Đây là nơi mà sinh viên đã là những người trưởng thành, có học vấn, có nhận thức và có trình độ văn hóa cao;đối tượng quan hệ giao tiếp thường xuyên, chủ yếu của sinh viên là những người
Trang 1ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC
✰
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài
KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Giảng viên hướng dẫn: TS LÊ MỸ DUNG Sinh viên thực hiện: HOÀNG THỊ OANH
Mã số SV: 3200218060
Đà Nẵng, tháng 12 năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN 7
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến kỹ năng giao tiếp 7
1.2.4 Đặc điểm tâm lý của sinh viên Khoa Tâm lý Giáo dục Trường ĐHSP
Trang 31.2.5.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của sinh viên 31
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG GIAO
2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên Khóa 18 Khoa
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN KHOA TÂM LÝ - GIÁO DỤC TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐẠI
3.1 Kết quả thực trạng chung về kỹ năng giao tiếp của sinh viên 373.1.1 Nhận thức về vai trò kỹ năng giao tiếp của sinh viên 373.1.2 Đánh giá mức độ biểu hiện về kỹ năng giao tiếp của sinh viên 39
MỘT SỐ SỐ LIỆU THỐNG KÊ VỀ THỰC TRẠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHSP - ĐHĐN : Đại học sư phạm - Đại học Đà Nẵng
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 1: Thực trạng mức độ quan tâm về kỹ năng giao tiếp của sinh viên… 37
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại hiện nay, kinh tế - xã hội đang phát triển mạnh mẽ và hội nhậpvới thế giới toàn cầu, khoa học kĩ thuật càng hiện đại và phát triển thì càng ảnh hưởngđến hành vi, đến sự suy nghĩ và cuộc sống con người nên mối quan hệ giữa con ngườivới con người càng được quan tâm, vì thế giao tiếp được xem là vấn đề thời sự trongnhiều lĩnh vực, nhất là những lĩnh vực làm việc trực tiếp với con người như giáo dục,dạy học, ngoại giao Ngày nay giao tiếp là phương tiện để con người hợp tác cùngnhau, hướng tới mục đích bình đẳng, hạnh phúc Qua giao tiếp con người lĩnh hội, tiếpthu nền văn hóa, các kinh nghiệm, giá trị, chuẩn mực đạo đức xã hội tạo ra; giao tiếpgiúp thỏa mãn nhu cầu của con người, qua giao tiếp cá nhân được xã hội thừa nhận,đánh giá, hình thành mối quan hệ nhân cách Qua giao tiếp cá nhân tự so sánh, đốichiếu mình với các chuẩn mực, giá trị đạo đức, từ đó tự điều khiển, tự giáo dục đểhoàn thiện nhân cách Để thỏa mãn nhu cầu giao tiếp và tiến hành giao tiếp có kết quảcon người cần có kỹ năng giao tiếp
Kỹ năng giao tiếp càng là bí quyết không thể thiếu trong môi trường làm việchiện đại Không phải ngẫu nhiên mà trong vô số những điều cần phải học, ông cha ta
lại chọn giao tiếp, ứng xử là ưu tiên số một Nói cách khác “Học ăn, học nói, học gói, học mở” từ bao đời nay đã là điều kiện tiên quyết để xây dựng nên chuẩn mực trong
văn hóa sống và giao tiếp hằng ngày Chính kỹ năng này vẫn luôn là yếu tố mởđường, quyết định cho sự thành công hay thất bại trên đường đời Giao tiếp là mộthoạt động cơ bản, một nhu cầu không thể thiếu của con người Để tồn tại và pháttriển, hàng ngày, hàng giờ, con người luôn thực hiện việc giao tiếp; mỗi con người đềuphải giao tiếp với cộng đồng, với thế giới xung quanh để hoàn thành chức trách củamình Mỗi môi trường (công sở, kinh doanh, trường học, làm việc,…) đều có cáchgiao tiếp khác nhau Và đối với môi trường đại học cũng thế Đây là nơi mà sinh viên
đã là những người trưởng thành, có học vấn, có nhận thức và có trình độ văn hóa cao;đối tượng quan hệ giao tiếp thường xuyên, chủ yếu của sinh viên là những người có trithức: thầy cô, bạn bè Vì thế đòi hỏi sinh viên phải có những kỹ năng giao tiếp cơ bản,thiết yếu nhằm biết cách xây dựng được các mối quan hệ nơi trường lớp và trong cuộcsống, tạo nên một bầu không khí thật sự tốt đẹp văn minh, lịch sự Cho nên việc sinhviên trang bị cho bản thân kiến thức chuyên môn vững vàng là điều cần phải làm,nhưng liệu rằng kiến thức chuyên môn thật tốt có mang lại thành công cho mỗi sinhviên khi ra trường chăng?
Sinh viên Khoa Tâm lý - Giáo dục nói riêng và sinh viên trường Đại học SưPhạm Đại học Đà Nẵng nói chung là những người giáo viên, giảng viên hay nhữngchuyên viên trong tương lai cần được cung cấp những tri thức, kỹ năng về giao tiếp.Chính từ kiến thức về kỹ năng giao tiếp giúp họ có những mối quan hệ tốt đối với bạn
bè, thầy cô và những người xung quanh Điều này sẽ là nhân tố giúp tạo điều kiện tốt
Trang 6cho việc học tập, học hỏi, giao lưu, lĩnh hội tri thức Mặt khác, sau khi rời khỏi ghếnhà trường, sinh viên có được những tri thức cơ bản về kỹ năng giao tiếp nhằm giúp
họ sống tốt, làm việc thành công trong các mối quan hệ xã hội và trong môi trườnglàm việc của mình Bên cạnh đó, trong thời kỳ đất nước hội nhập và phát triển, ngườisinh viên có kỹ năng giao tiếp tốt, có khả năng ứng xử trong mối quan hệ với đồng đội,với nhân dân, với người nước ngoài… Giáo dục trong nhà trường có vai trò quan trọngkhông những trong việc cung cấp các tri thức cần thiết mà còn hình thành các kỹ năngnhất định cho người học, các kỹ năng năng mềm khác như kỹ năng giao tiếp, kỹ nănggiải quyết vấn đề, cũng là mục tiêu nhà trường hướng tới trong quá trình giáo dục
Đối với sinh viên trường ĐHSP - ĐHĐN, kỹ năng giao tiếp tốt có ý nghĩakhông chỉ đối với việc học tập, rèn luyện tại trường mà cả trong công tác thực tiễn củasinh viên sau khi ra trường Thực tiễn cho thấy những ai có kỹ năng giao tiếp tốtthường đạt kết quả tốt trong học tập, rèn luyện và trong công tác thực tiễn sau khi ratrường Còn kỹ năng giao tiếp của sinh viên kém sẽ gây những ảnh hưởng không nhỏcho việc học tập, rèn luyện cũng như cho việc thực thi nhiệm vụ của học viên sau khitốt nghiệp Xuất phát từ những lý do trên, em muốn chọn nghiên cứu đề tài “Nghiêncứu kỹ năng giao tiếp của sinh viên Sư phạm trường Đại học Sư Phạm - Đại học ĐàNẵng”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng kỹ năng giao tiếp của sinh viên Sư phạm trường Đại học
Sư Phạm Đà Nẵng, trên cơ sở đó đề xuất một số ý kiến nâng cao mức độ kỹ năng giaotiếp cho sinh viên
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Kỹ năng giao tiếp của sinh viên Khoa Tâm lý – Giáodục trường Đại học Sư Phạm Đại học Đà Nẵng
- Khách thể nghiên cứu: Giảng viên và Sinh viên Khoa Tâm lý – Giáo dục
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về giao tiếp, kỹ năng, và kỹ năng giao tiếp củasinh viên
- Nghiên cứu thực trạng mức độ kỹ năng giao tiếp của sinh viên ĐHSP - ĐHĐN
- Đề xuất biện pháp rèn luyện, nâng cao mức độ kỹ năng giao tiếp cho sinh viên
Sư phạm trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng
5 Phạm vi nghiên cứu
- Về khách thể nghiên cứu: Nghiên cứu sinh viên Khoa Tâm lý – Giáo dục trường
Đại học Sư Phạm Đại học Đà Nẵng
- Về nội dung: Tìm hiểu thực trạng của kỹ năng giao tiếp biểu hiện qua mức độ
thể hiện các kỹ năng thành phần (Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng điềukhiển quá trình giao tiếp, kỹ năng diễn đạt, kỹ năng quản lý cảm xúc)
- Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp trong hoạt động học tập và hoạt động giao tiếpbạn bè với nhau ngoài giờ lên lớp
Trang 76 Giả thiết khoa học
Kỹ năng giao tiếp của sinh viên Sư phạm trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đãđược hình thành và phát triển trong quá trình học tập cũng như trong giao tiếp hằngngày Tuy nhiên, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kỹ năng giao tiếp củasinh viên như sự phát triển của cơ thể và trí tuệ, tính tích cực của hoạt động cá nhân,môi trường sống… Vì vậy, cần có những biện pháp tác động thích hợp nhằm nâng caomức độ kỹ năng giao tiếp cho sinh viên trong học tập cũng như tương lai, góp phầnnâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Tìm hiểu, nghiên cứu, thu thập các tài liệu tạp chí, sách báo liên quan đến đề tàinghiên cứu
- Phân tích, tổng hợp, phân loại những vấn đề thực tiễn và lý luận liên quan đến
đề tài nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Mục đích: Nhằm xác định nghiệm thể có nắm vững kiến thức về kỹ năng giaotiếp hay không và xác định mức độ phản ánh của cá nhân đối với vấn đề nghiên cứu
- Nội dung: Tìm hiểu nhận thức, mức độ của kỹ năng giao tiếp của sinh viên về
kỹ năng giao tiếp; tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong việc rèn luyện các kỹnăng giao tiếp của sinh viên, cùng những nguyên nhân gây ảnh hưởng đến kỹ nănggiao tiếp của sinh viên
7.2.2 Phương pháp quan sát
Quan sát biểu hiện kỹ năng giao tiếp của sinh viên thông qua hoạt động học tập
và ngoài giờ lên lớp
- Mục đích: Phương pháp này dùng hỗ trợ cho các phương pháp điều tra nhằmlàm sáng tỏ thêm nội dung nghiên cứu Qua việc quan sát hoàn cảnh sinh viên giaotiếp thực tế với bạn bè, thầy cô trong và ngoài lớp học
- Nội dung: Nghiên cứu, tìm hiểu về kỹ năng giao tiếp của sinh viên thông quahoạt động học tập và trong hoạt động giao tiếp ngoài giờ lên lớp của sinh viên
- Cách tiến hành: Quan sát những biểu hiện trong quá trình giao tiếp của sinhviên trong và ngoài giờ học, sau đó tiến hành tổng hợp số liệu và rút ra nhận xét
- Kết quả được ghi theo bản mẫu [Phụ lục 2]
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành phát phiếu phỏng vấn cho sinh viên hướng vào các nội dung gắn vớibảng hỏi và nội dung phỏng vấn được ghi thành biên bản, nhằm tìm hiểu thực trạng về
kỹ năng giao tiếp của sinh viên và đề xuất một số biện pháp cần thực hiện để phát triển
kỹ năng giao tiếp cho sinh viên
Trang 8CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA SINH
VIÊN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến kỹ năng giao tiếp
Vấn đề giao tiếp không những là nhu cầu của mỗi cá nhân trong xã hội mà nócòn đóng vai trò quan trọng trong hình thành nhân cách của cá nhân thông qua các mốiquan hệ xã hội Vì vậy giao tiếp và kỹ năng giao tiếp đã được nhiều nhà nghiên cứuquan tâm
1.1.1 Ở nước ngoài
Vấn đề giao tiếp đã được con người xem xét từ thời cổ đại, nhà triết học Socrate(470-399 TCN) và Platon (428-347 TCN) đã nói tới đối thoại như là sự giao tiếp trítuệ, phản ánh mối quan hệ qua lại giữa con người với con người Đến thời kỳ phụchưng, nhà bác học kiêm nghệ sĩ thiên tài Ý Lêôna Đêvanhxi (1452-1512) đã mô tả sựgiao tiếp mẹ con Đến thế kỷ XVIII nhà triết học Hà Lan M.P Hemtexlôxin đã viết mộttiểu luận dưới tiêu đề: “Một bức thư về con người và các quan hệ của nó với ngườikhác” Trong đó có đoạn: “Muốn xem xét con người trong xã hội một cách chút ítthành công thì phải bắt đầu chú ý nghiên cứu một cái cơ quan mà cho đến nay chưa cótên riêng, mà thường được gọi là trái tim, tình cảm, lương tâm… Tương tự như cơquan thính giác hay thị giác nếu không có không khí thì không thể hoạt động được, tráitim và lương tâm con người chỉ bộc lộ khi người ấy cùng sống với người khác” Đếnthế kỷ XIX, giao tiếp được đánh giá có tầm quan trọng đặc biệt trong sự hình thành,phát triển bản chất xã hội của con người Nhà triết học Đức Phơ Bách (1804-1872) đãviết: “Bản chất con người chỉ biểu hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất của conngười với con người, trong sự thống nhất dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữatôi và bạn”
