Do đó các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả sức lao động của cán bộ công nhân viên để tiết kiệm chi phí tiền lương trong tổng chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp..
Trang 1NG – TH
ÂN ĐẠI
GVHD : SVTH : MSSV : LỚP : KHÓA :
MINH – T
TỐT N
ỀN LƯ ÍCH T
H NHIỆ HƯƠN
I NAM
Th.S TRẦ NGUYỄN
NĂM 2004
IỆP
G LƯƠN HỮU H
ẠI
UYÊN TẤN
4
NG HẠN
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh
tế , cùng với sự đổi mới của nền kinh tế, kế toán trong các doanh nghiệp ở nước ta không ngừng được hoàn thiện và phát triển, góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng quản lý kinh tế, tài chính của nhà nước và doanh nghiệp. Chúng ta cũng biết bất kỳ một sản phẩm nào khi được hoàn thành và đưa đi tiêu thụ đều do nhiều yếu tố cấu thành và công sức của người lao động là một trong những yếu tố quan trọng nhất để biến một vật tự nhiên thành những sản phẩm tiêu dùng nhằm phục vụ mọi nhu cầu cần thiết cho xã hội.
Muốn tạo ra nhiều sản phẩm tốt, đủ tiêu chẩn đáp ứng trong
thị trường hiện nay, người lao động không những tích cực lao động mà còn phải nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn, để bắt kịp với trình độ thăng tiến của nền công nghiệp hiện đại, góp pần thực hiện thắng lợi theo phương hướng mục tiêu chiến lược hàng đầu là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Với mọi cố gắng và nổ lực của người lao động dù bằng tay chân
hay bằng khối óc họ đều có chung một mục đích là tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Nhưng để có điều kiện sinh sống, tái sản xuất, người lao động cần có một sự
bù đắp tương xứng với sức lao động của mình bỏ ra và người chủ lao động phải trả khoản này (ta gọi đó là tiền lương). Làm thế nào có thể trả lương cho người lao động một cách đúng đắn, chính xác, đầy đủ, kịp thời nhất, không có một công cụ nào hiện đại hơn là kế toán mà cụ thể là kế toán tiền lương. Do đó kế toán tiền lương là một trong những đòn bẩy quan trọng góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển và kích thích tinh thần học hỏi, nâng cao trình độ, sáng tạo trong công việc của người lao động.
Vì vậy kế toán tiền lương là một trong công tác quan trọng đối
với kế toán, việc tính chính xác, kịp thời, hợp lý tiền lương của người lao động đồng thời có những sáng tạo trong hoạt động thưởng, phạt sẽ góp phần không nhỏ vào việc tạo nhiệt tình trong công việc của người lao động.
Trang 3Mặt khác quỹ lương cũng là một bộ phận của giá thành sản phẩm nên việc tính chính
xác kịp thời làm cho công tác tính giá thành
được chính xác và dễ dàng, việc quản lý chặt chẽ tiền lương phải trả công nhân viên là góp phần quản lý giá thành
doanh nghiệp nào có mức thu nhập cao và ổn định thì có sức thu hút được nhiều lao động
có trình độ học vấn và trình độ tay nghề cao Chính vì vậy trong quá trình thực tập em
chọn đề tài “Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương” để làm khóa luận tốt
để khóa luận được hoàn thiện tốt hơn.
