Ta thấy, ngoài tiền lương ra người lao động còn có các khoản trích theo lương Các khoản trợ cấp như sau: Bảo hiểm xã hội: Quỹ bảo hiểm xã hội được tạo ra bằng cách trích theo tỷ lệ ph
Khái niệm , ý nghĩa kế toán tiền lương và các khoản trích theo Lương
Trong mọi xã hội, để tiến hành sản xuất và kinh doanh cần có ba yếu tố cơ bản cấu thành: tư liệu lao động, đối tượng lao động và lao động Trong ba yếu tố này, lao động được xem là yếu tố có tính chất quyết định, quyết định hiệu quả và thành quả của quá trình sản xuất.
Lao động là sự kết hợp giữa hoạt động chân tay và hoạt động trí óc của con người nhằm biến đổi các vật thể tự nhiên thành những vật phẩm thiết yếu phục vụ cho đời sống xã hội Quá trình lao động vừa đáp ứng nhu cầu vật chất vừa tạo ra của cải, động lực cho sự phát triển kỹ năng, công nghệ và trình độ của con người Nhờ đó, xã hội có cơ sở vật chất, dịch vụ và sản phẩm ngày càng đa dạng, đáp ứng nhu cầu và nâng cao chất lượng sống của mọi người.
Tiền lương là một phạm trù kinh tế gắn liền với lao động, tiền tệ và nền sản xuất hàng hoá
Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của phần sản phẩm xã hội mà người lao động được sử dụng để bù đắp hao phí lao động của mình Nói cách khác, nó phản ánh giá trị công sức mà người lao động góp vào quá trình sản xuất và là nguồn thu nhập trang trải chi phí sinh hoạt hàng ngày Nhờ tiền lương, người lao động có động lực làm việc và đảm bảo cuộc sống ổn định, đồng thời tiền lương còn đóng vai trò điều tiết mối quan hệ giữa lao động và giá trị sản phẩm xã hội.
Tiền lương là thành phần cấu thành giá trị sản phẩm do lao động tạo ra Tùy cơ chế quản lý, tiền lương có thể được xác định là một phần chi phí sản xuất kinh doanh cấu thành nên giá thành sản phẩm hoặc là một bộ phận của thu nhập – kết quả tài chính cuối cùng từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài tiền lương cơ bản dựa trên số lượng và chất lượng lao động, người lao động còn được hưởng các khoản tiền thưởng theo quy định của đơn vị, như thưởng do phát huy sáng kiến, thưởng thi đua và các khoản thưởng khác.
Ta thấy, ngoài tiền lương ra người lao động còn có các khoản trích theo lương (Các khoản trợ cấp) như sau:
Quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành bằng hình thức trích một tỷ lệ phần trăm trên tiền lương phải trả cho người lao động, nhằm tính vào chi phí sản xuất kinh doanh và đồng thời khấu trừ vào tiền lương của công nhân Hiện nay, tỷ lệ trích là 20%, trong đó 15% được ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh và 5% do người lao động chịu.
Sinh Viên Thực Hiện : Ngô Thanh Hải Trang 58
Chi phí trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí và tử tuất được tính dựa trên ba yếu tố chính: số lượng, chất lượng lao động và thời gian mà người lao động đã cống hiến cho xã hội trước đó Những yếu tố này xác định mức chi trả bảo hiểm xã hội và các quyền lợi tương ứng mà người lao động được hưởng.
Tỷ lệ tính bảo hiểm xã hội được tính vào chi phí sản xuất, với 10% doanh nghiệp phải nộp cho cơ quan quản lý để chi cho hai nội dung là hưu trí và tử tuất, và 5% được dùng để chi cho ba nội dung: ốm đau, thai sản và tai nạn lao động Khoản chi này có thể cho phép doanh nghiệp để lại để chi trả (thay lương) cho người lao động khi có phát sinh thực tế; số thừa, thiếu sẽ được thanh toán với cơ quan quản lý: nếu chi thiếu sẽ được cấp bù, chi không hết sẽ phải nộp lên Hoặc có thể nộp hết 5% quỹ này cho cơ quan quản lý, khi có phát sinh thực tế sẽ do cơ quan quản lý thực hiện chi trả cho người lao động căn cứ vào các chứng từ chứng minh; hiện nay quỹ này được quản lý theo hướng này.
