Kinh tế chính trị là một môn khoa học xã hội nghiên cứu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa đặt trong mối quan hệ với chính trị dưới nhãn quan của chính trị gia. Thuật ngữ kinh tế chính trị được dùng lần đầu tiên năm 1615 bởi trong tác phẩm Traité déconomie politique. Thuật ngữ kinh tế chính trị xuất hiện do kết hợp các từ có nguồn gốc Hy Lạp với nghĩa là thiết chế chính trị1. Kinh tế chính trị học cung cấp các khái niệm và hệ thống kiến thức cơ bản nhất cho khoa kinh tế hiện đại như cung cầu, lợi nhuận, tự do thương mại... Nhiều quan điểm của các trường phái kinh tế chính trị đã trở thành các tín điều mang tính ý thức hệ của các nhà kinh tế học và các chính trị gia.
Trang 1Chương 1 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CHỨC NĂNG
CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
Chương 1 cung cấp những tri thức cơ bản về sự ra đời và phát triển của môn học kinh tế chính trị Mác - Lênin, về đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và chức năng của kinh tế chính trị Mác - Lênin trong nhận thức cũng như trong thực tiễn
1.1 KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
Thuật ngữ Kinh tế chính trị (political economy) xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XVII trong tác phẩm Chuyên luận về kinh tế chính trị (1615) của
A.Montchretien (Pháp) Tuy nhiên, tác phẩm này mới chỉ là những phác thảo ban đầu về môn học kinh tế chính trị Tới thế kỷ XVIII, với sự xuất hiện lý luận của A.Smith (Anh) - thì kinh tế chính trị mới trở thành môn khoa học có tính hệ thống với các phạm trù, khái niệm chuyên ngành
Xét một cách khái quát, quá trình phát triển tư tưởng kinh tế của loài người có thể được mô tả như sau:
1.1.1 Giai đoạn từ thời cổ đại đến cuối thế kỷ XVIII
- Tư tưởng kinh tế thời kỳ cổ đại và trung đại (từ thời cổ đại đến thế kỷ
thứ XV): do trình độ phát triển khách quan còn lạc hậu của các nền sản xuất nên chỉ xuất hiện số ít tư tưởng kinh tế mà không phải là những hệ thống lý thuyết kinh tế hoàn chỉnh
- Chủ nghĩa trọng thương (từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVII ở Anh,
Pháp và Italia) Chủ nghĩa trọng thương với các đại biểu: W Starfod, T Mun (Anh); G Scaruffi, A Serra (Italia); A Montchretien (Pháp) là hệ thống lý luận kinh tế chính trị đầu tiên nghiên cứu về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa CNTT đã đặt vấn đề tìm hiểu về vai trò của thương mại với sự giàu có của một quốc gia tư bản giai đoạn tích luỹ ban đầu, coi trọng vai trò của hoạt động thương mại, đặc biệt là ngoại thương
- Chủ nghĩa trọng nông (từ giữa thế kỷ thứ XVII đến nửa đầu thế kỷ
XVIII ở Pháp) là hệ thống lý luận kinh tế chính trị nhấn mạnh vai trò của sản xuất nông nghiệp, coi trọng sở hữu tư nhân và tự do kinh tế Chủ nghĩa trọng nông đã nghiên cứu và phân tích để rút ra lý luận kinh tế chính trị từ trong lĩnh vực sản xuất Mặc dù còn phiến diện, song bước tiến này phản ánh lý luận kinh
tế chính trị đã bám sát vào thực tiễn phát triển của sản xuất xã hội Đại biểu tiêu biểu của chủ nghĩa trọng nông ở Pháp gồm: F.Quesney; A.Turgot;
Trang 22
P.Boisguillebert - kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh (từ giữa thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII)
- Kinh tế chính trị cổ điển Anh là hệ thống lý luận kinh tế của các nhà kinh
tế tư sản trình bày một cách hệ thống các phạm trù kinh tế trong nền kinh tế thị trường như hàng hóa, giá trị, tiền tệ, giá cả, tiền công, lợi nhuận… để rút ra những quy luật vận động của nền kinh tế thị trường Đại biểu tiêu biểu của kinh
tế chính trị tư sản cổ điển Anh gồm: W.Petty; A.Smith; D.Ricardo
1.1.2 Giai đoạn từ sau thế kỷ XVIII đến nay
- Lý thuyết kinh tế chính trị của C.Mác (1818-1883): kế thừa trực tiếp
những giá trị khoa học của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh, C.Mác xây dựng
hệ thống lý luận kinh tế chính trị một cách khoa học, toàn diện về nền sản xuất
tư bản chủ nghĩa, tìm ra những quy luật kinh tế chi phối sự hình thành, phát triển
và luận chứng vai trò lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Cùng với C.Mác, Ph.Ănghen (1820-1895) cũng là người có công lao vĩ đại trong việc công bố lý luận kinh tế chính trị Lý luận Kinh tế chính trị của C.Mác và
Ph.Ănghen được thể hiện tập trung và cô đọng nhất trong bộ Tư bản Trong đó,
C.Mác trình bày một cách khoa học và chỉnh thể các phạm trù cơ bản của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, thực chất cũng là nền kinh tế thị trường, như: hàng hóa, tiền tệ, giá trị thặng dư, tích luỹ, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, tư bản, cạnh tranh cùng các quy luật kinh tế cơ bản cũng như các quan hệ xã hội giữa các giai cấp trong nền kinh tế thị trường của tư bản chủ nghĩa Các lý luận của C.Mác được khái quát thành các học thuyết lớn như học thuyết giá trị, học thuyết giá trị thặng
dư, học thuyết tích luỹ, học thuyết về lợi nhuận, học thuyết về địa tô… Với học thuyết giá trị thặng dư nói riêng và Bộ Tư bản nói chung C.Mác đã xây dựng cơ
sở khoa học, cách mạng cho sự hình thành chủ nghĩa Mác nói chung và nền tảng
tư tưởng cho giai cấp công nhân Học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác đồng thời cũng là cơ sở khoa học luận chứng cho vai trò lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
- V.I.Lênin kế thừa, bổ sung, phát triển lý luận kinh tế chính trị Trong đó nổi
bật là nghiên cứu, chỉ ra những đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (giai đoạn độc quyền), những vấn đề kinh tế chính trị cơ bản của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Với ý nghĩa đó, dòng lý thuyết kinh tế chính trị này được định danh với tên gọi kinh tế chính trị Mác - Lênin
- Các Đảng Cộng sản tiếp tục nghiên cứu và bổ sung, phát triển kinh tế
chính trị Mác - Lênin cho đến ngày nay Cùng với lý luận của các Đảng Cộng
sản, hiện nay, trên thế giới có rất nhiều nhà kinh tế nghiên cứu kinh tế chính trị theo cách tiếp cận của kinh tế chính trị của C.Mác với nhiều công trình được
Trang 3công bố trên khắp thế giới Các công trình nghiên cứu đó được xếp vào nhánh Kinh tế chính trị mácxít
- Dòng lý thuyết kinh tế kế thừa những luận điểm mang tính khái quát tâm
lý, hành vi của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh (kinh tế chính trị tầm thường)
không đi sâu vào phân tích, luận giải các quan hệ xã hội trong quá trình sản xuất cũng như vai trò lịch sử của chủ nghĩa tư bản tạo ra cách tiếp cận khác với cách tiếp cận của C.Mác Sự kế thừa này tạo cơ sở hình thành nên các nhánh lý thuyết kinh tế đi sâu vào hành vi người tiêu dùng, hành vi của nhà sản xuất (cấp độ vi mô) hoặc các mối quan hệ giữa các đại lượng lớn của nền kinh tế (cấp độ vĩ mô) Dòng lý thuyết này được xây dựng và phát triển bởi rất nhiều nhà kinh tế
và nhiều trường phái lý thuyết kinh tế của các quốc gia khác nhau phát triển từ thế kỷ XIX cho đến ngày nay
- Lý thuyết kinh tế của các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng
(thế kỷ XV-XIX) và kinh tế chính trị tiểu tư sản (cuối thế kỷ thứ XIX) Các lý
thuyết kinh tế này hướng vào phê phán những khuyết tật của chủ nghĩa tư bản song nhìn chung các quan điểm dựa trên cơ sở tình cảm cá nhân, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa nhân đạo, không chỉ ra được các quy luật kinh tế cơ bản của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và do đó không luận chứng được vai trò lịch
sử của chủ nghĩa tư bản trong quá trình phát triển của nhân loại
1.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác – Lênin
a) Đối tượng nghiên cứu
Xét về lịch sử, trong mỗi giai đoạn phát triển, các lý thuyết kinh tế có quan niệm khác nhau về đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị:
- Chủ nghĩa trọng thương xác định đối tượng nghiên cứu là lưu thông (chủ yếu là ngoại thương)
- Chủ nghĩa trọng nông lại coi nông nghiệp là đối tượng nghiên cứu
- Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh thì xác định nguồn gốc của của cải
và sự giàu có của các dân tộc là đối tượng nghiên cứu
Các quan điểm nêu trên mặc dù chưa thực sự toàn diện, song chúng có giá trị lịch sử và phản ánh trình độ phát triển của khoa học kinh tế chính trị trước C.Mác
Kế thừa những thành tựu khoa học kinh tế chính trị cổ điển Anh, dựa trên quan điểm duy vật về lịch sử, C.Mác và Ph.Ănghen xác định:
Đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị là các quan hệ của sản xuất
và trao đổi trong phương thức sản xuất mà các quan hệ đó hình thành và
Trang 44
phát triển
Với quan niệm như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử của kinh tế chính trị học, đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị được xác định một cách khoa học, toàn diện ở mức độ khái quát cao, thống nhất biện chứng giữa sản xuất và trao đổi Điều này thể hiện sự phát triển mang tính vượt trội trong lý luận của C.Mác so với các nhà tư tưởng kinh tế trước đó
Mặt khác, về phạm vi tiếp cận đối tượng nghiên cứu, C.Mác và Ph Ănghen còn chỉ ra, kinh tế chính trị có thể được hiểu theo nghĩa hẹp hoặc theo nghĩa rộng
Theo nghĩa hẹp, kinh tế chính trị nghiên cứu quan hệ sản xuất và trao đổi
trong một phương thức sản xuất nhất định
Theo nghĩa rộng, Ph.Ănghen cho rằng: “Kinh tế chính trị, theo nghĩa rộng
nhất, là khoa học về những quy luật chi phối sự sản xuất vật chất và sự trao đổi
những tư liệu sinh hoạt vật chất trong xã hội loài người…Những điều kiện trong
đó người ta sản xuất sản phẩm và trao đổi chúng đều thay đổi tuỳ từng nước, và trong mỗi nước lại thay đổi tuỳ từng thế hệ Bởi vậy, không thể có cùng một môn kinh tế chính trị duy nhất cho tất cả mọi nước và tất cả mọi thời đại lịch sử…môn kinh tế chính trị, về thực chất là một môn khoa học có tính lịch sử…
nó nghiên cứu trước hết là những quy luật đặc thù của từng giai đoạn phát triển
của sản xuất và của trao đổi, và chỉ sau khi nghiên cứu như thế xong xuôi rồi nó
mới có thể xác định ra một vài quy luật hoàn toàn có tính chất chung, thích dụng, nói chung cho sản xuất và trao đổi”1
Như vậy, đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị không phải là một lĩnh vực, một khía cạnh của nền sản xuất xã hội mà là một chỉnh thể các quan hệ sản xuất và trao đổi Đó là hệ thống các quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi, các quan hệ trong mỗi khâu và quan hệ giữa các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội với tư cách là sự thống nhất biện chứng của sản xuất, phân phối, lưu thông, trao đổi, tiêu dùng
Kinh tế chính trị không nghiên cứu biểu hiện kỹ thuật của sự sản xuất và
trao đổi mà là hệ thống các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi Về khía
cạnh này, V.I.Lênin nhấn mạnh thêm: “kinh tế chính trị không nghiên cứu sự sản xuất mà nghiên cứu những quan hệ xã hội giữa người với người trong sản xuất, nghiên cứu chế độ xã hội của sản xuất”2
Mặt khác, nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin tất yếu phải đặt các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi trong mối liên hệ biện chứng với
1 C.Mác và Ph Ănghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t.20, tr.207, 208
2 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Maxcơva, 1976, t.3, tr.58
Trang 5trình độ của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của phương thức sản xuất đang nghiên cứu
Với ý nghĩa như vậy, khái quát lại, đối tượng nghiên cứu của kinh tế
chính trị Mác - Lênin là các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi mà các quan hệ này được đặt trong sự liên hệ biện chứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của phương thức sản xuất nhất định