Trang 4CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN TIỀN LƯƠNG
VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG
1.1.1.2. Ý nghĩa tiền lương và các khoản trích theo lương:
Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động. Nó thường đươc sử dụng
để khuyến khích tinh thần tích cực lao động, là nhân tố thúc đẩy để tăng năng suất lao động. Đối với các doanh nghiệp tiền lương phải trả cho người lao động là một bộ phận chi phí cấu th ành nên giá trịcủa loại sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sáng tạo ra. Do đó các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả sức lao động của cán bộ công nhân viên để tiết kiệm chi phí tiền lương trong tổng chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Quản lý tốt lao động và tiền lương là một trong những yêu cầu của công tác quản lý sản xuất kinh doanh., là nhân tố giúp cho doanh nghiệp hoàn thành sản xuất vượt mức kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình. Tổ chức hạch toán tốt lao động, tiền lương giúp cho công tác quản lý lao động của doanh nghiệp vào nề nếp, thúc đẩy người lao động chấp hành tốt kỷ luật lao động. Đồng thời tạo cơ sở cho việc tính và trả lương theo đúng nguyên tắc phân phối theo lao động.
Các khoản trích theo lương hiện nay gồm: Bảo hiểm xã hội; Bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn. Trong đó Bảo hiểm xã hội là một quỹ dùng để trợ cấp cho người lao động có tham gia đóng bảo hiểm xã hội trong các trường hợp họ bị mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí mất sức. Bảo hiểm y tế là quỹ dùng để đài thọ người lao động có tham gia đóng bảo hiểm y tế trong các trường hợp khám, chữa bệnh. Kinh phí công đoàn là một quỹ dùng để tài trợ cho hoạt động của công đoàn.
1.1.2. Nội dung quỹ tiền lương:
Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương của doanh nghiệp dùng để trả cho tất cả các loại lao động thuộc doanh nghiệp quản lý và sử dụng. Thành phần quỹ
lương của doanh nghiệp bao gồm các khoản: Tiền lương trả cho người lao động theo
thời gian làm việc, tiền lương trả cho người lao động theo số lượng lao động hay công việc hoàn thành; tiền luơng trả cho người lao động trong thời gian ngưng việc vì mưa, bão, lũ lụt, thiếu nguyên vật liệu … hoặc nghỉ phép theo quy định hoặc đi học. Các
khoản phụ cấp (thường xuyên) được tính vào lương như phụ cấp thâm niên, làm đêm, thêm giờ … quỹ tiền lương thường đuợc chia thành hai loại theo mối quan hệ với quá trình sản xuất kinh doanh.
Trang 5‐Tiền lương phụ: là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian nghỉ việc theo
quy định nhà nước như nghỉ lễ, nghỉ phép … hoặc nghỉ vì những lý do bất thuờng khác không phải do công nhân viên gây ra như thiếu nguyên vật liệu, máy hỏng …
Về nguyên tắc quỹ lương phải được quản lý chặt chẽ và chi tiêu đúng mục đích, gắn với kết quả sản xuất kinh doanh trên cơ sở các định mức lao động và đơn giá tiền lương hợp lý được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
‐ Đối với doanh nghiệp kinh doanh chưa có lãi, chưa bảo toàn vốn thì tổng quỹ tiền lương doanh nghiệp không được phép trích và chi không vượt quá tiền lương cơ
bản tính theo:
+ Số lượng lao động thực tế tham gia quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: lao động trong biên chế; hợp đồng ngắn hạn; dài hạn; lao động thời vụ
+ Hệ số và mức lương cấp bậc, lương theo hợp đồng, hệ số và mức phụ cấp lương theo quy định của nhà nước.
