Hiện nay, một sốnhà đầu tư vẫn chưa hiểu rõ về phân tích cơ bản, ứng dụng của phân tích cơ bản, chính vì thế tôi đã chọn đề tài nghiên cứu luận văn là: “Ứng dụng phân tích cơ bản trong l
Trang 1-HỌ VÀ TÊN: NGUYỄN THỊ TUYẾN
LỚP: CQ55/19.02 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em, các sốliệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hìnhthực tế của đơn vị thực tập
Tác giả luận văn tốt nghiệp
Sinh viên
Tuyến Nguyễn Thị Tuyến
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG, HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH CƠ BẢN TRONG ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 3
1.1 Tổng quan về chứng khoán và thị trường chứng khoán 3
1.1.1 Chứng khoán 3
1.1.2 Những vấn đề chung của thị trường chứng khoán 3
1.1.2.1 Khái niệm và bản chất của thị trường chứng khoán 3
1.1.2.2 Vị trí của thị trường chứng khoán trong thị trường tài chính 4
1.1.2.3 Cấu trúc của thị trường chứng khoán 5
1.2 Phân tích cơ bản trong đầu tư chứng khoán 7
1.2.1.Khái niệm và mục tiêu của phân tích cơ bản 8
1.2.2 Vai trò của phân tích cơ bản 8
1.2.3 Quy trình phân tích cơ bản 9
1.2.3.1 Phân tích tình hình phát triển kinh tế vĩ mô 9
1.2.3.2 Phân tích về ngành 11
1.2.3.3 Phân tích doanh nghiệp 13
1.2.4 Các phương pháp định giá cổ phiếu 19
1.2.5 Ứng dụng của phân tích cơ bản 24
1.2.6 Mối quan hệ giữa phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật trong đầu tư chứng khoán 26
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH CƠ BẢN TRONG LỰA CHỌN ĐẦU TƯ VÀO CỔ PHIẾU NGÀNH NGÂN HÀNG TRÊN
HOSE TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VPS 29
2.1 Khái quát về TTCK Việt Nam 29
* Thực trạng phát triển của TTCK Việt Nam 29
2.2 Giới thiệu về công ty chứng khoán VPS 33
2.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 33
2.2.2 Sản phẩm, dịch vụ 34
2.2.3 Mục tiêu chiến lược 34
2.2.4 Tầm nhìn: 34
2.2.5 Sứ mệnh: 35
2.2.6 Giá trị cốt lõi: 35
2.3 Thực trạng hoạt động phân tích cơ bản tại công ty Chứng khoán VPS 35
2.3.1Tình hình tài chính của công ty 35
2.3.1.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty 35
2.3.1.2 Tình hình tài chính 38
1.3.2 Các chỉ số tài chính 40
2.4 Phân tích vĩ mô nền kinh tế 42
2.4.1 Tình hình kinh tế vĩ mô 42
2.4.1.1 Tình hình kinh tế thế giới 42
2.4.1.2 Tình hình kinh tế Việt Nam 45
2.5 Phân tích ngành Dầu Khí 47
2.6 Phân tích cơ bản về một số cổ phiếu nhóm ngành Dầu Khí tại CTCKCK VPS 52
2.7 Những hạn chế của việc ứng dụng phân tích cơ bản 64
Trang 5CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH CƠ BẢN TRONG LỰA CHỌN CƠ HỘI ĐẦU TƯ VÀO CỔ PHIẾU
NGÀNH DẦU KHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VPS 65
3.1 Định hướng phát triển tại công ty chứng khoán VPS 65
3.1.1 Định hướng phát triển của công ty chứng khoán VPS 65
3.1.2 Định hướng phát triển trong giai đoạn 2020-2025 của TTCK 66
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng phân tích cơ bản trong lựa chọn cơ hội đầu tư vào cổ phiếu ngành Dầu khí tại công ty cổ phần Chứng Khoán VPS 68
3.2.1 Giải pháp từ phía thị trường 68
3.2.2 Giải pháp từ phía công ty chứng khoán VPS 69
3.3, Điều kiện thực hiện các giải pháp 71
3.3.1 Điều kiện về thông tin 71
3.3.2 Điều kiện về hành nghề phân tích 72
3.3.3 Điều kiên về TTCK 72
3.3.3.1 TTCK phải có tính thanh khoản cao 72
3.3.3.2 Chi phí tham gia vào TTCK phải thấp 72
3.3.3.3 Các NĐT phải quan tâm đến rủi ro trong ĐTCK 73
3.3.3.4 Số lượng các NĐT và các hàng hoá trên TTCK phải nhiều 73
3.3.4 Điều kiện về nguồn lực PTCB 74
3.3.5 Điều kiện về công cụ phân tích 74
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC Báo cáo tài chính
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
CTCK Công ty chứng khoán
DN Doanh nghiệp
ĐTCK Đầu tư chứng khoán
GAS Tổng công ty Khí Việt Nam
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
HOSE Sở giao dịch chứng khoán TP HCM
HTK Hàng tồn kho
LNST Lợi nhuận sau thuế
NĐT Nhà đầu tư
NPT Nợ phải trả
OTC Thị trường phi tập trung
PLX Tâp đoàn xăng dầu Việt Nam
Trang 8Bảng 2.3:Thị phần môi giới CTCK tại sàn HNX năm 2020 38
Bảng 2.4: Tình hình tài chính của CTCK VPS 39
Bảng 2.5.Các chỉ số tài chính ngành hiện nay 48
Bảng 2.6 : Bảng đánh giá tình hình hoạt động công ty .54
Bảng 2.7.Bảng cân đối kế toán .55
Bảng 2.8: Bảng đánh giá tình hình hoạt động công ty .59
Bảng 2.9.Bảng cân đối kế toán .60
Y Hình 2.1: Thị trường chứng khoán Việt nam trong 20 năm 30
Hình 2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty qua các năm 35
Hình 2.3: Các chỉ số tài chính 40
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán Việt Nam sau hơn 20 năm hình thành và hoạt độngđang ngày càng phát triển về quy mô và chiều sâu trên cơ sở tái cấu trúc lạitoàn bộ thị trường Khuôn khổ pháp lý, cơ sở hạ tầng, các định chế ngày càngcần được hoàn thiện cho việc nâng cao chất lượng hoạt động thị trường và sự
ra đời của các sản phẩm mới Với sự phát triển của thị trường chứng khoán,thông tin luôn là yếu tố then chốt, nhạy cảm và ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành
vi của tất cả các đối tượng tham gia thị trường Những thông tin của công ty
sẽ được phân tích qua các phòng phân tích thị trường, các phòng tự doanh củacông ty Dựa trên các ứng dụng của phân tích cơ bản, các thông tin của doanhnghiệp sẽ được phân tích một cách rõ ràng và minh bạch Hiện nay, một sốnhà đầu tư vẫn chưa hiểu rõ về phân tích cơ bản, ứng dụng của phân tích cơ
bản, chính vì thế tôi đã chọn đề tài nghiên cứu luận văn là: “Ứng dụng phân tích cơ bản trong lựa chọn cơ hội đầu tư vào cổ phiếu ngành Dầu Khí trên HOSE tại Công ty cổ phần Chứng khoán VPS”.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là nâng cao tính hiệu quả của các ứng dụngphân tích cơ bản tại công ty Cổ phần Chứng khoán VPS
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các cổ phiếu ngành Dầu Khí đang niêm yết tạiHOSE Danh mục thị trường đang sử dụng là chỉ số VN-Index
Phạm vi nghiên cứu là các cổ phiếu ngành Dầu Khí trên HOSE từ giai đoạn
2018 đến năm 2020 và định hướng trong thời gian tới
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp trong phân tích cơ bản như phương phápđịnh giá so sánh dựa vào hệ số P/E để xác định giá trị của các cổ phiếu, kếthợp với phương pháp so sánh, phân tích khác để phân tích giá trị nội tại của
Trang 10các cổ phiếu ngành Chứng khoán niêm yết trên sở giao dịch chứng khoánthành phố Hồ Chí Minh.
4 Kết cấu của đề tài
Nội dung của đề tài được chia làm 3 chương lớn, cụ thể như sau:
Chương 1: Lý luận chung về phân tích cơ bản trong ĐTCK.
Chương 2: Thực trạng ứng dụng phân tích cơ bản trong lựa chọn cơ hội đầu tư vào cổ phiếu ngành Dầu Khí trên HOSE tại Công ty Cổ phần Chứng Khoán VPS.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng phân tích cơ bản trong lựa chọn cơ hội đầu tư vào các cổ phiếu ngành dầu khí.