Theo nội hàm nêu trên, đối tượng nghiên cứu của kinh tế chính trị trong giáo trình này được tiếp cận trọng tâm theo nghĩa hẹp
b) Mục đích nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin:
Về mục đích nghiên cứu của kinh tế chính trị, C.Mác và Ph.Ănghen cho rằng, việc nghiên cứu là để nhằm tìm ra những quy luật kinh tế chi phối sự vận động và phát triển của phương thức sản xuất
Quy luật kinh tế:
Quy luật kinh tế là những mối liên hệ phản ánh bản chất, khách quan, lặp
đi lặp lại của các hiện tượng và quá trình kinh tế
- Quy luật kinh tế mang tính khách quan Với bản chất là quy luật xã hội,
nên sự tác động và phát huy vai trò của nó đối với sản xuất và trao đổi phải thông qua các hoạt động của con người trong xã hội với những động cơ lợi ích khác nhau
- Quy luật kinh tế tác động vào các động cơ lợi ích và quan hệ lợi ích của con người từ đó mà điều chỉnh hành vi kinh tế của họ
- Phân biệt giữa quy luật kinh tế và chính sách kinh tế:
+ Quy luật kinh tế tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí của con người, con người không thể thủ tiêu quy luật kinh tế, nhưng có thể nhận thức và vận dụng quy luật kinh tế để phục vụ lợi ích của mình Khi vận dụng không phù hợp, con người phải thay đổi hành vi của mình chứ không thay đổi được quy luật
+ Chính sách kinh tế là sản phẩm chủ quan của con người được hình thành trên cơ sở vận dụng các quy luật kinh tế Chính sách kinh tế vì thế có thể phù hợp, hoặc không phù hợp với quy luật kinh tế khách quan Khi chính sách không phù hợp, chủ thể ban hành chính sách có thể ban hành chính sách khác để thay thế
c) Quan hệ giữa kinh tế chính trị với các khoa học kinh tế khác
Như vậy, đối tượng, mục đích nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin được phân biệt với các môn khoa học kinh tế khác, nhất là với kinh tế vi
mô, kinh tế vĩ mô, kinh tế phát triển, kinh tế công cộng…
Trang 66
Kinh tế chính trị Mác - Lênin nghiên cứu và phát hiện ra những nguyên lý
và quy luật trừu tượng chi phối các quan hệ lợi ích giữa con người với con người trong sản xuất và trao đổi, có tác động chiều sâu, bản chất, toàn diện, lâu dài
Các khoa học kinh tế khác chỉ ra những hiện tượng hoạt động kinh tế cụ thể trên bề mặt xã hội, có tác động trực tiếp, xử lý linh hoạt các hoạt động kinh
tế trên bề mặt xã hội
Vì vậy, cần nắm vững những nguyên lý của kinh tế chính trị Mác - Lênin
để có cơ sở khoa học phương pháp luận cho các chính sách kinh tế ổn định, xuyên suốt, giải quyết những mối quan hệ lớn trong phát triển quốc gia Đồng thời, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của các khoa học kinh tế khác để góp phần giải quyết những tình huống mang tính cụ thể nảy sinh
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin
Với tư cách là một môn khoa học, kinh tế chính trị Mác - Lênin sử dụng phép biện chứng duy vật và nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội nói chung như: trừu tượng hóa khoa học, logíc kết hợp với lịch sử, quan sát thống
kê, phân tích tổng hợp, quy nạp diễn dịch, hệ thống hóa, mô hình hóa
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học là cách thức thực hiện nghiên
cứu bằng cách gạt bỏ những yếu tố ngẫu nhiên, những hiện tượng tạm thời xảy
ra trong các hiện tượng quá trình nghiên cứu để tách ra được những hiện tượng bền vững, mang tính điển hình, ổn định của đối tượng nghiên cứu Từ đó mà nắm được bản chất, xây dựng được các phạm trù và phát hiện được tính quy luật
và quy luật chi phối sự vận động của đối tượng nghiên cứu
Khi sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, cần phải biết xác định giới hạn của sự trừu tượng hóa Không được tuỳ tiện, chủ quan loại bỏ những nội dung hiện thực của đối tượng nghiên cứu gây sai lệch bản chất của đối tượng nghiên cứu Việc tạm thời gạt đi những yếu tố cụ thể ngẫu nhiên trên bề mặt của nền sản xuất xã hội phải bảo đảm yêu cầu tìm ra được bản chất giữa các hiện tượng dưới dạng thuần tuý nhất của nó; đồng thời phải bảo đảm không làm mất
đi nội dung hiện thực của các quan hệ được nghiên cứu
- Phương pháp logíc kết hợp với lịch sử: cho phép nghiên cứu, tiếp cận
bản chất, các xu hướng và quy luật kinh tế gắn với tiến trình hình thành, phát triển của các quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi Việc áp dụng phương pháp logíc kết hợp với lịch sử cho phép rút ra những kết quả nghiên cứu mang tính lôgíc từ trong tiến trình lịch sử của các quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất và trao đổi
1.3 CHỨC NĂNG CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN
1.3.1 Chức năng nhận thức
Trang 7- Kinh tế chính trị Mác - Lênin cung cấp hệ thống tri thức khoa học về sự vận động của các quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi; về sự liên hệ tác động biện chứng giữa các quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi với lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng trong những nấc thang phát triển khác nhau của nền sản xuất xã hội
- Kinh tế chính trị Mác - Lênin cung cấp hệ thống tri thức mở về những quy luật chi phối sự phát triển của sản xuất và trao đổi gắn với phương thức sản xuất, về lịch sử phát triển các quan hệ của sản xuất và trao đổi của nhân loại nói chung, về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói riêng
- Kinh tế chính trị Mác - Lênin phát hiện và nhận diện các quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường làm cơ sở lý luận cho việc nhận thức các hiện tượng kinh tế mang tính biểu hiện trên bề mặt xã hội
1.3.2 Chức năng tư tưởng
- Kinh tế chính trị Mác - Lênin góp phần tạo nền tảng tư tưởng cộng sản cho những người lao động tiến bộ và yêu chuộng tự do, yêu chuộng hòa bình, củng cố niềm tin cho những ai phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
- Kinh tế chính trị Mác - Lênin góp phần xây dựng thế giới quan khoa học, hướng tới giải phóng con người, xóa bỏ dần những áp bức, bất công giữa con người với con người
1.3.3 Chức năng thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin là phát hiện ra những quy luật và tính quy luật chi phối sự vận động của các quan hệ giữa con người với con người trong sản xuất và trao đổi, giúp con người cũng như những nhà hoạch định chính sách biết vận dụng các quy luật kinh tế ấy vào trong thực tiễn hoạt động lao động cũng như quản trị quốc gia của mình
- Quá trình vận dụng đúng các quy luật kinh tế khách quan thông qua điều chỉnh hành vi cá nhân hoặc các chính sách kinh tế sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển theo hướng tiến bộ Kinh tế chính trị Mác - Lênin, theo nghĩa đó mang trong nó chức năng cải tạo thực tiễn, thúc đẩy văn minh của xã hội
1.3.4 Chức năng phương pháp luận
Mỗi môn khoa học kinh tế ngành có hệ thống phạm trù, khái niệm khoa học riêng, song để hiểu được một cách sâu sắc, bản chất, thấy được sự gắn kết một cách biện chứng giữa kinh tế với chính trị và căn nguyên của sự dịch chuyển trình độ văn minh của xã hội thì cần phải dựa trên cơ sở lý luận kinh tế
Trang 88
chính trị Kinh tế chính trị Mác - Lênin thể hiện chức năng phương pháp luận, là
cơ sở lý luận khoa học cho việc tiếp cận các khoa học kinh tế chuyên ngành
Các thuật ngữ cần ghi nhớ:
Kinh tế chính trị, chủ nghĩa trọng thương, chủ nghĩa trọng nông, kinh tế chính trị tư sản cổ điển, kinh tế chính trị Mác - Lênin, quan hệ xã hội của sản xuất và trao đổi, trừu tượng hóa khoa học, quy luật kinh tế
Trang 9Chương 2 HÀNG HÓA, THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG
Chương 2 trình bày hai phần:
i) Lý luận của C.Mác về sản xuất hàng hóa và hàng hóa, nội dung này sẽ
nhấn mạnh những nội dung lý luận thuộc học thuyết giá trị của C.Mác,
ii) Thị trường và vai trò của các chủ thể tham gia thị trường Trong nội
dung này, cung cấp các tri thức căn bản về thị trường, cơ chế thị trường, kinh tế thị trường và các quy luật cơ bản của thị trường
2.1 LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ HÀNG HÓA 2.1.1 Sản xuất hàng hóa
a) Khái niệm sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó, những người sản xuất
ra sản phẩm không nhằm phục vụ mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng của chính mình mà để trao đổi, mua bán
b) Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa hình thành và phát triển, cần có hai điều kiện:
Điều kiện thứ nhất, phân công lao động xã hội
- Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động trong xã hội thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất khác nhau, tạo nên sự chuyên môn hóa của những người sản xuất thành những ngành, nghề khác nhau
- PCLĐXH làm cho mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một số sản phẩm nhất định Trong khi nhu cầu của họ lại đòi hỏi nhiều loại sản phẩm Để thỏa mãn nhu cầu của mình, tất yếu những người sản xuất phải trao đổi sản phẩm với nhau
Điều kiện thứ hai: Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của các chủ thể
sản xuất
- Sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất làm cho những người sản xuất độc lập với nhau, khác nhau về lợi ích Trong điều kiện đó, người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải thông qua trao đổi, mua bán sản phẩm, tức là phải trao đổi dưới hình thức hàng hóa
- Trong lịch sử, sự tách biệt về mặt kinh tế giữa các chủ thể sản xuất hiện khách quan dựa trên sự tách biệt về quyền sở hữu Xã hội loài người càng phát triển, càng làm cho sự tách biệt về quyền sở hữu càng sâu sắc, nền sản xuất hàng
hóa vì thế càng ngày càng phát triển phong phú
c) Ưu thế của sản xuất hàng hóa
Trang 1010
So với sản xuất tự nhiên, tự túc thì sản xuất hàng hóa có những ưu điểm nổi bật sau:
- Một là, tạo khả năng thỏa mãn tối đa các nhu cầu luôn phát triển của con
người Sản xuất hàng hóa không bị hạn chế bởi nhu cầu hạn hẹp của người sản xuất mà ngược lại nhu cầu lớn và không ngừng tăng lên là một động lực mạnh
mẽ cho sự phát triển của sản xuất hàng hóa
- Hai là, kích thích sự năng động, sáng tạo của con người Do việc sản
xuất nhằm hướng tới phụ vụ nhu cầu của người mua hàng hóa cho nên, người sản xuất phải không ngừng sáng tạo, năng động, nắm bắt nhu cầu của người mua
để có thể bán được hàng hóa
- Ba là, sản xuất hàng hóa thúc đẩy các quan hệ kinh tế luôn rộng mở, từ
góp phần thúc đẩy văn minh cho con người Các quan hệ kinh tế không ngừng
mở rộng, không bị giới hạn bởi phạm vi hạn hẹp cả về không gian và thời gian
Bên cạnh những mặt tích cực trên, sản xuất hàng hóa cũng có mặt trái và tác động tiêu cực đối với đời sống kinh tế, xã hội như phân hóa giàu nghèo giữa những người sản xuất; chạy theo lợi ích cá nhân làm tổn hại đến các giá trị đạo đức truyền thống, nạn hàng giả, hàng kém chất lượng, thậm chí hàng hóa độc hại cũng có thể đem ra trao đổi gây tổn hại cho xã hội; sản xuất không kiểm soát được tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối, khủng hoảng kinh tế, phá hoại môi trường sinh thái… Những tác động tiêu cực đó có thể hạn chế được, nếu có sự quản lý, điều tiết của nhà nước
2.1.2 Hàng hóa
a) Khái niệm hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán
Hàng hóa có thể sử dụng cho nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu sản xuất Hàng hóa có thể tồn tại ở dạng vật thể (hàng hóa hữu hình) hoặc ở dạng phi vật thể (hàng hóa vô hình)
b) Hai thuộc tính của hàng hóa
Bất kỳ hàng hóa nào cũng đều có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá
trị
- Giá trị sử dụng
+ Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm, có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người; nhu cầu đó có thể là nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần; cũng có thể là nhu cầu cho tiêu dùng cá nhân, có thể là nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất
+ Giá trị sử dụng của hàng hóa do thuộc tính tự nhiên của các yếu tố cấu
Trang 11thành nên hàng hóa đó quy định Nền sản xuất càng phát triển, khoa học, công nghệ càng tiên tiến, càng giúp cho con người phát hiện ra nhiều và phong phú các giá trị sử dụng của hàng hóa khác nhau
+ Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng dành đáp ứng yêu cầu của người mua và được biểu hiện trong quá trình tiêu dùng hàng hóa
- Giá trị
+ Trong nền sản xuất hàng hóa, sản phẩm được sản xuất ra là để trao đổi
Sở dĩ các hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau nhưng trao đổi được với nhau là
vì chúng có điểm chung giống nhau Điểm chung đó là: chúng đều là kết quả của sự hao phí sức lao động Trao đổi hàng hóa thực chất là trao đổi lao động này với lao động khác
+ Các hàng hóa được trao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định gọi là giá
trị trao đổi Giá trị trao đổi là quan hệ tỷ lệ về lượng giữa các giá trị sử dụng
xuất hàng hóa, mỗi sản phẩm được sản xuất ra với hao phí lao động cá biệt khác nhau, tùy thuộc vào các điều kiện cụ thể của sản xuất, song trong trao đổi hàng hóa, việc trao đổi không thể dựa vào hao phí lao động cá biệt của mỗi sản phẩm
mà phải căn cứ vào mức hao phí lao động mà các bên trao đổi thừa nhận (hao phí lao động xã hội) Hao phí lao động ấy được gọi là giá trị xã hội của hàng hóa
Vậy: Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất ra hàng
hóa kết tinh trong hàng hóa ấy
Như vậy, giá trị hàng hóa biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất, trao đổi hàng hóa và là phạm trù lịch sử Giá trị không thể tự biểu hiện
ra mà biểu hiện thông qua giá trị trao đổi Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện
ra bên ngoài của giá trị; giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi
c) Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Hàng hóa có hai thuộc tính là do lao động của người sản xuất hàng hóa có
tính hai mặt: một mặt là lao động cụ thể và mặt khác là lao động trừu tượng
- Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những
nghề nghiệp chuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể có mục đích lao động riêng, đối tượng lao động riêng, công cụ lao động riêng, phương pháp lao động riêng và kết quả riêng
+ Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá Các loại lao động
cụ thể khác nhau về chất nên tạo ra những sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau
+ Phân công lao động xã hội càng phát triển thì xã hội càng nhiều ngành
Trang 1212
nghề khác nhau, do đó có nhiều giá trị sử dụng khác nhau Khoa học kỹ thuật, phân công lao động càng phát triển thì các hình thức lao động cụ thể càng phong phú, đa dạng
- Lao động trừu tượng là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá
không kể đến hình thức cụ thể của nó
+ Lao động trừu tượng là lao động xét về mặt hao phí sức lao động nói chung của con người, lao động dù dưới hình thức cụ thể như thế nào thì cũng đều là sự hao phí sức lao động, là sự hao phí về cơ bắp, thần kinh, trí óc
+ Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hoá Vì vậy, giá trị hàng
hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong hàng hoá Lao
động trừu tượng là cơ sở để so sánh, trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau
Lao động cụ thể phản ánh tính chất tư nhân của lao động sản xuất hàng hóa bởi việc sản xuất cái gì, ở đâu, bao nhiêu, bằng công cụ nào… là việc riêng của mỗi chủ thể sản xuất Ngược lại, lao động trừu tượng phản ánh tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hóa, bởi lao động của mỗi người là một bộ phận của lao động xã hội, nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội Nên, người sản xuất phải đặt lao động của mình trong sự liên hệ với lao động của xã hội
Mâu thuẫn giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng
Mâu thuẫn này xuất hiện khi:
- Sản phẩm do những người sản xuất hàng hóa tạo ra không phù hợp với nhu cầu xã hội
- Mức tiêu hao lao động cá biệt cao hơn mức tiêu hao mà xã hội có thể chấp nhận được Khi đó, sẽ có một số hàng hóa không bán được hoặc bán thấp hơn mức hao phí lao động đã bỏ ra, không đủ bù đắp chi phí Nghĩa là có một số hao phí lao động cá biệt không được xã hội thừa nhận Đây là mầm mống của khủng hoảng thừa
d) Lượng giá trị của hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
- Thời gian lao động xã hội cần thiết - đơn vị đo lường lượng giá trị của hàng hóa
+ Lượng giá trị trong mỗi đơn vị hàng hoá chính là số lượng lao động đã hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó và hao phí này được tính bằng thời gian lao
động để sản xuất ra hàng hóa Tuy nhiên, thời gian lao động ấy phải được tính
bằng thời gian lao động xã hội cần thiết (chứ không phải là thời gian hao phí
lao động cá biệt) Đó là thời gian lao động ở mức trung bình và được xã hội thừa nhận
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian sản xuất ra một đơn vị
Trang 13giá trị hàng hóa trong điều kiện trung bình với trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình trong những điều kiện bình thường của xã hội
Vậy, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa là lượng thời gian lao động
xã hội cần thiết để sản xuất ra đơn vị hàng hóa đó
Trong sản xuất, người sản xuất thường phải tìm mọi cách để giảm thời gian hao phí lao động cá biệt của mình xuống mức thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết để có được ưu thế trong cạnh tranh
Xét về mặt cấu thành, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa được sản xuất ra bao hàm:
- Hao phí lao động quá khứ đã được kết tinh trong các yếu tố nguyên vật liệu, thiết bị, vật tư đầu vào (hao phí lao động đã được vật hoá), giá trị của các yếu tố tư liệu sản xuất này còn gọi là giá trị cũ
- Hao phí lao động sống của người lao động: là hao phí lao động của người sản xuất trực tiếp tạo ra hàng hóa đó
Nếu ký hiệu G là giá trị hàng hóa, c là hao phí lao động quá khứ tạo ra tư liệu sản xuất, v + m là hao phí lao động sống (lao động hiện tại) thì G = c + v +
m Trong đó c là giá trị cũ, v + m là giá trị mới
- Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
Thứ nhất, năng suất lao động
+ Năng suất lao động là là năng lực sản xuất của người lao động, được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hay số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
+ Khi tăng năng suất lao động, số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một thời gian tăng lên, mức hao phí lao động cần thiết trong một đơn vị hàng hóa giảm xuống và làm giảm lượng giá trị trong một đơn vị hàng hóa Năng suất lao động có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa
+ Các nhân tố tác động đến năng suất lao động gồm những yếu tố chủ yếu như: trình độ của người lao động; trình độ tiên tiến và mức độ trang bị kỹ thuật, khoa học, công nghệ trong quá trình sản xuất; trình độ quản lý; cường độ lao động và yếu tố tự nhiên
Thứ hai, cường độ lao động
+ Cường độ lao động là mức độ khẩn trương, tích cực của hoạt động lao động trong sản xuất
+ Tăng cường độ lao động làm cho tổng số sản phẩm sản xuất trong một đơn vị thời gian tăng lên song nếu các nhân tố khác không thay đổi thì hao phí lao động cũng tăng tương ứng Vì vậy, tổng lượng giá trị của tất cả các hàng hóa gộp lại tăng lên Song, lượng thời gian hao phí để sản xuất một đơn vị hàng hóa
Trang 1414
không thay đổi, dó đó giá trị của một hàng hóa không đổi
+ Tăng cường độ lao động cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo ra
số lượng các giá trị sử dụng nhiều hơn, góp phần thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của
xã hội Cường độ lao động chịu ảnh hưởng của các yếu tố sức khỏe, thể chất, tâm lý, trình độ tay nghề thành thạo của người lao động, công tác tổ chức, kỷ luật lao động…
+ Cần chú ý là tăng cường độ lao động sẽ làm tăng mức hao phí lao động của người sản xuất trong một thời gian Xét về mặt này, tăng cường độ lao động cũng giống như việc kéo dài thời gian lao động Do đó, kéo dài thời gian lao động cũng có tác động tới giá trị giống như tăng cường độ lao động
Thứ ba, tính chất phức tạp hay giản đơn của lao động
+ Lao động giản đơn là lao động không đòi hỏi có quá trình đào tạo một cách hệ thống, chuyên sâu về chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ cũng có thể thao tác được
+ Lao động phức tạp là những hoạt động lao động yêu cầu phải trải qua một quá trình đào tạo về kỹ năng, nghiệp vụ theo yêu cầu của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định
Với tính chất khác nhau đó, nên, trong cùng một đơn vị thời gian, một hoạt động lao động phức tạp sẽ tạo ra được nhiều lượng giá trị hơn so với lao động giản đơn C.Mác gọi lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân bội lên
2.1.3 Tiền
a) Bản chất của tiền
Tiền là kết quả của quá trình phát triển sản xuất và trao đổi hàng hóa, là sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị từ thấp đến cao
- Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị: Trong lịch sử, khi sản
xuất chưa phát triển, việc trao đổi hàng hóa lúc đầu chỉ mang tính đơn lẻ, ngẫu nhiên, người ta trao đổi trực tiếp hàng hóa có giá trị sử dụng này để đổi lấy một hàng hóa có giá trị sử dụng khác Hàng hóa được dùng để biểu hiện giá trị gọi là vật ngang giá (1m vải = 10 kg thóc)
- Hình thái mở rộng của giá trị: Quá trình sản xuất phát triển hơn, hàng
hóa được sản xuất ra phong phú hơn, nhu cầu của con người cũng đa dạng hơn, trao đổi được mở rộng và trở nên thường xuyên hơn, một hàng hóa có thể được đem trao đổi với nhiều hàng hóa khác nhau Trong hình thái này vật ngang giá được mở rộng ở nhiều hàng hóa (1m vải = 10 kg thóc, hoặc = 1con cừu, hoặc 0,1 gr vàng…)
- Hình thái tiền tệ: trong hình thái này, những người sản xuất hàng hóa
Trang 15quy ước thống nhất sử dụng một loại hàng hóa nhất định làm vật ngang giá chung Hình thái tiền của giá trị hàng hóa xuất hiện Quá trình đó tiếp tục được thúc đẩy đến khi những người sản xuất hàng hóa cố định yếu tố ngang giá chung
đó ở vàng hoặc bạc Tiền vàng hoặc tiền bạc xuất hiện trở thành vật ngang giá chung cho toàn bộ thế giới hàng hóa Khi đó, người tiêu dùng muốn có được một loại hàng hóa để thỏa mãn nhu cầu, họ có thể sử dụng tiền để mua hàng hóa
ấy (1m vải, 10 kg thóc, 1 con cừu = 0,1gr vàng)
Như vậy, về bản chất, tiền là một loại hàng hóa đặc biệt, là vật ngang giá chung cho thế giới hàng hóa Tiền là hình thái biểu hiện giá trị của hàng hóa Tiền phản ánh lao động xã hội và quan hệ giữa những người sản xuất
và trao đổi hàng hóa
Khi tiền ra đời thì giá trị của hàng hóa sẽ được biểu hiện bằng một số
lượng tiền, số tiền ấy được gọi là giá cả hàng hóa Vậy, giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa
Giá cả hàng hóa trước hết do giá trị hàng hóa quyết định nhưng nó còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: quan hệ cung cầu, tình trạng đầu cơ, giá trị của đồng tiền…do đó, giá cả sẽ vận động lên xuống xoay quanh giá trị
b) Chức năng của tiền
Theo C.Mác, tiền có năm chức năng sau:
Thước đo giá trị: Thực hiện chức năng thước đo giá trị, tiền được dùng để
biểu hiện và đo lường giá trị của tất cả các hàng hóa khác nhau Để đo lường giá trị của các hàng hóa, tiền cũng phải có giá trị Vì vậy để thực hiện chức năng thước đo giá trị người ta ngầm hiểu đó là tiền vàng Sở dĩ như vậy là vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hóa trong thực tế đã phản ánh lượng lao động xã hội hao phí nhất định
Phương tiện lưu thông:
Khi thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền được dùng làm môi giới cho quá trình trao đổi hàng hóa Công thức vận động của lưu thông hàng hóa là H – T – H
Để phục vụ lưu thông hàng hóa, nhà nước đúc vàng thành những đơn vị tiền tệ nhất định, sau đó là đúc tiền bằng kim loại
Để thực hiện chức năng lưu thông, không nhất thiết phải dùng tiền vàng (tiền đủ giá trị), mà chỉ cần tiền ký hiệu giá trị (tiền không có giá trị nội tại) Từ
đó tiền giấy ra đời và sau này là các loại tiền ký hiệu giá trị khác như tiền kế toán, tiền séc, tiền điện tử, gần đây với sự phát triển của thương mại điện tử, các loại tiền ảo xuất hiện (bitcoin) và đã có quốc gia chấp nhận bitcoin là phương tiện thanh toán
Trang 1616
Tiền giấy ra đời giúp trao đổi hàng hóa được tiến hành dễ dàng, thuận lợi
và ít tốn kém hơn tiền vàng, tiền kim loại Tuy nhiên, tiền giấy chỉ là ký hiệu giá trị, bản thân chúng không có giá trị thực nên nhà nước phải in và phát hành số lượng tiền giấy theo yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ Nếu phát hành quá nhiều tiền giấy sẽ làm cho giá cả tăng lên, gây ra lạm phát
Phương tiện cất trữ: Tiền là đại diện cho giá trị, đại diện cho của cải nên
khi tiền xuất hiện, thay vì cất trữ hàng hóa, người dân có thể cất trữ bằng tiền Lúc này tiền được rút ra khỏi lưu thông, đi vào cất trữ dưới hình thái vàng, bạc
và sẵn sàng tham gia lưu thông khi cần thiết
Phương tiện thanh toán: Khi thực hiện chức năng thanh toán, tiền được
dùng để trả nợ, trả tiền mua chịu hàng hóa…Chức năng phương tiện thanh toán của tiền gắn liền với chế độ tín dụng thương mại, tức mua bán thông qua chế độ tín dụng, thanh toán không dùng tiền mặt mà chỉ dùng tiền trên sổ sách kế toán, hoặc tiền trong tài khoản, tiền ngân hàng, tiền điện tử…
Tiền tệ thế giới: Khi trao đổi hàng hóa mở rộng ra ngoài biên giới quốc
gia, tiền làm chức năng tiền tệ thế giới Lúc này tiền được dùng làm phương tiện mua bán, thanh toán quốc tế giữa các nước với nhau Để thực hiện chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải là tiền vàng hoặc những đồng tiền được công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế như USD, Euro
2.1.4 Dịch vụ và một số hàng hóa đặc biệt
a) Dịch vụ
Dịch vụ là sản phẩm kinh tế gồm những công việc dưới dạng lao động thể lực, khả năng tổ chức, quản lí, kiến thức và kĩ năng chuyên môn nhằm phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh hay sinh hoạt tiêu dùng của tổ chức, cá nhân
Bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu Trong nền kinh
tế thị trường, hoạt động cung ứng dịch vụ rất đa dạng, phong phú Đó có thể là các dịch vụ tiêu dùng như ăn uống, sửa chữa nhà cửa, máy móc gia dụng; các dịch vụ công cộng như cung ứng điện, nước, vệ sinh đô thị; các dịch vụ hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh như ngân hàng, bảo hiểm, vận tải; các dịch vụ mang tính nghề nghiệp chuyên môn cao như kiểm toán, tư vấn kiến trúc, tư vấn sức khỏe, tư vấn pháp luật
- Dịch vụ là một loại hàng hóa, nhưng đó là hàng hóa vô hình Để có được các loại dịch vụ, người ta cũng phải hao phí sức lao động và mục đích của việc cung ứng dịch vụ cũng là nhằm thỏa mãn nhu cầu của người có nhu cầu về loại hình dịch vụ đó
- Khác với hàng hóa thông thường, hàng hóa dịch vụ có đặc điểm là:
+ Dịch vụ là hàng hóa không thể cất trữ
Trang 17+ Việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ được diễn ra đồng thời
+ Không chuyển quyền sở hữu được
Trong điều kiện ngày nay, do sự phát triển của phân công lao động xã hội dưới tác động của sự phát triển khoa học công nghệ, dịch vụ ngày càng có vai trò quan trọng trong việc thỏa mãn nhu cầu của con người
b) Một số hàng hóa đặc biệt
Nền sản xuất hàng hóa phát triển thúc đẩy hình thành quan hệ mua bán nhiều yếu tố không hoàn toàn do lao động hao phí mà có Những yếu tố này được xem là những yếu tố có tính hàng hóa Vì chúng hội đủ giá trị sử dụng, có giá cả, có thể trao đổi, mua bán
Đất đai
Đất đai là một phần của vỏ quả địa cầu Theo nghĩa đó, đất đai nhìn
chung không phải là kết quả của sự hao phí sức lao động Tuy nhiên, độ màu
mỡ và sự tiện dụng của mảnh đất lại có thể là kết quả của hao phí sức lao động
Đó là trường hợp mảnh đất là kết quả của hoạt động khai hoang, phục hóa hoặc san lấp mà có, lao động không tạo ra đất đai nhưng có thể làm tăng giá trị sử dụng của nó
Đất đai có giá trị sử dụng: Đất đai có thể là đối tượng lao động (để sản
xuất), cũng có thể là tư liệu tiêu dùng (để làm chỗ ở)
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, dân số ngày một gia tăng,
đô thị hóa ngày càng mở rộng, làm cho nhu cầu về đất đai để phục vụ sản xuất hoặc xây dựng nơi ở cho con người ngày càng gia tăng Từ đó thúc đẩy các giao dịch, mua bán đất đai
Mua, bán đất đai thực chất là mua bán quyền sử dụng một mảnh đất để xác định tính hợp pháp của việc sử dụng mảnh đất đó, để phân định quyền được
sử dụng mảnh đất đó với người khác Trong trường hợp này quyền sử dụng đất
có tính hàng hóa, vì nó được trao đổi, mua bán và nó có thể thỏa mãn nhu cầu của con người Còn trong trường hợp việc xúc đất từ chỗ này, chuyển qua chỗ khác (để san lấp mặt bằng chẳng hạn) thông qua trao đổi, mua bán là hiện tượng phái sinh của việc mua, bán quyền sử dụng đất Bởi lẽ, người bán muốn bóc một cấu phần đất đai để bán cho người khác, tất yếu người đó phải có quyền sử dụng mảnh đất đó Trong trường hợp không có quyền sử dụng đất mà tự ý bóc mảnh đất đó để bán là sự lạm dụng tự nhiên
Như vậy, quyền sử dụng đất cũng có thể mua bán được, nó có tính hàng hóa, nó có giá trị sử dụng Cơ sở của sự hình thành hàng hóa kiểu như vậy không nguyên nghĩa là do hao phí lao động trừu tượng, mà do sự khan hiếm của đất đai trong một không gian nhất định với một cộng đồng xã hội nhất định nên
Trang 1818
làm cho yếu tố tự nhiên cũng có thể được trao đổi, mua bán
Ngày nay, do nhu cầu nguồn lực và mặt bằng để phục vụ sản xuất, kinh doanh, người ta còn có thể mua, bán cả mặt nước, thậm chí một phần mặt biển, sông, hồ… những hiện tượng này chỉ là sự phái sinh của việc sử dụng đất đai để trao đổi, mua bán dựa trên quyền sử dụng đã được thừa nhận mà thôi
Trong điều kiện kinh tế thị trường, xuất hiện hiện tượng một bộ phận xã hội trở nên giàu có do mua bán quyền sử dụng đất Số lượng tiền đó chính là hệ quả của việc tiền từ chủ thể này chuyển qua chủ thể khác, trong phạm vi toàn xã hội, giá trị không phát sinh từ các giao dịch đó Tiền trong trường hợp như vậy
là phương tiện thanh toán, không phải là thước đo giá trị Quyền sử dụng đất cũng có giá cả, nhưng trong trường hợp đó, giá cả không phải phản ánh giá trị của quyền sử dụng đất, mà phản ánh mối quan hệ giữa con người với nhau trong
sự khan hiếm đất
Thương hiệu (danh tiếng)
Thương hiệu là các giá trị được tạo nên qua quá trình xây dựng, phát triển doanh nghiệp, giúp khẳng định sức cạnh tranh và giá trị của mình trên thị trường
Thương hiệu hay danh tiếng không phải tự nhiên có được, nó là kết quả của sự nỗ lực của sự hao phí sức lao động của người tạo ra và nắm giữ thương
hiệu, thậm chí là của nhiều người
Thương hiệu là loại tài sản đặc biệt, thậm chí được coi là tài sản quan trọng nhất, có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định lựa chọn của người tiêu dùng, nhân viên, nhà đầu tư và chính quyền.
Trong thực tế, thương hiệu của một doanh nghiệp (hay danh tiếng của một
cá nhân) cũng có thể được trao đổi, mua bán, được định giá, tức chúng có giá cả,
thậm chí có giá cả cao Giá cả của thương hiệu được xác định chủ yếu bằng
cách xác định thu nhập trong tương lai có thể kiếm được nhờ thương hiệu
Giá cả thương hiệu vừa phản ánh giá trị hoạt động của lao động tạo ra thương hiệu, vừa phản ánh quan hệ khan hiếm, vừa phản ánh lợi ích kỳ vọng của người mua
Chứng khoán và một số giấy tờ có giá
Chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) và một số loại giấy tờ có giá (ngân phiếu, thương phiếu) cũng là một loại hàng hóa, có thể mua bán, trao đổi và đem lại lượng tiền lớn hơn cho người mua, bán C.Mác gọi những loại giấy tờ này là
tư bản giả để phân biệt với tư bản tham gia thực tế vào quá trình sản xuất trao đổi hàng hóa trong nền kinh tế
Mua, bán chứng khoán trở thành một loại thị trường hàng hóa phái sinh,
Trang 19được gọi là thị trường chứng khoán để phân biệt với thị trường hàng hóa (dịch vụ) thực
Cơ sở để mua, bán các loại chứng khoán hoặc giấy tờ có giá, các loại giấy
tờ chứng khoán đó phải dựa trên cơ sở sự tồn tại của một tổ chức sản xuất kinh doanh có thực (PAC: cổ phiếu của Công ty cổ phần pin Miền Nam, PAI: cổ phiếu của CTCP Công nghệ thông tin, Viễn thông và Tự động hóa Dầu Khí, PBC: cổ phiếu của CTCP Dược phẩm Trung ương I – Pharbaco…) Không ai có thể mua một loại chứng khoán, hay giấy tờ có giá nào đó mà loại chứng khoán này không gắn với một chủ thể sản xuất kinh doanh thực trong nền kinh tế
Giá cả của chứng khoán phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập của chúng (cổ tức, trái tức) và phản ánh lợi ích kỳ vọng của người mua
2.2 THỊ TRƯỜNG VÀ VAI TRÕ CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA THỊ TRƯỜNG
2.2.1 Thị trường
a) Khái niệm về thị trường
Thị trường ra đời, phát triển cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá
Theo nghĩa hẹp, thị trường là nơi diễn ra hành vi trao đổi, mua bán hàng
hoá giữa các chủ thể kinh tế với nhau Tại đó, người có nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ sẽ nhận được thứ mà mình cần và ngược lại, người có hàng hoá, dịch vụ
sẽ nhận được một số tiền tương ứng Thị trường có biểu hiện dưới hình thái thể
là chợ, cửa hàng, quầy hàng lưu động, văn phòng giao dịch hay siêu thị…
Theo nghĩa rộng, thị trường là tổng hòa các mối quan hệ liên quan đến
trao đổi, mua bán hàng hóa trong xã hội, được hình thành do những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội nhất định Theo nghĩa này, thị trường là tổng thể các mối quan hệ kinh tế gồm cung cầu, giá cả; quan hệ hàng - tiền; quan hệ giá trị, giá trị sử dụng; quan hệ hợp tác, cạnh tranh; quan hệ trong nước, ngoài nước…các quan hệ và yếu tố kinh tế này được vận động theo quy luật của thị trường
b) Phân loại thị trường
- Căn cứ vào đối tượng hàng hóa đưa ra mua bán trên thị trường, có thể chia ra thị trường tư liệu sản xuất và thị trường tư liệu tiêu dùng
- Căn cứ vào phạm vi hoạt động, có thể chia ra thị trường trong nước và thị trường thế giới
- Căn cứ vào đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất có thể chia ra thị trường các yếu tố đầu vào, thị trường hàng hóa đầu ra
- Căn cứ vào tính chuyên biệt của thị trường có thể chia thành các loai thị trường gắn với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội
Trang 2020
- Căn cứ vào tính chất và cơ chế vận hành của thị trường, có thể chia ra thị trường tự do, thị trường có điều tiết, thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo (độc quyền)
Ngày nay, các nền kinh tế phát triển ngày càng nhanh và phức tạp hơn, do
đó hệ thống thị trường cũng biến đổi phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển của nền kinh tế
c) Vai trò của thị trường
Một là, thị trường vừa là điều kiện, vừa là môi trường cho sản xuất phát
triển Sản xuất hàng hóa càng phát triển, sản xuất ra càng nhiều hàng hóa, dịch