-Đối với các doanh nghiệp kinh doanh có lãi, đạt tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước
cao, đóng góp cho ngân sách nhà nước lớn thì được phép trích và chi quỹ tiền lương tương xứng với hiệu quả doanh nghiệp nhưng phải đảm bảo các điều kiện:
+ Bảo quản toàn vốn và không xin giảm khấu hao hoặc xin giảm các khoản phải nộp ngân sách nhà nước
+ Tốc độ tăng của quỹ tiền lương phải thấp hơn tốc độ tăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nuớc tính theo số trung bình cộng ở 2 thời điểm 1‐1 và ngày 31‐12 cùng năm
1.1.3. Nội dung quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và công phí công đoàn:
Theo chế độ hiện hành, quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành bằng cách tính theo tỷ
lệ 20% trên tổng quỹ tiền lương cấp bậc và các phụ cấp thường xuyên của người lao động trong từng tời kỳ kế toán. Người sử dụng lao động phải nộp 15% trên tổng tiền lương và đựơc tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. Người lao động 5% trên tổng quỹ lương bằng cách trừ vào thu nhập của họ. Hàng tháng (chậm nhất là ngày cuối tháng) đồng thời với việc trả lương, đơn vị sử dụng lao động phải nộp đủ 20% trên tổng quỹ lương cho cơ quan bảo hiểm xã hội. Khi phát sinh các trường hợp được hưởng chế độ phụ cấp bảo hiểm xã hội thì người lao động phải lập hồ sơ và tách ra khoản phải trợ cấp theo đúng quy định hàng quý lập bảng tổng hợp những ngày nghỉ hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội theo từng chế độ
Trang 6Cuối mỗi quý , đơn vị sử dụng lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội tiến hành đối chiếu danh sách trả lương và quỹ tiền lương để lập bảng xác nhập số nộp bảo hiểm xã hội. Nếu có chênh lệch giữa số đã nộp với số phải nộp thì phải nộp tiếp trong quý sau và sẽ được quyết toán trong năm.
Quỹ bảo hiểm y tế được hình thành bằng cách tính theo tỉ lệ 3% trên số thu nhập tạm tính của người lao động, trong đó người sử dụng lao động phải chịu 2% và được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh. Người lao động phải chịu 1% bằng cách trừ vào thu nhập của họ. Quỹ bảo hiểm y tế do cơ sở bảo hiểm y tế thống nhất quản lý và trợ cấp cho người lao độngthông qua mạng lưới y tế nên các doanh nghiệp phải nộp toàn bộ 3% cho cơ quan bảo hiểm y tế.
Kinh phí công đoàn được hình thành bằng cách tính theo tỷ lệ 2% trong tổng tiền lương phải trả cho người lao động và được tính hết vào chi phí sản xuất kinh doanh. Thông thường doanh nghiệp phải nộp một nửa kinh phí công đoàn (1%) cho công đoàn cấp trên, phần còn lại (1%) để chi tiêu cho hoạt động của công đoàn cơ sở tại đơn vị.
1.1.4. Nhiệm vụ của kế toán :
‐ Tổ chức ghi chép, phản ảnh, tổng hợp số liệu về số lượng lao động, thời gian lao động
và kết quả lao động. tính lương, các khoản phụ cấp trợ cấp phải trả cho công nhân
viên, phân bổ chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương đúng đối tượng sử dụng lao động.
hạch toán phân xưởng, các phòng ban thực
hiện đầy đủ các chứng từ ghi chép ban đầu
về lao động và tiền lương, mở sổ sách cần
thiết và hạch toán nghiệp vụ lao động tiền
lương đúng chế độ, phương pháp
‐ Lập báo cáo về lao động tiền lương.
‐ Phân tích tình hình quản lý lao động, sử dụng thời gian lao động, quỹ tiền lương và năng suất lao động.
1.2. CÁC HÌNH THỨC TIỀN LƯƠNG:
Hiện nay, việc tính trả lương cho người lao động trong các doanh nghiệp được itến
hành theo 2 hình thức chủ yếu: Tiền lương tính theo thời gian và tiền lương tính theo sản phẩm.
1.2.1 Hình thức tiền lương và tính theo thời gian:
Theo hình thức này, tiền lương phải trả cho người lao động được tính theo thời gian làm việc, cấp bậc và thang lương của từng người theo tiêu chuẩn quy định của nhà nứơc
Tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của doanh nghiệp việc tính trả lương theo thời gian có thể tiến hành trả lương theo thời gian giản đơn hoặc trả lương theo thời gian có thưởng.
