1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỀN LƯƠNG, các KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG đòn bẩy KÍCH THÍCH TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG tại xí NGHIỆP xây lắp và KHẢO sát CÔNG TRÌNH BIỂN

51 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 724,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Lời cảm ơn

  • Mục lục

  • Mở đầu

  • Chương 1: Cơ sở lý luận

    • 1. Nhiệm vụ của kế toán

    • 2. các hình thức tiền lương

    • 3. Các khoản phải trả cho công nhân viên

    • 4. Kế toán bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn

    • 5. Kế toán trích trước tiền lương nghi phép của công nhân sản xuất

    • 6. Phân tích sự biến động chi phí nhân công trực tiếp

  • Chương 2: thực trạng tình hình tiền lương, các khoản trích theo lương tại Xí nghiệp Xây lắp

    • 1. Lịch sử hình thành và phát triển của Xí nghiệp Xây lắp và khảo sát công trình biển

    • 2. Tổ chức hạch toán tiền lương, thưởng và các khoản trích theo lương

    • 3. Thực trạng thu nhập và các khoản trích theo lương của CBCNV

    • 4. Phân tích mối quan hệ giữa tiền lương và năng suất lao động

  • Chương 3: Phương hướng và biện pháp hoàn thiện

    • 1. Phương hướng

    • 2. Biện pháp hoàn thiện

  • Kết luận

  • Tài liệu tham khảo

  • Phụ lục

Nội dung

Do đó các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả sức lao động của cán bộ công nhân viên để tiết kiệm chi phí tiền lương trong tổng chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp..

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Nhiệm vụ của kế toán

1.1 Ý nghĩa của tiền lương và các khoản trích theo lương

Tiền lương là biểu hiện của một bộ phận sản phẩm xã hội mà người lao động được sử dụng để bù đắp hao phí lao động của mình trong quá trình tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh

Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động Nó thường được sử dụng để khuyến khích tinh thần tích cực lao động, là nhân tố thúc đẩy để tăng năng suất lao động Đối với các doanh nghiệp tiền lương phải trả cho người lao động là một bộ phận chi phí cấu thành nên giá trị của loại sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sáng tạo ra Do đó các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả sức lao động của cán bộ công nhân viên để tiết kiệm chi phí tiền lương trong tổng chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Quản lý tốt lao động và tiền lương là một trong những yêu cầu của công tác quản lý sản xuất kinh doanh, là nhân tố giúp cho doanh nghiệp hoàn thành vượt mức kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình Tổ chức hạch toán tốt lao động, tiền lương giúp cho công tác quản lý lao động của doanh nghiệp vào nề nếp, thúc đẩy người lao động chấp hành tốt kỷ luật lao động Đồng thời tạo cơ sở cho việc tính và trả lương đúng nguyên tắc phân phối theo lao động

Các khoản trích theo lương hiện nay gồm: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn Trong đó bảo hiểm xã hội là một loại quỹ dùng để trợ cấp cho người lao động có tham gia đóng bảo hiểm xã hội trong các trường hợp họ bị mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí do mất sức Bảo hiểm y tế là quỹ dùng để đài thọ người lao động có tham gia đóng bảo hiểm y tế trong cá trường hợp khám, chữa bệnh Kinh phí công đoàn là quỹ dùng để tài trợ cho hoạt động của công đoàn

Quỹ tiền lương của doanh nghiệp là toàn bộ tiền lương của doanh nghiệp dùng để trả cho tất cả các loại lao động thuộc doanh nghiệp quản lý và sử dụng Thành phần quỹ lương của doanh nghiệp bao gồm các khoản: tiền lương trả cho người lao động theo thời gian làm việc, tiền lương trả cho người lao động theo số lượng sản phẩm hay công việc hoàn thành; tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngưng việc vì mưa, bão, lũ lụt, thiếu nguyên vật liệu hoặc nghỉ phép theo quy định hay đi học; các khoản phụ cấp (thường xuyên) được tính vào lương như phụ cấp thâm niên, làm đêm, thêm giờ, quỹ tiền lương thường được chia thành 2 loại theo mối quan hệ với quá trình sản xuất kinh doanh

‐ Tiền lương chính là tiền lương trả cho người lao động theo thời gian làm việc thực tế trên cơ sở nhiệm vụ được giao như tiền lương theo thời gian, lương tính theo sản phẩm và các khoản phụ cấp được tính vào lương

‐ Tiền lương phụ là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian nghỉ việc theo quy định của nhà nước như nghỉ lễ, nghỉ phép hoặc nghỉ vì những lý do bất thường khác không phải do công nhân viên gây ra như thiếu nguyên vật liệu, máy hỏng

