình thức biển hiện quyền nhân thân gắn liền với người được tặng thưởng, khingười đó chết cũng không phải là di sản thừa kế
* Di sản thừa kế là quyền sử dụng đất.
Theo Điều 612, Bộ luật Dân sự 2015, "Di sản bao gồm tài sản riêng củangười chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác"
Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản được quy định là:
"1 Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
2 Tài sản bao gồm bất động sản và động sản Bất động sản và động sản
có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai"
Quyền sử dụng đất là một quyền tài sản đặc biệt Theo Điều 53 Hiến pháp
2013 quy định: "Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùngbiển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư,quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu vàthống nhất quản lý" Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước giao cho tổ chức, cánhân sử dụng lâu dài, tổ chức, cá nhân có quyền chuyển quyền sử dụng đất đượcNhà nước giao theo quy định của pháp luật Như vậy, bản thân đất đai không trởthành di sản thừa kế, vì cá nhân không có quyền sở hữu mà chỉ có quyền sử dụng.Khi không có nhu cầu sử dụng cá nhân được phép chuyển nhượng quyền sử dụng
đó Quyền sử dụng này là một quyền tài sản đặc biệt của cá nhân, do vậy, cá nhân
có thể để lại cho người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật quy định Nhưng vì
Trang 17đây là một loại tài sản đặc biệt nên theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai năm
2013 thì người sử dụng đất chỉ được thực hiện quyền thừa kế khi có những điềukiện như: có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất không có tranh chấp,quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo cho thi hành án và trong thờihạn sử dụng đất Bộ luật Dân sự chỉ quy định về di sản thừa kế nói chung còn disản là quyền sử dụng đất được quy định cụ thể trong Luật đất đai năm 2013
2.2 Ý nghĩa của việc xác định di sản thừa kế
2.2.1 Bảo đảm quyền lợi của người được thừa kế
Có thể nói quyền thừa kế là quyền năng cụ thể của công dân trong việc
để lại di sản và nhận di sản thừa kế Nó là kết quả tất yếu của những quyền năngtrong quyền sở hữu Vì thông qua việc thừa kế di sản những người thừa kế trởthành chủ sở hữu đối với tài sản Điều 234 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
"Người thừa kế được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thừa kế theo quy địnhtại Phần thứ tư của Bộ luật này" (tức Bộ luật Dân sự) Song, vấn đề cần quantâm là người thừa kế có được sở hữu toàn vẹn phần di sản mà người chết để lạihay không? Điều này phụ thuộc rất nhiều vào việc xác định di sản thừa kế mộtcách đầy đủ và chính xác Khi đó xác định được di sản của người để lại di sản làđảm bảo quyền lợi, thành quả lao động và những tài sản thuộc quyền sở hữu hợppháp của họ; đảm bảo và tôn trọng được quyền định đoạt di sản của người chếtcũng như ý nguyện cuối cùng của họ là tài sản đó được chuyển sang cho nhữngngười thừa kế mà họ mong muốn Đồng thời đáp ứng ngay được nhu cầu chia disản thừa kế của những người thừa kế Và nếu như di sản thừa kế chưa xác địnhđược do bị tranh chấp, do ở nhiều nơi chưa xác định được toàn bộ khối di sản, bịngười khác chiếm hữu bất hợp pháp… thì vấn đề chia di sản chưa thể đặt ratrong khi những người thừa kế có nhu cầu rất khẩn thiết chẳng hạn như để chữabệnh cho con, để khắc phục rủi ro do bị tai nạn, thiên tai, lũ lụt… Nhưng điềuquan trọng hơn của việc xác định di sản thừa kế là bảo đảm khả năng tốt nhấtcho những người thừa kế được hưởng đúng phần di sản của người quá cố theo
sự định đoạt trong di chúc của người này hoặc theo quy định của pháp luật Vìkhi nói đến việc xác định di sản là hàm chứa yếu tố "đầy đủ" và "chính xác".Trên thực tế, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc xác định di sản thiếu chính
Trang 18xác Có thể xác định không hết khối di sản, xác định thiếu cơ sở pháp lý, nhiềukhi còn xác định sang cả tài sản thuộc sở hữu của người khác xảy ra tranh chấpgây không ít khó khăn phức tạp cho những bước tiếp theo sau việc xác định disản… Dù cho là xuất phát từ nguyên nhân nào cũng ảnh hưởng đến quyền lợicủa người thừa kế Việc xác định di sản thừa kế không đúng có thể cũng làm ảnhhưởng trực tiếp đến lợi ích tinh thần của những người thừa kế dẫn đến sự tranhchấp gây bất hòa cho những quan hệ nằm trong một chuỗi thế hệ liên tiếp nhaucủa gia đình Thông qua các quan hệ đó gia đình được mô tả như một thực thểbiểu hiện được diện mạo của gia đình về lối sống, luân lý đạo đức Nếu trong giađình không giữ được hòa thuận về thứ bậc "kính trên, nhường dưới", không cótình yêu thương đùm bọc, luôn mâu thuẫn, đố kỵ, hằn học và có khi chỉ vì mộtchút vật chất mà họ xử sự với nhau như những kẻ bất lương… Thiết nghĩ đócũng là một trong những nguyên nhân làm tổn hại đến truyền thống đạo đức củagia đình người Việt Nam đã có từ ngàn xưa; và cũng là sự tổn hại đến cả nềnvăn hóa Việt Nam mà gia đình không bao giờ bị tách biệt khỏi một nền văn hóa
đã có từ lâu đời của dân tộc Trong quan hệ giữa các thành viên của gia đình lốiứng xử theo đạo hiếu, theo tâm, theo nghĩa vẫn được giữ vững và phát huy giữanhững người ruột thịt với nhau Tinh thần này lại cần được giữ vững khi có mộtngười trong gia đình nằm xuống và vấn đề thừa kế được đặt ra
2.2.2 Bảo đảm quyền lợi của những người khác
Việc xác định đúng di sản thừa kế không chỉ có ý nghĩa đảm bảo quyềnlợi cho những người thừa kế, mà cũng bảo đảm quyền lợi cho những ngườikhác Trong thực tế chúng ta thấy rằng, di sản thừa kế của một người trongnhiều trường hợp cũng có liên quan đến tài sản của người khác Vì vậy, việc xácđịnh di sản thừa kế không chính xác hoặc không đầy đủ có thể sẽ xâm phạm đếnquyền sở hữu hợp pháp của người khác Ngoài ra việc xác định di sản thừa kếkhông chính xác hoặc không đầy đủ, thì những người thừa kế bị thiệt thòi,không những không được hưởng mà cũng không có điều kiện để thực hiện nghĩa
vụ mà người để lại di sản thừa kế phải thực hiện với chủ nợ của người đó
2.2.3 Tăng cường tinh thần trách nhiệm của các chủ thể tham gia quan
hệ thừa kế