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH CƠ BẢN TRONG
Trang 111.1 Tổng quan về chứng khoán và thị trường chứng khoán
1.1.1 Chứng khoán
Chứng khoán là hàng hoá của TTCK, là một tài sản tài chính có thểgiao dịch; Chứng khoán có thể được thể hiện bằng chứng chỉ hoặc thôngthường hơn là "không được chứng nhận", ở dạng chỉ điện tử (phi vật chất hóa)hoặc "bút toán" Đó là những tài sản tài chính vì nó mang lại thu nhập và khicần người sở hữu nó có thể bán nó để thu tiền về Theo sự phát triển của thịtrường, hàng hoá ngày càng phong phú và đa dạng, nhưng tựu chung lại,người ta thường phân chia chứng khoán thành cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉquỹ đầu tư, các công cụ chuyển đổi và các công cụ phái sinh
1.1.2 Những vấn đề chung của thị trường chứng khoán
1.1.2.1 Khái niệm và bản chất của thị trường chứng khoán
Theo quan niệm đầy đủ và rõ ràng, phù hợp với sự phát triển chung củaTTCK hiện nay, thì TTCK là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi cácloại chứng khoán Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hay búttoán ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sảncủa tổ chức phát hành hoặc quyền sở hữu Các quyền yêu cầu này có sự khácgiữa các loại chứng khoán, tùy theo tính chất sở hữu của chúng Các quan hệmua bán, trao đổi trên TTCK làm thay đổi chủ sở hữu của chứng khoán, vànhư vậy, thực chất đây chính là quá trình vận động của tư bản, chuyển từ tưbản sở hữu sang tư bản kinh doanh
Hàng hoá trên TTCK là một loại hàng hoá đặc biệt Loại hàng hoá nàycũng có giá trị và giá trị sử dụng Như vậy, bản chất của TTCK là thị trườngthể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó, giá cả củachứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư.TTCK là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hoá
Trang 12Qua đó có thể thấy, TTCK đã cung cấp môi trường đầu tư cho côngchúng, huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế, tạo tính thanh khoản cho chứngkhoán, đánh giá hoạt động của DN, tạo môi trường giúp chính phủ thực hiệncác chính sách kinh tế vĩ mô.
Các chủ thể tham gia trên TTCK gồm có: chủ thể phát hành (bao gồmChính phủ, các DN, và một số tổ chức khác như: các Quỹ đầu tư, tổ chức tàichính trung gian…); NĐT (là những người có tiền, thực hiện việc mua và bánchứng khoán trên TTCK để tìm kiếm lợi nhuận, bao gồm NĐT cá nhân vàNĐT có tổ chức) các tổ chức có liên quan đến TTCK (như cơ quan quản lý vàgiám sát hoạt động TTCK, SGD chứng khoán, hiệp hội các nhà kinh doanhchứng khoán, tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán, các tổ chức
hỗ trợ, các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm)
TTCK hoạt động dựa trên một số các nguyên tắc cơ bản đó là nguyêntắc công khai (nguyên tắc này phải thoả mãn yêu cầu về thông tin chính xác,kịp thời, dễ tiếp cận), nguyên tắc trung gian (trên TTCK các giao dịch đượcthực hiện thông qua các tổ chức trung gian là các CTCK), nguyên tắc đấu giá(mọi việc mua bán chứng khoán trên TTCK đều hoạt động trên nguyên tắcđấu giá, và do mối cung cầu trên thị trường quyết định)
1.1.2.2 Vị trí của thị trường chứng khoán trong thị trường tài chính
TTCK là một bộ phận của thị trường tài chính Vị trí của TTCK trongtổng thể thị trường tài chính thể hiện:
Trang 13Một là: TTCK là hình ảnh đặc trưng của thị trường vốn
Thời gian đáo hạn 1 năm t
Hai là, TTCK là hạt nhân trung tâm của thị trường tài chính, nơi diễn ra
quá trình phát hành, mua bán các công cụ Nợ và công cụ Vốn (các công cụ sở hữu
1.1.2.3 Cấu trúc của thị trường chứng khoán
Tuỳ vào mục đích nghiên cứu, cấu trúc của TTCK có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau Tuy nhiên, thông thường, ba cách thức cơ bản để phân loại TTCK đó là: phân loại theo hàng hoá, phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường và phân loại theo quá trình luân chuyển vốn
- Phân loại theo hàng hoá: theo các loại hàng hoá được mua bán trên
thị trường, người ta có thể phân TTCK thành thị trường trái phiếu, thị trường
cổ phiếu và thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh
TTCK
…Thị trường vốn……
………
………
………
………
………
………
Thị trường tiền tệ Thị trường nợ ………
………
………
………
………
………
………
Thị trường vốn cổ phần TTCK
Trang 14Thị trường cổ phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các loại cổ
phiếu, bao gồm cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi
Thị trường trái phiếu: là thị trường giao dịch và mua bán các trái phiếu
đã được phát hành, bao gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu đô thị và tráiphiếu công ty
Thị trường các công cụ chứng khoán phái sinh: là thị trường phát hành
và mua đi bán lại các chứng khoán phái sinh đã phát hành như: quyền mua cổphiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn…
- Theo quá trình luân chuyển vốn: TTCK được phân thành thị trường
sơ cấp và thị trường thứ cấp
Thị trường sơ cấp: là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát
hành Trên thị trường này, vốn từ NĐT sẽ được chuyển sang nhà phát hànhthông qua việc NĐT mua các chứng khoán mới phát hành
Thị trường thứ cấp: là nơi giao dịch các chứng khoán đã phát hành trên
thị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho cácchứng khoán đã phát hành
- Theo hình thức tổ chức của thị trường, TTCK được phân thành: thị
trường tập trung (SGD chứng khoán) và thị trường phi tập trung (thị trườngOTC)
Tại SGD chứng khoán, người mua và người bán (hoặc đại lý, môi giới
của họ) gặp nhau tại một địa điểm nhất định để tiến hành giao dịch mua bán,trao đổi chứng khoán SGD chứng khoán được quản lý chặt chẽ bởi Uỷ banchứng khoán quốc gia, các giao dịch chịu sự điều chỉnh của Luật chứng khoán
Trang 15Ở thị trường này không có địa điểm giao dịch chính thức mà có thể diễn ra ởtất cả các quầy, sàn giao dịch của các thành viên thông qua điện thoại haymạng máy tính diện rộng
Ngoài hai loại thị trường nêu trên, người ta còn nói đến thị trường thứ
ba, thị trường tự do dành cho các chứng khoán không đủ tiêu chuẩn để giaodịch trên thị trường tập trung và thị trường OTC Ngoải ra, người ta còn phânloại TTCK thành thị trường đàm phán và thị trường mở, thị trường giao ngay
và thị trường kỳ hạn
1.2 Phân tích cơ bản trong đầu tư chứng khoán
Phân tích chứng khoán là hoạt động quan trọng nhằm hỗ trợ cho việc raquyết định đầu tư Phân tích chứng khoán là bước khởi đầu cho hoạt độngĐTCK Mục tiêu của phân tích chứng khoán là giúp cho NĐT chứng khoánlựa chọn được các quyết định ĐTCK có hiệu quả nhất, mang lại lợi nhuận tối
đa với rủi ro tối thiểu Kết quả phân tích chứng khoán phải làm rõ được cáccăn cứ cho sự lựa chọn quyết định đầu tư Nó phải trả lời được các câu hỏi cơbản: khi nào thì nên đầu tư, nên đầu tư vào loại chứng khoán nào và với giá cả
ra sao, khi nào thì nên rút khỏi thị trường…Để đạt được kết quả đó, việc phântích chứng khoán cần được tiến hành theo một quy trình cụ thể và khoa học
Phân tích chứng khoán có thể tiến hành theo quy trình từ trên xuốnghoặc từ dưới lên Theo phương pháp phân tích từ trên xuống, người ta thườngbắt đầu từ những phân tích khái quát về tình hình kinh tế vĩ mô cả trong nước
và quốc tế, xem xét những ảnh hưởng, tác động của nó đến hoạt động của các
DN và TTCK, sau đó mới đi đến phân tích tình hình của ngành kinh doanh vàcuối cùng là hoạt động của từng DN, công ty riêng biệt Phương pháp phântích chứng khoán từ dưới lên bắt đầu từ phân tích, đánh giá hoạt động kinhdoanh của một công ty cụ thể và đặt nó trong mối liên hệ tương quan giữahoạt động của công ty với môi trường kinh doanh bên ngoài là tình hình hoạtđộng của ngành hoặc nền kinh tế
Trang 16Trong hoạt động ĐTCK có hai phương pháp phân tích chủ yếu được sửdụng là phương pháp PTCB (phân tích tài chính) và phân tích kỹ thuật PTCBgiúp cho NĐT có thể lựa chọn kết cấu danh mục đầu tư phù hợp Phân tích kỹthuật giúp cho các nhà quản lý có thể lựa chọn được thời điểm và chiến lượcmua bán chứng khoán tuỳ theo diễn biến của thị trường.