Về nguyên tắc quỹ tiền lương phải được quản lý chặt chẽ và chi theo đúng mục đích, gắn với kết quả sản xuất kinh doanh trên cơ sở các định mức lao động và đơn giá tiền lương hợp lý được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt

‐ Đối với doanh nghiệp kinh doanh chưa có lãi, chưa có bảo toàn vốn thì tổng quỹ tiền lương doanh nghiệp được phép trích và chi không vượt quá tiền lương cơ bản tính theo :

+ Số lượng lao động thực tế tham gia quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm: lao động trong biên chế; hợp đồng ngắn hạn, dài hạn, lao động thời vụ

+ Hệ số và mức lương cấp bậc, lương theo hợp đồng, hệ số và mức phụ cấp lương theo quy định của Nhà nước

‐ Đối với các doanh nghiệp kinh doanh có lãi, đạt tỉ suất lợi nhuận trên vốn Nhà nước cao, đóng góp cho ngân sách Nhà nước lớn thì được phép trích và chi quỹ tiền lương tương xứng với hiệu quả doanh nghiệp nhưng phải đảm bảo các điều kiện:

+ Bảo toàn được vốn và không xin khấu hao hoặc xin giảm các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước + Tốc độ tăng cuả quỹ tiền lương phải thấp hơn tốc tăng tỉ suất lợi nhuận trên vốn Nhà nước tính theo số trung bình cộng ở hai thời điểm 1‐1 và ngày 31‐12 cùng năm

1.3 Nội dung quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn

Theo chế độ hiện hành, quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành bằng cách tính theo tỉ lệ 20% trên tổng quỹ tiền lương cấp bậc và các khoản phụ cấp thường xuyên của người lao động trong từng thời kỳ kế toán Người sử dụng lao động phải nộp 15% trên tổng quỹ lương và được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh Người lao động nộp 5% trên tổng quỹ lương bằng cách trừ vào thu nhập của họ Hàng tháng (chậm nhất là ngày cuối tháng) đồng thời việc trả lương, đơn vị sử dụng lao động phải nộp đủ 20% tổng quỹ tiền lương cho cơ quan bảo hiểm xã hội Khi phát sinh các trường hợp được hưởng chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội thì người sử dụng lao động phải lập hồ sơ và tách ra các khoản trợ cấp theo đúng quy định, hàng quý lập bảng tổng hợp những ngày nghỉ hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội theo từng chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, tử tuất để thanh toán với cơ quan bảo hiểm xã hội theo quy định của bảo hiểm xã hội Việt Nam

Cuối mỗi quý, đơn vị sử dụng lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội tiến hành đối chiếu danh sách trả lương và quỹ tiền lương để lập bảng xác nhận số nộp bảo hiểm xã hội Nếu có chênh lệnh giữa số đã nộp với số phải nộp thì phải nộp tiếp trong quý sau hoặc coi như là số nộp trước cho quý sau và sẽ trả quyết toán trong năm

Mức trích lập quỹ bảo hiểm y tế tỉ lệ đạt 3% trong đó người sử dụng lao động phải chịu 2% và được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh Người lao động phải chịu 1% bằng cách trừ vào thu nhập của họ Quỹ bảo hiểm y tế do cơ quan bảo hiểm y tế thống nhất quản lý và trợ cấp cho người lao động thông qua mạng lưới y tế nên các doanh nghiệp phải nộp toàn bộ 3% cho cơ quan bảo hiểm y tế

Các hình thức tiền lương

Hiện nay, việc tính trả lương cho người lao động trong các doanh nghiệp được tiến hành theo 2 hình thức chủ yếu: tiền lương tính theo thời gian và tiền lương tính theo sản phẩm

2.1 Hình thức tiền lương theo thời gian

Theo hình thức này, tiền lương phải trả cho người lao động được tính theo thời gian làm việc, cấp bậc và thang lương của từng người theo tiêu chuẩn quy định của Nhà nước

Tuỳ theo yêu cầu và khả năng quản lý của doanh nghiệp việc tính trả lương theo thời gian có thể tiến hành trả lương theo thời gian giản đơn hoặc trả lương theo thời gian có thưởng

‐ Hình thức trả lương theo thời gian giản đơn

Lương theo thời gian giản đơn bao gồm : lương tháng, lương ngày, lương giờ

+ Lương tháng: là tiền lương đã được quy định sẵn đối với từng bậc lương trong các thang lương Lương tháng thường được áp dụng để trả lương cho công nhân viên làm công tác quản lý hành chính, quản lý kinh tế

+ Lương ngày: là tiền lương trả cho người lao động theo mức lương ngày và số ngày làm việc thực tế trong tháng Lương ngày thường được áp dụng để trả lương cho lao động trực tiếp hưởng lương theo thời gian hoặc trả lương cho nhân viên trong thời gian học tập, hội họp hay làm nhiệm vụ khác; cho người lao động theo hợp đồng ngắn hạn

+ Lương giờ là tiền lương trả cho người lao động theo mức lương giờ và số giờ làm việc thực tế Trong đó mức lương giờ được tính trên cơ sở mức lương ngày và số giờ làm việc trong ngày theo chế độ Lương giờ thường áp dụng để trả lương cho lao động trực tiếp không hưởng lương theo sản phẩm hoặc dùng làm cơ sở để tính đơn giá tiền lương trả theo sản phẩm

Mức lương tháng = Mức lương tối thiểu x (Hệ số lương + Hệ số các khoản phụ cấp)

‐ Hình thức tiền lương tính theo thời gian có thưởng:

Là hình thức trả lương theo thời gian giản đơn kết hợp với chế độ tiền thưởng trong sản xuất như: thưởng nâng cao chất lượng sản phẩm; thưởng tăng năng suất lao động; thưởng tiết kiệm nguyên vật liệu nhằm thúc đẩy công nhân viên thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao

2.2 Hình thức trả lương theo sản phẩm

Theo hình thức này, tiền lương phải trả cho người lao động được tính theo số lượng, chất lượng sản phẩm, công việc hay lao vụ đã hoàn thành và đơn giá trả lương cho các sản phẩm, công việc và lao vụ đó

Trong việc trả lương theo sản phẩm, vấn đề quan trọng là phải xây dựng các định mức kinh tế ‐ kỹ thuật hợp lý để làm cơ sở cho việc xác định đơn giá trả lương đối với từng loại sản phẩm, công việc một cách đúng đắn

Tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của doanh nghiệp việc tính trả lương theo sản phẩm có thể tiến hành theo các hình thức sau đây

‐ Trả lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế.

Các khoản phải trả cho công nhân viên

‐ Trả lương theo sản phẩm gián tiếp

Hình thức này thường được sử dụng để tính lương phải trả cho công nhân phục vụ quá trình sản xuất như vận chuyển vật liệu, thành phẩm, bảo dưỡng máy móc, thiết bị lao động của những người này không trực tiếp sản xuất ra sản phẩm nhưng có ảnh hưởng gián tiếp đến năng suất lao động của công nhân trực tiếp sản xuất Vì vậy theo hình thức này việc tính lương phải cho công nhân phục vụ mà họ đã phục vụ

‐ Trả lương theo sản phẩm có thưởng

Là hình thức trả lương theo sản phẩm (trực tiếp hoặc gián tiếp) kết hợp với chế độ tiền thưởng trong sản xuất

‐ Trả lương theo sản phẩm lũy tiến

Theo hình thức này, ngoài tiền lương tính theo sản phẩm trực tiếp, căn cứ vào mức độ vượt định mức lao động để tính thêm một số tiền lương theo tỉ lệ vượt lũy tiến Số lượng sản phẩm hoàn thành vượt định mức càng cao thì số tiền lương tính thêm càng nhiều Ap dụng hình thức này, doanh nghiệp phải tổ chức quản lý tốt định mức lao động, kiểm tra và nghiệm thu chặt chẽ số lượng và chất lượng sản phẩm

‐ Trả lương khoán gọn theo sản phẩm cuối cùng

Hình thức này có thể áp dụng cho từng bộ phận sản xuất (của phân xưởng, dây chuyển) nhằm khuyến khích tập thể lao động cả tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động Tiền lương trả cho từng bộ phận công nhân được tính theo đơn giá tổng hợp cho sản phẩm, hoàn thành đến công việc cuối cùng

‐ Khoán quỹ lương: Hình thức này có thể áp dụng cho các phòng ban của doanh nghiệp Trên cơ sở số lao động định biên hợp lý của các phòng ban doanh nghiệp tính toán và giao khoán quỹ lương cho từng bộ phận, phòng ban theo nguyên tắc hoàn thành kế hoạch công tác, nhiệm vụ được giao, quỹ lương thực tế phụ thuộc vào mức hoàn thành công việc được giao của từng phòng ban

3 Kế toán các khoản phải trả cho công nhân viên

3.1 Chứng từ và thủ tục kế toán

Cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, ngoài tiền lương chính, tiền lương phụ còn có thể được hưởng các khoản tiền thưởng, tiền trợ cấp bảo hiểm xã hội Công việc tính lương, tính thưởng và các khoản khác phải trả cho người lao động được thực hiện tập trung tại phòng kế toán của doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp lớn, công việc này có thể giao cho các nhân viên hạch toán phân xưởng hoặc bộ phận kế toán ở các đơn vị phụ thuộc đảm trách dưới sự chỉ đạo của kế toán trưởng doanh nghiệp

Thời gian để tính lương, tính thưởng và các khoản khác phải trả cho người lao động là tính theo tháng trên cơ sở các chứng từ hạch toán thời gian; kết quả lao động và các chứng từ khác có liên quan như: Bảng chấm công, phiếu nghỉ hưởng bảo hiểm xã hội, phiếu xác nhận SP hoặc công việc hoàn thành, phiếu báo làm thêm giờ, hợp đồng giao khoán, biên bản ngưng việc Tất cả các chứng từ trên phải được lập theo đúng chế độ và kế toán phải kiểm tra trước khi tính các khoản phải trả cho cán bộ công nhân viên

Sau khi kiểm tra các chứng từ có liên quan kế toán tiến hành tính lương, tính thưởng, tính các khoản trợ cấp phải trả cho công nhân viên theo hình thức trả lương, trả thưởng đang áp dụng tại doanh nghiệp và lập bảng thanh toán tiền lương, bảng thanh toán tiền thưởng, bảng thanh toán bảo hiểm xã hội

Bảng thanh toán tiền lương là chứng từ làm căn cứ thanh toán tiền lương, phụ cấp cho người lao động, kiểm tra việc thanh toán tiền lương và là căn cứ để thống kê tình hình lao động tiền lương Bảng này được lập hàng tháng theo từng bộ phận (phòng, ban, tổ, nhóm ) tương ứng với bảng chấm công Sau khi lập xong bảng thanh toán tiền lương được chuyển cho kế toán trưởng duyệt để làm căn cứ lập phiếu chi và phát lương

Bảng thanh toán tiền lương là chứng từ xác nhận số tiền thưởng cho từng người lao động làm cơ sở tính thu nhập của mỗi người và ghi sổ kế toán Bảng này dùng chủ yếu trong các trường hợp thưởng theo lương, có tính chất thường xuyên, không dùng trong các trường hợp thưởng đột xuất Bảng này được lập cho từng bộ phận và phải có chữ ký của kế toán thanh toán và kế toán trưởng

Bảng thanh toán bảo hiểm xã hội là căn cứ tổng hợp và thanh toán trợ cấp bảo hiểm xã hội thay lương cho người lao động, lập quyết toán bảo hiểm xã hội với cơ quan quản lý bảo hiểm xã hội cấp trên Tuỳ thuộc vào số người phải thanh toán trợ cấp bảo hiểm xã hội trả thay lương trong tháng của đơn vị, kế toán có thể lập bảng này cho từng phòng, ban, bộ phận hoặc cho toàn đơn vị Sau khi lập xong, bảng này được chuyển cho trưởng ban bảo hiểm xã hội của đơn vị xác nhận và chuyển cho kế toán trưởng đơn vị duyệt chi

Việc thanh toán lương cho người lao động thường được chia làm 2 kỳ: kỳ 1 tạm ứng lương; kỳ 2 nhận phần lương còn lại sau khi đã trừ vào lương các khoản đã nhận và khấu trừ Khi nhận tiền người lao động phải ký tên và các bảng thanh toán trên

TK 334 “phải trả công nhân viên”

‐ Các khoản tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp bảo hiểm xã hội và các khoản khác đã trả, đã thanh toán cho công nhân viên

‐ Các khoản khấu trừ vào lương của công nhân viên

‐ Các khoản tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội và các khoản khác phải trả cho công nhân viên

‐ Các khoản tiền lương, tiền thưởng và các khoản khác còn phải trả cho bảo hiểm xã hội