‐Hình thức trả lương theo thời gian giản đơn:
Trang 7
1.2.2. Hình thức trả lương theo sản phẩm
Theo hình thức này, tiền lương phải trả
cho người lao động được tính theo số lượng,
chất lượng sản phẩm, công việc hay lao vụ đã hoàn thành và đơn giá trả lương cho các sản phẩm, công việc và lao vụ đó
Trong việc trả lương theo sản phẩm, vấn đề quan trọng là phải xây dựng các định mức kinh tế – kỹ thuật hợp lý để làm cơ sở cho việc xác định đơn giá trả lương đối với từng loại sản phẩm, công việc một cách đúng đắn.
Tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của doanh nghiệp việc tính trả lương theo sản phẩm có thể tiến hành theo các hình thức sau đây:
Trang 8Thời gian tính lương, tính thưởng và các khoản khác phải trả cho người lao động là tính theo tháng trên cơ sở các chứng từ hạch toán thời gian; kết quả lao động và các chứng từ khác có liên quan như: bảng chấm công, phiếu nghỉ hưởng BHXH, phiếu xác nhận sản phẩm và công việc hoàn thành, phiếu báo làm thêm giờ, hợp đồng giao khoán, biên bản công ngừng việc …
Tất các các chứng từ trên phải được lập theo đúng chế độ kế toán phải kiểm tra trước khi tính các khoản phải trả cho cán bộ cộng nhân viên .
Sau khi kiểm tra các chứng từ có liên quan kế toán tiến hành tính lương tính thưởng, tính các khoản trợ cấp phải trả cho công nhân viên theo hình thức trả lương, trả thưởng đang áp dụng tại doanh nghiệp và lập bảng thanh toán tiền lương, bảng thanh toán tiền thưởng , bảng thanh toán BHXH
Số dư bên có:
‐ Các khoản tiền lương, tiền thưởng và các khoản khác còn phải trả cho bảo hiểm xã hội.
1.3.3. Định khoản các nghiệp vụ kinh tế phát sinh:
‐ Cuối tháng căn cứ vào các chứng từ tính lương, tính thưởng phải trả, bảng thanh toán tiền lương, tiền thưởng, kế toán lập bảng, phân bổ tiền lương, tiền thưởng theo lương vào chi phí sản xuất kinh doanh theo đúng các đối tượng tập hợp chi phí, ghi:
Trang 9627 141,338
111 (112)
141,338
Khấu trừ vào lương khoản tạm ứng chưa thanh toán, khoản BHXH, HYYT CNV phải
chịu
Tiền lương phải trả nhân viên bán hàng, nhân viên QLDN
338
Tiền lương nghỉ phép phải trả cho công nhân sản xuất
Tiền lương phải trả nhân viên phân xưởng
BHXH phải trả cho Công nhân viên
Khấu trừ vào lương khoản phải thu
có tính chất bồi thường hay thuế thu nhập của cá nhân
622
338
642, 641
Trang 101.4 KẾ TOÁN QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ VÀ KINH PHÍ CÔNG ĐOÀN:
1.4.1 Chứng từ và thủ tục kế toán
Chứng từ kế toán được làm căn cứ để tính các khoản trợ cấp BHXH trả thay lương theo chế độ quy định đối với các trường hợp nghỉ việc do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, nghỉ trong con ốm của người lao động là “Phiếu nghỉ hưởng BHXH” Mỗi lần người lao động đến khám bệnh ở bệnh viện, trạm xá hoặc y tế cơ quan, (kể cả khám cho con) bác sỉ thấy cần thiết phải cho nghỉ để điều trị hoặc để trông con ốm theo quy định thì lập phiếu này hoặc ghi số ngày cho nghỉ vào y bạ của người lao động (hoặc của con) để y tế
cơ quan lập phiếu nghỉ BHXH
- Bảo hiểm xã hội phải trả cho công nhân viên
- Kinh phí công đoàn chi tại đơn vị
- Số bảo hiểm xã hội, bảo hiểm Y tế và kinh phí công đoàn đã nộp cho cơ quan quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn
- Kết chuyển doanh thu nhận trước cho từng kỳ kế toán
- Các khoản phải trả đã và đã nộp trước
Bên có:
- Giá trị tài sản thừa chờ giải quyết (chưa xác định số nguyên nhân).