Tỷ lệ trích mà người lao động phải chịu được doanh nghiệp nộp hộ lên cơ quan quản lý (cùng với 10% ở trên)
Trong trường hợp doanh nghiệp được phép để lại 5% chi phí bảo hiểm xã hội, số tiền nộp cho cơ quan quản lý sẽ ở mức 15%; nếu doanh nghiệp không được phép thực hiện chi trả trực tiếp, toàn bộ 20% phải được nộp cho cơ quan quản lý.
Để được khám chữa bệnh, người lao động cần có thẻ bảo hiểm y tế (BHYT), được mua từ nguồn tiền trích bảo hiểm y tế Theo quy định hiện hành, tỷ lệ trích BHYT là 3% trên lương, trong đó 2% được tính vào chi phí sản xuất và 1% được khấu trừ từ tiền lương của công nhân.
Để phục vụ cho hoạt động của tổ chức công đoàn, doanh nghiệp phải trích lập kinh phí công đoàn Quỹ kinh phí công đoàn được hình thành từ việc trích theo tỷ lệ quy định trên tiền lương trả cho người lao động và được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.
Hiện nay, tỷ lệ trích kinh phí công đoàn trên chi phí tiền lương phải trả là 2%, trong đó 1% dành cho hoạt động của công đoàn cơ sở và 1% cho hoạt động của công đoàn cấp trên Khoản chi cho công đoàn cơ sở có thể được ghi nhận trên sổ sách kế toán hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp hoặc không ghi nhận; nếu không thể hiện trên sổ sách kế toán, sau khi trích chi phí, doanh nghiệp sẽ nộp toàn bộ khoản kinh phí này Mọi chi tiêu tại cơ sở do tổ chức công đoàn quản lý và quyết toán với công đoàn cấp trên.
Sinh Viên Thực Hiện : Ngô Thanh Hải Trang 58
Trên cơ sở các chính sách về lao động, tiền lương và các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, cùng với nguồn kinh phí công đoàn nhà nước, mỗi doanh nghiệp tùy theo đặc thù ngành nghề phải tổ chức lao động hiệu quả nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả sản xuất kinh doanh Đồng thời, doanh nghiệp phải tính toán và thanh toán đầy đủ, đúng thời hạn các khoản tiền lương, thưởng và các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo đúng chính sách, nhằm đảm bảo quyền lợi và động lực cho người lao động Việc quản lý sử dụng kinh phí công đoàn một cách hiệu quả sẽ khuyến khích người lao động thực hiện tốt nhiệm vụ, góp phần vào thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương là đảm bảo tính chính xác, đầy đủ và kịp thời của bảng lương cùng các khoản trích, từ đó thực hiện chức năng điều hành quản lý hoạt động của doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu này, kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương phải thực hiện các nhiệm vụ thiết yếu như tính lương đúng kỳ hạn, quản lý và trích các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thuế thu nhập cá nhân và các phúc lợi theo quy định, theo dõi và đối chiếu các khoản trích với sổ sách kế toán, lập báo cáo lương cho quản lý và cơ quan liên quan, và lưu trữ hồ sơ thanh toán một cách hệ thống để đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ pháp luật.
Cần tổ chức ghi chép, phản ánh và tổng hợp một cách trung thực, kịp thời và đầy đủ về tình hình hiện có và sự biến động của số lượng, chất lượng lao động; đồng thời theo dõi tình hình sử dụng thời gian lao động và kết quả lao động nhằm phục vụ cho công tác quản trị nguồn nhân lực và đánh giá hiệu quả làm việc.
Các Hình Thức Tiền Lương Và Quỹ Tiền Lương
1.2.1 Các hình thức tiền lương:
Sinh Viên Thực Hiện : Ngô Thanh Hải Trang 58
Tiền lương trả cho người lao động phải quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, trả lương theo số lượng và chất lượng lao động Việc thực hiện trả lương dựa trên số lượng và chất lượng lao động có ý nghĩa to lớn trong việc động viên người lao động, khuyến khích tinh thần dân chủ ở cơ sở, thúc đẩy họ hăng say lao động và nâng cao năng suất Nhờ đó, xã hội tạo ra nhiều của cải vật chất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của mỗi thành viên.
Hiện nay, việc tính trả lương cho người lao động được thực hiện theo hai hình thức chủ yếu: tiền lương theo thời gian và tiền lương theo sản phẩm Hình thức tiền lương theo thời gian trả lương dựa trên thời gian làm việc hoặc mức lương cố định, thích hợp với những công việc có tính ổn định và đánh giá hiệu quả dựa trên khối lượng thời gian làm việc Ngược lại, tiền lương theo sản phẩm thanh toán dựa trên số lượng hoặc chất lượng sản phẩm hoàn thành, nhằm thúc đẩy năng suất và tối ưu chi phí nhân công.