3.3 Sơ đồ KT tổng hợp

Trả lương, BHXH, và các khoản khác cho công nhân

Tiền lương phải trả công nhân sản xuất

Khấu trừ vào lương khoản tạm ứng chưa thanh toán, khoản BHXH, BHYT CNV phải thu

Tiền lương phải trả nhân viên

Tiền lương phải trả nhân viên bán hàng, nhân viên QLDN Tiền lương nghỉ phép

4 Kế toán quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn

4.1 Chứng từ và thủ tục kế toán

Chứng từ kế toán được dùng làm căn cứ để tính các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội trả thay lương theo chế độ quy định đối với các trường hợp nghỉ việc do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, nghỉ trông con ốm của người lao động là "phiếu nghỉ hưởng bảo hiểm xã hội" Mỗi lần người lao động đến khám bệnh ở bệnh viện, trạm xá hoặc y tế cơ quan (kể cả khám cho con) bác sĩ thấy cần thiết phải cho nghỉ để điều trị hoặc để trông con ốm theo quy định thì lập phiếu này hoặc ghi số ngày nghỉ vào y bạ của người lao động (hoặc của con) để y tế cơ quan lập phiếu nghỉ bảo hiểm xã hội Người được nghỉ phải báo cho cơ quan và nộp phiếu này cho người chấm công Phiếu nghỉ hưởng bảo hiểm xã hội, kèm theo bảng chấm công sẽ được chuyển về phòng kế toán để tính khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội trả thay lương và lập bảng thanh toán bảo hiểm xã hội

TK 338 “ phải trả, phải nộp khác”

‐ Kết chuyển giá trị tài sản thừa vào các khoản liên quan theo quyết định ghi trong biên bản xử lý

‐ Bảo hiểm xã hội phải trả cho công nhân viên

‐ Kinh phí công đoàn chi tại đơn vị

‐ Số bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn đã nộp cho cơ quan quản lý quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn

‐ Kết chuyển doanh thu nhận trước cho từng kỳ kế toán

‐ Các khoản đã trả và đã nộp khác

‐ Giá trị tài sản thừa chờ giải quyết (chưa xác định số nguyên nhân)

Giá trị tài sản thừa phải trả cho cá nhân, tập thể (trong và ngoài đơn vị) theo quyết định ghi trong biên bản xử lý do xác định ngay được nguyên nhân

‐ Trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn vào chi phí sản xuất, kinh doanh

‐ Các khoản thanh toán với công nhân viên về tiền nhà, điện, nước ở tập thể

‐ Trích bảo hiểm xã hội bảo hiểm y tề trừ vào lương của công nhân viên

‐ Bảo hiểm xã hội và kinh phí công đoàn vượt chi được cấp bù

‐ Các khoản phải trả khác

‐ Số tiền còn phải trả, còn phải nộp

TK 338 có 6 TK cấp 2 Trong đó có 3 TK cấp 2 phản ánh KPCĐ, BHXH, BHYT

TK 3382 ‐ Kinh phí công đoàn: Phản ảnh tình hình trích và thanh toán kinh phí công đoàn ở đơn vị

TK 3383 ‐ Bảo hiểm xã hội: Phản ảnh tình hình trích và thanh toán bảo hiểm xã hội của đơn vị

TK 3384 ‐ Bảo hiểm y tế: Phản ảnh tình hình trích và thanh toán bảo hiểm y tế của đơn vị

4.3 Sơ đồ kế toán tổng hợp

5 Kế toán trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất

Theo quy định hiện hành, hàng năm mỗi người lao động trong danh sách lao động của doanh nghiệp tuỳ theo thời gian công tác thì có số ngày nghĩ phép được tính theo thâm niên nhưng mức tối thiểu được nghỉ phép 12 ngày hưởng đủ lương Đối với công nhân sản xuất, do việc bố trí các ngày nghỉ phép không thể đều đặn giữa các tháng trong năm, nên khoản tiền lương nghỉ phép hàng năm của đối tượng này thường phải tiền hành trích trước Theo kế hoạch phải tính vào chi phí của từng kỳ kế toán theo số dự toán nhằm làm cho chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm không bị biến động đột biến

Phương pháp trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất tính vào chi phí của từng kỳ kế toán như sau :

Mức trích trước tiền lương nghỉ phép của CNSX theo kế hoạch

Tiền lương chính phải trả cho công nhân SX trong tháng x

Quỹ BHXH trảthay lương cho công nhân viên

Trích BHXH, BHYT kinh phí công đoàn

Chi quỹ BHXH, kinh phí công đoàn

BHXH, BHYT trừ vào lương của

Kinh phí công đoàn chi vượt được cấp bù

Thanh toán các khoản phải trả, phải nộp khác

Nộp BHXH, BHYT kinh phí công đoàn

Tổng tiền lương nghỉ phép theo kế hoạch trong năm của CN.SX x

Tổng tiền lương chính theo kế hoạch trong năm của CNSX

Kế toán trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất

Theo quy định hiện hành, hàng năm mỗi người lao động trong danh sách lao động của doanh nghiệp tuỳ theo thời gian công tác thì có số ngày nghĩ phép được tính theo thâm niên nhưng mức tối thiểu được nghỉ phép 12 ngày hưởng đủ lương Đối với công nhân sản xuất, do việc bố trí các ngày nghỉ phép không thể đều đặn giữa các tháng trong năm, nên khoản tiền lương nghỉ phép hàng năm của đối tượng này thường phải tiền hành trích trước Theo kế hoạch phải tính vào chi phí của từng kỳ kế toán theo số dự toán nhằm làm cho chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm không bị biến động đột biến

Phương pháp trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất tính vào chi phí của từng kỳ kế toán như sau :

Mức trích trước tiền lương nghỉ phép của CNSX theo kế hoạch

Tiền lương chính phải trả cho công nhân SX trong tháng x

Quỹ BHXH trảthay lương cho công nhân viên

Trích BHXH, BHYT kinh phí công đoàn

Chi quỹ BHXH, kinh phí công đoàn

BHXH, BHYT trừ vào lương của

Kinh phí công đoàn chi vượt được cấp bù

Thanh toán các khoản phải trả, phải nộp khác

Nộp BHXH, BHYT kinh phí công đoàn

Tổng tiền lương nghỉ phép theo kế hoạch trong năm của CN.SX x

Tổng tiền lương chính theo kế hoạch trong năm của CNSX

Nhằm đảm bảo cho chi phí sản xuất và giá thành được chính xác, mức trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất theo kế hoạch có thể điều chỉnh vào những tháng cuối năm tùy thuộc vào khoản chênh lệch giữa số tiền lương nghỉ phép thực tế phát sinh trong năm của công nhân sản xuất với tổng số tiền đã trích trước

TK 335 "Chi phí phải trả"

‐ Các chi phí thực tế phát sinh thuộc chi phí phải trả

‐ Chênh lệch chi phí phải trả lớn hơn số chi phí thực tế phát sinh được ghi giảm chi phí hay tính vào thu nhập bất thường

‐ Chi phí phải trả dự tính trước đã hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh

‐ CP phải trả đã tính vào chi phí sản xuất kinh doanh nhưng thực tế chưa phát sinh

5.3 Định khoản các nghiệp vụ kinh tế phát sinh

‐ Khi tính trước vào chi phí tiền lương nghỉ phép phải trả trong năm cho công nhân sản xuất, ghi :

Có TK 335 "CP phải trả"

‐ Khi thực tế phát sinh tiền lương nghỉ phép phải trả cho công nhân sản xuất, ghi

Nợ TK 335 "CP phải trả"

Chú ý : + Thuộc loại chi phí phải trả bao gồm các khoản :

‐ Chi phí tiền lương phải trả cho công nhân sản xuất trong thời gian nghỉ phép

‐ Chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, trong trường hợp có thể dự trù trước công việc và chi phí sửa chữa cho năm kế hoạch hoặc một số niên độ kế toán

‐ Chi phí trong thời gian ngừng sản xuất theo kế hoạch đã dự tính trước

‐ Chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hóa có thể dự tính trước

‐ Các khoản chi phí về săm lốp ô tô, phụ tùng thay thế trong ngành vận tải

‐ Các khoản lãi tiền vay đến kỳ tính lãi phải ghi vào CP trong kỳ

+ Khi sử dụng TK 335 "CP phải trả" thì phải tôn trọng những quy định sau :

‐ Nếu có phát sinh các chi phí khác phải trích trước ngoài những nội dung ở trên thì doanh nghiệp phải giải trình với cơ quan tài chính Nghiêm cấm việc trích trước vào chi phí những nội dung không được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh

‐Vào thời điểm cuối kỳ dự toán hoặc cuối năm, các khoản chi phí phải trả phải được quyết toán với số chi phí thực tế phát sinh Cố gắng hạn chế đến mức tối đa việc chuyển số dự sang năm sau Những khoản chi phí phải trả chưa quyết toán được lúc cuối năm thì phải giải trình trong bảng thuyết minh báo cáo tài chính

5.4 Hạch toán quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm.( THÔNG TƯ số 82/2003/TT‐BCT ngày 14/08/2003)

Trích từ 1 đến 3% trên tiền lương phải trả cho công nhân, tuỳ thuộc từng doanh nghiệp mà áp dụng cách hạch toán như sau: a) Khi trích lập quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm, ghi :

Nợ TK 642 – Chi phí quản lý Doanh nghiệp

Có Tk 335 – Chi phí phải trả b) Khi chi trả trợ cấp thôi việc, mất việc làm cho người lao động, ghi:

Nợ TK 335 ‐ Chi phí phải trả

Có các TK 111, 112 c) Trường hợp Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm không đủ để chi trợ cấp cho người lao động thôi việc, mất việc làm trong năm tài chính, thì phần chênh lệch thiếu được hạch toán vào chi phí quản lý doanh nghiệp trong kỳ, khi chi ghi:

Nợ TK 642 – Chi phí quản lý doanh nghiệp

Có các TK 111, 112 d) Chuyển số dư của Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm

Nợ TK 416 – Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm

Có TK 335 ‐ Chi phí phải trả

Phân tích sự biến động chi phí nhân công trực tiếp

Chi phí nhân công trực tiếp là biểu hiện bằng tiền khoản hao phí về lao động sống mà doanh nghiệp phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm bao gồm tiền lương chính, tiền lương phụ, các khoản phụ cấp theo lương và các khoản bảo hiểm xã hội , bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn được trích theo tỷ lệ quy định trên tiền lương và tính vào chi phí

THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI XÍ NGHIỆP XÂY LẮP

1 Lịch sử hình thành và phát triển của Xí nghiệp Xây lắp

1.1 Quá trình hình thành của Xí nghiệp Xây lắp, khảo sát, sửa chữa công trình biển (Xí nghiệp Xây lắp)

Sau khi chính phủ Việt Nam kí thành lập liên doanh Dầu khí “ Vietsovpetro” vào ngày 19.6.1981 theo hiệp định liên chính phủ giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và liên bang cộng hòa xã hội chủ nghiã Xô Viết nhằm tìm kiếm và khai thác Dầu khí tại thềm lục địa phía Nam thì một năm sau vào tháng 7 năm 1982, để phục vụ cho công tác này, Xí nghiệp Xây lắp được ra đời

1.2 Quá trình phát triển của Xí nghiệp Xây lắp :

Năm 1982 : Chỉ có một phân xưởng chế tạo chân đế với số lượng 80% công nhân là người Nga Năm 1984: Xí nghiệp Xây lắp chế tạo thành công một giàn khoan cố định

Năm 1985‐1988 : Phát triển thành bốn phân xưởng Đặc điểm nổi bật thời kì này là thời gian chế tạo một giàn khoan chỉ còn có một năm

Năm 1989‐1992: Phát triển thành tám phân xưởng

Năm 1993‐1996: Chế tạo và lắp đặt các công trình đầu tiên đạt tiêu chuẩn quốc tế

Năm 1997: Lần đầu tiên tham gia đấu thầu quốc tế, chế tạo các chân đế giàn khoan cho Petronass, JVPC Tại thời điểm này , CBCNV Việt Nam chiếm 70% và giữ các chức vụ chủ chốt

Từ năm 1997‐ đến nay: Các công ty tìm kiếm khai thác Dầu khí nước ngoài khi xây dựng tại Việt Nam đều mời XNXL Điều này chứng tỏ sự trưởng thành và lớn mạnh của Xí nghiệp trong ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước Có được thành qủa như ngày hôm nay phải kể đến sự nỗ lực của tập thể cán bộ công nhân viên trong suốt quá trình phát triển của mình

1.3 Chức năng và nhiệm vụ của Xí nghiệp Xây lắp:

Xí nghiệp Xây lắp cùng 15 đơn vị trực thuộc khác của “Vietsovpetro” tạo thành một liên hiệp sản xuất‐khoa học quốc doanh với mục đích khai thác và thăm dò Dầu khí tại thềm lục địa phía Nam

‐Chế tạo, vận chuyển, lắp đặt đúng vị trí các công trình phục vụ công tác thăm dò, khai thác Dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam của XNLD

‐ Lắp đặt các tuyến đường ống ngầm vận chuyển dầu và khí của XNLD và các đơn vị ngoài XNLD ‐Khảo sát, sửa chữa giàn khoan, xây dựng và cải tạo các bến bãi, lắp ráp hệ thống nhà xưởng phục vụ công tác xây dựng công trình khai thác Dầu khí

‐Tham gia xây dựng các công trình quốc phòng trên biển

‐Đấu thầu thi công các công trình dầu khí cho các công ty, tập đoàn Dầu khí nước ngoài có yêu cầu

1.4 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh :

1.4.1 Quy mô của Xí nghiệp Xây lắp :

‐ Tình hình số lượng lao động của Xí nghiệp Xây lắp:

Bảng 1: Bảng phân loại lao động

NĂM CHIA THEO TRÌNH ĐỘ TỔNG TRONG ĐÓ SỐ LƯỢNG LAO ĐỘNG

TRÊN ĐẠI HỌC ĐẠI HỌC

(HĐ xác định có thời hạn)

VIỆT NAM (HĐ xác định có thời hạn)

VIỆT NAM (Hợp đồng thời vụ)

Từ ngày thành lập, từ chỗ có 100 người là công nhân Liên Xô, đến nay Xí nghiệp Xây lắp đã có 925 cán bộ công nhân viên, chiếm 13.8% trong tổng số 6671 người của toàn Xí nghiệp Liên doanh dầu khí

“Vietsovpetro”, riêng số người Việt trong Xí nghiệp Xây lắp chiếm 97%

Từ chỗ gia công lắp ráp chân đế bằng cấu kiện bán thành phẩm đến nay Xí nghiệp đã có khả năng chế tạo các chân đế, các dạng block module và các thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công tác xây dựng và sửa chữa các công trình Dầu khí biển Như vậy trong suốt quá trình phát triển của mình, công nhân Việt Nam đã ngày một trưởng thành cả về số lượng lẫn chất lượng, đáp ứng được đòi hỏi của ngành công nghiệp then chốt trong sự nghiệp công nghiệp hóa –hiện đại hoá đất nước Ta có thể thấy sự phát triển của Xí nghiệp qua bảng 2

Bảng 2: Tình hình giá trị sản xuất Đơn vị tính: USD

Có được thành quả như ngày hôm nay, một phần lớn là do sự quân tâm của ban Giám đốc Xí nghiệp đối với ngành công nghiệp nặng nhọc và đầy nguy hiểm này Nếu so với mặt bằng thu nhập của người lao động ở đất nước ta thì thu nhập của cán bộ công nhân viên tại Xí nghiệp là rất cao Điều đó là nguồn động lực thúc đẩy cán bộ công nhân viên làm việc hiệu quả và sáng tạo

Bảng 3: Tình hình quỹ lương và thu nhập đầu người Đơn vị tính: USD

Chỉ tiêu thực tế Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003

Thu nhập đầu người/ năm 5,379.11 5,724.70 5,663.97

Vận chuyển chân đế biể Đánh chìm, định vị chânđế Đóng cọc, bơm trám i ă

Lắp ráp dầm chịu lực

Lắp ráp các khối Block‐module

Kết nối các Block‐module

S ơ đồ 1: S ơ đồ công ngh ệ ch ế t ạ o và l ắ p đặ t giàn khoan

1.5 Tổ chức bộ máy quản lý:

1.5.1 Sơ đồ bộ máy quản lý :

Xí nghiệp Xây lắp công trình biển có mô hình tổ chức quản lý kết hợp giữa cơ cấu trực tuyến và cơ cấu chức năng, trong đó Giám đốc Xí nghiệp điều hành trực tiếp sản xuất thông qua việc chỉ đạo các trưởng phòng, ban, phân xưởng Giám đốc là người quyết định cao nhất trong mọi hoạt động của Xí nghiệp Các trưởng phòng, ban, phân xưởng chịu trách nhiệm trực tiếp trước ban Giám đốc về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại đơn vị mình phụ trách Để điều hành hoạt động của cán bộ công nhân viên trong Xí nghiệp, Xí nghiệp có tổ chức bộ máy như sau:

Giám đốc: là người điều hành, quản lý, ra quyết định cuối cùng mà dựa trên tất cả các thông tin từ các phòng, ban trình lên, chịu sự quản lý của cấp trên

Phó Giám đốc biển (hay phó Giám đốc sản xuất): phụ trách trực tiếp toàn bộ các công việc trên biển như: lắp ráp, sửa chữa các công trình trên biển

Phó Giám đốc vật tư: phụ trách cung ứng vật tư, thiết bị cho các công trình mà Xí nghiệp Xây lắp các công trình biển đang thực hiện

Chánh kỹ sư: phụ trách chung về an toàn lao động, các công việc thiết kế, giám sát, thi công, duyệt quyết toán các hạng mục công trình trên bờ và ngoài biển của toàn Xí nghiệp

Các phòng, ban, phân xưởng trực thuộc Xí nghiệp :

Phòng kế toán: (được trình bày ở mục1.5.2 sau )

 Phòng kinh tế ‐ kế hoạch và lao động tiền lương

THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TIỀN LƯƠNG, CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG TẠI XÍ NGHIỆP XÂY LẮP

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN

Ngày đăng: 23/02/2022, 23:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w