Khoa học ngày càng phát triển, những tri thức về lĩnh vực giao tiếp cũng khôngngừng tăng lên Những nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp cũng được nhiều nhà Tâm lýhọc quan tâm nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực khác nhau Có thể kể đến một số nghiêncứu sau:
A.A.Leonchiev đã nghiên cứu và liệt kê các Kỹ năng giao tiếp sư phạm như kỹnăng điều khiển hành vi bản thân, kỹ năng quan sát, kỹ năng nhạy cảm xã hội, biếtphán đoán nét mặt người khác, kỹ năng đọc, hiểu, biết mô hình hóa nhân cách họcsinh, kỹ năng làm gương cho học sinh, kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ, kỹ năng kiến tạo
Trang 92008) đã phân tích kỹ năng phát hiện các trạng thái tâm lý thông qua những động tác,
cử chỉ, điệu bộ, tư thế,… của con người trong giao tiếp
Derak Torrington viết cuốn “Tiếp xúc mặt đối mặt trong quản lý” (1994) đi sâuphân tích các hình thức giao tiếp thường gặp giữa người quản lý với người bị quản lýqua đó đòi hỏi người quản lý cần có những kỹ năng giao tiếp nhất định như kỹ năngnghe, kỹ năng hỏi và gợi vấn đề, kỹ năng truyền đạt… Dale Carnegie trong cuốn “Đắcnhân tâm” (2002) đã trình bày những nghệ thuật, những bí quyết trong quan hệ giaotiếp giữa con người và con người Theo ông, để thu hút được đối tượng giao tiếp, conngười cần phải có nghệ thuật và kỹ năng giao tiếp nhất định như kỹ năng thể hiện sựquan tâm, kỹ năng biểu hiện cảm xúc, kỹ năng lắng nghe,…
Paul Ekman viết cuốn “Emotion Revealed” (2003) nêu lên vấn đề cảm xúc biểuhiện trong giao tiếp của cá nhân thể hiện qua nét mặt từ đó đề cập đến kỹ năng nhậndiện nét mặt và các cảm xúc đi kèm trong quá trình giao tiếp
Nhìn chung, các tài liệu trên đã cung cấp một số vấn đề lý luận về kỹ năng giaotiếp và cũng đã nêu lên nhiều kỹ năng giao tiếp cần thiết đối với cá nhân trong quátrình giao tiếp như: kỹ năng điều khiển hành vi bản thân, kỹ năng phán đoán nét mặt
và cảm xúc của người khác, kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp, kỹ năng lắngnghe, kỹ năng diễn đạt, kỹ năng điều khiển nhu cầu của đối tượng giao tiếp, kỹ năngđiều khiển quá trình giao tiếp, kỹ năng thuyết phục…
1.1.2 Ở trong nước
Trong nước cũng có nhiều công trình nghiên cứu các kỹ năng giao tiếp trongcác lĩnh vực khác nhau Có thể kể đến một số nghiên cứu như: Trần Trọng Thủy vớibài “Tình người, giao tiếp và văn hóa giao tiếp” (1998) đã phân tích mối quan hệ giữatình người, văn hóa và giao tiếp Giao tiếp chính là phương tiện thể hiện tình người, làhình thức tác động qua lại của con người trong quá trình sống và hoạt động cùngnhau… Thông qua giao tiếp, bản chất con người được thể hiện, con người thu nhậnđược những tri thức về thế giới, về người khác, về bản thân,… Tác giả đã đề cập đếnmột số kỹ năng giao tiếp như kỹ năng chỉnh sửa các ấn tượng ban đầu của mình vềngười khác khi mới làm quen với họ, kỹ năng bước vào giao tiếp với người khác mộtcách không có định kiến…
Tác giả Nguyễn Đình Xuân đã nghiên cứu giao tiếp trong quản lý với các vấn
đề như khái niệm, ý nghĩa, chức năng, cấu trúc, loại hình và phong cách giao tiếp trongquản lý Qua đó, tác giả đã đề cập đến một số kỹ năng giao tiếp như kỹ năng lựa chọnđịa điểm, thời gian tiếp khách, kỹ năng làm chủ cảm xúc của mình trong tiếp xúc, kỹnăng nghe và dẫn dắt người nói để thu thập thông tin, kỹ năng nói gọn gàng,… Các tàiliệu của nhiều tác giả cũng đề cập đến những kỹ năng giao tiếp cần thiết trong các lĩnhvực hoạt động nghề nghiệp khác nhau như: Giáo trình “Những cơ sở khoa học củaquản lý kinh tế” (1985) của Mai Hữu Khuê đã nêu ra những kỹ năng mà người lãnhđạo cần có là kỹ năng hiểu nhu cầu lo lắng của đối tượng, kỹ năng thể hiện sự quantâm với cấp dưới, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng nghiên cứu con người
Với tài liệu “Tâm lý học kinh doanh và quản lý” (1994), Nguyễn Văn Lê đã chorằng trong giao tiếp đàm phán nhà quản trị cần có những kỹ thuật như biết cách tạo
Trang 10thiện cảm ban đầu với người đối thoại, hiểu biết những cách nói tế nhị theo phong tụcngười nước ngoài… Tác giả Nguyễn Văn Đính đề cập đến một số kỹ năng giao tiếp
mà người hướng dẫn viên cần có khi tiếp xúc với khách du lịch trong “Giáo trình tâm
lý và nghệ thuật giao tiếp ứng xử trong kinh doanh du lịch” (1997) như kỹ năng địnhhướng, kỹ năng định vị, kỹ năng điều khiển giao tiếp Tác giả Nguyễn Đình Chỉnh,Phạm Ngọc Uyển trong “Tâm lý học quản lý” (1998) đề cập đến vấn đề giao tiếp, giaotiếp sư phạm và giao tiếp quản lý trong đó nêu lên kỹ năng giao tiếp sư phạm với cấutrúc bao gồm các thành phần như biết định hướng, hiểu được các dấu hiệu bề ngoài vàngôn ngữ trong giao tiếp, biết điều khiển quá trình giao tiếp
Qua các tài liệu trên, các tác giả cũng đã đề cập nhiều đến sự cần thiết của kỹnăng giao tiếp trong các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau như trong kinh doanh, trongquan lý, trong du lịch,… Các kỹ năng giao tiếp được các tác giả đề cập đến là: kỹ năngthể hiện sự quan tâm, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng tạo thiện cảm ban đầu với người đốithoại, kỹ năng diễn đạt, kỹ năng hiểu các dấu hiệu bề ngoài và ngôn ngữ trong giaotiếp, kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp,
1.1.3 Những nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của sinh viên
Nói đến về vấn đề kỹ năng giao tiếp của sinh viên thì có rất nhiều bài viết
nghiên cứu được nhiều sự quan tâm, có thể kể đến như:
Bài viết của tác giả nguyễn Thị Mỹ lộc và Nguyễn Thị kim Hoa (ĐH Giáo dục,ĐHQGHN) viết về “ Những rào cản tâm lý trong giao tiếp của sinh viên sư phạm trongquá trình triển khai các hình thức dạy học theo tín chỉ” Tạp chí Tâm lý học số
11-2009) đề cập đến các vấn đề sinh viên năm thứ 4 vẫn còn thiếu hụt hoặc chưa hoànthiện các KNGT như kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng điều khiển, đãgây nhiều ảnh hưởng đến quá trình học tập cũng như trong quá trình giao tiếp với bạn
bè, với giảng viên và những người xung quanh
Ngoài ra còn có một số luận văn, luận án nghiên cứu về vấn đề kỹ năng giaotiếp của sinh viên như:
Luận án Tiến sĩ Tâm lý học “ Kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên" của tácgiả Hoàng Thị Anh (1992) khái quát đến một số vấn đề lý luận cơ bản về giao tiếp sưphạm và nghiên cứu thực trạng kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên trong đó tácgiả còn trình bày các kỹ năng giao tiếp sư phạm theo các nhóm kỹ năng chính và các
kỹ năng thành phần Luận văn "kỹ năng giao tiếp của sinh viên sư phạm trường Caođẳng Cần thơ" của tác giả Châu Thúy Kiều đã hệ thống hóa những vấn đề cơ sở lý luận
về giao tiếp và kỹ năng giao tiếp và đưa ra một số biện pháp nhằm rèn luyện và nângcao kỹ năng giao tiếp sư phạm cho sinh viên cao đẳng sư phạm nói riêng và sinh viên
sư phạm nói chung, Có thể nói, vấn đề nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp của sinh viên
là một đề tài vô hạn đáng được nhiều sự quan tâm của các tác giả trong nước trênnhiều lĩnh vực khác nhau chưa kể đến
Trang 111.2 Cơ sở lý luận về kỹ năng giao tiếng của sinh viên
1.2.1 Kỹ năng
1.2.1.1 Khái niệm
Kỹ năng là vấn đề được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Nhà bác học lỗi lạc
Hy Lạp cổ đại Arixtot (384-322 TCN), trong cuốn “Bàn về tâm hồn” đã coi kỹ nănglàm việc là một trong 3 bộ phận cấu thành phẩm hạnh của con người Trong đó nộidung của phẩm hạnh được xác định là “Biết định hướng, biết việc làm, biết tìm tòi”
Có nghĩa là con người có phẩm hạnh là con người phải có kỹ năng định hướng làmviệc sáng tạo
Trong lịch sử nghiên cứu về tâm lý và giáo dục học nói chung đã có rất nhiềutác giả đưa ra quan niệm về “Kỹ năng” (Skills)
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng Những định nghĩa này thườngbắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và theo quan niệm của mỗi cá nhân Tuy nhiên hầuhết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành khi chúng ta áp dụng kiếnthức vào thực tiễn Trong cuốn Tâm lý học xuất bản năm 1980, A V Krưteski cho
rằng: “Kỹ năng là các phương thức thực hiện hoạt động - những cái mà con người đã nắm vững” Theo ông chỉ cần nắm vững phương thức hành động là con người có kỹ
năng không cần đến kết quả của hành động
Theo A G Côvalôv trong cuốn “Tâm lý học cá nhân" thì nhấn mạnh “Kỹ năng
là phương thức hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hoạt động” Ôngkhông đề cập đến kết quả của hành động mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đóquan trọng hơn cả là năng lực của con người chứ không đơn giản là cứ nắm vững cáchthức hành động thì đem lại kết quả tương ứng Khi bàn về kỹ năng, tác giả Trần TrọngThủy cũng cho rằng, kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động con người nắm được cáchthức hành động tức là kỹ thuật hành động có kỹ năng…
Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu thập được trong một lĩnhvực nào đó vào thực tiễn (Từ điển Tiếng việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1988)
Tác giả Trần Trọng Thủy cũng cho rằng Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hànhđộng, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng…
Như vậy, về kỹ năng có rất nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra những quan điểmkhác nhau Cũng có hai quan niệm về kỹ năng đó là:
Quan niệm thứ nhất cho rằng kỹ năng được xem xét nghiêng về mặt kỹ thuậtcủa thao tác hay hành động hoạt động Quan niệm thứ hai cho rằng kỹ năng được xemxét nghiêng về mặt năng lực của con người Theo quan niệm này thì kỹ năng vừa cótính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt, sáng tạo và vừa có tính mục đích
Từ việc phân tích những quan niệm trên, K K Platonov định nghĩa như sau “Kỹ năng
là khả năng của con người thực hiện một hoạt động bất kì nào đó hay cách hành độngtrên cơ sở của kinh nghiệm cũ”
Tóm lại, kỹ năng được hiểu là khả năng của con người thực hiện một cách có kết quả một số hoạt động hay một hành động nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra, bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức hành động phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh phương tiện xác định.
