Vì tính chất quan trọng, nhạy cảm và tương đối phức tạp của khoản mục tài sản cố định và chi phi khấu hao, người thực hiện quyết định chọn đề tài “Quy trình Kiểm toán tài sản cố đinh tại
Khái niệm tài sản cố định
Tài sản cố định (TSCĐ) được trình bày trên Bảng cân đối kế toán (CĐKT) tại phần Tài sản dài hạn, chủ yếu bao gồm tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, tài sản cố định thuê tài chính và bất động sản đầu tư
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 03 do Bộ Tài chính ban hành, Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất mà doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và được ghi nhận theo các nguyên tắc ghi nhận TSCĐ hữu hình Đây là nhóm tài sản có thời gian sử dụng lâu dài, mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp và được quản lý, định giá, cũng như theo dõi thông qua các chuẩn mực kế toán liên quan nhằm phản ánh đúng giá trị và tình hình sử dụng tài sản trong báo cáo tài chính.
- Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng, chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả…- Theo Thông tư 45/2013/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành
Tài sản cố định thuê tài chính là những TSCĐ doanh nghiệp thuê từ công ty cho thuê tài chính Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài chính Tổng số tiền thuê cho một loại tài sản được quy định tại hợp đồng thuê tài chính tối thiểu phải bằng với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.
- Bất động sản đầu tư: là bất động sản, gồm: quyền sử dụng đất, nhà, hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng – Theo VAS 05
Đặc điểm và quy định về quản lý tài sản cố định
- TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh Khoản mục TSCĐ là một khoản mục chiếm tỷ trọng đáng kể trên bảng cân đối kế toán
- TSCĐ là cơ sở vật chất của đơn vị Nó phản ánh năng lực sản xuất hiện có và trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào hoạt động của đơn vị TSCĐ là một trong các yếu tố quan trọng tạo khả năng tăng trưởng bền vững, tăng năng suất lao động từ đó giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm dịch vụ
Tài sản cố định (TSCĐ) là những tài sản được sử dụng cho mục đích sản xuất kinh doanh chứ không phải để bán; trong quá trình sử dụng, TSCĐ bị hao mòn dần theo thời gian và giá trị của chúng được ghi nhận thành chi phí hoạt động (khấu hao) Khoản chi phí này sẽ được thu hồi thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh, cụ thể là qua doanh thu từ bán hàng hóa, dịch vụ hoặc khi tài sản được thanh lý.
- Để sử dụng TSCĐ được tốt, ngoài việc sử dụng hợp lý công suất để phát triển sản xuất, doanh nghiệp phải tiến hành bảo dưỡng, sửa chữa TSCĐ Tuỳ theo quy mô sửa chữa và theo loại TSCĐ, chi phí sửa chữa được bù đắp khác nhau.
Phân loại tài sản cố định
Theo Điều 6 của Thông tư 45/2013/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 25/4/2013, tài sản cố định được phân loại dựa vào mục đích sử dụng theo các tiêu chí được quy định trong thông tư Việc phân loại này giúp xác định cách ghi nhận, quản lý và tính khấu hao phù hợp với từng loại tài sản cố định, đồng thời đảm bảo việc theo dõi và báo cáo tài chính phản ánh đúng giá trị, thời gian sử dụng và hiệu quả khai thác trong hoạt động sản xuất - kinh doanh.
TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh
Tài sản cố định hữu hình:
- Nhà cửa, vật kiến trúc;
- Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn;
- Thiết bị, dụng cụ quản lý;
- Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm;
- Các loại tài sản cố định khác: như tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật
Tài sản cố định vô hình: quyền sử dụng đất, quyền phát hành, bằng sáng chế phát minh, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, sản phẩm, kết quả của cuộc biểu diễn nghệ thuật, bản ghi âm, ghi hình
Tài sản cố định dùng cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh, quốc phòng
Tài sản cố định bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ.
Tiêu chuẩn ghi nhận
Tài sản cố định hữu hình:
Theo VAS 03, các tài sản được ghi nhận là TSCĐ hữu hình phải thoả mãn đồng thời cả bốn tiêu chuẩn ghi nhận sau:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;
- Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên;
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy;
- Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành,
Theo điều 3 Thông tư 45/2013/TT-BTC ban hành ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chính quy định tiêu chuẩn của tài sản cố định phải có giá trị từ 30.000.000 đồng trở lên
Tài sản cố định vô hình: Đối với tài sản cố định vô hình, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 04 tiêu chuẩn ghi nhận bao gồm:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy;
- Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm;
- Có đủ tiêu chuẩn ghi nhận giá trị theo quy định hiện hành (có nguyên giá từ 30.000.000 đồng trở lên)
Tài sản cố định thuê tài chính
Mục đích của tiêu chuẩn này giúp doanh nghiệp phân biệt giữa TSCĐ thuê tài chính với TSCĐ thuê hoạt động Các trường hợp dẫn đến việc ghi nhận TSCĐ thuê tài chính bao gồm:
- Bên cho thuê chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên thuê khi hết thời hạn thuê;
Khi ký hợp đồng thuê tài sản, bên thuê được quyền chọn mua lại tài sản thuê với một mức giá ước tính thấp hơn giá trị hợp lý vào thời điểm kết thúc thời hạn thuê Quy định này giúp bên thuê có cơ hội tiếp nhận tài sản với chi phí mua lại dự kiến thấp hơn so với giá trị thị trường tại cuối kỳ thuê Đây là điều khoản mua lại mang lại sự linh hoạt và tối ưu chi phí cho bên thuê trong suốt quá trình thuê.