1.2.1.1 Hình thức tiền lương theo thời gian:
Tiền lương tính theo thời gian là khoản tiền trả cho người lao động dựa trên thời gian làm việc, cấp bậc công việc và thang lương được áp dụng cho họ Lương theo thời gian có thể được trả theo tháng, theo ngày hoặc theo giờ làm việc, tùy thuộc yêu cầu và trình độ quản lý thời gian lao động của doanh nghiệp.
Tiền lương thời gian có thể thực hiện tính theo thời gian giản đơn hay thời gian có thưởng
Ta có thể áp dụng công thức tính lương theo thời gian như sau:
Mức lương tháng = cơ bản x Hệ số lương + số các khoản
Khi áp dụng hình thức tiền lương này, cần triển khai đồng bộ các biện pháp như giáo dục chính trị tư tưởng, động viên vật chất lẫn tinh thần thông qua các hình thức thưởng, và kiểm tra chặt chẽ việc chấp hành kỷ luật lao động cũng như quản lý thời gian làm việc; sự phối hợp của các biện pháp này sẽ giúp người lao động tự giác lao động, có kỷ luật, nắm vững kỹ thuật và đạt năng suất lao động cao.
Sinh Viên Thực Hiện : Ngô Thanh Hải Trang 58
1.2.1.2 Hình thức tiền lương theo sản phẩm:
Tiền lương tính theo sản phẩm là hình thức trả lương dựa trên kết quả lao động và khối lượng công việc đã hoàn thành, đảm bảo đúng tiêu chuẩn, kỹ thuật và chất lượng được quy định; mức lương được xác định bằng đơn giá tiền lương cho mỗi đơn vị sản phẩm, công việc hoặc lao vụ.
Tiền lương tính theo sản phẩm ta có thể tính theo những cách sau:
- Tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp (Không hạn chế)
Tiền lương Số lượng (khối lượng) được lĩnh = sản phẩm, công việc x Đơn giá tiền lương trong tháng hoàn thành
Tiền lương theo sản phẩm trực tiếp được tính cho từng người lao động hay cho một tập thể người lao động thuộc bộ phận trực tiếp sản xuất
Trong cách tính lương này, tiền lương được xác định dựa trên số lượng sản phẩm hoặc khối lượng công việc hoàn thành nhân với đơn giá tiền lương, và không có giới hạn về khối lượng công việc; tiền lương phản ánh đầy đủ sản lượng thực tế, cho dù khối lượng công việc thực tế hụt hay vượt mức so với chuẩn đã quy định.
- Tiền lương tính theo sản phẩm gián tiếp:
Tiền lương Tiền lương được được lĩnh = lĩnh của bộ x Tỷ lệ lương gián tiếp trong tháng phận trực tiếp
Tiền lương tính theo sản phẩm cho lao động gián tiếp được xác định cho từng người lao động hoặc cho cả tập thể thuộc bộ phận gián tiếp phục vụ sản xuất Mức lương này phụ thuộc vào kết quả lao động của bộ phận trực tiếp sản xuất.
Phương pháp tính tiền lương này căn cứ vào tiền lương theo sản phẩm của bộ phận trực tiếp sản xuất và tỷ lệ lương của bộ phận gián tiếp do đơn vị xác định dựa trên tính chất và đặc điểm của lao động gián tiếp phục vụ cho sản xuất Cách tính này khiến những người phục vụ sản xuất quan tâm đến kết quả lao động vì tiền lương của họ được gắn với lợi ích kinh tế cá nhân và hiệu quả sản xuất.
Tiền lương tính theo sản phẩm có thưởng là hình thức trả lương theo sản phẩm được tính trực tiếp hoặc gián tiếp và gắn với chế độ khen thưởng do doanh nghiệp quy định, nhằm thúc đẩy năng suất và chất lượng sản phẩm Các khoản thưởng tập trung vào chất lượng sản phẩm—tăng tỷ lệ sản phẩm đạt chất lượng cao, thưởng cho sự cải thiện năng suất lao động và tiết kiệm nguyên vật liệu, từ đó tạo động lực cho người lao động tối ưu hóa quy trình sản xuất và giảm lãng phí.