Trang 121.2.1.2 Cơ sở lý luận việc hình thành kỹ năng
Kỹ năng được hình thành và phát triển từ hình thành các tri thức về hành độngđến việc thực hành các thao tác Việc hình thành kỹ năng diễn ra ở hai cấp độ chính:Cấp độ nhận thức và cấp độ thao tác hành động Thực tế, nhiều cách phân chia quátrình hình thành kỹ năng, tuy nhiên có thể tổng hợp thành hai hướng như sau: Phânchia quá trình hình thành kỹ năng theo tiến trình học hỏi và phân chia quá trình hìnhthành kỹ năng theo mức độ hình thành
Kỹ năng của cá nhân được nảy sinh, hình thành và phát triển trong quá trìnhchủ thể tiến hành hoạt động Do đó cần phải coi kỹ năng như là đặc điểm của hoạtđộng và có quan hệ với hành động, hoạt động của con người
Nhà tâm lý học P I Galpêrin cho rằng cơ chế hình thành tri thức kỹ năng chính
là cơ chế hình thành hành động trí óc qua từng giai đoạn với hai thành phần khôngngang bằng nhau là phần định hướng và phần thực hiện, trong đó phần định hướng làphần quan trọng nhất trong cơ chế tâm lý của hoạt động nhưng chỉ có sự thực hiệnhành động mới là nguồn gốc của các tri thức và là chuẩn chân lý của tính chân lý đốivới phần định hướng
Quá trình chuyển hóa của hành động từ bên ngoài vào bên trong để hình thànhtri thức, kỹ năng được xác định bởi các thông số:
Một là hình thức hay mức độ thực hiện (có ba hình thức: hành động với đồ vậtthật hay vật chất hóa, hành động với lời nói to và hành động với lời nói thầm),
Hai là tính khái quát,
Ba là độ thành thạo,
Bốn là tính rút gọn
Thông số đầu tiên xác định mức độ thực hiện, ba thông số còn lại xác định chấtlượng hành động Các giai đoạn cụ thể theo quan điểm của Galpêrin là thiết lập cơ sởđịnh hướng hành động; hành động với đồ vật thật hay vật chất hóa, hành động ngônngữ bên ngoài (hình thức nói to hoặc viết); hành động với lời nói thầm; hành động tríóc
Như vậy hành động vật chất đã chuyển thành ngôn ngữ bên ngoài và cuối cùngtrở thành ngôn ngữ bên trong được khái quát và rút gọn Hành động chuyển từ ngoàivào trong là qua từng giai đoạn Ở mỗi giai đoạn, cấu trúc của hành động được tổ chứclại ngày một khái quát và rút gọn hơn nhưng vẫn giữ được nội dung vật chất ban đầucủa hành động Hay nói cách khác, sau khi chủ thể tiến hành hành động qua đầy đủ cácgiai đoạn nói trên thì “tri thức (hay sự hiểu biết về các đồ vật) sẽ được nảy sinh trongquá trình hành động vật chất với các đồ vật, còn bản thân các hành động này khi đượchình thành thì chúng sẽ trở thành các kỹ năng
Theo tác giả Vũ Dũng thì kỹ năng hình thành trải qua ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: người học lần đầu làm quen với vận động và lần đầu lĩnh hội nó
Sự học vận động bắt đầu từ việc phát hiện các thành phần của vận động - tập hợp cácthành tố vận động, trình tự thực hiện và mối liên kết của chúng Việc làm quen nàydiễn ra trên cơ sở người học được xem trình diễn lại, thuật lại, giảng giải và quan sátmột cách trực quan quá trình thực hiện vận động Pha tiếp theo của giai đoạn thứ nhất
Trang 13đòi hỏi nhiều nỗ lực Người học phải lặp lại vận động nhiều lần để nắm được bức tranhbên trong của vận động Đồng thời học bản mã hóa những tín hiệu từ các mệnh lệnh.Việc tích lũy “những từ điển chuyển mã” là một trong những sự kiện quan trọng nhấtcủa giai đoạn này Cần phải lặp đi lặp lại nhiều lần để người học có thể tìm được “bảngmã” trong bất kỳ phương án nào của vận động, kể cả khi có sự lệch chuẩn.
Giai đoạn 2 - giai đoạn tự động hóa vận động: Ở đây các thành phần chủ đạocủa vận động được giải phóng từng phần hoặc hoàn toàn khỏi sự quan đến nó, thoátkhỏi sự kiểm soát của ý thức và sự “thoát khỏi” này có thể và cần có sự trợ giúp
Giai đoạn 3: diễn ra sự “mài bóng” kỹ năng nhờ quá trình ổn định hóa và tiêuchuẩn hóa Trong quá trình ổn định hóa, kỹ năng đạt được tính bền vững và không bịphá hủy trong bất kỳ tình huống nào Trong quá trình tiêu chuẩn hóa, kỹ năng dầnđược định khuôn nhờ lặp đi lặp lại vận động nhiều lần
Qua đó, trong quá trình hình thành và phát triển kỹ năng cần chú ý một số vấnđề: Không tách rời kỹ năng ra khỏi hành động mà phải coi kỹ năng là những đặc điểm,những trình độ khác nhau của hành động Để đảm bảo sự điều khiển quá trình học tập,lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng với các đặc tính đã đề ra thì cần phải có hai điềukiện là thiết lập cơ sở định hướng hành động và sự tuân thủ theo các giai đoạn hìnhthành hành động Hành động không thể bắt đầu từ sự tri giác hay ghi nhớ đối tượng màphải bắt đầu từ sự triển khai các thao tác thực tiễn lên đối tượng, cụ thể là hành độngvới vật thật hay vật chất hóa Chính trong quá trình thao tác đó, một mặt bản chất củađối tượng được bộc lộ và nhận thức, mặt khác nó được biến đổi qua nhiều lần “ướmthử” với các thao tác để cuối cùng tạo ra sản phẩm phù hợp với logic các thao tác hànhđộng Cơ chế của việc hình thành một hành động tâm lý mới nói chung là tuân theocác bước chuyển hóa từ ngoài vào trong theo lý thuyết của Galpêrin Tiêu chuẩn đểđánh giá kết quả luyện tập hành động với các vật liệu khác nhau là độ thuần thục, kháiquát và tính sáng tạo linh hoạt Sản phẩm cuối cùng của quá trình này là biến hànhđộng thành các kỹ năng đối với các hành động phức tạp và kỹ xảo đối với các hànhđộng đơn giản tức là thành phương tiện hay khả năng để thực hiện các hành động
Nhóm tác giả theo hướng phân chia các giai đoạn hình thành kỹ năng theo tiếntrình học hỏi gồm tác giả X.I Kixegov, Bùi Thị Xuân Mai Tùy thuộc vào hướngnghiên cứu của mỗi tác giả quá trình hình thành có thể từ 3 đến 5 giai đoạn nhưng nhìnchung đều trải qua những giai đoạn chính sau:
+ Giai đoạn 1: Hình thành các tri thức, hiểu biết cần thiết về việc sử dụng kỹnăng bao gồm: Nhận thức về mục đích, yêu cầu, điều kiện hoạt động, các nguyên tắc
sử dụng kỹ năng trong hoạt động
+ Giai đoạn 2: Quan sát để nắm được các thao tác của kỹ năng, từ đó nhận diệnđược kỹ năng, cũng như cách thức tiến hành kỹ năng đó
+ Giai đoạn 3: Thực hành các tri thức về kỹ năng trong tình huống ổn định.+ Giai đoạn 4: Vận dụng kỹ năng vào tình huống khác nhau của hoạt động, baogồm cả thử nghiệm và luyện tập theo đúng yêu cầu nhằm đạt được mục đích đề ra, từ
đó hình thành kỹ năng chuyên biệt tiến tới vận dụng sáng tạo vào những tình huốngkhác nhau trong thực tiễn
Trang 14Như vậy, quá trình hình thành kỹ năng là quá trình tiến hành hành động và luyện tập hành động trong thực tiễn.
1.2.2 Giao tiếp
1.2.2.1 Khái niệm
Trong quan hệ giữa người với người một lời nói, một cử chỉ có thể biến thànhtiền bạc, có thể gây nên những ấn tượng tốt, tạo ra sự tin cậy, sự hiệp tác và cũng cóthể phá vỡ các mối quan hệ, làm mất lòng nhau, làm tổn hại đến sức khỏe và sự sángtạo của con người Phương ngôn Việt Nam có câu: "Nói ngọt thì lọt đến xương";
"Miếng ngon nhớ lâu lời đau nhớ đời" Các mối quan hệ xã hội luôn luôn là yếu tố gópphần tạo dựng lên nhân cách con người, bởi vì bản chất con người là tổng hòa các mốiquan hệ xã hội Giao tiếp vừa là nhân tố hình thành và phát triển nhân cách, vừa làphương tiện thể hiện nhân cách Hoạt động kinh doanh du lịch phần lớn là hoạt độnggiao tiếp giữa con người với nhau, chất lượng sản phẩm du lịch như thế nào là tùythuộc vào văn hóa giao tiếp ở mỗi cá nhân cụ thể Xã hội càng phát triển, càng vănminh thì nhu cầu và hình thức giao tiếp càng cao và đa dạng Giao tiếp càng trở nênmột kỹ năng không thể thiếu và cần phải được rèn luyện
Có rất nhiều quan điểm về giao tiếp, có thể điểm qua một số quan điểm về giaotiếp như : T.Chúc côn – nhà tâm lý học Mỹ xem giao tiếp như là một sự tác động qualại trực tiếp lên nhân cách và dẫn đến việc hình thành ý nghĩ, biểu tượng, chuẩn mực
và mục đích hành động T.Stecren – nhà tâm lý học pháp xem giao tiếp là sự trao đổitình cảm, xúc cảm giữa con người với nhau M.Acgain – nhà tâm lý học Anh xem giaotiếp như là một quá trình hai mặt của sự thông báo, thiết lập sự tiếp xúc và trao đổithông tin Các nhà tâm lý học Liên Xô cũ có một số quan niệm về giao tiếp như sau:L.X Vugotxky cho rằng giao tiếp là sự thông báo hoặc quan hệ qua lại một cách thuầntúy giữa người với người như là một sự trao đổi về quan điểm, về cảm xúc X.LRubinstein cho rằng giao tiếp là hình thức giao tiếp giữa con người với nhau.A.G.Covaliop quan niệm rằng giao tiếp là sự giao thiệp bằng lời nói của một số ngườivới mục đích giải quyết một số vấn đề lý thuyết hay thực tiễn nào đó
Ở Việt Nam, có các quan điểm về giao tiếp như: Tác giả Phạm Minh Hạc địnhnghĩa: “Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các quan hệ người – người để hiệnthực hóa các quan hệ xã hội người ta với nhau” Tác giả Ngô Công Hoàn cho rằng:
“Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích trao đổi
tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp” Tác Giả Hoàng Anh chorằng: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý tạo nên quan hệ giữa hai hoặc nhiều người vớinhau, chứa đựng một nội dung lịch sử xã hội nhất định, có nhiều chức năng tác động,
hỗ trợ cùng nhau, thông báo, điều khiển, nhận thức, hành động và tình cảm… nhằmthực hiện một mục đích nhất định của một hoạt động nhất định” Tác giả NguyễnQuang Uẩn cho rằng: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, thông qua
đó con người trao đổi với nhau thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tácđộng qua lại với nhau Hay nói khác đi giao tiếp là sự xác lập và vận hành các quan hệngười – người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác”.Theo tác giả Lê Xuân Hồng: “Giao tiếp có thể là một quá trình, trong đó con người
Trang 15trao đổi với nhau các ý tưởng, cảm xúc, và thông tin nhằm xác lập và vận hành cácmối quan hệ giữa người với người trong xã hội vì những mục đích khác nhau” Theotác giả Huỳnh Văn Sơn: “Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối quan hệ
xã hội giữa người và người nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định và nhằm mụcđích nào đó” Ngoài các tác giả trên, còn rất nhiều khái niệm về giao tiếp của các tácgiả như: Nguyễn Thạc, Trần Tuấn Lộ, Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc, Trần TrọngThủy, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Ngọc Bích, Trần Hiệp, Vũ Dũng, Nguyễn VănĐồng, Nguyễn Khắc Viện Nhìn chung, các nhà tâm lý học trong và ngoài nước đều cóđiểm chung là đều công nhận giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người và người, trong
đó có sự trao đổi tư tưởng, tình cảm, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau
Mặc dù có nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau về giao tiếp nhưng nóichung các tác giả đều cho rằng giao tiếp là phải có xây dựng một bản thông điệp sau
đó gửi đi với hy vọng người nhận sẽ hiểu thông điệp đó Có thể nói về khái niệm giao
tiếp như sau: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau Hay nói khác đi, giao tiếp là xác lập và vận hành các quan hệ người
- người, hiện thức hóa mối quan hệ giữa chủ thể này với chủ thể khác”.
1.2.2.2 Chức năng của giao tiếp
Nghiên cứu về vai trò, chức năng của giao tiếp, A.N Leonchiev đã đánh giá caovai trò của giao tiếp trong quá trình hình thành nhân cách trẻ Ông cho rằng hoạt độngcủa trẻ bao giờ cũng nằm trong giao tiếp Giao tiếp dưới hình thức cùng hoạt động,hoặc dưới hình thức giao tiếp ngôn ngữ hay thậm chí giao tiếp trong ý nghĩ cũng đều
là điều kiện tất yếu và chuyên biệt của sự phát triển con người trong xã hội Theo ông,trong quá trình giao tiếp, kế hoạch hoạt động chung được hình thành và các yếu tố hoạtđộng chung giữa các thành viên được phân bố Trong hoạt động chung, sự trao đổithông tin, sự kích thích lẫn nhau, sự kiểm tra và điều chỉnh hành động được thực hiện.Theo tiêu chí mục tiêu, L.A.Karpenco cho rằng giao tiếp có 8 chức năng:
- Chức năng tiếp xúc - mục tiêu: việc tiếp xúc như là trạng thái chuẩn bị chung đểtiếp nhận và truyền đạt thông báo, củng cố quan hệ ở hình thức định hướng lẫnnhau thường xuyên
- Chức năng thông tin - mục đích: trao đổi các thông báo
- Chức năng kích thích - mục đích: kích thích tích cực đối tác giao tiếp, hướng họthực hiện hành động nhất định
- Chức năng định vị - mục đích: định hướng và thống nhất hành động trong hoạtđộng chung
- Chức năng hiểu biết - mục đích: hiểu biết nội dung thông báo và hiểu biết lẫn nhaugiữa các chủ thể giao tiếp
- Chức năng tạo động cơ - mục đích: khơi dậy ở đối tác những trải nghiệm tình cảmcần thiết đồng thời qua sự giúp đỡ của họ thay đổi trải nghiệm, trạng thái củachính chủ thể
- Chức năng hình thành các mối quan hệ - mục đích: nhận thức và xác định vị tríbản thân trong hệ thống vai, vị thế, quan hệ
Trang 16- Chức năng gây ảnh hưởng - mục đích: thay đổi trạng thái, hành vi, cấu trúc ýhướng cá nhân của đối tác.