- Giá trị tài sản thừa phải trả cho cá nhân, tập thể (trong và ngoài đơn vị quyết định ghi trong biên bản xử lý do xác định ngay nguyên nhân.
- Trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn vào kinh phí sản xuất và kinh doanh
Trang 11- TK 3381 – Tài sản thừa giải quyết: phản ánh giá trị tài sản thừa chưa xác định rõ nguyên nhân, còn chờ quyết định xử lý của cấp có chính quyền. Trường hợp giá trị thừa đã xác định được nguyên nhân và có biên bản xử lý thì được ghi ngay vào các tài khoản liên quan, không hạch toán qua TK 338 (3381).
- TK 3382 – Kinh phí công đoàn : phản ánh tình hình trích và thanh toán kinh phí công đoàn ở đơn vị .
- TK 3383 – Bảo hiểm xã hội : phản ánh tình hình trích và thanh toán bảo hiểm xã hội
ở đơn vị
- TK 3384 – Bảo hiểm Y tế: phản ánh tình hình trích và thanh toán bảo hiểm Y tế ở đơn vị.
- TK 3387 – Doanh thu chưa thực hiện phản ánh số tiền trả trước của khách cho một hoặc nhiều kỳ về hoạt động cho thuê nhà ở, văn phòng làm việc hhoặc kho hàng
Trang 13x
Tỷ lệ trích trước
Tổng tiền lương chính theo kế hoạch trong năm của công nhân sản xuất
X
100%
Trang 14Phải trả phải được quyết toán hoặc cuối năm, các khoản chi phí
phải trả phải được quyết toán với số chi phí nthực tế phát sinh. Cố gắng hạn chế đến mức tối đa việc chuyển số dư sang năm sau. Những khoản chi phí phải trả chưa quyết được lúc cuối năm thì phải gỉai trình trong bảng báo cáo tài chính.
CHƯƠNG 2 :
Trang 151980 là một tổ hợp Xây dựng Đại Nam. Từ năm 1980 đến năm 1992 được mở rộng và nâng lên với tên Hợp Tác Xã Xây dựng Đại Nam.
Đến năm 1993 đổi tên : Công ty TNHH Xây dựng Tân Đại Nam, được thành lập theo quyết định số 1370/UB – QĐ ngày 02 tháng 12 năm 1993 của UBND Tp. HCM.
Trụ sở của Công ty được đặt tại : số 98 Thích Quảng Đức, F. 5, Q. PN.
Từ một Công ty Xây dựng đến nay Công ty đã phát triển thên Chức năng Thương mại. Công ty TNHH Xây dựng Thương mại Tân Đại Nam với phạm vi Hoạt động vừa trên 22 quận, huyện thuộc Tp. HCM và các tỉnh lân cận.
có 06 người kỹ sư , 04 kiến trúc sư, 62 trung cấp xây dựng và 80 người nhân viên kỹ thuật
đã tạo sự thuận lợi và tăng thêm tính cầu tiến của mình với các nhà cạnh tranh.
Từ khi thành lập Công ty đã không ngừng phát triển , ngày càng khẳng định một chổ đứng vững chắc trong giới kinh doanh. Vốn điều lệ của Công ty với con số khiêm tốn : 3.250.000.000 đồng.