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu của phân tích cơ bản
PTCB là phương pháp nghiên cứu các thông tin về tình hình kinh tế xãhội, tình hình kinh doanh của ngành, các thông tin tài chính công ty như cổtức, lợi nhuận, báo cáo thu nhập, bảng cân đối kế toán nhằm xác định mộtgiá trị hợp lý của một loại chứng khoán hoặc các chứng khoán trên thị trường
Khi người đầu tư mua một loại chứng khoán trên thị trường sơ cấp haythị trường thứ cấp với ý định nắm giữ lâu dài đều muốn biết rằng giá chứngkhoán mà người ta chào bán cho mình có hợp lý hay không, tức là có phù hợpvới giá trị của công ty phát hành ra chứng khoán đó hay không Muốn vậy,phải tiến hành PTCB để tìm ra giá trị nội tại của chứng khoán
1.2.2 Vai trò của phân tích cơ bản
Đối với nhà đầu tư: mục tiêu cuối cùng của phân tích cơ bản là giúp cho
nhà đầu tư tài chính lựa chọn được các quyết định đầu tư chứng khoán có hiệuquả nhất, mang lại lợi nhuận tối đa với rủi ro tối thiểu
Đối với công ty chứng khoán: giúp đưa ra những khuyến nghị chính xác
nhất cho khách hàng từ đó cải thiện chất lượng dịch vụ tư vấn Ngoài ra cònphục vụ vào mảng tự doanh của công ty
Kết quả phân tích cơ bản phải làm rõ các căn cứ khoa học của việc lựachọn quyết định đầu tư Nó phải trả lời được các câu hỏi cơ bản: khi nào thìnên đầu tư, đầu tư vào loại tài sản tài chính nào và với giá cả ra sao, khi nàothì nên rút khỏi thị trường… Để đạt được kết quả đó, việc phân tích cơ bảncần được tiến hành theo một quy trình cụ thể và sử dụng các phương pháp
Trang 171.2.3 Quy trình phân tích cơ bản
1.2.3.1 Phân tích tình hình phát triển kinh tế vĩ mô
Phân tích vĩ mô về thực chất là phân tích các điều kiện hoặc yếu tố bênngoài có tác động ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp và thị trườngtài chính
Các điều kiện hoặc yếu tố môi trường thuộc môi trường vĩ mô có thểxem xét ở những nội dung khác nhau Khái quát lại trong phân tích vĩ môngười ta thường xem xét các khía cạnh chủ yếu là môi trường chính trị - xãhội, môi trường kinh tế tài chính, môi trường pháp luật và môi trường hợp tác
và hội nhập kinh tế quốc tế
Phân tích tình hình kinh tế - chính trị - xã hội:
Môi trường chính trị xã hội có mối quan hệ chặt chẽ và sự tác độngmạnh mẽ đối với hoạt động của các doanh nghiệp và nền kinh tế Một đấtnước muốn phát triển kinh tế phải giữ vững được sự ổn định về môi trườngchính trị xã hội trên cơ sở tạo dựng được sự đồng thuận cao giữa các tầng lớpdân cư trong xã hội Sự ổn định của môi trường chính trị xã hội của đất nước
đó vừa là điều kiện vừa là biện pháp bảo đảm cho sự phát triển của các doanhnghiệp và nền kinh tế Ngược lại nếu môi trường chính trị xã hội của đất nướckhông ổn định vì bất kể vì lý do gì cũng sẽ gây ra những tổn thất làm giánđoạn hoặc gây hậu quả xấu cho các hoạt động của các doanh nghiệp và nềnkinh tế
Phân tích môi trường pháp luật:
Môi trường pháp luật bao gồm toàn bộ hệ thống các văn bản quy phạmpháp luật do các cấp có thẩm quyền ban hành và các quy phạm thủ tục hànhchính trong thực thi pháp luật Môi trường pháp luật cũng có tác động rất lớnđến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp và thị trường tài chính Hoạt động củathị trường tài chính liên quan hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật chiphối hoạt động của các nhà đầu tư, nhà kinh doanh, nhà môi giới, nhà phát
Trang 18hành, các tổ chức quản lý, giám sát hỗ trợ hoạt động của thị trường Vì thế thịtrường tài chính chỉ có thể hoạt động hiệu quả khi hệ thống các văn bản quyphạm pháp luật được ban hành đầy đủ, đồng bộ, minh bạch, ổn định và thựcthi hiệu quả.
Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô:
Các yếu tố kinh tế vĩ mô của nền kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến cáchoạt động của các doanh nghiệp và thị trường tài chính nói chung, thị trườngchứng khoán nói riêng do có liên quan trực tiếp đến mức rủi ro hệ thống trênthị trường Có nhiều chỉ tiêu phản ánh trạng thái kinh tế vĩ mô đất nước Khiphân tích người ta thường xem xét sự biến động của các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô
cơ bản nhưng tổng sản phẩm quốc nội tổng (GDP), tốc độ tăng trưởng GDP,
tỷ lệ tăng trưởng vốn đầu tư trên tỷ lệ tăng trưởng GDP (ICOR), cân bằng thuchi ngân sách và mức bội chi ngân sách, tỷ lệ người lao động có việc làmhoặc tỷ lệ người thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát, lãi suất thị trường, tỷ giá hối đoái,mức thu nhập của dân cư, tổng kinh ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thanhtoán quốc tế, chỉ số giá tài sản tài chính trên thị trường… Các yếu tố vĩ mô cơbản trên đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động đầu tư trên thịtrường tài chính
Tác động của độ mở hình kinh tế và năng lực cạnh tranh :
Ngày nay hợp tác, mở cửa hội nhập kinh tế đã trở thành một xu thế tấtyếu trong phát triển nền kinh tế của mỗi nước Mở cửa và hội nhập kinh tếvừa đem lại những thời cơ trong đồng thời cũng đem lại những thách thứcnguy cơ đối với nền kinh tế của mỗi nước Các nước có điều kiện mở rộnggiao lưu quốc tế tiếp cận được nhiều công nghệ kỹ thuật hiện đại, nhiềunguồn lực tài chính và kinh nghiệm quản lý tiên tiến cho phát triển kinh tế đấtnước Tuy nhiên mặt trái của toàn cầu hóa là làm gia tăng sức ép cạnh tranh
và sự thua thiệt của các nước có nền kinh tế kém phát triển Vì thế để tránh
Trang 19nước chậm phát triển thường thực hiện một lộ trình mở cửa, hội nhập phù hợp
để vừa thích ứng dần với nền kinh tế thế giới vừa bảo vệ nền kinh tế trongnước theo những cam kết nhất định, trong đó các cam kết về thuế quan vàthương mại có vị trí đặc biệt quan trọng
1.2.3.2 Phân tích về ngành
Phân tích ngành kinh doanh mục đích của phân tích ngành là nhằm giúpcho nhà đầu tư thấy rõ những lợi thế và rủi ro có thể gặp khi quyết định đầu tưvào tài sản tài chính của một doanh nghiệp hoạt động trong một ngành kinhdoanh cụ thể nội dung cần thực hiện trong phân tích ngành bao gồm Phân tíchcác đặc điểm và chu kỳ kinh doanh của ngành, xác định hệ số rủi ro củangành kinh doanh, mức doanh lợi kỳ vọng đạt được và hệ số tài chính kháccủa ngành kinh doanh
Phân tích đặc điểm kinh tế-kĩ thuật và chu kỳ kinh doanh của ngành:
Mỗi ngành kinh doanh thường có đặc điểm riêng về mặt kinh tế và kỹ thuật,những yêu cầu khác nhau về công nghệ sản xuất, chu kỳ kinh doanh Cóngành đòi hỏi phải có vốn đầu tư lớn, chu kỳ kinh doanh dài, song cũng cóngành được lại chỉ thích hợp với quy mô vừa hoặc nhỏ, chu kỳ kinh doanhngắn Mỗi ngành kinh doanh cũng có những lợi thế và bất lợi trong cạnh tranhkhác nhau Những đặc điểm này thường chi phối, ảnh hưởng rất lớn đến cácquyết định trong huy động vốn, sử dụng vốn và lựa chọn các dự án đầu tư củadoanh nghiệp Vì thế việc phân tích ngành đòi hỏi trước hết phải làm rõ cácđặc điểm kinh doanh của ngành, các cơ hội và thách thức trong cạnh tranh củangành kinh doanh, làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược phát triển kinhdoanh của doanh nghiệp và ngành
Đánh giá mức độ rủi ro và khả năng sinh lợi của ngành kinh doanh:
Mỗi ngành kinh doanh khác nhau cũng có mức độ rủi ro và khả năng sinh lờikhác nhau Việc xác định mức độ rủi ro và khả năng sinh lời của ngành giúptrong nhà đầu tư lựa chọn được ngành đầu tư có hiệu quả cao ví dụ rủi ro tối
Trang 20thiểu hoặc mức độ rủi ro có thể chấp nhận được.