vụ thì càng đòi hỏi thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn Sự mở rộng thị trường đến lượt nó lại thúc đẩy trở lại sản xuất phát triển Vì vậy, thị trường là môi trường kinh doanh, là điều kiện không thể thiếu được của quá trình sản xuất kinh doanh Thị trường là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng Không có thị trường thì sản xuất và trao đổi hàng hóa không thể tiến hành một cách bình thường Thị trường đặt ra các nhu cầu tiêu dùng, buộc các doanh nghiệp muốn tồn tại phải nắm bắt được các nhu cầu đó, là lực lượng hướng dẫn, định hướng sản xuất kinh doanh
Hai là, thị trường là nơi quan trọng để đánh giá, kiểm định năng lực của
các chủ thể kinh tế Mọi hoạt động sản xuất và trao đổi phải căn cứ trên hao phí
lao động xã hội cần thiết Năng lực của các chủ thể kinh tế sẽ được kiểm định rõ nhất trên thị trường Khi thị trường không chấp nhận sản phẩm, hàng hóa, dịch
vụ của các chủ thể, khi đó đồng nghĩa với việc chủ thể đó sẽ phải đối diện với việc phá sản Khi thị trường chấp nhận, hàng hoá được khách hàng ưa chuộng thì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được coi là có hiệu quả Thị trường chính là thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Ba là, thị trường gắn kết nền kinh tế thành một chỉnh thể từ sản xuất, phân
phối, lưu thông, trao đổi, tiêu dùng, gắn kết nền sản xuất trong nước với nền kinh tế thế giới Thị trường điều chỉnh sản xuất, liên kết nền kinh tế thành một thể thống nhất, gắn các quá trình kinh tế trong nước với các quá trình kinh tế thế giới Thị trường là nơi kiểm nghiệm các chi phí và thực hiện yêu cầu quy luật tiết kiệm lao động xã hội Thị trường là khách quan, các chủ thể kinh tế phải tiếp cận thị trường, tuận thủ quy luật thị trường và thích ứng với biến đổi của thị trường
d) Chức năng chủ yếu của thị trường
Chức năng cơ bản của thị trường có thể được khái quát cụ thể gồm:
Một là, chức năng thừa nhận giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa Thị
trường là nơi thừa nhận công dụng, tính có ích hay giá trị sử dụng của hàng hoá, thừa nhận chi phí lao động để sản xuất ra hàng hoá Sản phẩm của người sản
Trang 21xuất tiêu thụ được trên thị trường, tức là hàng hóa đã được thị trường thừa nhận giá trị và giá trị sử dụng Khi đó, quá trình tái sản xuất mới tiếp tục diễn ra bình thường Chức năng này đòi hỏi các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phải tìm hiểu kỹ thị trường, đặc biệt là nhu cầu thị trường; phải xác định thị trường cần gì, khối lượng bao nhiêu để hàng hóa sản xuất ra có thể tiêu thụ được
Hai là, thị trường là nơi thực hiện giá trị của hàng hóa Giá trị là lao động
xã hội kết tinh trong hàng hóa, nằm trong hàng hóa Do vậy, muốn thu được giá trị đó, hàng hóa phải bán được Người sản xuất chỉ có thể thực hiện được giá trị của hàng hóa, dịch vụ thông qua thị trường Vì vậy, thị trường là nơi thực hiện các hành vi trao đổi hàng hóa, thực hiện giá trị hàng hóa và thực hiện cân bằng cung cầu từng loại hàng hóa
Ba là, thị trường cung cấp thông tin cho các chủ thể kinh tế, điều tiết và
kích thích hoạt động đổi mới, hạ thấp hao phí lao động cá biệt Thị trường là nơi
phát tín hiệu, thông tin về tình hình cung, cầu, giá cả và những biến động của nền kinh tế Căn cứ thông tin trên thị trường, người sản xuất kinh doanh đưa ra được các quyết định, hành vi ứng xử cụ thể của mình nhằm thu được lợi ích lớn nhất Người tiêu dùng cũng dựa vào thông tin này để quyết định hành vi mua sắm
Bốn là, thị trường hoạt động như một trọng tài khách quan, dân chủ trong
việc chọn lọc các yếu tố tiến bộ, có ích cho xã hội Với chức năng này, thị
trường thực hiện việc chọn lọc, đào thải, kích thích hoặc hạn chế sản xuất, tiêu dùng, đảm bảo cho sản xuất phù hợp với nhu cầu xã hội
2.2.2 Cơ chế thị trường và nền kinh tế thị trường
a) Cơ chế thị trường
Cơ chế thị trường là hệ thống các quan hệ kinh tế mang đặc tính tự điều
chỉnh các cân đối của nền kinh tế theo yêu cầu của các quy luật kinh tế
Dấu hiệu đặc trưng của cơ chế thị trường là cơ chế hình thành giá cả một
cách tự do Người bán, người mua thông qua thị trường để xác định giá cả của
hàng hóa, dịch vụ
Cơ chế thị trường là phương thức cơ bản để phân phối và sử dụng các nguồn vốn, tài nguyên, công nghệ, sức lao động, thông tin, trí tuệ…Đây là cơ chế vận hành nền kinh tế mang tính khách quan, do bản thân nền sản xuất hàng hóa hình thành Cơ chế thị trường được A.Smith goại là cơ chế điều khiển của
«bàn tay vô hình » có khả năng tự điều chỉnh các quan hệ kinh tế
b) Nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế được vận hành theo cơ chế thị
Trang 2222
trường Đó là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao ở đó mọi quan hệ sản xuất và trao đổi đều được thông qua thị trường, chịu sự tác động, điều tiết
của các quy luật hoạt động trên thị trường
Với tư cách là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, nền kinh
tế thị trường là sản phẩm của văn minh nhân loại Sự hình thành kinh tế thị trường là khách quan trong lịch sử từ kinh tế tự nhiên, tự túc, kinh tế hàng hóa rồi từ kinh tế hàng hóa phát triển thành kinh tế thị trường Kinh tế thị trường cũng trải qua quá trình phát triển ở các trình độ khác nhau từ kinh tế
thị trường sơ khai đến kinh tế thị trường hiện đại ngày nay
Đặc trưng chung của kinh tế thị trường:
Thứ nhất, kinh tế thị trường đòi hỏi sự tồn tại của các chủ thể kinh tế độc
lập dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau Các chủ thể kinh tế độc lập và bình đẳng với nhau trước pháp luật và trong hoạt động sản xuất kinh doanh, song lại
có vai trò,vị thế và chức năng đặc thù trên thị trường
Thứ hai, thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn
lực xã hội và có sự tồn tại đồng thời của các thị trường khác nhau như thị trường hàng hóa, thị trường dịch vụ, thị trường sức lao động, thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ…
Thứ ba, giá cả được hình thành trên cơ sở giá trị hàng hóa và quan hệ
cung cầu nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận; cạnh tranh vừa là môi trường, vừa
là động lực thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển
Thứ tư, động lực phát triển quan trọng nhất của kinh tế thị trường là lợi
ích kinh tế, mà trước hết là lợi ích của các nhà đầu tư, của những người tiêu dùng, lợi ích của nhà nước và toàn xã hội
Thứ năm, nhà nước là chủ thể của nền kinh tế, thực hiện quản lý toàn bộ
nền kinh tế nhằm khắc phục những khuyết tật của thị trường, thúc đẩy những yếu tố tích cực, đảm bảo sự bình đẳng xã hội và sự ổn định của toàn bộ nền kinh
tế
Thứ sáu, kinh tế thị trường là nền kinh tế mở, thị trường trong nước gắn
liền với thị trường quốc tế
Các đặc trưng trên mang tính phổ biến của mọi nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, tùy theo điều kiện lịch sử cụ thể và chế độ chính trị xã hội của mỗi quốc gia mà các đặc trưng đó thể hiện không hoàn toàn giống nhau, tạo nên tính đặc thù và các mô hình kinh tế thị trường khác nhau
Ưu thế của nền kinh tế thị trường:
Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, cho nên ngoài những ưu thế của nền kinh tế hàng hóa như đã được nghiên cứu, kinh
Trang 23tế thị trường các ưu thế nổi bật là :
Một là, kinh tế thị trường tạo động lực kích thích hoạt động của các chủ thể kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tự do của họ, qua đó tập hợp và
phát huy được trí tuệ, tiềm lực của các chủ thể sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất, làm cho nền kinh tế hoạt động năng động, hiệu quả
Hai là, kinh tế thị trường với sự tác động của các quy luật kinh tế tạo ra
sự phù hợp tự phát giữa khối lượng, cơ cấu sản xuất với khối lượng, cơ cấu nhu cầu tiêu dùng của xã hội Nhờ đó, nhu cầu tiêu dùng về các loại hàng hóa, dịch
vụ khác nhau được đáp ứng kịp thời; người tiêu dùng được thỏa mãn nhu cầu cũng như đáp ứng đầy đủ mọi chủng loại hàng hóa, dịch vụ
Ba là, kinh tế thị trường tạo ra cơ chế phân bổ các nguồn lực một cách tối
ưu Trong nền kinh tế thị trường, việc di chuyển, phân bổ các yếu tố sản xuất,
vốn, lợi ích… theo nguyên tắc cạnh tranh, người giỏi sẽ được nhiều hơn người kém Các nguồn lực sẽ được di chuyển đến nơi sử dụng với hiệu quả cao nhất
mà không tốn kém chi phí của cơ chế giám sát, điều hành nền kinh tế bởi kế hoạch tập trung của nhà nước
Bốn là, kinh tế thị trường tạo động lực kích thích đổi mới kỹ thuật, hợp lý
hóa sản xuất một cách mạnh mẽ nhất Sức ép của cạnh tranh buộc những người sản xuất phải giảm chi phí sản xuất cá biệt đến mức tối thiểu bằng cách áp dụng những phương pháp sản xuất tốt nhất, không ngừng đổi mới kỹ thuật, công nghệ sản xuất, đổi mới sản phẩm, đổi mới tổ chức sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh
Năm là, kinh tế thị trường góp phần thúc đẩy xu thế liên doanh, liên kết và đẩy mạnh giao lưu kinh tế giữa các nước thông qua các sản phẩm mang bản sắc
riêng của từng dân tộc, từng địa phương, từng quốc gia Các nước đang phát triển có cơ hội được chuyển giao và tiếp nhận công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ các nước phát triển; ngược lại, các nước phát triển có điều kiện để tranh thủ thị trường, khai thác nguồn tài nguyên, nhân công giá rẻ từ các nước đang phát triển
Khuyết tật của nền kinh tế thị trường
Bên cạnh những ưu thế, kinh tế thị trường cũng có không ít những khuyết tật vốn có mà phần nhiều trong số đó tự nó không thể khắc phục, sửa chữa được Những hạn chế cơ bản của kinh tế thị trường bao gồm:
Một là, kinh tế thị trường tự nó không đảm bảo cung ứng tốt một số hàng hóa dịch vụ công cộng mà thiếu những hàng hóa, dịch vụ này, hầu hết các chủ
thể kinh tế không hoạt động được Đó là hệ thống kết cấu hạ tầng, an sinh xã
Trang 2424
hội, nghiên cứu khoa học cơ bản, bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh… Đây là những lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn chậm, lợi nhuận thấp, nhiều rủi ro… nên các nhà đầu tư tư nhân không muốn thực hiện, trừ phi được trợ cấp từ ngân sách nhà nước
Hai là, mục đích hoạt động của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường là
tối đa hóa lợi ích của bản thân họ, chạy theo lợi ích trước mắt, ngắn hạn Điều
này có thể dẫn đến tình trạng khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm
môi trường, mất cân đối giữa các vùng kinh tế, làm gia tăng một số loại tội phạm và tệ nạn xã hội…
Ba là, phân phối thu nhập trong kinh tế thị trường là tự phát có thể dẫn tới phân hóa giàu nghèo, chênh lệch thu nhập, phân cực của cải; thậm chí làm
gia tăng tình trạng bất công xã hội, làm nảy sinh mâu thuẫn và xung đột xã hội
Bốn là, kinh tế thị trường gắn liền với cạnh tranh nên các chủ thể kinh tế
có thể vì lợi ích riêng mà độc chiếm hoặc che giấu thông tin, độc chiếm phát
minh sáng chế Kinh tế thị trường phát triển có thể dẫn tới độc quyền và cùng
với đó là tình trạng lũng đoạn sản phẩm, thị trường, giá cả, kìm hãm đổi mới kỹ thuật…
Năm là, một nền kinh tế do cơ chế thị trường thuần túy điều tiết có thể
dẫn tới mất cân đối kinh tế, làm xuất hiện khủng hoảng có tính chu kỳ và thất
nghiệp Thực tiễn phát triển kinh tế thị trường cho thấy, không một nền kinh tế
thị trường nào trong một thời gian dài lại có lạm phát thấp và việc làm đầy đủ
Do những khuyết tật của kinh tế thị trường nên trong thực tế không tồn tại một nền kinh tế thị trường thuần túy, mà thường có sự can thiệp của nhà nước để sửa chữa những thất bại của cơ chế thị trường Khi đó, nền kinh tế được gọi là
kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước hay nền kinh tế hỗn hợp
2.2.3 Một số quy luật kinh tế chủ yếu trong nền kinh tế thị trường
a) Quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị Quy luật giá trị là quy luật chi phối cơ chế thị trường và chi phối các quy luật kinh tế khác; các quy luật kinh tế khác là biểu hiện yêu cầu của quy luật giá trị mà thôi
Nội dung của quy luật giá trị: quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và
trao đổi hàng hóa phải được tiến hành trên cơ sở của hao phí lao động xã hội cần thiết
- Theo yêu cầu của quy luật giá trị, người sản xuất muốn bán được hàng hóa trên thị trường, muốn được xã hội thừa nhận sản phẩm thì lượng giá trị của một hàng hoá cá biệt phải phù hợp với thời gian lao động xã hội cần thiết Vì
Trang 25vậy họ phải luôn luôn tìm cách hạ thấp hao phí lao động cá biệt xuống nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết
- Trong lĩnh vực trao đổi, việc trao đổi phải tuân theo nguyên tắc ngang giá, lấy giá trị xã hội làm cơ sở, không dựa trên giá trị cá biệt
Cơ chế tác động của quy luật giá trị: Quy luật giá trị hoạt động và phát
huy tác dụng thông qua sự vận động của giá cả xung quanh giá trị dưới sự tác động của quan hệ cung - cầu Giá cả thị trường lên xuống xoay quanh giá trị
hàng hóa trở thành cơ chế tác động của quy luật giá trị Thông qua sự sự vận động của giá cả thị trường sẽ thấy được sự hoạt động của quy luật giá trị Những người sản xuất và trao đổi hàng hóa phải tuân theo mệnh lệnh của giá cả thị trường Quan hệ về mặt lượng giữa giá cả và giá trị cũng phụ thuộc vào quan hệ cung cầu :
Khi cung = cầu thì giá cả = giá trị
Khi cung > cầu thì giá cả < giá trị
Khi cung < cầu thì giá cả > giá trị
Tác động của quy luật giá trị:
Thứ nhất, điều tiết các quan hệ sản xuất và lưu thông hàng hóa Trong
sản xuất, thông qua sự biến động của giá cả, người sản xuất sẽ biết được tình hình cung - cầu về hàng hóa đó và quyết định phương án sản xuất Nếu giá cả hàng hóa bằng giá trị thì việc sản xuất là phù hợp với yêu cầu xã hội; hàng hoá này nên được tiếp tục sản xuất Nếu giá cả hàng hóa cao hơn giá trị, sản xuất cần
mở rộng để cung ứng hàng hoá đó nhiều hơn vì nó đang khan hiếm trên thị trường; tư liệu sản xuất và sức lao động sẽ được tự phát chuyển vào ngành này nhiều hơn các ngành khác Nếu giá cả hàng hóa thấp hơn giá trị, cung về hàng hoá này đang thừa so với nhu cầu xã hội; cần phải thu hẹp sản xuất ngành này để chuyển sang mặt hàng khác
Trong lưu thông, quy luật giá trị điều tiết hàng hóa từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, từ nơi cung lớn hơn cầu đến nơi cung nhỏ hơn cầu Thông qua mệnh lệnh của giá cả thị trường, hàng hoá ở nơi có giá cả thấp được thu hút, chảy đến nơi có giá cả cao hơn, góp phần làm cho cung cầu hàng hoá giữa các vùng cân bằng, phân phối lại thu nhập giữa các vùng miền, điều chỉnh sức mua của thị trường (nếu giá cao thì mua ít, giá thấp mua nhiều)
Thứ hai, kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất nhằm tăng năng suất lao động Trên thị trường, hàng hóa được trao đổi theo giá trị xã hội Người
sản xuất có giá trị cá biệt nhỏ hơn giá trị xã hội, khi bán theo giá trị xã hội sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn Ngược lại, người sản xuất có giá trị cá biệt lớn hơn giá trị xã hội sẽ gặp bất lợi hoặc thua lỗ Để đứng vững trong cạnh tranh và tránh
Trang 26Thứ ba, phân hoá những người sản xuất thành những người giàu, người nghèo một cách tự nhiên Trong quá trình cạnh tranh, những người sản xuất
nhạy bén với thị trường, trình độ năng lực giỏi, sản xuất với hao phí cá biệt thấp hơn mức hao phí chung của xã hội sẽ trở nên giàu có Ngược lại, những người
do hạn chế về vốn, kinh nghiệm sản xuất thấp kém, trình độ công nghệ lạc hậu thì giá trị cá biệt sẽ cao hơn giá trị xã hội và dễ lâm vào tình trạng thua lỗ, dẫn đến phá sản, thậm chí phải đi làm thuê Trong nền kinh tế thị trường thuần túy, chạy theo lợi ích cá nhân, đầu cơ, gian lận, khủng hoảng kinh tế… là những yếu
tố có thể làm tăng thêm tác động phân hóa sản xuất cùng những tiêu cực về kinh
tế xã hội khác
Tóm lại, quy luật giá trị vừa có tác dụng đào thải cái lạc hậu, lỗi thời, kích thích sự tiến bộ, làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ; vừa có tác dụng lựa chọn, đánh giá người sản xuất, bảo đảm sự bình đẳng đối với người sản xuất; vừa có cả những tác động tích cực lẫn tiêu cực Các tác động đó diễn ra một cách khách quan trên thị trường nên cần có sự điều tiết của nhà nước để hạn chế tiêu cực, thúc đẩy tác động tích cực
b) Quy luật cung cầu
Quy luật cung cầu là quy luật kinh tế điều tiết quan hệ giữa cung và cầu hàng hóa trên thị trường Quy luật này đòi hỏi cung - cầu phải có sự thống nhất, nếu không có sự thống nhất giữa chúng thì sẽ có các nhân tố xuất hiện điều chỉnh chúng
- Cung là số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ mà người bán muốn bán tại các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định
- Cầu là nhu cầu cộng với khả năng thanh toán cho nhu cầu đó
Trên thị trường, cung - cầu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, thường xuyên tác động lẫn nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả Nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả thấp hơn giá trị; ngược lại, nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị; nếu cung bằng cầu thì giá cả bằng với giá trị
Quy luật cung - cầu có tác dụng điều tiết quan hệ giữa sản xuất và lưu
Trang 27thông hàng hoá; làm biến đổi cơ cấu và dung lượng thị trường, quyết định giá cả thị trường
Vì vậy, căn cứ quan hệ cung - cầu, có thể dự đoán xu thế biến động của giá cả; khi giá cả thay đổi, cần đưa ra các chính sách điều tiết giá cho phù hợp nhu cầu thị trường
Ở đâu có thị trường thì ở đó quy luật cung - cầu tồn tại và hoạt động một cách khách quan Nếu nhận thức được chúng thì có thể vận dụng để tác động đến hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng có lợi cho quá trình sản xuất Nhà nước có thể vận dụng quy luật cung - cầu thông qua các chính sách, các biện pháp kinh tế như giá cả, lợi nhuận, tín dụng, hợp đồng kinh tế, thuế, thay đổi cơ cấu tiêu dùng… để tác động vào các hoạt động kinh tế, duy trì những tỷ
lệ cân đối cung - cầu một cách lành mạnh và hợp lý
c) Quy luật lưu thông tiền tệ
Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật xác định số lượng tiền cần thiết cho lưu thông Theo quy luật này, số lượng tiền cần thiết cho lưu thông hàng hóa ở mỗi thời kỳ nhất định được xác định bằng công thức tổng quát sau:
Trong đó M là số lượng tiền cần thiết cho lưu thông trong một thời gian
nhất định; P là mức giá cả; Q là khối lượng hàng hóa dịch vụ đưa ra lưu thông;
V là số vòng lưu thông của đồng tiền
Như vậy, khối lượng tiền cần thiết cho lưu thông tỷ lệ thuận với tổng số giá cả hàng hóa được đưa ra thị trường và tỷ lệ nghịch với tốc độ lưu thông của tiền tệ
Khi lưu thông hàng hóa phát triển, việc thanh toán không dùng tiền mặt trở nên phổ biến thì số lượng tiền cần thiết cho lưu thông được xác định như sau:
( ) Trong đó P.Q là tổng giá cả hàng hóa; G1 là tổng giá cả hàng hóa bán chịu; G2 là tổng giá cả hàng hóa khấu trừ cho nhau; G3 là tổng giá cả hàng hóa đến kỳ thanh toán; V là số vòng quay trung bình của tiền tệ
Khi tiền giấy ra đời, thay thế tiền vàng trong thực hiện chức năng phương tiện lưu thông đã làm xuất hiện khả năng tách rời lưu thông hàng hóa với lưu thông tiền tệ Tiền giấy bản thân nó không có giá trị mà chỉ là ký hiệu giá trị Nếu tiền giấy được phát hành quá nhiều, vượt quá lượng tiền vàng cần thiết cho lưu thông mà tiền giấy là đại diện, sẽ làm cho tiền giấy bị mất giá trị, giá cả hàng hóa tăng lên dẫn đến lạm phát Bởi vậy, nhà nước không thể in và phát hành tiền
Trang 2828
giấy một cách tùy tiện mà phải tuân theo quy luật lưu thông tiền tệ
d) Quy luật canh tranh
Quy luật cạnh tranh là quy luật kinh tế điều tiết một cách khách quan mối
quan hệ ganh đua kinh tế giữa các chủ thể trong sản xuất và trao đổi hàng hoá
Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những chủ thể kinh tế với nhau nhằm có được những ưu thế về sản xuất cũng như tiêu thụ và thông qua đó mà thu được lợi ích tối đa
Kinh tế thị trường càng phát triển thì cạnh tranh trên thị trường càng trở nên thường xuyên, quyết liệt hơn Do tác động của quy luật cạnh tranh làm cho việc cạnh tranh trở thành hoạt động tất yếu của mỗi chủ thể kinh tế trên thị trường nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của mình với mục đích tối đa hoá lợi ích
Cạnh tranh có vai trò thúc đẩy sự tiến bộ, là động lực thúc đẩy mạnh
mẽ tiến bộ khoa học và sự phát triển lực lượng sản xuất Cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, đổi mới sản phẩm, thay đổi phương thức tổ chức quản
lý hiệu quả hơn… để đáp ứng nhu cầu thị trường và xã hội tốt hơn
Mặt trái của cạnh tranh là phân hoá người sản xuất; gây rối, phá hoại thị trường; cạnh tranh bằng các thủ đoạn phi đạo đức, vi phạm luật pháp để thu lợi cá nhân, gây tổn hại lợi ích tập thể và xã hội Điều này đòi hỏi nhà nước phải có biện pháp để hạn chế, ngăn chặn mặt trái của cạnh tranh
2.2.4 Vai trò của một số chủ thể chính tham gia thị trường
Trong nền kinh tế tế thị trường, có rất nhiều chủ thể khác nhau tham gia thị trường, mỗi chủ thể có những vai trò quan trọng riêng
Mục đích hoạt động của người sản xuất là lợi nhuận tối đa Người sản
xuất là những người sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất, kinh doanh và thu lợi nhuận Nhiệm vụ của họ không chỉ làm thỏa mãn nhu cầu hiện tại của xã hội,
mà còn tạo ra và phục vụ cho những nhu cầu trong tương lai với mục tiêu đạt lợi
nhuận tối đa trong điều kiện nguồn lực có hạn Vì vậy, người sản xuất luôn phải
quan tâm đến việc lựa chọn sản xuất hàng hóa nào, số lượng bao nhiêu, sản xuất với các yếu tố nào sao cho có lợi nhất
Trang 29Sản xuất là gốc và người sản xuất luôn giữ vai trò quyết định trong nền kinh tế Trong toàn bộ các khâu của quá trình tái sản xuất, sản xuất luôn giữ vai
trò quyết định bởi sản xuất tạo ra sản phẩm cho phân phối, trao đổi và để tiêu dùng; quy mô và cơ cấu sản phẩm do sản xuất tạo ra quyết định quy mô và cơ cấu tiêu dùng; chất lượng và tính chất của sản phẩm quyết định chất lượng và phương thức tiêu dùng
Trong nền kinh tế thị trường, tất cả những người sản xuất được gọi chung
là các doanh nghiệp Doanh nghiệp và người tiêu dùng là hai tác nhân chủ yếu trên thị trường; họ tác động lẫn nhau trên thị trường hình thành nên giá cả thị trường; qua đó hàng hóa được trao đổi thỏa mãn cho cả người tiêu dùng và người sản xuất
Sự phát triển đa dạng về nhu cầu của người tiêu dùng là động lực quan trọng của sự phát triển sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất Tiêu dùng tạo
ra nhu cầu và là mục đích của sản xuất Sức mua của người tiêu dùng là yếu tố quyết định sự thành bại của người sản xuất
Mục tiêu của người tiêu dùng là đạt được lợi ích tối đa trong tiêu dùng với nguồn thu nhập có hạn Họ là người quyết định hành vi mua sắm của mình
người tiêu dùng có quyền được tự do tham khảo, lựa chọn sản phẩm mình muốn mua sao cho phù hợp nhất với nhu cầu, mục đích, theo giá cả mong muốn Vì vậy, thông qua hành vi mua sắm, người tiêu dùng có ảnh hưởng lớn đến giá cả thị trường của hàng hóa, dịch vụ
Người tiêu dùng có ảnh hưởng lớn tới quyết định việc sản xuất cái gì, số lượng bao nhiêu trong nền kinh tế Từ nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng,
người sản xuất căn cứ vào đó để đưa ra sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao của người tiêu dùng Cũng từ nhu cầu của người tiêu dùng, người sản xuất sẽ có kế hoạch và chiến lược phát triển lâu dài phù hợp với tình hình thực tế nhằm đạt lợi ích cao nhất
Người tiêu dùng có vai trò rất quan trọng trong định hướng sản xuất Họ
là người đặt hàng chủ yếu của các doanh nghiệp, các hãng sản xuất trên thị trường Với tư cách là người mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ của doanh
Trang 3030
nghiệp, người tiêu dùng có thể đưa ra ý kiến góp ý chính xác về sản phẩm, dịch
vụ đang sử dụng Tùy thuộc vào thị hiếu tiêu dùng và ý kiến thu thập được từ phía người tiêu dùng, người sản xuất có thể điều chỉnh lại phương pháp sản xuất, hoàn thiện sản phẩm của mình cho phù hợp nhu cầu của người tiêu dùng
Lưu ý, việc phân chia người sản xuất, người tiêu dùng chỉ có tính chất tương đối để thấy được chức năng chính của các chủ thể này khi tham gia thị trường Trên thực tế, doanh nghiệp luôn đóng vai trò vừa là người mua cũng vừa
là người bán
c) Các chủ thể trung gian trong thị trường
Do sự phát triển của sản xuất và trao đổi dưới tác động của phân công lao động xã hội, làm cho sự tách biệt tương đối giữa sản xuất và trao đổi ngày càng sâu sắc Trên cơ sở đó xuất hiện những chủ thể trung gian trong thị trường
Các chủ thể trung gian trong thị trường là các chủ thể hoạt động nhằm mục đích kết nối, thông tin trong các quan hệ mua, bán giữa các chủ thể của thị trường Nhờ vai trò của các trung gian này mà nền kinh tế thị trường trở nên sống động, linh hoạt hơn
Hoạt động của các trung gian trong thị trường làm tăng cơ hội thực hiện giá trị của hàng hóa cũng như thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng Các chủ thể trung gian làm tăng sự kết nối giữa sản xuất và tiêu dùng, làm cho sản xuất
và tiêu dùng trở nên ăn khớp với nhau
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các chủ thể trung gian thị trường bao gồm các trung gian thương mại, trung gian phân phối, môi giới chứng khoán, môi giới nhà đất, môi giới khoa học công nghệ Các trung gian trong thị trường không những hoạt động trên phạm vi thị trường trong nước mà còn trên phạm vi quốc tế Mặc dù có vai trò quan trọng, song bên cạnh đó cũng có nhiều loại hình trung gian không phù hợp với các chuẩn mực đạo đức Những trung gian này cần được loại trừ
Trang 31chủ thể tham gia thị trường (kể cả nhà nước) đạt hiệu quả tối đa
Nhà nước tạo hành lang pháp lý, định ra những luật về sở hữu, về quyền tài sản và hoạt động của các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế trên thị trường, nhà nước quy định trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cũng như trách nhiệm xã hội của người tiêu dùng khi tham gia thị trường
Hai là, nhà nước đảm bảo tính công bằng, thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng,
khắc phục những khuyết tật của thị trường
Nhà nước sử dụng công cụ luật pháp nhằm đảm bảo cho cơ chế thị trường vận hành tốt nhất, đảm bảo tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng giữa các tác nhân kinh tế, khắc phục các yếu tố làm giảm hiệu quả của nền kinh tế Thực hiện chức năng này, nhà nước sử dụng các biện pháp, công cụ, chính sách để can thiệp vào nền kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, khắc phục các thất bại của thị trường, ngăn chặn các tác động tiêu cực của cơ chế thị trường
Nhà nước sử dụng các chính kinh tế, các chương trình phúc lợi xã hội nhằm giảm bớt tình trạng phân phối bất bình đẳng trong nền kinh tế do cơ chế thị trường gây ra; khắc phục những bất công trong xã hội trên nhiều lĩnh vực; tạo điều kiện cho mọi thành viên được hưởng phúc lợi như nhau và trợ cấp, giúp
đỡ những người nghèo, hoàn cảnh khó khăn, gặp rủi ro bất trắc trong xã hội Nhà nước còn đóng vai trò chính trong củng cố quốc phòng - an ninh, cung cấp hàng hóa dịch vụ công cộng, chống ô nhiễm môi trường, phát triển giáo dục để duy trì sự phát triển ổn định, lành mạnh của nền kinh tế
Ba là, nhà nước thực hiện định hướng phát triển một số quan hệ kinh tế
trong sản xuất và trao đổi nhằm đem lại phúc lợi cho xã hội Nhà nước định
hướng cho sự phát triển nền kinh tế và thực hiện điều tiết các hoạt động kinh tế
để đảm bảo cho sản xuất, thị trường ổn định, phát triển theo đúng mục tiêu đề ra Nhà nước xây dựng các chiến lược và quy hoạch phát triển, trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực để dẫn dắt nền kinh tế đáp ứng các yêu cầu phát triển Nhà nước cũng tạo ra hành lang pháp luật cho các hoạt động kinh tế bằng cách đặt ra các điều luật cơ bản cho hoạt động của thị trường; đặt ra những quy định chi tiết cho hoạt động của người sản xuất, các doanh nghiệp Khuôn khổ pháp luật do nhà nước thiết lập sẽ tác động, điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinh tế theo định hướng nhất định
Tóm lại, trong nền kinh tế, mọi quan hệ sản xuất và trao đổi, các hoạt động của các chủ thể đều chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan của thị trường; đồng thời chịu sự điều tiết, can thiệp của nhà nước qua việc thực hiện hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế Mô hình kinh tế thị trường có
sự điều tiết của nhà nước ở từng nước, từng giai đoạn có thể khác nhau tùy thuộc
Trang 33Chương 3 SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Chương 3 sẽ được trình bày với ba nội dung cốt lõi: i) Lý luận của C.Mác
về giá trị thặng dư ii) Tích lũy tư bản; iii) Phân phối giá trị thặng dư trong nền
kinh tế thị trường tự do cạnh tranh tư bản chủ nghĩa
3.1 LÝ LUẬN CỦA C.MÁC VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
3.1.1 Nguồn gốc của giá trị thặng dư
a) Công thức chung của tư bản
Theo C.Mác, quan hệ lưu thông hàng hóa giản đơn vận động theo công thức H - T - H (lưu thông hàng hóa giản đơn) Còn lưu thông hàng hóa tư bản chủ nghĩa vận động theo công thức T - H - T
Xét về mục đích vận động của hai quá trình lưu thông nói trên ta thấy: lưu thông hàng hóa giản đơn chỉ nhằm mục đích giá trị sử dụng Còn trong sự vận động T - H - T, nếu việc bỏ tiền ra để thu lại số tiền như cũ thì sự vận động này không có ý nghĩa Do đó, thực chất sự vận động này phải là T - H - T’, trong đó T’= T + ∆T ∆T chắc chắn phải là một số dương và được gọi là giá trị thặng dư (ký hiệu là m) Vậy, mục đích của lưu thông tư bản chủ nghĩa là giá trị thặng dư
Công thức T – H – T’ gọi là công thức chung của tư bản là vì mọi tư bản đều vận động theo công thức khái quát này
b) Hàng hóa sức lao động
Sau quá trình vận động T - H - T’ thì xuất hiện giá trị thặng dư Vậy nguồn gốc của giá trị thặng dư là có từ đâu? C.Mác đã chứng minh rằng, việc mua, bán hàng hóa thấp hơn hoặc bằng giá trị thì chắc chắn không có giá trị tăng thêm, nếu người mua hàng hóa để rồi bán hàng hóa đó cao hơn giá trị thì chỉ được lợi xét về người bán, nhưng xét về người mua thì lại bị thiệt Trong nền kinh tế thị trường, mỗi người đều đóng vai trò là người bán và đồng thời cũng là người mua, cho nên nếu được lợi khi bán thì lại bị thiệt khi mua Trong trường hợp như vậy, lưu thông không tạo ra giá trị tăng thêm xét trên phạm vi xã hội
Theo C.Mác, bí mật ở đây là nhà tư bản đã mua được một loại hàng hóa đặc biệt nào đó mà trong quá trình sử dụng loại hàng hóa này, giá trị của nó không những được bảo tồn mà còn tạo ra được giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó Đó là hàng hóa sức lao động
“Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất
và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người
Trang 3434
Theo C.Mác hai điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa là:
Một là, người lao động được tự do về thân thể
Hai là, người lao động không có đủ các tư liệu sản xuất cần thiết để tự kết
hợp với sức lao động của mình tạo ra hàng hóa để bán, cho nên họ phải bán sức lao động
Khi sức lao động trở thành hàng hóa, nó cũng có hai thuộc tính như hàng hóa thông thường Đó là thuộc tính giá trị và thuộc tính giá trị sử dụng
Giá trị của hàng hóa sức lao động cũng do thời gian lao động xã hội cần
thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định
- Sức lao động là khả năng lao động, tồn tại trong con người đang sống, nên để sống và tái sản xuất sức lao động, người lao động phải tiêu dùng lượng tư liệu sinh hoạt nhất định Do vậy, thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được quy thành thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt mà người lao động tiêu dùng, được đo lường gián tiếp thông qua lượng giá trị của các tư liệu sinh hoạt để tái sản xuất ra sức lao động Hàng hóa sức lao động là loại hàng hóa đặc biệt, nó mang yếu tố tinh thần
và lịch sử
- Cấu thành giá trị của hàng hóa sức lao động bao gồm:
Một là, giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết (cả vật chất, tinh thần) để tái sản
xuất ra sức lao động;
Hai là, phí tổn đào tạo người lao động;
Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết (vật chất và tinh thần) nuôi
con của người lao động
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động cũng là để thỏa mãn nhu cầu
của người mua Khi sử dụng hàng hóa sức lao động (tức là quá trình người bán sức lao động thực hiện lao động) người mua hàng hóa sức lao động mong muốn
có được giá trị lớn hơn, giá trị tăng thêm
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính năng đặc biệt là khi sử dụng, nó tạo ra giá trị mới (v + m) lớn hơn giá trị của sức lao động (v) Phần lớn hơn giá trị sức lao động chính là giá trị thặng dư Đây chính là chìa khóa chỉ rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư chính là do hao phí sức lao động của người bán sức lao động (người làm thuê) tạo ra
Vì vậy công thức chung của tư bản T – H – T’ thực chất là công thức đầy
đủ như sau:
3 C.Mác - Ph Ănghen, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1993, tr.251
Trang 35TLSX (c)
T – H < … SX … H’ – T’
SLĐ (v) (c + v + m)
c) Ví dụ về sự sản xuất giá trị thặng dư
Nghiên cứu về hàng hóa sức lao động đã chỉ ra nguồn gốc của giá trị thặng dư là do lao động của người làm thuê tạo ra Vậy quá trình tạo ra giá trị thặng dư được tiến hành như thế nào Chúng ta xét ví dụ về sự sản xuất giá trị thặng dư
Giả sử có một nhà tư bản sản xuất sợi Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải ứng ra số tiền là 50 USD để mua 50 kg bông, 3 USD hao mòn máy móc để kéo 50 kg bông thành sợi, 15 USD mua hàng hoá sức lao động để sử dụng trong
1 ngày làm việc 8 giờ Như vậy, nhà tư bản ứng ra 68 USD Trong quá trình sản xuất sợi, bằng lao động cụ thể, người công nhân biến bông thành sợi, theo đó giá trị của bông và hao mòn máy móc được chuyển vào giá trị của sợi; bằng lao động trừu tượng người công nhân tạo ra giá trị mới
Giả định, trong 4 giờ lao động công nhân đã hoàn thành chuyển toàn bộ
50 kg bông thành sợi thì giá trị của sợi gồm:
Giá trị 50 kg bông chuyển vào : 50 USD Hao mòn máy móc: 3 USD Giá trị mới bằng giá trị sức lao động: 15 USD
Tổng cộng: 68 USD
Nhà tư bản ứng ra 68 USD, bán sợi thu về 68 USD Nếu quá trình lao động dừng lại tại điểm này thì không có giá trị thặng dư, tiền ứng ra chưa trở thành tư bản Do đó, để có giá trị thặng dư, thời gian lao động phải vượt quá cái điểm bù lại giá trị sức lao động Nhà tư bản mua sức lao động của công nhân để
sử dụng trong 8 giờ chứ không phải 4 giờ Công nhân phải tiếp tục làm việc trong 4 giờ nữa và nhà tư bản phải bỏ thêm 50 USD để mua 50 kg bông và 3 USD hao mòn máy móc Quá trình lao động 4 giờ sau diễn ra như quá trình đầu
Số sợi được tạo ra trong 4 giờ lao động sau cũng có giá trị 68 USD Tổng cộng, nhà tư bản ứng ra 100 USD (mua bông) + 6 USD (khấu hao máy móc) + 15 USD (trả tiền công) = 121 USD, trong khi đó số sợi sản xuất ra có giá trị 136 USD Do đó, nhà tư bản thu được lượng giá trị thặng dư là 136 USD – 121 USD
= 15 USD
Giá trị hàng hóa tạo ra: 106c + (15v + 15m) = 136 (USD)
Trong ví dụ này, C.Mác đã giả định người mua sức lao động là nhà tư bản với tư cách là chủ sở hữu thuần tuý để phân biệt với người lao động làm thuê Trong trường hợp việc quản lý doanh nghiệp cũng do người lao động được thuê