- Thời hạn thuê tài sản chiếm phần lớn thời gian sử dụng kinh tế của tài sản cho dù không có sự chuyển giao quyền sở hữu
- Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu chiếm phần lớn giá trị hợp lý của tài sản thuê
- Tài sản thuê thuộc loại chuyên dùng mà chỉ có bên thuê có khả năng sử dụng không cần sự thay đổi, sửa chữa lớn nào
Bất động sản đầu tư:
Theo chuẩn mực kế toán VAS 05, điều kiện ghi nhận bất động sản đầu tư là tài sản phải thoả mãn đồng thời hai điều kiện sau:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai;
- Nguyên giá của bất động sản đầu tư phải được xác định một cách đáng tin cậy.
Nguyên tắc xác định giá trị tài sản cố định
Xác định giá trị ban đầu
Giá trị ban đầu của tài sản cố định thường được xác định theo nguyên giá của tài sản
TSCĐ hữu hình mua sắm:
Nguyên giá = Giá mua + các khoản thuế không được hoàn + chi phí để đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng
Nếu TSCĐ hữu hình mua sắm được thanh toán theo phương thức trả chậm, nguyên giá chính là giá mua trả ngay cộng các khoản thuế không được hoàn cộng chi phí để đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng Số chênh lệch giữa số tiền thanh toán với giá mua trả ngay được hạch toán vào chi phí theo kỳ hạn thanh toán nếu số chênh lệch đó chưa được vốn hoá theo quy định
TSCĐ hữu hình tự xây dựng hoặc tự chế:
Nguyên giá = Giá thành + Chi phí lắp đặt, chạy thử
Nếu doanh nghiệp dùng sản phẩm sản xuất để chuyển thành TSCĐ thì nguyên giá là chi phí sản xuất sản phẩm + chi phí liên quan đến việc đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng Đối với TSCĐ hữu hình tự xây dựng các chi phí sử dụng vượt mức bình thường sẽ không được tính vào nguyên giá TSCĐ hữu hình
TSCĐ hữu hình mua dưới hình thức trao đổi
Trong trường hợp TSCĐ trao đổi không tương tự nhau, nguyên giá được xác định theo giá trị hợp lý của TSCĐ hữu hình nhận về hoặc theo giá trị hợp lý của tài sản đem trao đổi; sau khi điều chỉnh khoản chênh lệch cần trả thêm hoặc thu về, cộng các khoản thuế không được hoàn và chi phí liên quan trực tiếp đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
Nếu TSCĐ trao đổi tương tự nhau, nguyên giá TSCĐ nhận về được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ đem trao đổi
TSCĐ hữu hình do đầu tư xây dựng cơ bản (phương thức giao thầu):
Nguyên giá TSCĐ = giá quyết toán công trình xây dựng + lệ phí, chi phí liên quan
Trong trường hợp TSCĐ do đầu tư xây dựng cơ bản đã đưa vào sử dụng nhưng chưa thực hiện quyết toán, doanh nghiệp hạch toán theo nguyên giá tạm tính và sẽ điều chỉnh giá trị sau khi công trình được quyết toán hoàn thành.
TSCĐ là súc vật, vườn cây lâu năm
Nguyên giá của tài sản dạng này là toàn bộ chi phí thực tế đã chi ra cho súc vật, vườn cây từ lúc hình thành đến thời điểm đưa vào khai thác sử dụng
TSCĐ hữu hình được cấp, được điều chuyển đến
Nguyên giá của tài sản loại này được xác định là toàn bộ giá trị còn lại của TSCĐ trên sổ kế toán tại đơn vị điều chuyển hoặc giá trị theo đánh giá thực tế của tổ chức định giá chuyên nghiệp, cộng các chi phí liên quan trực tiếp mà bên nhận tài sản phải chi tính đến thời điểm đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng
TSCĐ hữu hình được cấp, biếu, tặng hoặc do phát hiện thừa
Nguyên giá TSCĐ loại này chính là giá trị theo đánh giá thực tế của Hội đồng giao nhận hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp
Bất động sản đầu tư
Nguyên giá của bất động sản đầu tư bao gồm tất cả các giao dịch liên quan trực tiếp ban đầu Cũng giống như nguyên giá TSCĐ hữu hình được mua, nguyên giá của bất động sản đầu tư được mua là giá mua và các chi phí giao dịch liên quan khác
Nguyên giá của một bất động sản đầu tư không bao gồm các chi phí sau:
- Chi phí phát sinh ban đầu (trừ trường hợp các chi phí này cần thiết để đưa bất động sản đầu tư tới trạng thái sẵn sàng hoạt động)
Các chi phí khi mới đưa bất động sản đầu tư vào hoạt động lần đầu trước khi bất động sản đầu tư đạt tới trạng thái hoạt động bình thường theo dự kiến bao gồm chi phí thiết lập hệ thống và thiết bị, chi phí vận hành thử nghiệm và tối ưu hiệu suất, chi phí đào tạo và chuyển giao công nghệ cho đội ngũ vận hành, cùng với chi phí bảo trì, sửa chữa ban đầu và chi phí quản lý rủi ro trong giai đoạn chuyển tiếp Việc ghi nhận và phân bổ các chi phí này đúng cách giúp đánh giá tổng chi phí đầu tư, dự toán dòng tiền và lập kế hoạch vận hành nhằm đưa tài sản về trạng thái hoạt động bình thường theo đúng lộ trình dự kiến.
- Các chi phí không bình thường về nguyên vật liệu, lao động hoặc các nguồn lực khác trong quá trình xây dựng bất động sản đầu tư.
Xử lý các chi phí phát sinh sau khi ghi nhận ban đầu
Đối với TSCĐ hữu hình, các chi phí phát sinh sau khi ghi nhận ban đầu được ghi tăng nguyên giá nếu các chi phí này chắc chắn làm tăng lợi ích kinh tế trong tương lai do sử dụng tài sản đó
Các chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu TSCĐ hữu hình được ghi tăng nguyên giá tài sản nếu:
- Việc thay đổi bộ phận của tài sản làm tăng thời gian sử dụng hữu ích, tăng công suất sử dụng
- Việc cải tiến bộ phận tài sản làm tăng chất lượng sản phẩm sản xuất ra
Việc áp dụng quy trình công nghệ sản xuất mới giúp giảm chi phí hoạt động của tài sản so với trước đây Đối với TSCĐ vô hình, các chi phí liên quan phát sinh sau khi ghi nhận ban đầu phải được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi đồng thời được thoả mãn hai điều kiện sau thì chi phí đó mới được tính vào nguyên giá TSCĐ vô hình.
- Chi phí này có khả năng làm cho TSCĐ vô hình tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai nhiều hơn mức hoạt động được đánh giá ban đầu;
- Chi phí được đánh giá một cách chắc chắn và gắn liền với một TSCĐ vô hình cụ thể
Xác định giá trị còn lại
Giá trị còn lại của TSCĐ được tính bằng nguyên giá TSCĐ trừ đi số khấu hao luỹ kế của TSCĐ tính tại thời điểm báo cáo
Phần khấu hao sẽ được trình bày rõ hơn trong phần 1.1.6.
Khấu hao tài sản cố định
Trong quá trình sử dụng, do chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khác nhau nên TSCĐ bị hao mòn Hao mòn TSCĐ là sự giảm dần giá trị sử dụng và giá trị của TSCĐ do tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh Để đảm bảo đầu tư và mục đích thu hồi vốn, bộ phận kế toán có nhiệm vụ phải tính và phân bổ giá trị hao mòn vào chi phí sản xuất trong kỳ kế toán tương ứng Đây thực chất là việc tính và trích khấu hao TSCĐ
Khấu hao TSCĐ là việc phân bổ có hệ thống giá trị phải khấu hao của TSCĐ trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó
Giá trị khấu hao là nguyên giá của TSCĐ ghi trên báo cáo tài chính , trừ (-) giá trị thanh lý ước tính của tài sản đó
Mục đích của khấu hao TSCĐ là tích lũy vốn để tái sản xuất giản đơn hoặc tái sản xuất mở rộng TSCĐ Phần giá trị hao mòn được chuyển dịch sang giá trị sản phẩm và được coi là một yếu tố chi phí sản xuất, thể hiện dưới hình thức tiền tệ gọi là tiền khấu hao TSCĐ.
Ý nghĩa của khấu hao TSCĐ: thực hiện khấu hao TSCĐ một cách hợp lý có ý nghĩa kinh tế lớn đối với doanh nghiệp:
- Khấu hao hợp lý là biện pháp quan trọng để thực hiện bảo toàn vốn cố định, làm cho doanh nghiệp có thể thu hồi được đầy đủ vốn cố định khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng
- Khấu hao hợp lý giúp doanh nghiệp có thể tập trung được vốn từ tiền khấu hao để có thể thực hiện kịp thời việc đổi máy móc, thiết bị công nghệ Khấu hao TSCĐ là một yếu tố chi phí, việc xác định khấu hao hợp lý là một nhân tố quan trọng để xác định đúng đắn giá thành phẩm và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Phương pháp trích khấu hao tài sản cố định
Theo chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam, mỗi đơn vị có thể lựa chọn một trong ba phương pháp khấu hao phù hợp với đặc điểm của tài sản: khấu hao đường thẳng, khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh và khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm Thực tế, phương pháp khấu hao đường thẳng được áp dụng phổ biến nhất do tính đơn giản và đều đặn của quá trình khấu hao.
Phương pháp khấu hao theo đường thẳng
Phương pháp khấu hao theo đường thẳng là phương pháp trích khấu hao theo mức tính ổn định từng năm vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp của tài sản cố định tham gia vào hoạt động kinh doanh
Mức trích khấu hao trung bình hằng năm = Nguyên giá của TSCĐ
Thời gian trích khấu hao Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng = Nguyên giá TSCĐ – số khấu hao luỹ kế
Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh: Đối với phương pháp khấu hao này, số khấu hao hàng năm sẽ giảm dần trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản
X Tỷ lệ khấu hao hàng năm của TSCĐ Nhanh
= Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định
X Hệ số điều chỉnh nhanh (%) theo phương pháp đường thẳng
Tỷ lệ khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng (%)
X 100 Thời gian trích khấu hao của TSCĐ
Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm
Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm dựa trên tổng số sản phẩm ước tính có thể tạo ra
Mức trích khấu hao trong tháng = Số lượng sản phẩm sản xuất trong tháng X Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm Trong đó
Mức khấu hao bình quân cho một sản phẩm = Nguyên giá TSCĐ
Sản lượng theo công suất thiết kế
Các vấn đề kế toán liên quan đến tài sản cố định và trích khấu hao
Chứng từ kế toán sử dụng
- Mọi trường hợp tăng, giảm TSCĐ đều phải lập chứng từ kế toán để làm căn cứ pháp lý cho việc ghi chép và kiểm tra như:
Biên bản giao nhận TSCĐ (tài sản cố định) là chứng từ xác nhận quyền giao nhận sau khi hoàn thành xây dựng, mua sắm và được cấp phát, nhằm đưa TSCĐ vào sử dụng tại đơn vị Biên bản cũng thể hiện rằng tài sản có thể được đưa vào sử dụng tại đơn vị hoặc bàn giao sang tài sản của đơn vị khác theo lệnh của cấp trên.
- Hoá đơn của nhà cung cấp, bộ chứng từ nhập khẩu
Biên bản thanh lý tài sản là chứng từ xác nhận việc thanh lý TSCĐ và là căn cứ cho việc ghi giảm TSCĐ Biên bản này do Ban thanh lý TSCĐ lập và phải có đầy đủ chữ ký của người có thẩm quyền.
- Thẻ tài sản: đặc điểm kỹ thuật, nơi sử dụng, quá trình luân chuyển, các lần sửa chữa Thẻ được lưu trữ ở bộ phận kế toán, bảng tính phân bổ khấu hao
- Sổ đăng ký TSCĐ: những tài sản nào ghi trên sổ này mới được trích khấu hao Nội dung cần được ghi trên sổ đăng ký gồm mã số tài sản, bộ phận sử dụng
- Sổ cái các tài khoản 211; 212; 213; 214; 217
- Sổ chi tiết TSCĐ: mã tài sản, tên tài sản, thời gian bắt đầu đưa vào sử dụng và trích khấu hao, tài sản tăng, giảm trong năm
Tài khoản sử dụng theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC
211 Tài sản cố định hữu hình
2111 Nhà cửa, vật kiến trúc
2113 Phương tiện vận tải, truyền dẫn
2114 Thiết bị dụng cụ quản lý
2115 Cây lâu năm, súc vật làm việc cho sản phẩm
212 Tài sản cố định thuê tài chính
213 Tài sản cố định vô hình
2133 Bản quyền bằng sáng chế
2136 Giấy phép và giấy phép nhượng quyền
2141 Hao mòn TSCĐ hữu hình
2142 Hao mòn TSCĐ thuê tài chính
2143 Hao mòn TSCĐ vô hình
2147 Hao mòn bất động sản đầu tư
217 Bất động sản đầu tư
Góp VLD, LK bằng TSCĐ
TSCĐ do XDCB hoàn thành bàn giao
Nhận vốn góp bằng TSCĐ Định kỳ phâ n bổ
Quy trình hạch toán các nghiệp vụ kế toán liên quan đến TSCĐ
Các nghiệp vụ kế toán liên quan đến TSCĐ diễn ra không thường xuyên nhưng có quy mô lớn và nội dung phức tạp, bao gồm tăng, giảm giá trị và sửa chữa TSCĐ Việc hạch toán được thực hiện thông qua các sơ đồ quy trình và chu trình kiểm soát nhằm đảm bảo ghi nhận đúng giá trị còn lại của tài sản, chi phí khấu hao và diễn biến tình trạng sẵn có của TSCĐ Quy trình này đòi hỏi phân loại TSCĐ, theo dõi biến động chi phí và cập nhật sổ sách kế toán khi có thay đổi về số lượng, tình trạng hoặc giá trị của tài sản.
Sơ đồ 1.1 - Kế toán tăng, giảm TSCĐ
Tổng quan về kiểm toán khoản mục tài sản cố định và trích khấu hao tài sản cố định
Tổng quan về kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm tra để đưa ra ý kiến nhận xét về trình bày trung thực và hợp lý BCTC của đơn vị được kiểm toán Thước đo được sử dụng trong kiểm toán báo cáo tài chính là chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành Đối tượng của kiểm toán BCTC là bộ báo cáo tài chính gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính
Kiểm toán BCTC nhằm tăng độ tin cậy của người sử dụng đối với BCTC bằng cách kiểm toán viên (KTV) đưa ra ý kiến về việc BCTC được lập và trình bày trung thực, hợp lý và phù hợp với khuôn khổ lập và trình bày BCTC áp dụng Ý kiến của KTV giúp người dùng có căn cứ để đánh giá tính hợp lý của thông tin tài chính, từ đó nâng cao niềm tin và chất lượng của báo cáo tài chính trên thị trường.
Đặc điểm của kiểm toán khoản mục tài sản cố định và trích khấu hao TSCĐ trong kiểm toán BCTC
Tài sản cố định luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của đơn vị và tuỳ thuộc vào từng ngành nghề, theo từng loại hình kinh doanh của đơn vị Vì thế khoản mục TSCĐ phản ánh tình trạng trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp Chính vì thế khoản mục TSCĐ trở thành khoản mục quan trọng khi tiến hành kiểm toán BCTC
Việc kiểm toán TSCĐ thường không chiếm quá nhiều thời gian do:
- Số lượng TSCĐ thường không nhiều và mỗi loại tài sản có giá trị lớn
- Các nghiệp vụ tăng, giảm TSCĐ trong năm thường không nhiều
TSCĐ được phản ánh trên BCTC theo giá trị còn lại Tuy nhiên, theo chuẩn mực và chế độ kế toán yêu cầu phải phản ánh nguyên giá và giá trị hao mòn luỹ kế
Vì vậy, quá trình kiểm toán TSCĐ gắn liền với việc kiểm tra chi phí khấu hao Việc kiểm toán chi phí khấu hao có những đặc điểm riêng như:
- Chi phí khấu hao là một khoản ước tính kế toán vì vậy chi phí khấu hao phụ thuộc vào nguyên giá, giá trị thanh lý ước tính và thời gian sử dụng hữu ích Việc kiểm toán chi phí khấu hao không thể dựa vào các chứng từ, tài liệu để tính toán do nó là một khoản ước tính kế toán hơn là chi phí phát sinh thực tế
- Kiểm toán chi phí khấu hao mang tính chất là kiểm tra việc áp dụng phương pháp kế toán.
Kiểm soát nội bộ đối với tài sản cố định
Mục đích của kiểm soát nội bộ
Theo chuẩn mực kiểm toán số 315 về Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị, kiểm soát nội bộ được định nghĩa như một tiến trình được thiết kế và thực hiện bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các nhân sự liên quan nhằm cung cấp mức độ đảm bảo hợp lý cho việc đạt được các mục tiêu của đơn vị; mục tiêu của kiểm soát nội bộ gồm hiệu lực và hiệu quả của hoạt động, tính tin cậy của báo cáo tài chính và sự tuân thủ các quy định pháp lý áp dụng; hệ thống kiểm soát nội bộ dựa trên các yếu tố chính như môi trường kiểm soát, nhận diện và đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, hệ thống thông tin và truyền thông, và quá trình giám sát; việc hiểu rõ môi trường của đơn vị và các rủi ro liên quan giúp xác định các kiểm soát trọng yếu nhằm ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa sai sót trọng yếu.
“Kiểm soát nội bộ là quy trình do ban quản trị, ban giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất lao động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan.”
Từ đó ta có thể thấy rằng mục đích chính của kiểm soát nội bộ là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào tài sản cố định thông qua việc đầu tư đúng mục đích, không lãng phí và quản lý, sử dụng hiệu quả TSCĐ Mặt khác, kiểm soát nội bộ giúp hạch toán đúng đắn chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ, chi phí sửa chữa, chi phí khấu hao Do các chi phí này quan trọng nên nếu có sai sót, có thể dẫn đến sai sót trọng yếu trên BCTC
Trong phạm vi kiểm toán BCTC, KTV chủ yếu quan tâm đến các chính sách thủ tục của hệ thống kiểm soát nội bộ có liên quan đến cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính Việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán và việc đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát sẽ giúp cho KTV xác định được:
- Phạm vi kiểm toán cần thiết đối với những sai sót trọng yếu có thể tồn tại trong BCTC
- Xem xét các nhân tố có khả năng gây ra sai sót trọng yếu
- Xây dựng các thủ tục kiểm toán thích hợp
Khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ để lập kế hoạch kiểm toán, KTV sẽ hiểu biết được việc thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng Từ đó, KTV sẽ xác định phương hướng và phạm vi kiểm tra, thiết kế các thủ tục kiểm toán…
Quy trình kiểm toán Tài sản cố định
Theo chuẩn mực kiểm toán VSA 220, các doanh nghiệp kiểm toán phải thu thập đầy đủ thông tin cần thiết cho từng tình huống cụ thể trước khi chấp nhận khách hàng mới, quyết định tiếp tục duy trì quan hệ với khách hàng hiện có và cân nhắc việc cung cấp dịch vụ mới cho khách hàng hiện tại.
Vì thế những thông tin cần xem xét trước khi quyết định chấp nhận, duy trì quan hệ khách hàng và hợp đồng kiểm toán:
- Tính chính trực của các thành viên Ban Giám đốc và Ban quản trị;
- Năng lực chuyên môn và khả năng của nhóm kiểm toán trong việc thực hiện cuộc kiểm toán
- Khả năng của doanh nghiệp kiểm toán và nhóm kiểm toán trong việc tuân thủ chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan;
- Các vấn đề trọng yếu phát sinh trong cuộc kiểm toán năm hiện hành hoặc năm trước và những ảnh hưởng đối với việc duy trì quan hệ khách hàng
Tiếp cận khách hàng Đối với khách hàng mới: KTV cần tìm hiểu lý do mời kiểm toán của khách hàng tiềm năng, đặc điểm tình hình kinh doanh, tìm hiểu lý do khiến KTV tiền nhiệm không thể tiếp tục công việc thông qua trao đổi trực tiếp với họ Đối với khách hàng cũ: KTV cần cập nhật thông tin để đánh giá lại về khách hàng hiện hữu, những vấn đề mới được phát sinh Ngoài ra có những trường hợp KTV cần ngưng kiểm toán cho khách hàng như xảy ra sự tranh chấp giữa khách hàng với KTV
Phân công kiểm toán viên
Người phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán thuộc Ban Giám đốc phải đảm bảo nhóm kiểm toán và các chuyên gia ngoài nhóm kiểm toán có năng lực chuyên môn và khả năng phù hợp để thực hiện cuộc kiểm toán đúng chuẩn theo các chuẩn mực nghề nghiệp và pháp luật liên quan Nhóm kiểm toán có thể gồm các thành viên có kinh nghiệm chuyên sâu ở các lĩnh vực liên quan đến kế toán, kiểm toán được doanh nghiệp kiểm toán thuê hoặc tuyển dụng để thực hiện các thủ tục kiểm toán cho cuộc kiểm toán Khi phân công KTV, doanh nghiệp kiểm toán cần lưu ý các vấn đề sau:
- Sự am hiểu và kinh nghiệm thực tiễn của nhóm kiểm toán về các cuộc kiểm toán có tính chất và độ phức tạp tương đương thông qua hoạt động đào tạo và kết quả thực hiện các cuộc kiểm toán trước đó;
- Sự am hiểu các chuẩn mực nghề nghiệp pháp luật và các quy định có liên quan;
- Kinh nghiệm chuyên sâu của nhóm kiểm toán, gồm hiểu biết về công nghệ thông tin và lĩnh vực riêng biệt liên quan đến kế toán, kiểm toán;
- Kiến thức của nhóm kiểm toán về ngành nghề hoạt động của đơn vị được kiểm toán;
- Khả năng của nhóm kiểm toán trong việc đưa ra các xét đoán chuyên môn;
- Sự am hiểu của nhóm kiểm toán về các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng của doanh nghiệp kiểm toán
1.2.4.2 Lập kế hoạch kiểm toán
Tìm hiểu về tình hình kinh doanh
Hiểu biết chung về thực trạng nền kinh tế như mức độ lạm phát, các chính sách của Chính phủ…
Hiểu biết về môi trường và lĩnh vực hoạt động của đơn vị được kiểm toán.KTV có thể tìm hiểu những thông tin này thông qua các phương pháp như cần thu thập và nghiên cứu tài liệu về tình hình kinh doanh của đơn vị được kiểm toán, tham quan đơn vị, phỏng vấn hay phân tích sơ bộ báo cáo tài chính Những thông tin mà KTV cần thu thập như:
- Điều lệ công ty và giấy phép thành lập;
- Báo cáo tài chính và các báo cáo kiểm toán của năm hiện hành và những năm trước
- Biên bản họp Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị
- Các hợp đồng và các cam kết quan trọng như hợp đồng mua bán hàng, biên bản thanh lý tài sản giúp phân tích và đánh giá các khoản mục
- Các chính sách của đơn vị được kiểm toán: chính sách kế toán; các nội quy, chính sách của khác của công ty
- Quan sát thực tế đối với các phương tiện kinh doanh, các bố trí và sử dụng chúng qua đó giúp KTV hiểu hơn về tình hình hoạt động thực tế của khách hàng
- Phân tích báo cáo tài chính, so sánh giữa những thông tin khác nhau nhằm đánh giá mối quan hệ, xu hướng phát triển và phát hiện những biến động bất thường từ đó dự đoán khu vực có rủi ro cao Phân tích sơ bộ báo cáo tài chính là thủ tục quan trọng trong kiểm toán.Trong giai đoạn này, Kiểm toán viên phải đạt được những hiểu biết cần thiết về đơn vị được kiểm toán cũng như về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đó Trên cơ sở đó, KTV lập kế hoạch kiểm toán từ những đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm soát của đơn vị được kiểm toán
Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ
Trong giai đoạn này, Kiểm toán viên phải đạt được những hiểu biết cần thiết về đơn vị được kiểm toán cũng như về hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị đó Trên cơ sở đó, KTV lập kế hoạch kiểm toán từ những đánh giá sơ bộ về rủi ro kiểm soát của đơn vị được kiểm toán
Khi tìm hiểu hệ thống KSNB của doanh nghiệp được kiểm toán năm đầu tiên, KTV phải mất nhiều thời gian để tìm hiểu các quy định, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, các quy định về trình tự, hồ sơ hạch toán, hệ thống kế toán Để đạt được những hiểu biết trên, KTV cần sử dụng những công cụ khác nhau như bảng câu hỏi, bảng tường thuật, lưu đồ, phép thử walk-through
Bảng 1.1 – Bảng mẫu câu hỏi về KSNB đối với TSCĐ
Người chuẩn y việc mua sắm, thanh lý
TSCĐ có khác với người ghi sổ hay không?
Doanh nghiệp có thiết lập kế hoạch và dự toán ngân sách cho việc mua sắm TSCĐ hay không?
Doanh nghiệp có thường xuyên đối chiếu giữa sổ chi tiết và sổ cái hay không?
Doanh nghiệp có kiểm kê định kỳ TSCĐ và đối chiếu với sổ kế toán hay không?
Các chênh lệch giữa giá dự toán và giá thực tế có được xét duyệt và phê chuẩn hay không?
Khi nhượng bán hay thanh lý tài sản có lập hội đồng thanh lý bao gồm các thành viên theo quy định hay không?
Có chính sách phân biệt giữa các khoản chi sẽ ghi tăng nguyên giá TSCĐ hay tính vào chi phí của niên độ hay không
Nguồn: Sách Kiểm toán, Khoa Kế toán – Kiểm toán Đại học Kinh tế Tp.HCM, năm
Tìm hiểu hệ thống KSNB đối với khoản mục này gồm có các thủ tục nhằm đạt được sự hiểu biết đầy đủ về tất cả các thủ tục kiểm soát của đơn vị trong việc đầu tư, quản lý và sử dụng TSCĐ Đồng thời, KTV cũng cần hiểu biết về kế toán TSCĐ của đơn vị được kiểm toán Sự hiểu biết này gồm hai phần đó là hệ thống KSNB có được thiết kế phù hợp không và chúng có được đơn vị thực hiện trên thực tế không
Sự hiểu biết này sẽ giúp KTV xác định được các loại sai sót tiềm tàng của khoản mục TSCĐ, xem xét các yếu tố ảnh hưởng có thể dẫn đến rủi ro làm BCTC bị sai lệch trọng yếu, thiết kế thử nghiệm cơ bản phù hợp
Tuỳ vào thực tế của khách hàng, KTV lựa chọn và áp dụng các phương pháp đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) phù hợp Các phương pháp thường được sử dụng gồm dựa vào kinh nghiệm kiểm toán trước đây, phỏng vấn quản lý và nhân viên, kiểm tra tài liệu và sổ sách, cũng như quan sát khi tìm hiểu khách hàng nhằm xác định tính hiện hữu và hiệu lực của KSNB Đối với khoản mục TSCĐ (tài sản cố định), KTV sẽ đánh giá hệ thống KSNB liên quan đến TSCĐ bằng cách tìm hiểu các thông tin như quy trình ghi nhận, quản lý và kiểm kê TSCĐ, phân bổ chi phí và theo dõi sổ sách để đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro kiểm soát.
- Nguyên giá TSCĐ được ghi nhận như thế nào?
- Khấu hao TSCĐ có được thực hiện theo Thông tư 45/2013/TT-BTC ban hành ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chính không?
- Đơn vị có mở sổ theo dõi chi tiết từng TSCĐ không?
- Công ty đã thực hiện những thủ tục để đảm bảo rằng có sự đối chiếu thường xuyên giữa sổ cái và sổ chi tiết TSCĐ không và bằng cách nào?
- Hàng năm công ty có đăng ký khấu hao với cơ quan thuế đối với những tài sản mua mới hay không?
- Công ty có những khoản đầu tư TSCĐ quan trọng nào trong năm không?
Tổng quan các nghiên cứu đã thực hiện liên quan đến đề tài kiểm toán khoản mục tài sản cố định
Trong quá trình thực hiện bài nghiên cứu về đề tài kiểm toán khoản mục tài sản cố định, tôi đã tham khảo nhiều tài liệu và khóa luận tốt nghiệp của các anh chị khóa trước tại thư viện trường Đại học Tôn Đức Thắng Thông qua các nguồn tư liệu này, tôi đúc kết được những ưu điểm và nhược điểm của một số bài luận, từ đó rút ra những bài học để hoàn thiện bài luận của mình và nâng cao chất lượng nghiên cứu về kiểm toán tài sản cố định.
Trần Thị Hương Trang (2009), Quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính tại, trường Đại học Tôn Đức Thắng
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
+ Khoản mục tài sản cố định
+ Chương trình kiểm toán tại công ty TNHH Kế toán Kiểm toán Tư vấn Việt Nam (AACC)
- Thời gian thực hiện nghiên cứu: 2009
- Số liệu phân tích lấy năm: 2008
Chương 1 thiết lập cơ sở lý luận cho việc tìm hiểu và nghiên cứu đề tài kiểm toán khoản mục tài sản cố định, bằng cách trình bày chi tiết khái niệm, nguyên tắc và quy trình kiểm toán và liên hệ chặt chẽ với Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam cũng như Chuẩn mực Kế toán Việt Nam, nhằm định hướng phân tích và đánh giá tính đúng đắn của thông tin tài sản cố định trong báo cáo tài chính.