Nhà Tâm lý học Xô viết B.Ph.Lomov cho rằng giao tiếp có ba chức năng:
+ Chức năng giao tiếp - thông tin
+ Chức năng giao tiếp - điều chỉnh
+ Chức năng giao tiếp - cảm xúc
Theo A.A.Pruzin giao tiếp có các chức năng sau:
+ Chức năng công cụ của giao tiếp cần thiết cho sự trao đổi thông tin trong quátrình điều hành và trong quá trình lao động chung
+ Chức năng nghiệp đoàn thể hiện ở việc đoàn kết nhóm lớn và nhóm nhỏ có ýnghĩa quan trọng trong giáo dục và truyền đạt kiến thức, phương thức hoạt động
và tiêu chuẩn đánh giá
+ Chức năng tự thể hiện hướng đến việc tìm kiếm và đạt được sự hiểu biết lẫnnhau
Ở Việt Nam, các nhà Tâm lý học cũng quan tâm nghiên cứu những chức năngkhác nhau của giao tiếp Tác giả Hoàng Anh cho rằng giao tiếp có các chức năng cơbản:
+ Chức năng thông tin hai chiều giữa hai người hay hai nhóm người
+ Chức năng tổ chức, điều khiển, phối hợp hành động của một nhóm người trongmột hoạt động cùng nhau
+ Chức năng giáo dục và phát triển nhân cách Con người không thể sống cô lập,tách khỏi gia đình, người thân, bạn bè và cộng đồng người
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn chia các chức năng giao tiếp:
+ Chức năng thông tin hai chiều (chức năng nhận thức)
+ Chức năng thể hiện và đánh giá thái độ xúc cảm
+ Chức năng liên kết, phối hợp hoạt động
+ Chức năng đồng nhất hóa: tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau, thông cảm, đồng cảmchung giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với nhóm, nhóm này với nhómkhác
+ Chức năng thông tin
+ Chức năng nhận thức về tự nhiên, xã hội, về bản thân (tự nhận thức) và vềngười khác (tri giác xã hội)
+ Chức năng cảm xúc giúp con người thỏa mãn những nhu cầu xúc cảm, tìnhcảm
+ Chức năng định hướng, tổ chức, phối hợp hoạt động và điều chỉnh hành vi củabản thân và của người khác
+ Chức năng hình thành và phát triển các quan hệ liên nhân cách
Trang 17Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn, giao tiếp có các chức năng như sau:
+ Chức năng thỏa mãn nhu cầu của con người Đây là chức năng quan trọng nhấtcủa giao tiếp và cũng là chức năng mà con người sử dụng sớm nhất trong giaotiếp Giao tiếp là điều kiện cần thiết để con người tồn tại và phát triển
+ Chức năng thông tin hai chiều giữa các chủ thể tham gia giao tiếp Đây là chứcnăng có vai trò quan trọng thứ hai sau chức năng thỏa mãn nhu cầu của giaotiếp Mỗi cá nhân trong giao tiếp vừa là nguồn phát thông tin vừa là nguồn thuthông tin
+ Chức năng tổ chức, điều khiển, phối hợp hành động của một nhóm người trongcùng một hoạt động cùng nhau Đây là chức năng dựa trên cơ sở xã hội Nhờchức năng này, con người có thể phối hợp cùng nhau để giải quyết một nhiệm
vụ nhất định đạt tới mục tiêu đề ra trong quá trình giao tiếp
+ Chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi Chức năng này thể hiện ở sự tácđộng, ảnh hưởng lẫn nhau trong giao tiếp Trong giao tiếp, cá nhân có thể tácđộng đến động cơ, mục đích, quá trình ra quyết định và hành động của ngườikhác
+ Chức năng xúc cảm Chức năng này giúp con người thỏa mãn những nhu cầuxúc cảm, tình cảm
+ Chức năng nhận thức và đánh giá lẫn nhau Trong quá trình giao tiếp, các chủthể luôn diễn ra quá trình nhận thức tri thức về tự nhiên, xã hội, nhận thức bảnthân và nhận thức về người khác nhằm hướng tới những mục đích khác nhautrong giao tiếp
+ Chức năng giáo dục và phát triển nhân cách Giao tiếp giúp con người tiếp nhậnnhững kinh nghiệm và những chuẩn mực thông qua đó có sự hình thành và pháttriển nhân cách một cách toàn diện trên bình diện con người - cá nhân
Tóm lại, giao tiếp có chức năng giáo dục và phát triển nhân cách Thông quagiao tiếp các phẩm chất tâm lý của con người được hình thành và phát triển
1.2.2.3 Phương tiện giao tiếp
Phương tiện giao tiếp là tất cả những yếu tố mà các chủ thể giao tiếp dùng đểthể hiện thái độ, tình cảm và những đặc điểm tâm lý khác đồng thời thiết lập, vận hànhcác mối quan hệ trong một cuộc giao tiếp Phương tiện giao tiếp thường được chiathành hai nhóm là phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ Ngôn ngữ làphương tiện giao tiếp chủ yếu của con người, bằng ngôn ngữ con người có thể truyền
đi bất cứ loại thông tin nào, như diễn tả tình cảm, ám chỉ, miêu tả sự vật Ngôn ngữ là
hệ thống ký hiệu (âm thanh hoặc chữ viết) dưới dạng từ ngữ chứa đựng ý nghĩa nhấtđịnh (tượng trưng cho sự vật, hiện tượng cũng như thuộc tính và các mối quan hệ củachúng) được con người quy ước và sử dụng trong quá trình giao tiếp Ngôn ngữ đặctrưng cho từng người Sự khác biệt cá nhân về ngôn ngữ được thể hiện ở cách phát âm,
sử dụng cấu trúc của câu, sự lựa chọn và sử dụng từ ngữ
Tùy tác dụng và biểu hiện, ngôn ngữ chia thành hai loại: ngôn ngữ bên ngoài vàngôn ngữ bên trong
Trang 18Ngôn ngữ bên ngoài: Ngôn ngữ bên ngoài là dạng ngôn ngữ được thể hiệntường minh ra bên ngoài bằng âm thanh hoặc chữ viết để tiến hành giao tiếp giữa cácchủ thể Ngôn ngữ bên ngoài là ngôn ngữ hướng vào người khác và được dùng đểtruyền đạt và tiếp thu tư tưởng Ngôn ngữ bên ngoài được chia thành: ngôn ngữ nói vàngôn ngữ viết Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ hướng vào người khác, biểu hiện bằng âmthanh và được tiếp nhận bằng thính giác Ngôn ngữ nói gồm ngôn ngữ độc thoại vàngôn ngữ đối thoại Ngôn ngữ đối thoại là ngôn ngữ diễn ra ở một người hay một sốngười, trong đó khi người này nói thì người khác nghe và ngược lại, đối thoại thườngđược thể hiện qua các hình thức như nói chuyện, tâm sự, giao lưu, đàm thoại, hội họp,tranh luận….
Ngôn ngữ độc thoại là ngôn ngữ mà người nói nói cho một hay số đông ngườinghe mà không có chiều ngược lại một cách trực tiếp, độc thoại có người nghe đượcgọi là thuyết trình Ngôn ngữ viết ra đời muộn hơn ngôn ngữ nói, biểu hiện bằng chữviết và được thu thập bằng thị giác Ngôn ngữ viết cho phép con người tiếp xúc vớinhau một cách gián tiếp trong những khoảng không gian và thời gian rộng lớn Ngônngữ viết có đặc điểm riêng là ngoài yêu cầu chặt chẽ về ngữ pháp còn cả yêu cầu vềchính tả Nó cũng chia thành ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại (đọc sách,báo)
Ngôn ngữ bên trong là dạng đặc biệt của ngôn ngữ, là loại ngôn ngữ chưa bộc
lộ ra ngoài bằng các phương tiện vật chất Ngôn ngữ bên trong không phát ra âmthanh, bao giờ cũng được rút gọn và cơ động cũng như tồn tại dưới cảm giác vận động
và do cơ chế đặc biệt chi phối Nó đóng vai trò rất quan trọng, là phương tiện của hoạtđộng nhận thức, phương tiện điều chỉnh tình cảm và ý chí của con người, đồng thờicũng là phương tiện để tự giáo dục
Giao tiếp phi ngôn ngữ: Giao tiếp phi ngôn ngữ là giao tiếp không dùng ngônngữ Đó là các kích thích bên ngoài nhưng không phải là lời nói và chữ viết mà baogồm tất cả những yếu tố thuộc về cử chỉ điệu bộ và những chuyển động biểu cảmkhác Loại giao tiếp này còn gọi là giao tiếp bằng ngôn ngữ tứ chi, là điệu bộ, cử chỉ,
tư thế, hành vi, ánh mắt, nụ cười…đóng vai trò chủ yếu không chỉ trong việc truyềnđạt thông tin mà còn biểu hiện tâm trạng, xúc cảm, tình cảm, thái độ…của chủ thể giaotiếp Phương tiện phi ngôn ngữ trong giao tiếp có thể phân chia theo hệ thống: nét mặt,
thường nhật hoặc giao tiếp văn phòng, nét mặt thân thiện được khuyến khích sử dụng
Đó là nét mặt nhẹ nhõm, dễ gần khi có thể nhẹ nhàng nở nụ cười tươi với sự chuyểnđộng tổng hợp của cơ mặt…Qua thực nghiệm khoa học và quan sát trong đời sốngthực tế, người ta nhận thấy: thầy cô có nét mặt dịu hiền, cởi mở, vui tươi thường đemlại bầu không khí tốt, tạo cảm giác an toàn cho học sinh Ngược lại, giáo viên có nétmặt buồn rầu, căng thẳng, bực tức, tạo ra bầu không khí nặng nề cho đối tượng giao
Trang 19tiếp Sự biểu lộ trạng thái tâm lý trên nét mặt con người rất phức tạp, phụ thuộc vào độtuổi, giới tính, nghề nghiệp, cá tính của mỗi người, phong tục, tập quán…Năng lựcbiểu cảm qua nét mặt giúp cho tiến trình giao tiếp ngày càng nhạy cảm, tinh tế và sâusắc hơn.
Giao tiếp qua ánh mắt: Nhà tâm lý học Nga X.R.Tankelevich đã tìm thấy trongtác phẩm của đại văn hào L.Tonxtoi có tới 85 ánh mắt phản ánh các nội dung tâm lýkhác nhau Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn Năm 1975, Hetxo bằng thực nghiệm củamình đã nhận xét: khi người ta vui thì con ngươi mở rộng, khi giận dữ thì con ngươithu hẹp lại Ánh mắt còn biểu hiện nét tính cách của con người Ánh mắt thể hiện cáchthức giao tiếp: tín hiệu về sự đồng ý hay không đồng ý; tín hiệu về tình cảm (yêu, thíchhoặc ghét, chê); tín hiệu về mức độ nhận thức; tín hiệu về nhu cầu, lòng ham muốn; tínhiệu về điều chỉnh hành vi, thái độ của hai bên Kết quả nghiên cứu của các nhà khoahọc thừa nhận rằng: trong số các giác quan của con người, đôi mắt có thể chuyển tảilượng thông tin nhiều nhất (trên 80%) và có một sức chuyển tải lớn nhất Ánh mắt còn
là nơi tiếp nhận các thông tin cảm tính từ môi trường bên ngoài Do vậy, biết giao tiếpbằng ánh mắt sẽ đem lại nhiều hiệu quả trong quá trình giao tiếp
Giao tiếp bằng nụ cười: Trong giao tiếp người ta có thể dùng nụ cười để biểu lộtình cảm, thái độ của mình Con người có bao nhiêu kiểu cười thì có bấy nhiêu cá tính
Nụ cười cũng biểu lộ một phần tâm trạng và tính cách của người đang cười và đôi khicười cũng còn được sử dụng như một tín hiệu âm thanh lấp đầy trong quá trình giaotiếp Để diễn giải đúng ý nghĩa của nụ cười thì cần chú ý kết hợp quan sát cả đôi mắt
và khóe miệng của người đang cười Nụ cười đóng vai trò quan trọng trong việc dẫnđến thành công giao tiếp Một người không giỏi giao tiếp, tự ti về khả năng giao tiếpcủa mình nhưng lại sở hữu một thái độ thân thiện trong giao tiếp, luôn nở một nụ cườitươi thân thiện ngay cả khi không hài lòng thì người đó vẫn có thể có những cuộc giaotiếp thành công như bất kỳ một người giỏi giao tiếp nào Những thực nghiệm tâm lý đãchứng minh rằng khi con người nở nụ cười với một đối tượng thì chắc chắn rằng phảnứng mà chúng ta nhận được đó chính là một nụ cười rất tươi Tuy nhiên, trong từngtình huống khác nhau, nụ cười cũng phải phù hợp với thực tế giao tiếp
Dáng vẻ bề ngoài: Dáng vẻ bề ngoài được xem là một dạng phương tiện đặcbiệt trong giao tiếp phi ngôn ngữ Dáng vẻ bề ngoài gồm hình dáng thân thể, cung cách
đi đứng, trang phục và cung cách ứng xử Hình dáng thân thể thường có sự tác độngmạnh đến người tri giác trong giao tiếp trong đó yếu tố chiều cao được cho là yếu tố cótác động mạnh nhất Cung cách đi đứng của một người cũng nói lên nhiều điều về họnhư vị thế, tâm trạng, văn hóa, chủng tộc, cũng như sự nhận thức về bản thân Trangphục bổ sung diện mạo cho con người bao gồm sự phối hợp các kiểu quần áo, màu sắcvải, trang sức…Trang phục là một phần của định hướng giao tiếp và góp phần giúpgiao tiếp thành công
Cử chỉ trong giao tiếp: Cử chỉ là sự vận động của tay chân và thân thể Cử chỉthường được dùng để minh họa, nhấn mạnh, bổ sung cho những gì đang nói hoặc thậmchí có thể thay thế lời nói thông qua các dấu hiệu trong cử chỉ Cử chỉ cũng được conngười dùng để biểu lộ cảm xúc và thái độ
Trang 20Tiếp xúc thân thể: Tiếp xúc thân thể thể hiện qua nhiều hình thức như bắt tay,
ôm, vỗ vai, hôn má, đẩy…cũng phụ thuộc rất nhiều vào đặc trưng của các nền văn hóa.Cái bắt tay là hành động mang tính xã giao không lời hết sức phổ biến, ngoài ra ômhôn xã giao, cung cách đi đứng…cũng biểu hiện nhiều ý nghĩa trong giao tiếp
Khoảng cách giữa các bên trong giao tiếp: Khoảng cách giữa các bên trong giao tiếpnói lên mối quan hệ khá đặc biệt trong giao tiếp Khoảng cách trong giao tiếp vớingười khác có một ý nghĩa nhất định
- Khoảng cách công cộng (trên 3,5m) phù hợp với tiếp xúc ở đám đông tụ tập theonhóm
- Khoảng cách xã hội (1,2m - 3,5m) trong tiếp xúc với người lạ
- Khoảng cách cá nhân (0,45m - 1,2m) thường trong các bữa tiệc, giao tiếp ở cơquan, với bạn bè
- Khoảng cách thân mật (0m - 0,45m) trong quan hệ thân mật, gần gũi như ngườithân trong gia đình, người yêu
Vị trí giao tiếp: Vị trí chỗ ngồi của cá nhân trong giao tiếp cũng biểu hiện một ýnghĩa rất lớn trong giao tiếp
- Vị trí góc: các cá nhân ngồi ở hai cạnh của một góc bàn phù hợp với câu chuyện tếnhị, lịch sự giữa hai người cũng như trong trường hợp hai người không hoàn toànthoải mái về nhau
- Vị trí hợp tác thể hiện hai người ngồi cạnh nhau cùng nhìn về một hướng hoặcngồi đối diện nhưng chiếc bàn có tác dụng như chỗ để giấy tờ mang tính tạm thời
- Vị trí cạnh tranh với hai người ngồi đối diện nhau và chiếc bàn đóng vai trò như làchiến tuyến
- Vị trí độc lập là cách sắp xếp không phải để đối thoại mà thể hiện vị trí của ngườikhông muốn bị ai quấy rầy hoặc không muốn bắt chuyện Vị trí này thường trongthư viện hoặc trong quán ăn với những người không quen biết
1.2.3 Kỹ năng giao tiếp
1.2.3.1 Khái niệm
Kỹ năng giao tiếp là cơ sở cho việc giao tiếp hiệu quả, để giao tiếp tốt và đạthiệu quả đòi hỏi ta phải có kỹ năng giao tiếp tốt, nói đến kỹ năng giao tiếp thì cũng đã
có nhiều quan niệm khác nhau như:
Theo nhóm tác giả Michelson, Sugai, Wood và Kazdin (1983), họ tiếp cận theokhía cạnh kỹ năng xã hội, nhóm tác giả cho rằng: kỹ năng giao tiếp là kỹ năng đượchình thành thông qua giáo dục, rèn luyện bao gồm các hành vi ứng xử thích hợp bằnglời và không lời trong những tình huống, hoàn cảnh cụ thể nhằm đạt hiệu quả caotrong giao tiếp với người khác
Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng: “Kỹ năng giao tiếp là năng lực vận dụng cóhiệu quả những tri thức về quá trình giao tiếp, về những yếu tố tham gia và tác độngtới quá trình này cũng như sử dụng có hiệu quả và phối hợp hài hòa các phương tiệngiao tiếp ngôn ngữ, phi ngôn ngữ và phương tiện kỹ thuật để đạt được mục đích đãđịnh trong giao tiếp”
Trang 21Như vậy, kỹ năng giao tiếp bao gồm các yếu tố như tri thức về quá trình giao tiếp,chủ thể giao tiếp, môi trường giao tiếp, mục đích giao tiếp… sử dụng phương tiệnngôn ngữ, phi ngôn ngữ và phương tiện kỹ thuật khác Nhóm tác giả Hoàng Anh, ĐỗThị Châu, Nguyễn Thạc cho rằng: “Kỹ năng giao tiếp là khả năng nhận thức nhanhchóng những biểu hiện bên ngoài và đoán biết tâm lý bên trong của đối tượng và bảnthân của chủ thể giao tiếp, là khả năng sử dụng hợp lý những phương tiện ngôn ngữ vàphi ngôn ngữ, biết cách tổ chức điều chỉnh, điều khiển quá trình giao tiếp nhằm đạtmục đích giao tiếp” Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn: “Kỹ năng giao tiếp là khả năng vậndụng hiệu quả các tri thức và kinh nghiệm về giao tiếp, các phương tiện ngôn ngữ vàphi ngôn ngữ vào trong những hoàn cảnh khác nhau của quá trình giao tiếp nhằm đạtmục đích giao tiếp”
Tóm lại, kỹ năng giao tiếp được hiểu là khả năng nhận biết nhanh chóng, chính xác đặc điểm tâm lý của đối tượng giao tiếp, đồng thời biết sử dụng những công cụ giao tiếp một cách hợp lý để điều khiển quá trình giao tiếp, xử lý tình huống khéo léo trong những hoàn cảnh khác nhau nhằm đạt được mục đích giao tiếp”.
Kỹ năng giao tiếp được hình thành qua các con đường:
- Những thói quen ứng xử được xây dựng trong gia đình,
- Do vốn sống, kinh nghiệm cá nhân qua tiếp xúc với mọi người trong các quan
hệ xã hội,
- Kỹ năng giao tiếp được hình thành thông qua việc rèn luyện và học tập
1.2.3.2 Phân loại các kỹ năng giao tiếp
Kỹ năng giao tiếp bao gồm nhiều nhóm kỹ năng cụ thể tùy thuộc vào các cáchtiếp cận khác nhau Có thể nêu lên một vài cách tiếp cận sau:
V.P.Darkharov dựa vào trật tự các bước tiến hành của một pha giao tiếp chorằng để có kỹ năng giao tiếp thì cần có: kỹ năng thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp;
kỹ năng biết cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp; kỹ năng nghe và biếtlắng nghe; kỹ năng tự chủ cảm xúc và hành vi; kỹ năng tự kiềm chế và kiểm tra đốitượng giao tiếp; kỹ năng diễn đạt dễ hiểu, ngắn gọn, mạch lạc, linh hoạt mềm dẻotrong giao tiếp; kỹ năng thuyết phục đối tượng giao tiếp; kỹ năng điều khiển quá trìnhgiao tiếp; sự nhạy cảm trong giao tiếp
Theo tác giả Nguyễn Văn Đồng, kỹ năng giao tiếp có thể phân loại thành kỹnăng giao tiếp ngôn ngữ, kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ và kỹ năng giao tiếp liênnhân cách Kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ chia thành kỹ năng giao tiếp nói với kỹ nănglắng nghe, kỹ năng diễn đạt và kỹ năng giao tiếp bằng văn bản với kỹ năng phân tíchtình huống, kỹ năng tổ chức thông tin và kỹ năng trình bày văn bản Kỹ năng phi ngônngữ bao gồm kỹ năng ăn mặc, kỹ năng kiểm soát tư thế, cử chỉ, kỹ năng kiểm soát biểuhiện nét mặt và cái nhìn, kỹ năng kiểm soát lĩnh vực phi ngôn ngữ của lời nói Kỹnăng liên nhân cách bao gồm hai nhóm là nhóm kỹ năng điều chỉnh
Kỹ năng giao tiếp bao gồm một số kỹ năng giao tiếp cơ bản như: KN địnhhướng; KN tạo ấn tượng ban đầu; KN lắng nghe; KN thuyết trình; KN cho và nhậnphản hồi thông tin; KN giải quyết mâu thuẫn; KN thuyết phục, KN quản lý cảm xúc,
sự phù hợp, cân bằng trong giao tiếp gồm sự nhạy cảm trong giao tiếp, kỹ năng tạo
Trang 22dựng quan hệ, kỹ năng cân bằng nhu cầu của bản thân và của đối tượng giao tiếp, kỹnăng linh hoạt, mềm dẻo trong giao tiếp và kỹ năng tự chủ cảm xúc, hành vi Nhóm kỹnăng đóng vai trò tích cực, chủ động trong giao tiếp gồm kỹ năng chủ động điều khiểnquá trình giao tiếp, kỹ năng thuyết phục đối tượng giao tiếp và kỹ năng kiềm chế, kiểmtra người khác Đề tài nghiên cứu sử dụng cách phân loại kỹ năng giao tiếp thành banhóm sau:
- Kỹ năng đọc trên nét mặt, cử chỉ, hành vi, lời nói Nhờ tri giác tinh tế và nhạybén các trạng thái tâm lý qua nét mặt, cử chỉ, ngữ điệu, âm điệu của lời nói mà chủ thểgiao tiếp phát hiện chính xác và đầy đủ thái độ của đối tượng Ngôn ngữ diễn tả tìnhcảm hay còn gọi là ngôn ngữ biểu cảm rất phong phú Nó thể hiện tính cách, trí tuệ,tình cảm,…Do vậy, có thể dựa vào đó để nhận xét, đánh giá và phán đoán đúng nộitâm của đối tượng giao tiếp
- Kỹ năng chuyển từ tri giác bên ngoài vào nhận biết bản chất bên trong củanhân cách Sự biểu hiện các trạng thái tâm lý của con người qua ngôn ngữ và điệu bộ
là rất phức tạp, vì cùng một trạng thái cảm xúc lại có thể biểu lộ ra bằng ngôn ngữ vàđiệu bộ khác nhau và ngược lại, sự biểu hiện ở bên ngoài như nhau có thể lại là biểuhiện cảm xúc tâm trạng khác nhau Do vậy, kỹ năng này có thể giúp chúng ta thôngqua những biểu hiện chung nhất bên ngoài mà phán đoán đúng các trạng thái, đặc điểmtâm lý của đối tượng
- Kỹ năng định hướng trước khi tiếp xúc và trong quá trình tiếp xúc với đốitượng giao tiếp Đây là khả năng phác thảo chân dung tâm lý của đối tượng cần tiếpxúc để thực hiện mục đích giao tiếp Việc phác thảo chân dung tâm lý đối tượng giaotiếp để có cơ sở cho sự ứng xử phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao trong giao tiếp.Định hướng trước khi tiếp xúc là cơ sở để chủ thể giao tiếp khi bắt đầu giao tiếp cóđược thái độ thiện cảm, tự tin tạo cảm giác thoải mái cho đối tượng giao tiếp để họ bộc
lộ chân thực những đặc điểm tâm lý cá nhân của mình
b Nhóm kỹ năng định vị
Là khả năng xây dựng mô hình tâm lý, phác thảo chân dung nhân cách đốitượng giao tiếp đạt mức độ chính xác và tương đối ổn định dựa trên hoạt động nhậnthức tích cực Kỹ năng định vị biểu hiện ở khả năng xác định vị trí giao tiếp, biết đặtmình vào vị trí của đối tượng để hiểu rõ vui, buồn của đối tượng và tạo điều kiện chođối tượng chủ động giao tiếp với mình, từ đó tạo sự đồng cảm, hiểu biết lẫn nhau giữachủ thể và đối tượng giao tiếp Kỹ năng này liên quan chặt chẽ đến việc hiểu về mình
Trang 23và hiểu về người khác trong quá trình giao tiếp Kỹ năng định vị phải dựa trên nềntảng của việc trả lời các câu hỏi: tôi là ai, người giao tiếp với tôi là ai, mối quan hệ nàynhư thế nào…Để hình thành kỹ năng này, cá nhân phải tiếp xúc nhiều với đối tượnggiao tiếp, vận dụng tri thức, vốn kinh nghiệm sống của mình vào quá trình giao tiếp.
c Nhóm kỹ năng điều khiển
Là khả năng lôi cuốn, thu hút đối tượng giao tiếp, biết duy trì hứng thú, sự tậptrung chú ý của đối tượng trên cơ sở xác định được nguyện vọng, hứng thú của đốitượng giao tiếp để chủ thể có khả năng làm chủ trạng thái cảm xúc của bản thân và biếtcách sử dụng toàn bộ các phương tiện giao tiếp Nhóm kỹ năng điều khiển bao gồmcác kỹ năng: Kỹ năng làm chủ trạng thái cảm xúc của bản thân Kỹ năng này biểu hiện
ở chỗ biết tự kiềm chế, che dấu được tâm trạng của bản thân khi cần thiết, biết điềuchỉnh và điều khiển các trạng thái tâm lý của mình và các cách thức khác tiến hànhgiao tiếp Để từ đó, chủ thể thể hiện điệu bộ, ánh mắt, hành vi…của mình phản ứngphù hợp với đối tượng giao tiếp, với hoàn cảnh, mục đích, nội dung, nhiệm vụ giaotiếp… Kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp Phương tiện giao tiếp đặc trưng của conngười là ngôn ngữ và phi ngôn ngữ Từ ngôn ngữ và ngữ điệu có tác động mạnh mẽđến tình cảm của con người Trong giao tiếp, chủ thể cần phải làm chủ các phương tiệngiao tiếp của mình thì mới thu được hiệu quả trong giao tiếp
1.2.3.3 Biểu hiện của kỹ năng giao tiếp
Kỹ năng là cách thức con người thể hiện cách ứng xử của mình với người khác
Vì vậy, kỹ năng giao tiếp được thể hiện qua các kỹ năng thành phần và được biểu hiệnqua các hành vi, cử chỉ sau đây:
Thái độ, cử chỉ: Khi gặp nhau, con người thường quan tâm đến thái độ củangười đối diện Thái độ thể hiện ở 3 điểm cơ bản: nét mặt, ánh mắt, nụ cười Khi giaotiếp, người có văn hóa ứng xử tốt thường có nét mặt thoải mái, có ánh mắt thân thiện
và nụ cười nhẹ nhàng Đó là những biểu hiện ban đầu thể hiện sự tôn trọng đối vớingười khác Ngược lại, nét mặt căng thẳng, ánh mắt lạnh lùng, thờ ơ sẽ làm người giaotiếp với mình cảm thấy nặng nề, lo ngại Như vậy, cuộc giao tiếp sẽ không hiệu quả
Cùng với thái độ, dáng điệu và cử chỉ của mỗi người cũng là biểu hiện dễ thấykhi giao tiếp Dáng điệu chững chạc đàng hoàng thì gây sự kính trọng tự nhiên, cònngược lại sẽ gây ác cảm Cử chỉ thể hiện nhiều nhất qua các động tác tay, chân Cùng
là việc chỉ đường, mời ngồi, nếu dùng một ngón tay sẽ là trịch thượng, nếu khum nămngón lại, bàn tay hơi cong, mời khách ngồi thì lại thể hiện thái độ thân tình, trân trọngngười khác
Lời nói: Khi giao tiếp, rất ít khi chúng ta không dùng đến lời nói Vì vậy, lời nói
là biểu hiện quan trọng của việc ứng xử Lời nói có thể làm cho người khác vui, phấnkhích, bớt lo lắng, cũng có thể làm cho người khác bị tổn thương, sợ hãi Các cụ xưa
đã dặn “ Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau” Lời nóikhông chỉ thể hiện qua nội dung, mà còn thể hiện qua giọng nói (âm lượng, tốc độ) vàcách nói Trong quan hệ xã giao, hoặc với người mới gặp, chúng ta nên sử dụng câu cóchủ ngữ để thể hiện sự tôn trọng Nếu là quan hệ thân tình, có thể lược bớt chủ ngữ,nhưng cũng cần hạn chế
Trang 24Ví dụ: Nên hỏi: “Bác quê ở đâu?” hoặc “Bác từ đâu đến?” Không nên hỏi:
“Quê ở đâu?” hoặc “Tỉnh nào?”
Trang phục: Thông qua trang phục, chúng ta biết được địa vị xã hội, khả năngkinh tế, và chuẩn mực đạo đức cũng như thẩm mỹ cá nhân của từng người Nếu trangphục không phù hợp thì sẽ tạo sự khó chịu và mất tự tin cho chính người nói Khi đilàm, các cán bộ y tế cần chọn trang phục phù hợp với môi trường công sở (nếu là cán
bộ hành chính, văn phòng) và mặc đồng phục đối với các y, bác sĩ Bộ trang phục màutrắng của ngành y thể hiện nhiều ý nghĩa: sự sạch sẽ, sự minh bạch, sự vô trùng (theo
cả nghĩa đen và nghĩa bóng)
Ngoài ra, kỹ năng giao tiếp còn được biểu hiện hành vi ở các mức độ như sau:Mức độ 5 - Mức độ xuất sắc: Ở mức độ này, cá nhân chủ động vận dụng được
kỹ năng này trong cả những tình huống đặc biệt khó khăn Cá nhân có thể tự tin truyềnđạt kỹ năng này cho người khác Qua biểu hiện như tự tin trình bày các vấn đề phứctạp và nhạy cảm tới mọi đối tượng (từ các đối tượng lãnh đạo cấp cao, người nganghàng hoặc các đối tượng yếu thế hơn), luôn tạo được ấn tượng là một người biết lắngnghe và sẵn sàng chấp nhận phản hồi mà người khác dành cho mình, ngôn ngữ vàgiọng điệu linh hoạt, có sức thuyết phục và gây được ảnh hưởng lên người khác, cóchiến lược rõ ràng trong giao tiếp
Mức độ 4 - Mức độ tốt: Ở mức độ này, cá nhân có thể vận dụng được năng lựctrong những tình huống khá khó khăn, mà hầu như không cần hướng dẫn Người giaotiếp có khả năng thuyết trình rành mạch các khái niệm phức tạp tới nhiều đối tượngkhác nhau, xử lý khéo léo được các tình huống phát sinh trong giao tiếp, linh hoạttrong cách sử dụng ngôn ngữ và giọng điệu, nắm rõ những gì mình cần truyền đạt đếnngười nghe, biết lắng nghe và thường chấp nhận những phản hồi mà người khác dànhcho mình
Mức độ 3 - Mức độ khá: Ở mức độ này, cá nhân có thể vận dụng được năng lựctrong những tình huống khó khăn, dù đôi khi vẫn cần được chỉ dẫn từ người khác Cókhả năng diễn đạt rành mạch, rõ ràng các nội dung cơ bản tới nhiều đối tượng khácnhau, họ thường vận dụng được đúng giọng điệu và ngôn ngữ trong các trường hợpgiao tiếp, thường xuyên lắng nghe, quan tâm tới đối phương và biết khơi gợi giao tiếphai chiều một cách khéo léo
Mức độ 2 - Mức độ cơ bản: Ở mức độ này, cá nhân có thể vận dụng được nănglực trong những tình huống với độ khó trung bình và vẫn thường cần được hỗ trợ,hướng dẫn từ người khác Có khả năng diễn đạt rành mạch tới nhiều đối tượng, tuynhiên ngôn ngữ và giọng điệu trong nhiều trường hợp không chính xác Có ý thức khơigợi giao tiếp hai chiều, dù đôi khi không thực sự khéo léo Chủ động lắng nghe, thểhiện được thái độ quan tâm tới đối phương
Mức độ 1 - Mức độ kém: Ở mức độ này, cá nhân chỉ vận dụng được năng lựctrong những tình huống cơ bản nhất và sẽ cần rất nhiều chỉ dẫn từ người khác Có khảnăng diễn đạt được ý kiến của mình, dù không phải lúc nào cũng mạch lạc và chínhxác, họ chủ động lắng nghe, nhưng không biết cách khơi gợi được phản hồi của đốiphương
Trang 251.2.3.4 Một số kỹ năng giao tiếp cơ bản
Kỹ năng giao tiếp gồm một số các kỹ năng giao tiếp cơ bản như: Kỹ năng làmquen, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng giao tiếp qua điện thoại, kỹnăng giao tiếp bằng thư tín, kỹ năng kiềm chế cảm xúc, kỹ năng thuyết phục, kỹ nănggiải quyết xung đột, kỹ năng thiết lập quan hệ xã hội, kỹ năng thuyết trình Trongphạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung nghiên cứu đến một số kỹ năng sau:
a Kỹ năng tạo ấn tượng ban đầu
Ấn tượng ban đầu là hình ảnh về đối tượng giao tiếp được hình thành trong lầngặp gỡ đầu tiên
* Cấu trúc của ấn tượng ban đầu gồm 3 phần: thành phần cảm tính, thành phần lý tính
và thành phần cảm xúc
- Thành phần cảm tính bao gồm các đặc điểm bên ngoài của đối tượng giao tiếp:trang phục, cách trang điểm, ánh mắt, nụ cười, dáng điệu, Đây là thành phần
cơ bản chiếm ưu thế trong cấu trúc của ấn tượng ban đầu
Tuy nhiên , vẻ bề ngoài của một người không phải luôn phản ánh chân thực bảnchất của họ Những có lý trí và từng trải thường không để ấn tượng ban đầu ảnh hưởngnhiều đến mối quan hệ và hành động của họ
- Thành phần lý tính bao gồm những đánh giá, nhận xét ban đầu về những phẩmchất bên trong của đối tượng giao tiếp: tính cách, tình cảm, năng lực,
- Thành phần xúc cảm gồm những rung động nảy sinh trong quá trình gặp gỡ:thiện cảm hay ác cảm, hài lòng, dễ chịu hay khó khó chịu Cảm xúc ảnh hưởngnhiều đến độ bền vững của ấn tượng ban đầu Nói chung, cảm xúc lành mạnhthì hình ảnh về đối tượng càng khó phai mờ
Ấn tượng ban đầu là hình ảnh mang tính tổng thể về đối tượng giao tiếp, đượchình thành từ nhiều đặc điểm, nhiều nét khác nhau
* Vai trò của ấn tượng ban đầu: Ấn tượng ban đầu có ý nghĩa lớn trong giao tiếp, nếunhư người gặp gỡ đầu tiên tạo được ấn tượng giao tiếp tốt thì sẽ tạo được cảm tình vàđối tượng giao tiếp sẽ muốn gặp ở những lần sau Đây là điều kiện thuận lợi để xâydựng, phát triển mối quan hệ tốt đẹp, lâu dài với đối tượng giao tiếp Ngược lại, nếungay lần đầu gặp gỡ mà đối tượng giao tiếp để lại ấn tượng không tốt thì sẽ gặp nhiềukhó khăn trong những lần gặp gỡ sau đó và sẽ mất nhiều công sức mới có thể xóađược ấn tượng không tốt đó
* Quá trình hình thành ấn tượng bạn đầu:
Quá trình hình thành ấn tượng ban đầu là một quá trình phức tạp, chịu ảnhhưởng bởi nhiều yếu tố như:
- Ấn tượng ban đầu là hình ảnh về đối tượng giao tiếp cho nên trước hết nó phụthuộc vào đối tượng giao tiếp, đặc biệt là những đặc điểm bên ngoài
- Hình ảnh về đối tượng giao tiếp hình thành trong đầu óc người giao tiếp khôngnhững phụ thuộc vào đối tượng giao tiếp mà còn phụ thuộc vào các đặc điểmchủ quan như:
+ Tâm trạng, tình cảm: Khi ở trong tâm trạng thoải mái, vui vẻ thì con người nhìncảnh vật đẹp hơn, thân thiện hơn Ngược lại, khi chúng ta buồn bã, căng thẳng,
Trang 26cáu gắt thì mọi vật xung quanh cũng khó gây ấn tượng tốt Vì vậy, khi giao tiếpcần chọn thời điểm thích hợp, tránh những cảm xúc dễ gây khó chịu, phiền hà.Tình cảm với một người cũng chi phối mạnh hình ảnh về người đó, những tìnhcảm dương tính thường đưa đến những đánh giá thiên vị, có thể tô hồng hìnhảnh đối tượng giao tiếp Ngược lại, xúc cảm, tình cảm âm tính thường làm trầmtrọng thêm những khuyết điểm của đối tượng.