Trang 3636
thì giá trị mới là do lao động làm thuê mà có Còn trong trường hợp người mua hàng hóa sức lao động cũng phải hao phí sức lao động dưới dạng quản lý thì giá trị mới đó cũng có sự đóng góp một phần từ lao động quản lý với tư cách là lao động phức tạp
Từ sự phân tích trên có thể kết luận:
- Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động
do người bán sức lao động (người lao động làm thuê) tạo ra và thuộc về nhà tư bản (người mua hàng hóa sức lao động)
- Quá trình sản xuất giá trị thặng dư là sự thống nhất của quá trình tạo ra
và làm tăng giá trị Để có được giá trị thặng dư, nền sản xuất xã hội phải đạt đến một trình độ nhất định Trình độ đó phản ánh, người lao động chỉ phải hao phí một phần thời gian lao động trong ngày là có thể bù đắp được giá trị hàng hóa sức lao động Trên cơ sở đó, thời gian lao động trong ngày được chia thành hai phần: thời gian lao động tất yếu và thời gian lao động thặng dư:
+ Thời gian lao động tất yếu: là thời gian người làm thuê lao động để tạo
ra giá trị mới bằng với giá trị sức lao động (ký hiệu là t)
+ Thời gian lao động thặng dư: là thời gian người lao động làm thuê lao
động để tạo ra giá trị thặng dư ( ký hiệu là t’)
Vậy thời gian lao động = TGLĐTY + TGLĐTD (t + t’)
Sự phân chia hai loại thời gian này phụ thuộc chủ yếu vào năng suất lao động của người làm thuê
d) Tư bản bất biến, tư bản khả biến
Quá trình sản xuất giá trị thặng dư, xét từ phía nhà tư bản, là quá trình ứng
ra và sử dụng tư bản nhằm mục đích thu giá trị thặng dư Vậy tư bản là giá trị
mang lại giá trị thặng dư
Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải ứng tư bản ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động Tư bản mua tư liệu sản xuất (ký hiệu là c), tư bản mua sức lao động (ký hiệu là v) Vậy, tư bản = c + v
Để làm rõ hơn khẳng định nguồn gốc của giá trị thặng dư là do lao động làm thuê tạo ra, C.Mác đã đi sâu phân tích vai trò của tư liệu sản xuất và người lao động trong quá trình làm tăng giá trị C.Mác nghiên cứu dưới nội hàm của hai thuật ngữ: Tư bản bất biến và tư bản khả biến
Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị được lao động cụ thể của công nhân làm thuê bảo tồn và chuyển nguyên vẹn vào giá trị sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi trong quá trình sản xuất được C.Mác gọi
là tư bản bất biến (ký hiệu là c)
Tư bản bất biến không tạo ra giá trị thặng dư nhưng là điều kiện cần thiết
Trang 37để cho quá trình tạo ra giá trị thặng dư được diễn ra Máy móc dù hiện đại, dù được tự động hóa thì vai trò của nó, chỉ là là điều kiện để cho quá trình làm tăng giá trị được diễn ra Không có máy móc, không có quá trình tổ chức kinh doanh thì đương nhiên không có quá trình sản xuất giá trị thặng dư
Bộ phận tư bản biến thành sức lao động thì khác Giá trị của nó được chuyển cho công nhân làm thuê, biến thành tư liệu sinh hoạt cần thiết và mất đi trong quá trình tái sản xuất sức lao động của họ Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất, công nhân làm thuê bằng lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới với lượng lớn hơn giá trị sức lao động
Bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái sức lao động không tái hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân mà tăng lên, tức biến đổi
về số lượng trong quá trình sản xuất, được Mác gọi là tư bản khả biến (ký hiệu
là v)
Sự phân tích trên cho thấy: nguồn gốc trực tiếp của giá trị thặng dư là tư
bản khả biến, tư bản bất biến không trực tiếp tạo ra giá trị thặng dư nhưng đóng vai trò là điều kiện cần thiết của quá trình này
Tiền công
Trong quan hệ mua, bán sức lao động Người bán sức lao động sẽ được người mua sức lao động (nhà tư bản) trả cho một số tiền Số tiền này được gọi là tiền công (hoặc còn gọi là tiền lương)
Tiền công là giá cả của hàng hóa sức lao động
Trong thực tiễn, người bán sức lao động thường chỉ nhận được tiền công sau khi kết thúc quá trình lao động Trong quá trình lao động họ tạo ra giá trị mới (v + m) Sau khi bán hàng hóa, nhà tư bản trích ra một số tiền (v) ra để trả tiền công Vì vậy, tiền công do chính hao phí sức lao động của người lao động làm thuê tạo ra Cần nhấn mạnh điểm này để người lao động cũng như người chủ mua hàng hóa sức lao động phải đặt địa vị của mỗi bên trong một quan hệ lợi ích thống nhất Người kinh doanh, thuê sức lao động cũng cần phải đối xử với người lao động có trách nhiệm vì người lao động là nguồn gốc cho sự giàu
có của mình Mặt khác, người bán sức lao động cũng cần phải biết bảo vệ lợi ích của bản thân trong quan hệ lợi ích với người mua sức lao động
e) Tuần hoàn và chu chuyển của tư bản
- Tuần hoàn của tư bản: Để có giá trị thặng dư, nhà tư bản không những
phải thực hiện quá trình sản xuất giá trị thặng dư, mà còn cần phải thực hiện giá trị, tức là bán hàng hóa ra thị trường để thu giá trị về
Như vậy sự vận động của tư bản kể từ khi bỏ tiền ra cho đến khi thu về phải gồm cả sản xuất và lưu thông:
Trang 381) Giai đoạn 1: T – H tư bản tồn tại dưới hình thức tư bản tiền tệ, thực hiện chức năng mua các yếu tố sản xuất
2) Giai đoạn 2: …SX… tư bản tồn tại dưới hình thức tư bản sản xuất, thực hiện chức năng sản xuất ra giá trị thặng dư
3) Giai đoạn 3: H’- T’: tư bản tồn tại dưới hình thức tư bản hàng hóa, thực hiện chức năng thực hiện giá trị thặng dư, tức là bán hàng hóa để thu lại tiền
Vậy, Tuần hoàn của tư bản là sự vận động của tư bản lần lượt trải qua ba
giai đoạn dưới ba hình thái kế tiếp nhau (tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất, tư bản hàng hóa) gắn với thực hiện những chức năng tương ứng (chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sản xuất giá trị thặng dư, sản xuất giá trị thặng dư, thực hiện giá trị tư bản và giá trị thặng dư) và quay trở về hình thái ban đầu cùng với giá trị thặng dư
Tuần hoàn tư bản phản ánh những mối quan hệ khách quan giữa các hoạt động cần kết hợp nhịp nhàng, kịp thời, đúng lúc trong quá trình sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường nói chung và kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa nói riêng Để sản xuất kinh doanh hiệu quả, chủ thể kinh doanh phải có các yếu tố sản xuất cần thiết với số lượng, chất lượng, cơ cấu phù hợp, phải có
đủ trình độ tổ chức sắp xếp và thực hiện công việc theo quy trình, đồng thời cần
có những điều kiện bên ngoài thuận lợi cho việc thực hiện quá trình đó, do đó, không những cần có nỗ lực to lớn của doanh nhân, mà còn cần tới sự hỗ trợ tích cực của nhà nước thông qua kiến tạo môi trường kinh doanh thuận lợi nhằm đảm bảo sự vận động liên tục, không bị gián đoạn của tư bản trong quá trình vận động
- Chu chuyển tư bản
Chu chuyển tư bản là tuần hoàn tư bản được xét là quá trình định kỳ, thường xuyên lặp đi lặp lại và đổi mới theo thời gian
Chu chuyển tư bản được đo lường bằng thời gian chu chuyển và tốc độ chu chuyển tư bản:
Thời gian chu chuyển tư bản là khoảng thời gian mà một tư bản kể từ khi được ứng ra dưới một hình thái nhất định cho đến khi quay trở về dưới hình thái
Trang 39đó cùng với giá trị thặng dư Thời gian chu chuyển tư bản bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông
Tốc độ chu chuyển tư bản là số lần mà một tư bản được ứng ra dưới một
hình thái nhất định quay trở về dưới hình thái đó cùng với giá trị thặng dư tính trong một đơn vị thời gian nhất định Thông thường tốc độ chu chuyển được tính bằng số vòng chu chuyển của tư bản trong thời gian 1 năm
Nếu ký hiệu số vòng chu chuyển của tư bản là n, thời gian của một năm là
CH, thời gian một vòng chu chuyển là ch, thì tốc độ chu chuyển của từng bộ phận tư bản được tính như sau:
Tốc độ chu chuyển có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, tác động trực tiếp đến tổng số giá trị thặng dư thu được trong một thời gian nhất định
f) Tư bản cố định, tư bản lưu động
Trong quá trình sản xuất ra sản phẩm, giá trị của các bộ phận tư bản được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm Xét theo phương thức chu chuyển giá trị của
tư bản sản xuất vào giá trị sản phẩm, tư bản được chia thành các bộ phận là tư bản cố định và tư bản lưu động
Tư bản cố định (ký hiệu c1) là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới hình thái tư liệu lao động tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất nhưng giá trị của
nó chỉ chuyển dần dần, từng phần vào giá trị sản phẩm theo mức độ hao mòn
Ví dụ: một cái máy có giá trị khi mua về là 1000 USD, được sử dụng trong 10 năm thì mỗi năm giá trị của máy này sẽ chuyển bình quân vào sản phẩm là 100 USD Bộ phận giá trị của tư bản cố định đã chuyển vào sản phẩm gọi là khấu hao tư bản cố định (Ký hiệu: Khc1)
Trong quá trình sử dụng, tư bản bị hao mòn Hao mòn của tư bản cố định bao gồm:
- Hao mòn hữu hình (sự mất mát về giá trị sử dụng và giá trị) do sử dụng
và tác động của tự nhiên gây ra
- Hao mòn vô hình (sự mất giá thuần túy) do sự tăng lên của năng suất lao động sản xuất tư liệu lao động và sự xuất hiện của những thế hệ tư liệu lao động mới có năng suất cao hơn Tác động này chủ yếu do tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất
Tư bản lưu động là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới hình thái sức lao động, nguyên nhiên vật liệu, vật liệu phụ, giá trị của nó được chuyển một lần, toàn phần vào giá trị sản phẩm khi kết thúc từng quá trình sản xuất
Trang 40m chỉ áp dụng trong trường hợp giả định tư bản cố định chuyển hết giá trị vào sản phẩm trong năm
Để thu được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao, các nhà tư bản phải nỗ lực rút ngắn thời gian chu chuyển hay đẩy nhanh tốc độ chu chuyển tư bản trên cơ
sở nắm vững các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian chu chuyển tư bản, đồng thời
sử dụng hiệu quả tư bản cố định và tư bản lưu động
3.1.2 Bản chất của giá trị thặng dƣ
a) Bản chất của giá trị thặng dư
Nghiên cứu về nguồn gốc của giá trị thặng dư trên đây cho chúng ta thấy, giá trị thặng dư là kết quả của quá trình tạo ra và làm tăng giá trị Giá trị thặng
dư có được khi nền sản xuất xã hội đã đạt đến một trình độ nhất định cho phép quá trình sản xuất có thể tạo ra được giá trị thặng dư
Quá trình tạo ra và làm tăng giá trị được diễn ra trong quan hệ xã hội giữa người mua và người bán hàng hóa sức lao động Do đó, nếu giả định xã hội chỉ
có hai giai cấp, là giai cấp tư sản và giai cấp công nhân, thì giá giá trị thặng dư
trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa mang bản chất kinh tế - xã hội là
quan hệ giai cấp, trong đó giai cấp các nhà tư bản làm giàu dựa trên cơ sở thuê
mướn lao động của giai cấp công nhân C.Mác gọi đó là quan hệ bóc lột và ông
đã mô tả được một thực tế, nhà tư bản đã không vi phạm quy luật kinh tế về trao đổi ngang giá thông qua ký hợp đồng thỏa thuận với người lao động làm thuê, song trong trao đổi ngang giá đó, giá trị thặng dư vẫn được tạo ra cho nhà tư bản bằng lao động sống chứ không phải do máy móc sinh ra Trong điều kiện ngày nay, quan hệ đó vẫn đang diễn ra nhưng với trình độ và mức độ rất khác, rất tinh
vi và dưới hình thức văn minh hơn so với cách mà nhà tư bản đã từng thực hiện trong thế kỷ XIX
b) Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư
Mục đích của nhà tư bản trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không những chỉ dừng lại ở mức có được giá trị thặng dư, mà quan trọng là phải thu được nhiều giá trị thặng dư, do đó cần có thước đo để đo lường giá trị thặng
dư về lượng
C.Mác sử dụng phạm trù tỷ suất và khối lượng giá trị thặng để đo lường