Để đánh giá rủi ro và khả năng sinh lời của ngành kinh doanh người tathường phân tích xem xét các chỉ tiêu cơ bản sau:
Hệ số rủi ro () của ngành kinh doanh: Hệ số rủi ro hệ số beta của ngành
kinh doanh là hệ số đo lường mức độ biến động lợi nhuận cổ phiếu của ngànhkinh doanh so với biến động của lợi nhuận danh mục thị trường cổ phiếu, do
đó nó cũng phản ánh mức độ rủi ro của ngành kinh doanh Nói cách khác nóphản ánh nếu lợi nhuận danh mục thị trường cổ phiếu thay đổi 1% thì lợinhuận cổ phiếu ngành sẽ thay đổi bao nhiêu phần trăm Nếu hệ số beta ngàycàng lớn thì mức độ rủi ro của ngành càng cao và ngược lại Nếu beta = 1 cómức độ rủi ro cổ phiếu của ngành với mức độ rủi ro danh mục thị trường cổphiếu
Lợi nhuận trên tổng tài sản ROA: là một chỉ số thể hiện tương quangiữa mức sinh lợi của một công ty so với chính tài sản của nó ROA sẽ cho tabiết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời Chỉ số ROAgiúp các nhà đầu tư có cái nhìn rõ ràng hơn về độ hiệu quả sử dụng tài sản củadoanh nghiệp, trước khi đưa ra quyết định đầu tư của mình
Phân tích hệ số P/E của ngành: Hệ số P/E phản ánh thị trường trả giá
như thế nào cho 1 đồng thu nhập sau thuế của cổ phiếu các công ty thuộcngành Nếu hệ số P/E cao chứng tỏ các công ty thuộc ngành kinh doanh cóhiệu quả nên được thị trường đánh giá cao và ngược lại Việc phân tích hệ sốP/E thường được xem xét trên 2 góc độ: (I) xem xét mối quan hệ giữa hệ số P/
E của ngành và hệ số biến P/E tổng thể của thị trường để thấy được tín hiệutín hiệu quả trong hoạt động của công ty thuộc ngành so với các ngành kháctrên thị trường như thế nào; (II) xem xét các nhân tố ảnh ngành ảnh hưởng tácđộng đến hệ số P/E ngành như hệ số chi trả cổ tức, mức doanh lợi đòi hỏi, tỷ
lệ tăng trưởng lợi tức hàng năm,… để thấy các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến
Trang 21chênh lệch và biến động trên P/E tối đa và P/E tối thiểu của ngành kinhdoanh Nếu mức độ chênh lệch này lớn thường xuyên biến đổi chứng tỏdoanh nghiệp trong ngành kinh doanh không ổn định mức độ rủi ro cao vàngược lại
Thu nhập bình quân trên một cổ phiếu ngành kinh doanh (EPS/cổ phiếu ngành): thu nhập bình trên một cổ phiếu của ngành phản ánh số tuyệt
đối về lợi nhuận sau thuế đạt được bình quân trên một cổ phiếu của ngànhkinh doanh Việc ước tính thu nhập bình quân trên một cổ phiếu của ngànhkinh doanh được xác định dựa trên cơ sở ước tính lợi nhuận sau thuế vào tổng
số cổ phiếu đang lưu hành của các doanh nghiệp thuộc ngành kinh doanh.Thu nhập bình quân trên một cổ phiếu của ngành kinh doanh càng cao thì khảnăng sinh lời của cổ phiếu càng lớn và ngược lại Tuy nhiên các cổ phiếungành có thu nhập bình quân càng cao thì đồng thời tiềm ẩn khả năng rủi rongành cao hơn
Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) : là lợi nhuận trên vốn chủ sở
hữu hay lợi nhuận trên vốn ROE được tính bằng cách lấy lãi ròng sau thuếchia cho tổng giá trị vốn chủ sở hữu dựa vào bảng cân đối kế toán và bảngbáo cáo tài chính cuối kỳ này (6 tháng đầu năm, 6 tháng cuối năm) Chỉ sốROE phản ánh cả chỉ tiêu về lợi nhuận, được thể hiện trên Báo cáo Kết quảkinh doanh (KQKD) và chỉ tiêu vốn chủ sở hữu bình quân, trên Bảng cân đối
kế toán
Việc thực hiện phân tích các chỉ tiêu của ngành trên đây rất thuận lợi nếu
có sẵn các số liệu được công bố trên thị trường về hệ số rủi ro, hệ số P/E củangành cũng như các chỉ số khác của toàn bộ thị trường
1.2.3.3 Phân tích doanh nghiệp
- Chiến lược kinh doanh
Chiến lược kinh doanh là phương pháp, cách thức hoạt động kinh doanhcủa một công ty, tập đoàn trong lĩnh vực kinh doanh, nhằm đạt được hiệu quả
Trang 22kinh doanh tối ưu Chiến lược kinh doanh là nội dung tổng thể của một kếhoạch kinh doanh có trình tự, gồm một chuỗi các biện pháp, cách thức kinhdoanh chủ yếu xuyên suốt một thời gian dài Mục tiêu cuối cùng là hướng tớiviệc thúc đẩy lợi nhuận cao nhất và sự phát triển của hệ thống kinh doanh.
- Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là việc xem xét đánh giá kếtquả của quá trình quản lý và điều hành tài sản tài chính doanh nghiệp thôngqua các số liệu trên báo cáo tài chính
+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán: xét về mặt thời gian thì
công ty có các khoản nợ ngắn hạn, nợ trung và dài hạn Vấn đề quan tâm hàngđầu của các nhà đầu tư, các chủ nợ là liệu số vốn họ bỏ ra đầu tư có thu hồi lạiđược không, mức độ rủi ro là bao nhiêu Các chỉ tiêu thường được dùng gồmcác chỉ tiêu sau:
- Hệ số thanh toán tổng quát = Tổng nợ phảitrả Tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết tổng tài sản của doanh nghiệp có đảm bảo khảnăng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hay không Chỉ tiêu này càngcao càng tốt nhân tố góp phần vào ổn định tình hình tài chính của doanhnghiệp
- Hệ số thanh toán hiện hành = Tổng giá trị tài sản ngắn hạn Tổngnợ ngắn hạn
Tỷ số này cho biết cứ mỗi đồng nợ ngắn hạn mà doanh nghiệp đanggiữ, thì doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản lưu động có thể sử dụng đểthanh toán Nếu tỷ số này nhỏ hơn 1 thì có nghĩa là doanh nghiệp không đủ tàisản có thể sử dụng ngay để thanh toán khoản nợ ngắn hạn sắp đáo hạn Khiđánh giá tình hình thanh khoản của doanh nghiệp, người phân tích thường sosánh tỷ số thanh khoản của một doanh nghiệp với tỷ số thanh khoản bìnhquân của toàn ngành mà doanh nghiệp đó tham gia
Trang 23- Hệ số thanh toán nhanh = Tàisản ngắnhạn−Vốn vật tư hàng hóa Tổng nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằngcác bộ phận tài sản có khả năng thanh khoản cao của doanh nghiệp Chỉ tiêunày quá cao hoặc quá thấp đều không tốt Nó ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụngvốn và tình hình tài chính của doanh nghiệp
+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro tài chính:
- Hệ số nợ = Tổng nợ phảitrả Tổng nguồn vốn
Hệ số này cho biết sử dụng một đồng vốn kinh doanh thì có bao nhiêuđồng vay nợ Thông thường các chủ nợ thích hệ số nợ nhỏ vì đảm bảo mức antoàn cao về tài chính của doanh nghiệp Ngược lại nhiều nhà quản trị doanhnghiệp lại sẵn sàng chấp nhận tỷ lệ tổng nợ phải trả trên tổng tài sản cao vì chỉcần bỏ ra một lượng vốn nhỏ được sử dụng một lượng tài sản lớn Hệ số nàyđược các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp sử dụng như một đòn bẩy để giatăng tỷ suất lợi nhuận nếu họ có năng lực quản trị kinh doanh quản trị tàichính doanh nghiệp hiệu quả Nếu hệ số này quá cao do tài chính sẽ nhanhchóng gia tăng doanh nghiệp dễ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán
- Hệ số tự tài trợ = Nguồn vốn chủ sở hữu Tổng nguồn vốn
Hệ số tự tài trợ = 1 - Hệ số nợ
Hệ số này phản ánh mức độ độc lập hay phụ thuộc của doanh nghiệpđối với các chủ nợ, khả năng tự tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp Đó làthước đo sự góp vốn của cổ đông trong tổng số vốn vào doanh nghiệp đangquản lý và sử dụng (phản ánh sức ép hoặc ràng buộc của các khoản nợ vay)
Tỷ suất này càng cao càng đảm bảo an toàn cho các món nợ
+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản: hiệu quả sử dụng
vốn luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Do đó, thôngqua phân tích các chỉ tiêu phản ánh khả năng hoạt động cho biết trình độ sử
Trang 24dụng các nguồn lực đạt kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất.
- Vòng quay toàn bộ vốn =Tổng vốn bìnhquân Doanh thuthuần
Vòng quay toàn bộ vốn hay còn gọi là hiệu suất sử dụng toàn bộ vốnchỉ tiêu này nói lên cứ một đồng vốn sử dụng bình quân tạo ra bao nhiêu đồngdoanh thu thuần hay vốn của doanh nghiệp trong kỳ quay được bao nhiêuvòng Chỉ tiêu này có thể đánh giá trình độ quản lý vốn có hiệu quả như thếnào Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp càngcao lợi nhuận càng có khả năng gia tăng góp phần tăng khả năng cạnh tranh,tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
- Vòng quay hàng tồn kho = Hàngtồn kho bìnhquân trong kỳ Giá vốn hàng bán
Tỷ số cho biết hàng tồn kho quay bao nhiêu vòng trong kỳ để tạo ra sốdoanh thu được ghi nhận trong kỳ đó Tỷ số càng cao có thể là dấu hiệu doanhnghiệp hoạt động có hiệu quả Chỉ số này thể hiện khả năng quản trị hàng tồnkho hiệu quả như thế nào Chỉ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng chothấy doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiềutrong doanh nghiệp Có nghĩa là doanh nghiệp sẽ ít rủi ro hơn nếu nhìn thấytrong báo cáo tài chính, khoản mục hàng tồn kho có giá trị giảm qua các năm
- Vòng quay các khoản phải thu = Số dư bình quân các khoản phảithu Doanhthuthuần
Chỉ số vòng quay các khoản phải trả năm nay nhỏ hơn năm trước chứng
tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán chậm hơn năm trước Ngượclại, nếu Chỉ số Vòng quay các khoản phải trả năm nay lớn hơn năm trướcchứng tỏ doanh nghiệp chiếm dụng vốn và thanh toán nhanh hơn năm trước.Nếu chỉ số Vòng quay các khoản phải trả quá nhỏ (các khoản phải trả lớn), sẽtiềm ẩn rủi ro về khả năng thanh khoản Tuy nhiên, cũng cần lưu ý việc chiếmdụng khoản vốn này có thể sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí về vốn,đồng thời thể hiện uy tín về quan hệ thanh toán đối với nhà cung cấp và chất
Trang 25lượng sản phẩm đối với khách hàng.
- Vòng quay vốn lưu động = Vốnlưu động bình quân Doanhthuthuần
Đây là chỉ tiêu nói lên số lần quay (vòng quay) của vốn lưu động trongmột thời kỳ nhất định (thường là một năm), chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sửdụng vốn lưu động trên mối quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất (tổngdoanh thu thuần) và số vốn lưu động bình quân bỏ ra trong kỳ Số vòng quayvốn lưu động trong kỳ càng cao thì càng tốt
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định = Vốncố định bìnhquân Doanhthuthuần
Hiệu suất sử dụng vốn cố định dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
cố định nghĩa là cứ đầu tư trung bình 1 đồng vào vốn cố định thì tạo ra baonhiêu đồng doanh thu thuần khi phân tích Chỉ tiêu này cần xem xét cơ cấucác loại tài sản cố định phải cân nhắc trước khi đầu tư vào tài sản cố định mớihoặc đánh giá mức khấu hao tài sản cố định đã hợp lý chưa
+ Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi và phân phối lợi nhuận:
với các nhà đầu tư thì đây là một nhóm chỉ tiêu có ý nghĩa rất quan trọng vì
nó gắn liền với lợi ích kinh tế của họ, nó là cơ sở để đánh giá kết quả kinhdoanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định và là căn cứ để các nhàquản lý đưa ra các quyết định tài chính trong tương lai
- Hệ số sinh lợi doanh thu (ROS) = Lợi nhuận sauthuế Doanhthuthuần
Chỉ tiêu này cho biết khả năng tạo ra lợi nhuận bởi nguồn thu từ hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp ROS cho biết một đồng doanh thu thì cóbao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế
- Hệ số sinh lợi tổng tài sản (ROA) = Lợi nhuận sau thuế Tổng giá trị tài sản
Chỉ tiêu này cho biết khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp từ tàisản Chỉ tiêu này càng cao càng tốt chứng tỏ doanh tài sản của doanh nghiệpđược sử dụng hiệu quả là nhân tố góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
Trang 26ROA cho biết cứ 1 đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
- Hệ số sinh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) = Lợi nhuận sauthuế Vốn chủ sở hữu
ROE cho biết cứ một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra được bao nhiêu đồnglợi nhuận sau thuế chỉ tiêu
- Thu nhập trên mỗi CP thường(EPS) =
Lợi nhuận sau thuế −Cổ tức CPưu đãi
Số lượngCP thườngđang lưu hành
EPS là chỉ tiêu được các nhà đầu tư quan tâm, bởi lẽ là căn cứ để chi trả
cổ tức và là căn cứ đối với sự tăng lên của giá trị của cổ phiếu thường EPSđược xem là biến số quan trọng khi tính toán giá cổ phiếu, và đóng vai tròquan trọng cấu thành nên hệ số P/E EPS càng cao phản ánh năng lực kinhdoanh của công ty càng mạnh, khả năng trả cổ tức là cao và giá cổ phiếu cũng
có xu hướng tăng cao
- Hệ số giá trên thu nhập (PER) = Thunhập một cổ phiếu Thị giámột cổ phiếu
Mối quan hệ giữa giá thị trường và thu nhập hiện hành của một cổ phiếuthường được gọi là tỉ lệ ra thị trường trên thu nhập Tỷ lệ được các nhà đầu tư
sử dụng một cách rộng rãi như là một sự hướng dẫn để đánh giá trị cổ phiếu.Nếu các nhà đầu tư nhận định là doanh nghiệp có triển vọng phát triển lớnhơn bình thường thì khi đó là cổ phiếu sẽ tăng và đương nhiên tỷ lệ giá trị thịtrường trên thu nhập cũng sẽ tăng Do đó các nhà đầu tư điều chỉnh tỷ lệ nàytăng hoặc giảm đối với một cổ phiếu phù hợp với viễn cảnh theo cách nhậnđịnh của họ
- Phân tích rủi ro của công ty
Khi tiến hành phân tích rủi ro tức là chúng ta tiến hành xem xét sự bất ổncủa tổng thể các dòng thu nhập của doanh nghiệp Mức độ biến động của cácdòng thu nhập càng cao có nghĩa rủi ro phải đối diện càng lớn Rủi ro doanhnghiệp thường bao gồm hai loại là: rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính
Trang 27+ Rủi ro kinh doanh: là sự bất ổn về thu nhập mà nguyên nhân cơ bản
của nó lại xuất phát từ lĩnh vực ngành mà doanh nghiệp đó trực thuộc
Rủi ro kinh doanh = Độlệch chuẩn của thunhập hoạt động Thu nhập hoạt động bình quân
Bên cạnh việc tính mức độ rủi ro kinh doanh chung, chúng ta cũng cầnxem xét hai yếu tố có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng tới sự biến động thunhập hoạt động của doanh nghiệp, đó là sự biến động doanh số bán hàng vàđòn bẩy hoạt động
+ Rủi ro tài chính: là sự biến động về lợi nhuận của các cổ đông khi doanh
nghiệp vay nợ Để xác định rủi ro tài chính, các nhà phân tích thường sử dụnghai loại hệ số Loại thứ nhất là các hệ số trên bảng cân đối kế toán, những hệ
số này cho biết tỷ lệ vốn nợ so với vốn cổ phần, nợ dài hạn so với tổng vốn,
và loại thứ hai là nhóm các hệ số về các dòng thu nhập hoặc dòng tiền sẵn có
để thanh toán các chi phí tài chính cố định Việc tính toán và phân tích các hệ
số này sẽ đem lại một đánh giá khái quát về hai vấn đề cơ bản: khả năngthanh toán nợ ngắn hạn, cơ cấu vốn và khả năng thanh toán nợ dài hạn
1.2.4 Các phương pháp định giá cổ phiếu
Ta có thể hiểu bản chất của phương pháp phân tích cơ bản ở đây là việcđịnh giá cổ phiếu nhằm dự đoán giá trị nội tại của cổ phiếu đó
- Nguyên tắc định giá cổ phiếu:
+Có nhiều mô hình định giá hiện tại và cũng nhiều mô hình ước lượngkhả năng sinh lời của doanh nghiệp, do vậy cũng cần áp dụng nhiều mô hìnhđịnh giá để có độ tin cậy cao
+Giá trị công ty luôn bị tác động theo sự biến động của môi trường kinh
tế và ngay cả những hoạt động nội tại của công ty
+Việc định giá có thể đưa ra một giá trị có tính tương đối và có mức độbiến động +Việc sai số càng giảm nếu các biến số càng ít biến động Do vậymột công ty đơn ngành thì giá trị sẽ ít biến động hơn một công ty đa ngành
Trang 28Một công ty sản xuất truyền thống.
+Việc thu thập dữ liệu càng nhiều thì thông tin dữ liệu càng nhiều vàcàng phong phú sẽ giúp việc định giá có độ tin cậy cao hơn
+Việc định giá doanh nghiệp là đi tìm kiếm giá trị thật (Value) và giá trịnày khác với giá cả trên thị trường (Price) Nếu có sự khác biệt quá lớn giữagiá trị và giá cả thì hoặc là thị trường chưa nhận định đúng giá trị doanhnghiệp hoặc phương pháp định giá còn thiếu sót
+Việc định giá chủ yếu là tìm giá trị chứ không phải là sự tuân thủ phươngpháp định giá Do vậy một sự kết hợp và điều chỉnh mô hình định giá chothích hợp là hoàn toàn chấp nhận được
- Một số phương pháp định giá phổ biến:
*Định giá cổ phiếu theo dòng cổ tức:
Coi giá cổ phiếu là giá trị hiện tại của các khoản thu trong tương lai do
cổ phiếu mang lại bao gồm khoản cố tức hằng năm có thể nhận được vàkhoản tiền thu có thể nhận được khi nhượng bán cổ phiếu Do vậy giá cổphiếu có thể được định giá theo công thức sau:
P n là giá bán lại cổ phiếu dự tính ở cuối năm n
i là tỷ suất sinh lời đòi hỏi của nhà đầu tư
n là số năm nắm giữ cổ phiếu của nhà đầu tư
+Trường hợp cổ tức tăng đều đặn hằng năm:
P0 = D1
i−g
+Trường hợp cổ tức hằng năm không tăng không giảm:
P0 = D0
Trang 29+Trường hợp cổ tức tăng không đều:
*Định giá cổ phiếu dựa vào chiết khấu dòng tiền tự do DCF:
Dựa trên nguyên lý: giá trị một tài sản phải bằng những gì nhận được từtài sản đó trong tương lai Có nghĩa là dự đoán giá trị tài sản đó tạo ra dòngtiền bao nhiêu trong tương lai Vì doanh nghiệp được kì vọng sẽ tồn tại mãimãi hay ít ra không thể xác định thời điểm doanh nghiệp đóng cửa nên dòngtiền này dự tính cho đến vĩnh viễn Giá trị của một doanh nghiệp dự kiến tăngtrưởng bất thường trong n năm có thể được tính bằng:
+ Bước 1 : Ước lượng đươc dòng tiền trong tương lai
+ Bước 2 : Đưa ra tỷ suất lợi tức yêu cầu của nhà đầu tư
+ Bước 3 : Ước lượng tốc độ tăng trưởng của dòng tiền kì vọng tương lai+ Bước 4 : Tính toán giá trị hiện tại của dòng tiền này
+ Bước 5 : Tính giá trị mỗi cổ phiếu của doanh nghiệp
*Định giá cổ phiếu theo thu nhập và mức độ tăng trưởng
Trang 30Giả sử công ty không mở rộng kinh doanh, do đó không giữ thu nhậpcho đầu tư mới và do đó dư ra hằng năm một số cổ tức đều đặn Công ty chỉgiữ lại phần khấu hao để đầu tư duy trì hoạt động kinh doanh Khi đó tỷ suấtlợi tức dự đoán bằng cổ tức chia cho giá cổ phiếu và bằng thu nhập trên một
cổ phiếu chia cho giá cổ phiếu Giá cổ phiếu hiện tại P0:
P0 = D1
i =EPS1
i
Trong đó : D1 là cổ tức một cổ phiếu dự đoán năm sau
EPS1 là thu nhập một cổ phiếu dự đoán năm sau
Nếu một công ty có cơ hội tăng trưởng, tức là có cơ hội đầu tư mở rộngthì giá cổ phiếu bằng giá trị cổ phiếu của phần không tăng trưởng cộng với giátrị quy về hiện tại của cơ hội tăng trưởng (PVGO) :
P0 = EPS1
i + PVGOTrong đó : PVGO là hiện giá của các cơ hội tăng trưởng
EPS1/i là giá trị cổ phiếu của phần không tăng trưởng
*Định giá cổ phiếu theo hệ số giá trên thu nhập (P/E)
Giả sử nhà đầu tư có cổ phiếu của một công ty nội bộ mà những cổ phiếucủa công ty này hiện không được chào bán rộng rãi trên thị trường Muốn biếtgiá hợp lý của cổ phiếu này là bao nhiêu ta chỉ cần nhân hệ số P/E được công
bố của công ty cổ phần đại chúng có cùng mức sinh lời, cùng mức rủi ro,cùng các cơ hội tăng trưởng như công ty cổ phần nội bộ với thu nhập của một
cổ phiếu của công ty nội bộ có thể tìm ra được giá cổ phiếu của công ty cổphần nội bộ đó và được xác định theo công thức sau :
Giá cổ phiếu thường = Hệ số giá trên thu nhập x Thu nhập của một cổphiếu thường
Theo phương pháp định giá này, về mặt lý thuyết có thể áp dụng mộttrong các cách sau đây :
Trang 31+ Cách 1 : Lấy hệ số P/E bình quân toàn ngành mà công ty đó tham giahoặc lựa chọn một công ty có cổ phiếu được giao dịch rộng rãi có cùng tỷ lệlợi nhuận, độ rủi ro và mức tăng trưởng tương tự như cổ phiếu cần định giá.Khi đó sẽ xác định được giá cổ phiếu bằng cách lấy thu nhập của một cổphiếu của công ty cần định giá nhân với hệ số P/E bình quân của ngành hoặc
hệ số P/E của công ty được lựa chọn sẽ ước tính được giá trị mỗi cổ phiếu và
so sánh giá trị này về giá cổ phiếu hiện hành trên thị trường sẽ biết được cổphiếu có được mua bán phù hợp với giá trị của nó hay không
+ Cách 2 : xác định hệ số P/E hợp lý hay nội tại của chính công ty đó Giá cổphiếu được xác định bằng cách nhân hệ số P/E thông thường với thu nhập củamột cổ phiếu công ty
Đối với công ty có tốc độ tăng trưởng đều đặn, hệ số P/E hợp lý đượctính toán dựa trên công thức tương tự công thức tính giá cổ phiếu :
P/E = (1−b )+(1+ g) i−gTuy nhiên thực tế tiến hành đánh giá cổ phiếu công ty thì việc lựa chọn
hệ số P/E cụ thể không đơn thuần như 2 cách trên mà còn phải căn cứ và xuhướng phát triển của toàn ngành và của từng công ty cụ thể do vậy ta có thểkết hợp hai cách trên đây để xác định giá cổ phiếu công ty
*Định giá cổ phiếu theo giá trị tài sản ròng và phương pháp kết hợp
+ Định giá cổ phiếu theo giá trị tài sản ròng hay còn gọi là phương phápgiá trị nội tại Phương pháp này cho rằng giá trị công ty là tổng số số học giátrị các tài sản hiện có thuộc sở hữu công ty Vì vậy, giá trị tài sản ròng củacông ty là tổng giá trị được đánh giá của các bộ phận cấu thành tài sản thuộc
sở hữu của công ty Giá cổ phiếu của công ty được xác định :
Giá cổ phiếu = Tổng số cổ phiếu phát hành Giá trị tài sản ròngGiá trị tài sản ròng của công ty có thể được xác định theo công thức :
V = V T + V N
Trang 32Trong đó : V là giá trị tài sản ròng
V T là tổng giá trị tài sản hiện có
vị trí địa lý thuận lợi, bí quyết công nghệ, trình độ quản lý công ty, khả năngnghề nghiệp của người lao động… Vì vậy quy mô lợi nhuận của công tykhông chỉ phụ thuộc vào giá trị tài sản hữu hình mà cả giá trị tài sản vô hình(lợi thế thương mại) Giá trị công ty được xác định là tổng giá trị tài sản hữuhình và tài sản vô hình và được xác định :
V = V r + GHoặc : V = V r ( 1 + H )Trong đó : V là giá trị công ty
V r là giá trị tài sản ròng
G là Giá trị tài sản vô hình
H là hệ số điều chỉnh giá trị tài sản ròng
Như vậy, ở trên ta có một số phương pháp định giá cổ phiếu cơ bản, theo
số liệu của các công ty ta có thể dễ dàng định giá được giá trị thực của cổphiếu hiện nay Từ đó đưa ra kết luận về giá trị của cổ phiếu đó và hướng đếnmục đính đầu tư
1.2.5 Ứng dụng của phân tích cơ bản
- Ứng dụng của phân tích cơ bản là thể hiện ở việc sử dụng các kết quảtính toán được của phân tích cơ bản làm nền tảng cho việc ra các quyết định
Trang 33lựa chọn đầu tư.
Việc ứng dụng phân tích cơ bản thể hiện qua quy trình ứng dụng phântích cơ bản như sau:
-Bước 1: Cập nhật số liệu Công đoạn này bao gồm việc cập nhật số liệu
từ các công ty niêm yết đã công bố các báo cáo quý hoặc các báo cáo năm đãkiểm toán công bố định kỳ Các báo cáo này sẽ công bố các thông tin về tàisản, nguồn vốn, nợ, lợi nhuận, chi trả cổ tức… là những thông tin cơ bản phục
vụ cho quá trình phân tích Việc thu nhập các số liệu thô này tương đối đơngiản và cũng không tốn nhiều thời gian nếu các công ty niêm yết tuân thủnghiêm chỉnh quy định về công bố thông tin Như trình bày ở trên, việc hoànthiện hệ thống thông tin có ý nghĩa rất lớn đối với việc phân tích cơ bản củacông ty chứng khoán
-Bước 2: Xử lý số liệu Bước này hết sức quan trọng Sau khi thu thập đủcác số liệu cần thiết, thông thường các CTCK sẽ nhập các số vào một form xử
lý số liệu riêng, theo đó, khi số liệu được nhập vào đầy đủ, nó sẽ tự tính toán
ra các chỉ tiêu cơ bản như các chỉ số về khả năng thanh toán, hiệu quả hoạtđộng, khả năng sinh lợi (ROA, ROE), cơ cấu vốn,…Công đoạn này đòi hỏi sốliệu đầu vào phải chính xác tuyệt đối và có trong ít nhất 2 năm để thực hiện sosánh tốc độ tăng trưởng chỉ tiêu qua các năm Kết quả số liệu sau khi xử lý sẽđược dùng cho phân tích công ty dựa trên các hệ số tài chính Các hệ số nàynói lên sức khỏe và tình hình sản xuất hiện tại của công ty, giúp người phântích có một cái nhìn tổng quan về công ty và giúp đưa ra phương pháp địnhgiá cổ phiếu phù hợp
-Bước 3: Lựa chọn phương pháp định giá Bước này được thực hiện dựatrên những đánh giá rút ra từ bước 2 Những hệ số tính toán được dựa trên cácbáo cáo tài chính Nếu công ty có tốc độ phát triển ổn định, thị trường minhbạch và không có những biến động bất thường ảnh hưởng đến giá cả của cổphiếu có thể sử dụng các phương pháp như định giá cổ phiếu bằng chiết khấu
Trang 34dòng tiền (DCF), định giá dựa trên hệ số P/E, hoặc kết hợp các phương pháp
đó bằng một ma trận giá Còn phương pháp định giá dựa trên giá trị tài sảnròng rất thích hợp với công ty có dòng tiền biến động, hoặc để kiểm tra khikết quả định giá theo các phương pháp trên chênh lệnh nhau quá lớn Việc lựachọn phương pháp định giá là hết sức quan trọng, nó thể hiện khả năng phântích, óc phán đoán cũng như sự linh hoạt của người làm phân tích, và do đó,ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của các bước còn lại
-Bước 4: Định giá cổ phiếu Nếu các bước trên làm tốt thì đến việc nàycông việc của người làm phân tích sẽ hết sức đơn giản Dù lựa chọn phươngpháp nào thì quan trọng nhất là xác định được tỷ lệ chiết khấu phù hợp đểthực hiện chiết khấu các dòng tiền về hiện tại Tính toán theo các công thức
đã trình bày ở trên sẽ cho kết quả về mức giá hiện tại hợp lý của một cổ phiếu
mà người phân tích cần định giá
-Bước 5: Đề xuất lựa chọn cổ phiếu Đây chính là khâu thể hiện rõ nhấtviệc ứng dụng phân tích cơ bản vào hoạt động của một Công ty chứng khoán,đồng thời cũng thể hiện vai trò của phân tích cơ bản Kết quả định giá cổphiếu sẽ cho biết giá cổ phiếu nào hiện đang cao hay thấp hơn giá trị thực của
nó, và với mức giá chấp nhận hiện tại, với mức tỷ suất yêu cầu kỳ vọng như
dự tính, thì công ty nên nắm chứng khoán đó trong ngắn hạn hay dài hạn.Ngoài ra, một ứng dụng rất quan trọng của phân tích cơ bản là trong việc địnhgiá chứng khoán phục vụ cho công tác đấu giá cổ phần, giúp công ty có thểmua được cổ phiếu đấu giá với mức giá phù hợp Tất nhiên, khi quyết địnhđầu tư ngoài dựa vào những đánh giá của phân tích cơ bản, chúng ta còn phảidựa vào các thông tin thị trường nắm bắt được bằng cách này hay cách khác –nhưng chủ yếu vẫn trên nguyên tắc những đánh giá của phân tích cơ bản vẫn
là kim chỉ năm cho mọi quyết định của hoạt động của Công ty chứng khoán
1.2.6 Mối quan hệ giữa phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật trong đầu
Trang 35Nếu như PTCB tập trung vào xu hướng kinh tế nói chung, tình hìnhkinh doanh hiện tại của một ngành kinh doanh hoặc chất lượng cổ phiếu củamột công ty cụ thể Ngược lại, phân tích kỹ thuật lại quan tâm đến việc dựbáo ngắn hạn về xu hướng thị trường và giá cả chứng khoán hơn là tập trungnghiên cứu một công ty nào đó Đối với một nhà phân tích kỹ thuật, quyếtđịnh mua hoặc bán chứng khoán dựa trên hoạt động của thị trường và sự thayđổi xu hướng thị trường
Một số học giả cho rằng, PTCB nghiên cứu các nguyên nhân dẫn tớibiến động giá cổ phiếu trên thị trường để trả lời câu hỏi “tại sao xảy ra và xảy
ra điều gì trong giá cổ phiếu”, còn phân tích kỹ thuật nghiên cứu các hiệu ứngcủa nó để trả lời câu hỏi “khi nào thay đổi giá cổ phiếu sẽ bắt đầu và khi nàokết thúc” Nói cách khác, nhà phân tích kỹ thuật chỉ cần biết hiệu ứng là gì màkhông cần quan tâm tới nguyên nhân tại sao lại dẫn tới tình hình đó; còn nhàPTCB phải luôn cần phải biết nguyên nhân tại sao Các nhà phân tích TTCK
sử dụng đồng thời cả hai phương pháp PTCB và kỹ thuật để đưa ra quyết địnhđầu tư Họ dùng phương pháp PTCB để xác định loại giao dịch nào nên thựchiện và dùng phương pháp kỹ thuật để chọn thời điểm mua bán thích hợpnhất Đôi khi người ta nói rằng PTCB được dùng để trả lời câu hỏi “Mua, báncái gì”, và phân tích kỹ thuật được dùng để trả lời câu hỏi “Khi nào nên mua,bán”
Dưới góc độ đầu tư, việc kết hợp cả hai phương pháp PTCB và phântích kỹ thuật dường như có thể đem lại những kết quả phối hợp tốt nhất Điều
đó đòi hỏi thời gian, sự am hiểu và trình độ phân tích đáng kể của NĐT và đó
là một công việc không thực sự dễ dàng
Cả hai phương pháp phân tích này đều đóng vai trò thiết yếu trongĐTCK, bởi vì nếu NĐT có khả năng xác định được các loại chứng khoánđang giao dịch không đúng với giá trị thực thông qua PTCB, đồng thời cũng
có thể xác định được thời điểm thích hợp để mua hoặc bán thông qua phân
Trang 36tích kỹ thuật Có nghĩa rằng NĐT đã có trong tay công cụ phân tích kết hợprất hiệu quả.