Tiền lương theo sản phẩm có thưởng được tính cho từng người lao động hay cho một tập thể người lao động
Sinh Viên Thực Hiện : Ngô Thanh Hải Trang 58
Cách tính lương theo sản phẩm không hạn chế kết hợp với một khoản tiền thưởng theo quy định của đơn vị, giúp người lao động vừa có thu nhập từ sản phẩm vừa nhận thêm phần thưởng từ hiệu quả công việc Cơ chế này kích thích người lao động không chỉ quan tâm đến số lượng sản phẩm mà còn nâng cao chất lượng, tăng năng suất và tiết kiệm nguyên vật liệu Khoản tiền thưởng được chi từ lợi ích kinh tế mang lại khi tỷ lệ sản phẩm có chất lượng cao được nâng lên và lượng nguyên vật liệu tiết kiệm được, từ đó nâng cao hiệu quả và giá trị của quá trình sản xuất cho đơn vị.
Tiền lương tính theo sản phẩm lũy tiến là hình thức trả lương dựa trên số lượng sản phẩm trực tiếp được sản xuất, kết hợp với suất tiền thưởng lũy tiến theo mức độ hoàn thành vượt mức sản phẩm Hệ thống này khuyến khích người lao động tăng năng suất bằng cách trả lương theo sản phẩm và kèm theo thưởng tăng dần khi vượt mức sản lượng, nhằm duy trì động lực làm việc và tối ưu hóa hiệu quả sản xuất.
Suất tiền thưởng lũy tiến theo mức độ hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất sản phẩm do doanh nghiệp quy định
Tiền lương theo sản phẩm lũy tiến được tính cho từng người lao động hoặc cho tập thể ở những bộ phận sản xuất thiết yếu nhằm đẩy mạnh tốc độ sản xuất Cơ chế này khuyến khích người lao động phát huy sáng tạo, cải tiến kỹ thuật và nâng cao năng suất lao động, đảm bảo đơn vị thực hiện kế hoạch sản phẩm một cách đồng bộ và toàn diện Tuy nhiên khi áp dụng tiền lương theo sản phẩm lũy tiến, doanh nghiệp cần xây dựng mức thưởng lũy tiến một cách cân nhắc để tránh hai trường hợp có thể xảy ra: một là người lao động phải tăng cường mức độ lao động đến mức ảnh hưởng tới sức khỏe và bền vững sản xuất lâu dài, hai là tốc độ tăng tiền lương lớn hơn tốc độ tăng năng suất lao động.
- Tiền lương khoán theo khối lượng công việc hay từng công việc tính cho người lao động hay một tập thể người lao động nhận khoán
Tiền lương khoán được áp dụng đối với những khối lượng công việc hoặc từng công việc cần phải hoàn thành trong một thời gian nhất định
Trong các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất nông nghiệp, tiền lương khoán có thể được thực hiện theo hai cách phổ biến: khoán từng phần công việc và khoán thu nhập (khoán gọn) cho người lao động.
Trong các doanh nghiệp thuộc ngành xây dựng có thể thực hiện theo cách khoán gọn quỹ lương theo hạng mục công trình cho đội sản xuất
Để thực hiện cách tính lương theo tiến độ và chất lượng, doanh nghiệp cần chú ý kiểm tra tiến độ và chất lượng công việc ngay tại thời điểm nghiệm thu, đặc biệt đối với các công trình xây dựng cơ bản, vì có những phần việc khuất và khi nghiệm thu khối lượng công việc đã hoàn thành sẽ khó phát hiện ra nếu không kiểm tra kỹ.
- Tiền lương tính theo sản phẩm cuối cùng:
Sinh Viên Thực Hiện : Ngô Thanh Hải Trang 58
Phương pháp tính lương cho doanh nghiệp sản xuất có tính chất khai thác dựa trên giá trị sản lượng thu được sau khi trừ tiêu hao vật chất, nộp thuế và trích nộp các quỹ theo quy định, đồng thời thực hiện một tỷ lệ phân phối hợp lý cho người lao động Đối với doanh nghiệp chế biến, cần bảo đảm ổn định sản xuất, tổ chức lại các dây chuyền sản xuất và xác định rõ giai đoạn cuối cùng của từng bán thành phẩm hoặc thành phẩm để tính lương theo sản phẩm cuối cùng cho từng người lao động hoặc cho một tập thể lao động.