Chương 2: nêu tổng quan về lịch sử hình thành, lĩnh vực hoạt động và tổ chức bộ máy quản lý, giới thiệu về bộ phận kiểm toán tại Công ty AACC Trình bày được thực trạng của quy trình kiểm toán chung cũng như quy trình kiểm toán tài sản cố định Từ đó phân tích quy trình kiểm toán tài sản cố định đối với công ty cụ thể và Chương 3: tác giả có cái nhìn tổng quan về hoạt động của công ty AACC và cụ thể là bộ phận kiểm toán và nhìn nhận ưu điểm cũng như hạn chế của quy trình kiểm toán chung cũng như quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ Từ đó đưa ra những kiến nghị cho những hạn chế còn tồn tại để giúp quá trình kiểm toán được tốt hơn
Chương 2: Tác giả chưa nêu được mối quan hệ của bộ phận kiểm toán trong công ty với các phòng ban khác Phần quy trình kiểm toán chung tác giả chưa nêu rõ những công việc công ty AACC làm khi kiểm toán
Chương 3: Chưa đưa được những kiến nghị cụ thể cho những nhược điểm mà tác giả đã phân tích Tác giả chỉ đưa ra các kiến nghị chung chung cho toàn hệ thống
Nguyễn Thị Minh Thương (2013), Quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định tại công ty Kiểm toán DTL, trường Đại học Tôn Đức Thắng
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Chương trình kiểm toán tài sản cố định tại Công ty Kiểm toán DTL
- Thời gian thực hiện nghiên cứu: 2013
- Số liệu phân tích lấy năm: 2012
Chương 1: Tác giả tìm hiểu về mặt lý thuyết của khoản mục tài sản cố định, đặc biệt là khoản mục TSCĐ hữu hình Đưa ra những vấn đề kế toán liên quan đến TSCĐ; đặc điểm khoản mục, mục tiêu kiểm toán và quy trình kiểm toán chung Chương 2: Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của công ty Kiểm toán DTL, sơ lược về nhiệm vụ và chức năng của các phòng ban và các cấp trong bộ máy quản lý Giới thiệu về bộ phận kiểm toán và nhiệm vụ cụ thể của mỗi cấp trong bộ phận Đồng thời cũng tổng quan về quy trình kiểm toán chung về TSCĐ hữu hình của công ty DTL cũng như quy trình kiểm toán của khoản mục TSCĐ hữu hình được vận dụng trong thực tế như thế nào Bài luận cho thấy những nghiên cứu của tác giả trong chương trình kiểm toán theo RSM của công ty DTL
Chương 3 trình bày những nhận xét và kiến nghị của tác giả sau quá trình thực tập, tập trung vào việc tìm hiểu tổng quan về công ty và quá trình kiểm toán các khoản mục đã nghiên cứu, đặc biệt là những nhận xét về thủ tục phân tích và thử nghiệm chi tiết khi kiểm toán TSCĐ Tác giả phân tích hiệu quả của các thủ tục phân tích nhằm nhận diện rủi ro và sai lệch, đồng thời chỉ ra những điểm cần cải thiện trong quy trình kiểm toán chi tiết đối với TSCĐ Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các biện pháp tăng cường kiểm soát nội bộ, củng cố bằng chứng kiểm toán và tối ưu hóa các bước thực hiện để nâng cao tính đầy đủ, chính xác và tin cậy của báo cáo tài chính liên quan đến TSCĐ.
Hạn chế Đối với chương 2 tác giả chỉ nghiên cứu quy trình kiểm toán cho khoản mục TSCĐ hữu hình mà chưa tìm hiểu quy trình kiểm toán chung của công ty Ngoài ra còn có một số sai sót như lỗi chính tả
Nguyễn Thị Thu Trang (2013), Quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định và trích khấu hao tại công ty TNHH Kiểm toán M&H, trường Đại học Tôn Đức Thắng
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Công ty TNHH Kiểm toán M&H
- Thời gian thực hiện nghiên cứu: 2013
- Số liệu phân tích lấy từ năm: 2012
Chương 1 nêu lên các vấn đề chung về khoản mục TSCĐ theo quy định pháp luật mà người làm kiểm toán cần nắm trước khi đi sâu vào các nội dung kiểm toán, như nguyên tắc xác định nguyên giá và phân loại tài sản Đối với phần tổng quan kiểm toán TSCĐ, tác giả trình bày cái nhìn khái quát về chương trình kiểm toán TSCĐ theo Chuẩn mực, giúp định hình phạm vi, trình tự và nội dung kiểm toán nhằm đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ các chuẩn mực ngành.
Chương 2: Nêu tổng quan về những thông tin cần thiết của công ty, quy trình chung khi thực hiện kiểm toán tác giả diễn giải khá rõ ràng ngoài ra quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ tác giả đã nêu những công việc và các bước cần làm theo chương trình kiểm toán VACPA Phần minh hoạ thực tiễn tác giả đưa ra những ví dụ khá rõ để minh hoạ cho quy trình kiểm toán của công ty M&I
Chương 3 phân tích các nhận xét của tác giả về công ty và quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ, đồng thời phân tích từng hạn chế của công ty để từ đó đưa ra các kiến nghị phù hợp Không chỉ dừng lại ở các đề xuất cho công ty M&I, bài viết còn nêu lên những khó khăn khi thực hiện một số quy định của Nhà nước, đặc biệt là đề nghị Bộ Tài chính nên gia hạn thêm thời hạn nộp báo cáo tài chính cho các doanh nghiệp Sau khi kết thúc năm tài chính, nhiều công ty khách hàng vẫn chưa hoàn tất báo cáo tài chính, vì số lượng công ty cần kiểm toán rất lớn nên thời gian ngắn có thể khiến quá trình kiểm toán gặp khó khăn và phải xử lý khối lượng công việc lớn.
Bài khoá luận nêu khá đầy đủ những vấn đề liên quan đến đề tài, vẫn còn một số sai sót về lỗi chính tả Đối với chương 3, tác giả chưa trích dẫn các nội dung liên quan đến chuẩn mực.