+ Nhu cầu, sở thích: Con người ta thường chỉ thấy những cái mình muốn thấy,hơn nữa, cái gì hợp với nhu cầu, sở thích của con người thì dễ gây ấn tượng tíchcực và ngược lại
Ví dụ: Một người đánh giá cao nét đẹp truyền thống của phụ nữ Việt nam thì dễ
có cảm tình với những người phụ nữ có tóc dài, ăn mặc đoan trang Điều này có nghĩa
là trong giao tiếp, chúng ta cần chú ý tìm hiểu nhu cầu và sở thích của đối tượng đểbiết cách ăn mặc, nói năng, ứng xử phù hợp
+ Tâm thế và sự hình dung về đối tượng giao tiếp: Tâm thế trong giao tiếp là điều
mà ta chờ đợi hặc cho rằng nó sẽ xảy ra trong giao tiếp Nó thể hiện nhu cầu,mong muốn, những gì mà chúng ta quan tâm Tâm thế và tưởng tượng của conngười về một người trước khi tiếp xúc ảnh hưởng không nhỏ đến nhận xét đánhgiá của ta về người đó
+ Tình huống, hoàn cảnh giao tiếp
- Thời gian hình thành ấn tượng ban đầu
Theo nhà Tâm lý học người Mỹ cho rằng: trong giao tiếp, quá trình hình thành
ấn tượng ban đầu bắt đầu ngay từ khi người ta có sự tiếp xúc (nghe thấy, nhìn thấy) vàdiễn ra chủ yếu ở những giây phút đầu tiên của sự tiếp xúc Hay nói cách khác, nhữnggiây phút đầu tiên của cuộc gặp gỡ là giây phút quyết định hình ảnh của chúng ta trongmắt người khác
Muốn gây ấn tượng tốt trong lần tiếp xúc đầu tiên cần:
+ Tạo bầu khí thân mật, hữu nghị: Ngay trong giây phút đầu tiên tiếp xúc, chúng
ta phải tạo được bầu khí thân mật, gần gũi, hữu nghị Trong bầu khí đó, ngườiđối thoại sẽ cảm thấy tự tin, yên tâm, tin tưởng, nghĩa là chúng ta đã đặt nềnmóng cho việc xây dựng hình ảnh tích cực về mình Muốn vậy, cần chú ý đếnnhững biểu hiện bên ngoài của mình: ánh mắt, nụ cười, nét mặt, tư thế,lời nói,trang phục và khoảng cách giữa người đối thoại với nhau Khi trò chuyện, cần
tỏ ra nhiệt tình, chân thành, cởi mở, không được làm cho bầu không khí trở nênnặng nề, căng thẳng mà phải tạo ra được sự thân mật, ấm cúng, vui vẻ
+ Bắt đầu bằng cách cùng nói về những vấn đề mà hai bên quan tâm: Trong cuộcsống, có một số người khi tiếp xúc với người khác, họ chỉ quan tâm tới những
đề tài mà họ cảm thấy hứng thú, không để ý đến nhu cầu của đối tượng Nhữngngười này khó kiếm được cảm tình của người khác nhưng có những người chỉ
lo thỏa mãn nhu cầu của người đối thoại, gạt bỏ hứng thú cá nhân mình nênkhông thể phát huy được ưu thế của cá nhân Cách tốt nhất để mở đầu cuộc gặp
gỡ là trọn vấn đề mà cả hai bên cùng quan tâm Làm thế nào để xác định vấn đề
mà người đối thoại quan tâm trong lần đầu tiếp xúc với họ? Nên chọn những
Trang 27câu chuyện đời thường để thăm dò, khi đã tìm được vấn đề ăn ý thì tiếp tục đisâu vào câu chuyện.
+ Nắm vững thời cơ và giây phút quyết định cuộc tiếp xúc: Sau khi chọn đượcvấn đề hai bên cùng quan tâm, chúng ta tiếp tục đẩy câu chuyện theo hướng đó.Tuy nhiên, đây chỉ là câu chuyện dạo đầu nhằm tạo không khí và tìm hiểu tâm
lý người đối thoại Chọn thời điểm thích hợp để nêu vấn đề chính là của cuộctiếp xúc, đây là giây phút quyết định Đây chính là bước khởi đầu then chốt,quyết định thành công hay thất bại của cả quá trình tiếp xúc sau đó Trong thờigian ngắn ngủi này, chúng ta vừa phải tìm hiểu người đối thoại, tạo sự sẵn sànghợp tác, vừa biết chớp thời cơ để đạt được mục đích
b Kỹ năng lắng nghe
Kỹ năng lắng nghe là khả năng hiểu được nội dung lời nói, nhận biết được tâmtrạng, cảm xúc và nhu cầu của người nói Để có thể nâng cao hiệu quả của việc lắngnghe cần chú ý rèn luyện một số kỹ năng như:
Kỹ năng gợi mở Để cho người đối thoại tự nhiên và mạnh dạn chia sẻ nhữngnội dung khó nói hoặc tế nhị, chúng ta cần tỏ ra am hiểu vấn đề và đồng cảm về cảmxúc cùng với những yếu tố giao tiếp phi ngôn ngữ để người nói cảm nhận được rằngmình đang quan tâm và hưởng ứng những gì họ nói Có sự phản hồi thích hợp vớinhững nội dung mà người nói chia sẻ Đặt câu hỏi để làm rõ hơn vấn đề và cũng để thểhiện sự quan tâm đến nội dung đối thoại Giữ im lặng những lúc cần thiết
Kỹ năng bộc lộ sự quan tâm Khi lắng nghe, nên ngồi hướng về phía người đốithoại và thể hiện sự quan sát Có sự tiếp xúc bằng mắt một cách hợp lý Có nhữngđộng tác, cử chỉ đáp ứng lại người nói như: gật đầu, mỉm cười…
Kỹ năng tạo lập không khí giao tiếp thoải mái, bình đẳng Tùy thuộc vào mức
độ mối quan hệ mà cần giữ khoảng cách giao tiếp phù hợp Khi một người đứng thìngười kia cũng nên đứng và khi người kia ngồi thì người nghe cũng nên ngồi trong quátrình tương tác
Kỹ năng phản ánh lại Người nghe sẽ diễn đạt lại ý của người nói theo cáchhiểu của mình, giúp bạn xác định lại nhận thức của bản thân có đúng với những gìngười đối thoại muốn chuyển tải không, vừa thể hiện sự quan tâm của bạn đối vớingười nói
c Kỹ năng cho và nhận phản hồi thông tin
Phản hồi là phương pháp cho, nhận thông tin về hành vi của một người Ý kiếnphản hồi là ý kiến xây dựng, không phê phán, chỉ trích
Trong quá trình giao tiếp, khi nghe và nhận thông tin, người nghe thường phảnánh về hành vi của người truyền tin có ảnh hưởng đến người nghe như thế nào Thí dụnội dung trình bày rõ hay không rõ, nói đủ nghe hay nhỏ, tự tin hay thiếu bình tĩnh,cảm xúc của người nghe như thế nào Sau đó người truyền tin tiếp thu những ý kiếnphản ánh Sự phản ánh ý kiến giữa người nghe và người truyền tin gọi là phản hồi Ýkiến phản hồi rất cần thiết Nó cung cấp thông tin giúp người nhận phản hồi tự xem xét
để điều chỉnh hành vi của mình nhằm nâng cao hiệu quả truyền tin
Trang 28Giữa lời khen tặng và sự phản hồi tích cực, giữa lời chỉ trích với phản hồi tiêucực có sự khác nhau Phản hồi tích cực là lời khen ngợi nhưng ở mức độ cao hơn bằngcách xác định cụ thể các hành động xuất sắc Chỉ trích là lời chê bai chung chung,không giải thích cụ thể.
Khi đưa ra phản hồi, nên:
- Tập trung vào việc cải thiện năng lực thực hiện Đừng dùng ý kiến phản hồichỉ để chỉ trích hay nhấn mạnh kết quả yếu kém Cần lưu ý đến việc thực hiện yếukém, nhưng đồng thời cũng cần phải khẳng định, tăng cường sự phản hồi về nhữngphần việc được thực hiện tốt Điều đó sẽ giúp người nhận thông tin học hỏi được từnhững gì họ đã làm đúng
- Đưa ra phản hồi kịp thời Cố gắng đưa ra ý kiến phản hồi càng sớm càng tốtsau khi người gửi tin quan sát được hành vi muốn điều chỉnh hoặc củng cố
- Tập trung vào hành vi mà không nhận xét thái độ hay tính cách con người.Điều này sẽ làm cho người gửi tin không có cảm giác là mình đang bị công kích cánhân
- Phản hồi cần cụ thể, rõ ràng mà không chung chung
- Phản hồi một cách chân thành với mục đích người gửi tin cải thiện được tìnhhình
- Người nhận tin nói về cảm xúc của mình mà không xúc phạm người gửi tin
- Không đưa ra lời khuyên
Khi nhận phản hồi nên:
- Lắng nghe và ghi chép ý kiến phản hồi
- Trân trọng ý kiến phản hồi
- Không lý giải điều mình đã làm hoặc đã nói, làm rõ ý kiến phản hồi nếu cần
- Có thể hỏi lại những ý chưa rõ
Vì phản hồi có tính chất hai chiều, nên người gửi tin cần cởi mở đón nhận ýkiến phản hồi cũng như sẵn sàng đưa ra phản hồi Vì thế hãy khuyến khích người nhậntin đưa ra ý kiến phản hồi Người gửi tin cần tập trung khi nhận ý kiến phản hồi củangười nhận tin Người gửi tin thể hiện sự tập trung của mình bằng cách thỉnh thoảngnhắc lại những mình hiểu Tùy vào từng trường hợp để lựa chọn kỹ năng phản hồitrong giao tiếp phù hợp Phản hồi tích cực trên cần dựa trên những hành vi cụ thể,những hiện tượng vừa quan sát được để phản hồi, không tự đánh giá, áp đặt hoặc suydiễn Phản hồi là vì người nhận thông tin, vì thế khi đưa phản hồi, người đưa phản hồicần nhạy cảm với những tác động của những thông tin mà mình đưa ra để điều chỉnhgiọng nói, âm sắc, luận điểm của bản thân
1.2.4 Đặc điểm tâm lý của sinh viên Khoa Tâm lý - Giáo dục Trường ĐHSP - ĐHĐN
Thanh niên, sinh viên là giai đoạn chuyển tiếp giữa tuổi nhỏ và trưởng thành
Có thể chia giai đoạn này trong khoảng từ 14 – 25 tuổi Đây là giai đoạn bản lề rấtquan trọng bởi nó có ý nghĩa định hướng tính cách, hướng phát triển cho mỗi conngười trong cả cuộc đời
Trang 291.2.4.1 Hoạt động nhận thức của sinh viên
Ở sinh viên đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá vấn đềcuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày Sinh viên là những trí thức tương lai, ở các
em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Học tập ở đại học là cơ hội tốt để SVđược trải nghiệm bản thân, vì thế, sinh viên rất thích khám phá, tìm tòi cái mới, đồngthời, họ thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốnsống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để khẳng định mình Lứa tuổisinh viên có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so với các lứa tuổikhác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ pháttriển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu, khát vọng thànhđạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt với thử thách Song, do hạn chếcủa kinh nghiệm sống, sinh viên cũng có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới.Những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấnđấu của sinh viên
Với tính chất môi trường học tập, nội dung môn học đòi hỏi sinh viên phải cótrình độ nhận thức tương ứng Sinh viên cần phát triển năng lực phân tích và tổng hợpvấn đề, năng lực đánh giá và nhận xét các tình huống, các vấn đề có liên quan đến nộidung môn học Hoạt động nghiên cứu trong học tập đòi hỏi sinh viên phải có sự nhạybén, tích cực tìm kiếm, tổ chức, cập nhật thông tin phục vụ cho việc học tập Quá trìnhhọc tập trong điều kiện ngày nay đòi hỏi sinh viên phải tự đào tạo, tự lên kế hoạch họctập cho phù hợp với điều kiện của bản thân và trong nhà trường qua việc phát triển tưduy linh hoạt, nhạy bén, sáng tạo để nhận thức và giải quyết các vấn đề mới tình huốngmới trong học tập và làm việc sau này
1.2.4.2 Hoạt động học tập
Có thể thấy rằng, hoạt động học tập của sinh viên có tính chất và sắc thái khácvới hoạt động học tập ở trường phổ thông Hoạt động học tập ở trường đại học mangtính chất chuyên ngành, phạm vi hẹp hơn, sâu sắc hơn và gắn liền với một nghề nhấtđịnh Do đó, cách dạy và học ở trường đại học cũng khác so với trường phổ thông Đểhọc tập có kết quả sinh viên phải có sự thích ứng với phương pháp dạy và học ở
trường đại học Sự thành công chỉ đến với những sinh viên khi họ tiếp tục coi việc học
là quan trọng nhất trong quãng đời sinh viên của mình
Bản chất hoạt động học tập của sinh viên là đi sâu tìm hiểu những môn học,những chuyên ngành khoa học cụ thể một cách chuyên sâu để nắm được đối tượng,nhiệm vụ, phương pháp, quy luật của các khoa học đó Hoạt động học tập của sinhviên mang tính độc lập, tự chủ, sáng tạo cao Hoạt động tư duy của sinh viên trong quátrình học tập chủ yếu là theo hướng phân tích, diễn giải, chứng minh các định đề khoahọc Để đạt kết quả cao trong hoạt động học tập, sinh viên phải có cách học phù hợpvới chuyên ngành khoa học mà họ theo đuổi Có như vậy, sinh viên mới có thể lĩnh hộiđược khối lượng lớn kiến thức chuyên ngành và hình thành được kỹ năng, kỹ xảo nghềnghiệp tương lai
Trang 30Với tính chất học tập trong môi trường đại học, đòi hỏi sinh viên phải tiếp thucác môn học cơ bản, cơ sở và các môn chuyên ngành cơ bản để lĩnh hội các Ở giaiđoạn này, cơ thể và tâm lý đều từng bước trưởng thành hơn, chính những người ở độtuổi này sẽ cảm nhận được điều này và muốn mọi người biết đến điều đó Trong quátrình tập làm người lớn, họ có chiều hướng khẳng định địa vị và vai trò của mình.Lòng tự trọng, tình cảm, tinh thần trách nhiệm được thiết lập Khi được tiếp thu vàphát triển đúng hướng, thanh niên sẽ tạo cho mình được lòng tự hào và tự trọng cần có.Ngược lại, biết tôn trọng người khác, kiểm điểm và nhận trách nhiệm khi sai Họ cónhu cầu rất lớn đó là được coi trọng, được người lớn tôn trọng suy nghĩ và ý kiến cánhân Để chứng minh cái tôi của mình, bản thân sẽ nỗ lực và cố gắng hơn để thể hiệnnăng lực, bản sắc, đam mê,… Cũng vì thế mà thanh niên, sinh viên là tầng lớp rất năng
nổ đối với giao tiếp xã hội, hăng hái tham gia các hoạt động cộng đồng, hoạt động tậpthể Đây là cơ hội thể hiện sức trẻ, năng lực, nhân cách của bản thân các em Đây cũng
là cơ hội tôi luyện, rèn giũa để phát huy tinh thần và khả năng vốn có Nó có sức ảnhhưởng rất lớn đối với các giai đoạn sau này Không chỉ chính những người ở độ tuổinày cảm nhận được bản thân đã lớn, cha mẹ thầy cô và những người xung quanh cũng
có thể cảm nhận được rõ Những yêu cầu đặt ra đối với thanh niên, sinh viên ở giaiđoạn này cũng khắt khe hơn Điều này cũng khiến thanh niên, sinh viên ý thức hơn vềvai trò của mình Sự trưởng thành trong quan hệ giao tiếp của sinh viên thể hiện ở khảnăng thể hiện sự tự tin trước đám đông, khả năng tự tin trình bày các ý kiến cá nhân vềmột vấn đề nào đó trong đời sống, khả năng sử dụng giao tiếp như một phương tiện đểkết nối, học hỏi, thay đổi và phát triển bản thân của thanh niên Điều này được thể hiện
rõ trong việc thanh niên sinh viên hăng hái và nhiệt huyết trong các công tác tập thể.Thông qua công tác tập thể, thanh niên có môi trường để giao tiếp và thỏa mãn các nhucầu phát triển cá nhân khác thông qua hoạt động giao tiếp Cũng bởi giao tiếp chính làmột nhu cầu rất lớn và sự thể hiện sự trưởng thành của thanh niên, sinh viên so với cáclứa tuổi khác
1.2.5 Kỹ năng giao tiếp của sinh viên
1.2.5.2 Biểu hiện kỹ năng giao tiếp của sinh viên
Biểu hiện kỹ năng giao tiếp của sinh viên là tất cả những yếu tố mà sinh viêndùng để thể hiện thái độ, tình cảm và những đặc điểm tâm lý khác đồng thời thiết lập,vận hành các mối quan hệ trong một cuộc giao tiếp:
Trang 31● Ngôn ngữ bên ngoài: là dạng ngôn ngữ được sinh viên biểu hiện tường minh rabên ngoài bằng âm thanh hoặc chữ viết để tiến hành giao tiếp giữa các chủ thể(bạn bè, thầy cô, các mối quan hệ xung quanh) Ngôn ngữ bên ngoài là ngôn ngữhướng vào người khác và được dùng để truyền đạt và tiếp thu tư tưởng Ngôn ngữbên ngoài được chia thành: ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Ngôn ngữ nói là ngônngữ hướng vào người khác, biểu hiện bằng âm thanh và được tiếp nhận bằng thínhgiác Ngôn ngữ nói gồm ngôn ngữ độc thoại và ngôn ngữ đối thoại Ngôn ngữ đốithoại là ngôn ngữ diễn ra ở một người hay một số người, trong đó khi người nàynói thì người khác nghe và ngược lại, đối thoại thường được thể hiện qua các hìnhthức như nói chuyện, tâm sự, giao lưu, đàm thoại, hội họp, tranh luận… Ngôn ngữđộc thoại là ngôn ngữ mà người nói nói cho một hay số đông người nghe mà
không có chiều ngược lại một cách trực tiếp, độc thoại có người nghe được gọi làthuyết trình Ngôn ngữ viết ra đời muộn hơn ngôn ngữ nói, biểu hiện bằng chữ viết
và được thu thập bằng thị giác, nó cũng chia thành ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữđộc thoại (đọc sách, báo)
● Ngôn ngữ bên trong:là dạng đặc biệt của ngôn ngữ, là loại ngôn ngữ chưa bộc lộ rangoài bằng các phương tiện vật chất Ngôn ngữ bên trong không phát ra âm thanh,bao giờ cũng được rút gọn và cơ động cũng như tồn tại dưới cảm giác vận động và
do cơ chế đặc biệt chi phối Nó đóng vai trò rất quan trọng, là phương tiện củahoạt động nhận thức, phương tiện điều chỉnh tình cảm và ý chí của con người,đồng thời cũng là phương tiện để sinh viên tự giáo dục và điều chỉnh quá trìnhgiao tiếp của bản thân
● Trong giao tiếp, bên cạnh ngôn ngữ còn có phương tiện phi ngôn ngữ Theo kếtquả nghiên cứu, 80% hiệu quả giao tiếp phụ thuộc vào các phương tiện phi ngônngữ Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả giao tiếp, mọi người nói chung và sinh viênnói riêng cần nắm được những thói quen, những quy tắc trong việc sử dụng cácphương tiện phi ngôn ngữ để không chỉ hiểu được ý đồ của người khác, mà còndiễn đạt được mục đích của mình một cách đa dạng Biểu hiện kỹ năng giao tiếpcủa sinh viên qua việc thể hiện phương tiện phi ngôn ngữ được thể hiện qua cácbiểu hiện sau:
- Thái độ, cử chỉ: Khi gặp nhau, thái độ của sinh viên được thể hiện ở các điểm:nét mặt, ánh mắt, nụ cười Thông thường khi giao tiếp,sinh viên thường có nétmặt thoải mái, có ánh mắt thân thiện và nụ cười nhẹ nhàng Ngược lại, cũng cónhững sinh viên biểu hiện nét mặt căng thẳng, ánh mắt lạnh lùng, thờ ơ Đôi khilại có biểu hiện né tránh, hay ngại ngùng,
- Ánh mắt, nụ cười: Trong quá trình giao tiếp biểu hiện ánh mắt của sinh viên cóthể là nhìn thẳng vào người đối thoại với mình, không nhìn chăm chú vào ngườikhác, nhìn đối tượng giao tiếp hay người khác với ánh mắt diễu cợt hoặc khôngthèm để ý, đảo mắt hoặc liếc mắt nhìn một cách vụng trộm, Nụ cười cũngđược biểu hiện qua một số kiểu: cười hô hố, cười ha hả, cười ré lên, cười mỉamai, cười nhạt,
Trang 32- Tư thế, tác phong, điệu bộ, cử chỉ được biểu hiện ở sinh viên có thể là: tư thếđứng (thẳng người, đầu ngẩng cao, hai tay buông xuôi tự nhiên, bỏ tay vào baoquần, ), ngồi (ngồi vắt chân, chéo chân, ngồi dựa vào ghế, ) Động tác cử chỉbao gồm các biểu hiện: gật đầu, lắc đầu, các cử chỉ tay trong khi giao tiếp nhưđưa tay ra minh họa khi nói, vẫy tay hay một số cử chỉ khác ( ngáp, vươn vai,gãi đầu, giẫm chân, )
- Trang phục được biểu hiện ở quần áo, giày dép, đồ trang sức, qua đó thể hiệntính cách, sở thích, thẩm mỹ, hoàn cảnh, nghề nghiệp, thái độ của chủ thể giaotiếp Biểu hiện trang phục trong giao tiếp là thể hiện sự tôn trọng người kháchay không và tạo ra sự hấp dẫn, thu hút đối tượng giao tiếp và sự nhìn nhậnđánh giá của đối tượng giao tiếp với chủ thể
1.2.5.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của sinh viên
Việc hình thành kỹ năng giao tiếp đòi hỏi một quá trình mà trong đó chịu ảnhhưởng tác động bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Vì vậy, kỹ năng giao tiếpcủa sinh viên Khoa Tâm lý - Giáo dục Trường ĐHSP - ĐHĐN cũng bị chi phối bởinhiều yếu tố tác động như:
Đặc điểm tâm lý cá nhân của mỗi sinh viên có ảnh hưởng nhất đối với kỹ nănggiao tiếp của bản thân sinh viên đó Các yếu tố như nhu cầu, hứng thú, tính tích cực lànhững biểu hiện trong xu hướng của cá nhân sinh viên Nhu cầu và sự quan tâm ở mức
độ cao về kỹ năng giao tiếp hiệu quả sẽ là động lực thúc đẩy bản thân sinh viên rènluyện và nâng cao kỹ năng giao tiếp Bên cạnh đó, nhận thức được đúng vai trò, vị trí,tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp trong học tập, rèn luyện và đặc biệt là hiệu quảsau khi ra trường sẽ tác động mạnh đến ý thức trau dồi và nâng cao kỹ năng giao tiếpcủa bản thân cá nhân sinh viên Cũng có thể thấy rằng kỹ năng năng giao tiếp hiệu quảchỉ có thể được hình thành và kiểm nghiệm trong thực tiễn tiễn Do đó yếu tố kinhnghiệm về giao tiếp của sinh viên cũng có ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của họ
Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của sinh viên đó là môi trường.Môi trường giao tiếp là điều kiện khách quan tác động đến kỹ năng giao tiếp của sinhviên như các mối quan hệ với gia đình, bạn bè, thầy cô, trường học Tuy nhiên, cónhiều sinh viên đến từ nhiều tỉnh và vùng miền khác nhau nên đối tượng giao tiếpcũng trở nên đa dạng về thành phần, văn hóa, Điều này cũng góp phần tích cực choviệc phát triển kỹ năng giao tiếp của sinh viên Kỹ năng giao tiếp của sinh viên đượchình thành và biểu hiện hiệu quả hay không cũng phụ thuộc nhiều trong quá trình đượcrèn luyện và đào tạo Chương trình đào tạo kỹ năng giao tiếp cho sinh viên khoa Tâm
lý nói chung và trong Trường ĐHSP - ĐHĐN nói riêng cũng đã được quan tâm và đưavào chương trình đào tạo qua học phần Kỹ năng giao tiếp, giúp tạo điều kiện cho sinhviên tiếp thu một cách chính thức các vấn đề giao tiếp, kỹ năng giao tiếp Kỹ năng giaotiếp của sinh viên được hình thành và biểu hiện hiệu quả hay không cũng phụ thuộc rấtnhiều trong quá trình được đào tạo và rèn luyện, qua đó giúp sinh viên định hướng mộtcách hệ thống về kỹ năng giao tiếp và xác định các phương pháp rèn luyện kỹ nănggiao tiếp cho bản thân một cách hiệu quả
Trang 33Các hoạt động phong trào cũng là điều kiện giúp sinh viên vừa hình thành vàrèn luyện vừa kiểm nghiệm mức độ hiệu quả của bản thân về kỹ năng giao tiếp trongquá trình giao tiếp Các phong trào như: văn nghệ, thể dục thể thao, mùa hè xanh, tìnhnguyện viên, Tạo điều kiện cho sinh viên có thể vận dụng và nâng cao kỹ năng giaotiếp cho bản thân Một yếu tố cũng góp phần quan trọng trong việc hình thành kỹ nănggiao tiếp của sinh viên đó là việc giảng dạy của giảng viên: hình thành và rèn luyện kỹnăng giao tiếp cho sinh viên không chỉ thông qua bộ môn kỹ năng giao tiếp mà thểhiện trong quá trình học của sinh viên Do vậy, kỹ năng giao tiếp tốt hay chưa tốt, hiệuquả hay chưa hiệu quả đều phụ thuộc rất nhiều trong quá trình giảng dạy của giảngviên Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến kỹ năng giao tiếp của sinh viên như: trình độchuyên môn, phương pháp giảng dạy, thái độ, tính tích cực giảng dạy của giảng viên,