Hạch Toán Lao Động
Hạch toán lao động là quá trình ghi nhận và phân tích tình hình sử dụng số lượng và thời gian lao động, nhằm đánh giá kết quả lao động và phục vụ công tác kiểm tra kỷ luật lao động, đo lường năng suất lao động và hiệu suất công tác của doanh nghiệp Qua hệ thống hạch toán lao động, doanh nghiệp có được tài liệu đúng đắn về tình hình lao động để từ đó tính lương, trợ cấp và bảo hiểm xã hội cho công nhân viên đúng theo chế độ và chính sách Nhà nước ban hành cũng như các quy định của doanh nghiệp Việc này không chỉ tăng cường quản trị nguồn lực mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động và bảo đảm tuân thủ các quy định liên quan.
1.3.1 Hạch toán tình hình sử dụng số lượng lao động và thời gian lao động
1.3.1.1 Số lượng lao động trong doanh nghiệp
Sinh Viên Thực Hiện : Ngô Thanh Hải Trang 58
Biến động về số lượng lao động ở từng đơn vị và toàn doanh nghiệp ảnh hưởng đến cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh Để phản ánh số lượng lao động hiện có và theo dõi biến động lao động theo từng đơn vị, doanh nghiệp sử dụng Sổ danh sách lao động Sau khi lập xong sổ, nó phải được đăng ký với cơ quan quản lý (Phòng quản lý lao động cấp huyện) và được lập thành hai bản: một bản do phòng tổ chức hành chính của doanh nghiệp quản lý và ghi chép, một bản giao cho phòng kế toán quản lý và ghi chép Cơ sở dữ liệu để ghi vào sổ là các chứng từ tuyển dụng, các quyết định thuyên chuyển công tác, cho thôi việc, nghỉ hưu… Việc ghi chép vào sổ đầy đủ, kịp thời làm cơ sở cho việc thôi việc, lập báo cáo về lao động và phân tích tình hình biến động về lao động trong doanh nghiệp hàng tháng, quý, năm theo yêu cầu quản lý lao động của doanh nghiệp và của cơ quan quản lý cấp trên.
Để phản ánh kịp thời, chính xác tình hình sử dụng thời gian lao động và kiểm tra việc chấp hành kỷ luật lao động của công nhân viên, doanh nghiệp sử dụng Bảng chấm công (Mẫu số 01-LĐTL, ban hành theo quyết định Số 1114–TC/QĐ/CĐKT ngày 01/01/1995 của Bộ Tài chính) Bảng chấm công được lập hàng tháng cho từng tổ, ban, phòng, nhóm và do người phụ trách bộ phận hoặc người được ủy quyền căn cứ vào tình hình thực tế của bộ phận để chấm công cho từng người trong ngày theo các ký hiệu quy định trên chứng từ Cuối tháng, người chấm công và phụ trách bộ phận ký vào bảng chấm công và chuyển bảng chấm công cùng các chứng từ liên quan về bộ phận kế toán để kiểm tra, đối chiếu quy ra công để tính tiền lương và bảo hiểm xã hội.
Bảng chấm công là công cụ để theo dõi ngày công thực tế, tình trạng nghỉ việc, ngừng việc và các yếu tố liên quan đến bảo hiểm xã hội, từ đó làm căn cứ trả lương cho từng người và quản lý lao động trong đơn vị Bảng chấm công giúp đảm bảo thanh toán đúng số ngày làm việc và xử lý các chế độ bảo hiểm xã hội, đồng thời tăng tính minh bạch trong quản lý nhân sự Vì vậy, bảng chấm công nên được treo công khai tại nơi làm việc để công nhân viên có thể thực hiện kiểm tra, giám sát việc chấm công hàng ngày và tham gia ý kiến vào công tác quản lý, sử dụng thời gian lao động.
Bảng chấm công là tài liệu quan trọng để tổng hợp và đánh giá, phân tích tình hình sử dụng thời gian lao động, đồng thời là cơ sở vững chắc để kế toán tính toán kết quả lao động và tiền lương cho công nhân viên.