Nhìn chung do Công ty xây dựng những công nghiệp hoá đạt chất lượng, kỹ thuật cao, mỹ thuật mới đẹp tạo được uy tín tốt trong giới kinh doanh xây dựng và đã tranh thủ
mở rộng quan hệ với thị hiếu của thị trường. Như các công trình sửa chữa nhỏ: trường học,
y tế trên địa bàn tp. Hồ chí Minh, doanh thu bình quân 3 tỷ đồng/ năm các công trình xây dựng nhà dân dụng và công nghiệp Tp. HCM doanh thu bình quân 06 tỷ đồng / năm. Công trình sửa chữa làm mới cơ sở hạ tầng trên địa bàn Tp. HCM doanh thu bình quân 03 tỷ đồng/ năm… ngành nghề của Công ty cũng rất phong phú và đa dạng về mẫu mã, chất lượng được khách hàng tín nhiệm.
Công trình Công ty cũng tăng dần, tùy theo tình hình thực tế thi công tại công trình Công ty, có khả năng huy động thêm các cán bộ Công nhân viên làm theo thời vụ bằng nguồn liên doanh liên kết với các đơn vị cùng ngành tạo được công ăn việc làm, giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội.
Công ty tổ chức tập huấn cho đối tượng hiểu rõ về an toàn lao động và có những noi quy an toàn lao động tại công trình.
2.2 MỤC Đ1CH CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA CÔNG TY :
2.2.1 Chức năng :
Công ty là một trong những doanh nghiệp tư nhân đang làm ăn phát triển, Công ty
đã cung cấp tạo ra cho khách hàng nhiều công trình uy tín về chất lượng cũng như kiến trúc.
2.2.2 Nhiệm vụ của Công ty :
Do nắm được thị hiếu của khách hàng cũng như thấy được sự cần thiết phải có mặt những ngành nghề của mình trên thị trường .
Trang 162.3 TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ CÔNG TY:
2.3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tại công ty :
Công ty TNHH XÂY DỰNG THƯƠNG MẠI TÂN ĐẠI NAM hoạt động theo kế hoạch dưới sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Tổng Giám Đốc Công ty, tham mưu cho Giám Đốc là Phó Giám Đốc và kế toán trưởng. Các phòng ban trực thuộc Công ty là các bộ môn, Chức năng của Công ty đồng thời chịu sự chỉ đạo và kiểm tra vè chuyên môn của các phòng chức năng trực thuộc sở công nghiệp và các cơ quan Chức năng tổng hợp của Thành phố.
Tổ
TC Điện
Tổ
TC
COFFA
Tổ TCNước
Tổ
TC Sắt
Tổ
TC
Hoàn
Tổ TCCốt thép
Trang 17độ một thủ trưởng, trên cơ sở thực hiện chế độ tham gia quản lý của tập thể cán bộ nhân viên phòng mình.
Phòng kỹ thuật : kiểm tra tiến độ lao động và chất lượng theo tài liệu kỹ thuật hoặc theo yêu cầu của khách hàng .
Khoan địa chất Thiết kế thi công + Thiết kế kiến trúc
+ Thiết kế chi tiết + Thiết kế điện + Thiết kế cấp thoát nước công trình thiết kế cầu cống kết cấu
Trang 18Dự toán kinh phí xây dựng công trình.
Trình duyệt hồ sơ thiết kế thi công Chuẩn bị thi công
+ Giao nhận mặt bằng công trình để định vị mốc, độ cao, vị trí .
+ Xây dựng các công trình phụ trợ để chuẩn bị thi công như nhà nghĩ công nhân viên, phòng ban chỉ huy xây dựng công trình, hàng rào che chắn, phòng bảo vệ, khu vệ sinh….
THI CÔNG
Trang 19kế toán theo chế độ hiện hành.
Kiểm tra chứng từ ban đầu Phân loại chứng từ Định khoản kế toán Ghi sổ chi tiết và tổng hợp hạch toán.
Lập báo cáo tài chính .
Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán :
Phòng kế toán tài chính đứng đầu là kế toán trưởng chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám Đốc. Toàn bộ kế toán viên đều do trưởng phòng lãnh đạo.
THỦ
QUỸ