Với sự phổ biến của máy tính cá nhân và các phần mềm phân tích kỹthuật cũng như khả năng truy cập dữ liệu từ xa hiện nay, NĐT cá nhân có thể
dễ dàng có được các thông tin cần thiết về giá và khối lượng giao dịch đểphục vụ mục đích phân tích kỹ thuật cho riêng mình Tuy nhiên, số lượngNĐT sử dụng PTCB vẫn lớn hơn nhiều so với những người sử dụng phân tích
kỹ thuật
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG PHÂN TÍCH CƠ BẢN TRONG LỰA CHỌN ĐẦU TƯ VÀO CỔ PHIẾU NGÀNH NGÂN HÀNG TRÊN HOSE TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHỨNG KHOÁN VPS
2.1 Khái quát về TTCK Việt Nam
Để thực hiện đường lối công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, duy trì nhịp
độ tăng trưởng kinh tế bền vững và chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế theohướng nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, đòi hỏi phải có nguồn vốn lớncho đầu tư phát triển Vì vậy, việc xây dựng TTCK ở Việt Nam đã trở thànhnhu cầu bức xúc và cấp thiết nhằm huy động các nguồn vốn trung, dài hạn ởtrong và ngoài nước vào đầu tư phát triển kinh tế thông qua chứng khoán nợ
và chứng khoán vốn Thêm vào đó, việc cổ phần hóa các DN nhà nước với sựhình thành và phát triển của TTCK sẽ tạo môi trường ngày càng công khai vàlành mạnh hơn Ngày 10/07/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghịđịnh 48/1998/NĐ-CP về Chứng khoán và TTCK cùng với Quyết định thànhlập hai (02) TTGDCK tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Sự ra đời của TTCK Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vào vận hànhTTGDCK tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20/07/2000, và thực hiện phiêngiao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000, với 02 loại cổ phiếu niêm yết
* Thực trạng phát triển của TTCK Việt Nam
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời từ việc thành lập Ủy ban Chứngkhoán Nhà nước vào ngày 28/11/1996, theo Nghị định số 75/1996/NÐ-CPcủa Chính phủ Ðến ngày 28/7/2000, Trung tâm Giao dịch chứng khoán TP
Hồ Chí Minh đã chính thức đi vào hoạt động và thực hiện phiên giao dịch đầutiên, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của thị trường chứng khoán Việt Nam.Đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã thực sự trở thành kênh huyđộng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế
Trang 38Hình 2.1: Thị trường chứng khoán Việt nam trong 20 năm
( Nguồn: Ủy ban Chứng Khoán Nhà nước và TTXVN)
-Kết quả sau hơn 20 năm vận hành và phát triển
Tính từ khi thành lập thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đến tháng 06/2020, thông qua TTCK, Chính phủ và các doanh nghiệp đã huy động đượctrên 2,4 triệu tỷ đồng để đưa vào sản xuất kinh doanh, riêng trong giai đoạn
2011 đến nay, quy mô huy động vốn qua TTCK đạt khoảng 1,7 triệu tỷ đồng,
đóng góp bình quân 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.(Theo UBCKNN)
Quy mô vốn hóa TTCK có sự tăng trưởng vượt bậc, từ mốc sơ khai, vốn hóathị trường chỉ đạt 986 tỷ đồng, chiếm 0,28% GDP vào năm 2000, đến nay
Trang 39(tính đến hết tháng 6/2020) giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu là 3.894 nghìn
tỷ đồng, đạt 64,5% GDP (quy mô tăng 3.949 lần trong vòng 20 năm) Mứcvốn hóa thị trường trái phiếu tăng trưởng tích cực, tương đương trên 30,3%GDP năm 2019, trong đó riêng thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt gần10,9% GDP Tính chung, giá trị vốn hóa TTCK đạt 94,8% GDP đã góp phầnđịnh hình hệ thống tài chính hiện đại trên nền tảng hài hòa giữa TTCK và thị
trường tiền tệ - tín dụng.(Theo UBCKNN)
Sau 20 năm vận hành và phát triển, TTCK Việt Nam đã đặt được nền móngquan trọng để tiếp đà phát triển trong tương lai, thể hiện trên các mặt sau:
-Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được hoàn thiện và đồng bộ
Trong hơn 20 năm qua, cơ quan quản lý đã tích cực, chủ động xây dựng, trìnhcác cấp có thẩm quyền ban hành hệ thống các văn bản pháp luật nhằm ngàycàng hoàn thiện khung pháp lý và chính sách cho hoạt động của TTCK
Trong giai đoạn đầu, để sớm đưa TTCK vào vận hành và bảo đảm tính linhhoạt, khung pháp lý cao nhất của thị trường chỉ ở mức Nghị định của Chínhphủ Tuy nhiên, chỉ sau 6 năm TTCK hoạt động, cơ quan quản lý đã xây dựng
và trình các cấp có thẩm quyền trình Quốc hội thông qua Luật Chứng khoánđầu tiên của Việt Nam vào ngày 29/6/2006 Tiếp đó, để bảo đảm thúc đẩy thịtrường phát triển an toàn, hiệu quả, phù hợp với thực tiễn phát sinh và thông
lệ quốc tế, cơ quan quản lý đã trình cấp có thẩm quyền ban hành Luật Chứngkhoán sửa đổi năm 2010, Luật Chứng khoán năm 2019 và hệ thống các vănbản hướng dẫn, qua đó đã góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ, tạo môitrường pháp lý cho sự phát triển ổn định, bền vững của TTCK
-Phát triển đầy đủ các loại thị trường, đa dạng hóa sản phẩm từ đơn giản đến phức tạp
Trang 40Cơ cấu của TTCK từng bước được hoàn thiện, từ chỗ chỉ có thị trường cổphiếu, đến nay đã có thêm các thị trường mới giao dịch như trái phiếu chínhphủ và thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh.
-Nâng cao năng lực các tổ chức trung gian trên TTCK
Cùng với sự phát triển của thị trường, số lượng các công ty trung gian trênTTCK cũng tăng mạnh và từng bước tái cấu trúc hoạt động theo chiều sâu,nâng cao năng lực cho hệ thống các tổ chức trung gian thị trường Năng lựcquản trị, ứng dụng công nghệ thông tin của các tổ chức trung gian ngàycàng được nâng cao Các loại hình dịch vụ cung cấp trên thị trường ngày càng
đa dạng và có chất lượng, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư trong và ngoàinước
-Hệ thống nhà đầu tư phát triển cả về số lượng và chất lượng
TTCK đã thu hút đông đảo các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài với trình
độ ngày càng cao,theo UBCKNN, từ 3.000 tài khoản năm 2000, đến nay(tháng 6/2020) đã đạt trên 2,5 triệu tài khoản, bao gồm 33.395 tài khoản củacác nhà đầu tư nước ngoài giúp thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, gópphần phát triển nhiều doanh nghiệp niêm yết thành các doanh nghiệp cóthương hiệu quốc tế và quảng bá hình ảnh kinh tế Việt Nam
-Nâng cao năng lực quản lý, điều hành và giám sát thị trường chứng khoán
Công tác quản lý, điều hành của cơ quan quản lý bảo đảm tính chủ động, linhhoạt, phù hợp thực tiễn, qua đó đã giúp TTCK Việt Nam vượt qua những giaiđoạn rất khó khăn như giai đoạn khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008,khủng hoảng nợ công châu Âu, đặc biệt gần đây là vấn đề dịch Covid-19 vớidiễn biến hết sức phức tạp
-Tái cấu trúc mô hình tổ chức thị trường và hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin
Trong thời gian tới, trên cơ sở Đề án thành lập SGDCK Việt Nam đã được