Sinh Viên Thực Hiện : Ngô Thanh Hải Trang 58
Bên cạnh bảng chấm công, kế toán còn sử dụng một số chứng từ khác để phản ánh cụ thể tình hình sử dụng thời gian lao động của công nhân viên trong một số trường hợp sau:
- Phiếu ghi hưởng bảo hiểm xã hội: phiếu này được lập để xác nhận số ngày nghỉ do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động … của người lao động, làm căn cứ để tính trợ cấp bảo hiểm xã hội trả thay lương theo chế độ quy định
Phiếu báo làm thêm giờ là chứng từ xác nhận số giờ công, đơn giá và số tiền làm thêm được hưởng cho từng công việc, đồng thời là cơ sở để tính trả lương cho người lao động Phiếu này có thể được lập cho từng cá nhân theo từng công việc của một đợt công tác hoặc có thể được lập cho cả tập thể.
Biên bản điều tra tai nạn lao động là chứng cứ xác nhận thực sự sự cố tai nạn xảy ra với người lao động, từ đó làm căn cứ xác định tính đúng sai của sự việc và làm cơ sở trích bảo hiểm trả thay lương cho người lao động Văn bản này ghi nhận thời gian, địa điểm, nguyên nhân tai nạn và mức độ thương tích, giúp doanh nghiệp và cơ quan bảo hiểm xác định quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Do đó, biên bản điều tra tai nạn lao động là yếu tố then chốt trong quản lý rủi ro tại nơi làm việc, đảm bảo thanh toán bồi thường và hỗ trợ người lao động nhanh chóng khi gặp sự cố.
1.3.2 Hạch toán kết quả lao động:
Hiệu quả lao động của công nhân trong doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, như thời gian làm việc, trình độ chuyên môn và trình độ đào tạo, kỹ năng quản lý công việc, điều kiện và môi trường làm việc, cũng như động lực làm việc Khi đánh giá kết quả lao động, cần xem xét đầy đủ các nhân tố đã nêu để đảm bảo phân tích toàn diện, từ đó có cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất.
Kết quả lao động của công nhân viên trong doanh nghiệp được phản ánh vào các chứng từ như sau:
Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành là chứng từ xác nhận số lượng sản phẩm hoặc khối lượng công việc đã hoàn thành của đơn vị hoặc cá nhân lao động Phiếu do người giao việc soạn thảo và lập thành hai bản, sau khi có đầy đủ chữ ký của người giao việc, người nhận việc, người kiểm tra chất lượng và người duyệt Một bản được chuyển sang bộ phận kế toán làm cơ sở để lập bảng thanh toán tiền lương hoặc tiền công cho người lao động.
Hợp đồng giao khoán là văn bản ký kết giữa người giao khoán và người nhận khoán, quy định khối lượng công việc, thời gian làm việc, trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên khi thực hiện công việc đó Văn bản này được lập thành ba bản, sau khi hai bên ký đầy đủ và kế toán thanh toán đã xác nhận, hồ sơ sẽ được chuyển về phòng kế toán để theo dõi quá trình thực hiện hợp đồng giao khoán và làm cơ sở để thanh toán tiền công lao động cho người nhận khoán.
Tuỳ theo loại hình, đặc điểm sản xuất và nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, việc lựa chọn các chứng từ phù hợp sẽ giúp phản ánh kịp thời, đầy đủ và chính xác kết quả lao động Mỗi chứng từ sử dụng phải phản ánh được nội dung cơ bản như: tên công nhân viên hoặc bộ phận công tác, loại công tác hoặc loại sản phẩm, thời gian thực hiện, khối lượng công việc và các thông tin liên quan khác để bảo đảm tính đầy đủ, dễ kiểm tra và thuận lợi cho quản trị chi tiêu và thanh toán.
Ngô Thanh Hải là sinh viên thực hiện, được ghi nhận trên trang 58 với mô tả đầy đủ các công việc đã thực hiện, thời gian thực hiện, số lượng và chất lượng sản phẩm, và các công việc đã hoàn thành được nghiệm thu.
Căn cứ các chứng từ hạch toán kết quả lao động, kế toán lập sổ tổng hợp kết quả lao động nhằm tổng hợp kết quả lao động của từng cá nhân, bộ phận và toàn đơn vị; sổ tổng hợp kết quả lao động là cơ sở để tính toán năng suất lao động và tiền lương theo sản phẩm cho công nhân viên, đồng thời bảo đảm tính công bằng và minh bạch trong đánh giá hiệu suất làm việc Việc tổng hợp kết quả lao động này hỗ trợ quản trị nguồn nhân lực hiệu quả và xác định mức thanh toán phù hợp với sản phẩm, đồng thời làm căn cứ cho các chế độ lương thưởng theo quy định của doanh nghiệp.
1.3.3 Tính lương và trợ cấp bảo hiểm xã hội: