1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN HÀNH CHÍNH CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

18 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 120,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VỤ ÁN KHỞI KIỆN HÀNH CHÍNH VỀ VIỆC KIỆN CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT... MÔN HÀNH CHÍNH HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ 2021.

Trang 1

HỌC VIỆN TƯ PHÁP

CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN

Môn: HÀNH CHÍNH

Mã hồ sơ: LS.HC 15/DA Diễn lần:

Ngày diễn:

GVHD:

Họ và tên:

Lớp:

Số báo danh:

Vai diễn: ………

………ngày 13 tháng 02 năm 2022

Trang 2

I./ TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN VÀ YÊU CẦU CỦA NGƯỜI KHỞI KIỆN

1/ Đối tượng khởi kiện

Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 của UBND thành phố A ban hành về việc

tạm trả hồ sơ đăng ký, cấp Giấy CNQSDĐ, quyền SHN ở và tài sản khác gắn liền trên đất tại phường 5, TP A

Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A ban hành về việc

giải quyết đơn của ông Bùi Quang Hải, phường 5 đề nghị cấp Giấy CNQSDĐ có nguồn gốc

do lấn chiếm biển

2./ Đương sự

Người khởi kiện

- Ông Bùi Quang Hải, sinh năm 1971; CMND số 2730635XX, tại công an tỉnh H

- Bà Đặng Thị Kim, sinh năm 1981; CMND số 2332268XX, cấp tại công an tỉnh H

- Cùng địa chỉ: 179/8/1 Trần Phú, phường 5, thành phố A, tỉnh H

Người bị kiện

- Ủy ban nhân dân thành phố A

- Địa chỉ: 89 Lý Thường Kiệt, phường 1, thành phố A, tỉnh H

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố A

3/ Yêu cầu khởi kiện

- Tuyên hủy văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 và văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A

- Buộc UBND thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sở dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắng liền với phần đất diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164

tờ bản đồ 09, phường 5, thành phố A theo quy định của pháp luật

4/ Điều kiện Khởi kiện:

- Quyền và chủ thể Khởi Kiện: Căn cứ Điều 5, khoản 1, 2 Điều 115, Luật Tố tụng hành chính 2015.

“Điều 5 Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

Trang 3

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của Luật này.”

Điều 115 Quyền khởi kiện vụ án

1 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó

2 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định giải quyết khiếu nại

về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó.”

Căn cứ thực tế:

Ông Bùi Quang Hải và bà Nguyễn Thị Kim có đủ năng lực hành pháp luật hành chính

và năng lực tố tụng hành chính

Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 và văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A ban hành Đây là Quyết định hành chính có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ông Bùi Quang Hải và Bà Đặng Thị Kim

Theo quy định tại Điều 115 Luật tố tụng hành chính 2015 về quyền khởi kiện vụ án, ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa hủy Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 và văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A ban hành

- Thẩm quyền giải quyết của Tòa Án: Căn cứ theo khoản 1, Điều 30; Khoản 4, Điều

32, Luật Tố tụng Hành chính 2015 thì Thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án tỉnh H

“Điều 30 Khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1 Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định, hành vi sau đây: a) Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật;

b) Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành

vi cản trở hoạt động tố tụng;

c) Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức

Điều 32 Thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh

Tòa án cấp tỉnh giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những khiếu kiện sau đây:

Trang 4

4 Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án.”

- Thời hiệu Khởi kiện: Căn cứ khoản 2, Điều 116, Luật Tố Tụng Hành chính 2015 quy

định:

“Điều 116 Thời hiệu khởi kiện

2 Thời hiệu khởi kiện đối với từng trường hợp được quy định như sau:

a) 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

b) 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;

c) Từ ngày nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn giải quyết khiếu nại mà không nhận được thông báo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan lập danh sách cử tri đến trước ngày bầu cử 05 ngày.”

Căn cứ thực tế :

Ngày 30/1/2019 UBND thành phố A ra văn bản số 504/UBND-TNMT trả lời cho ông Bùi Quang Hải – Đặng Thị Kim về việc tạm trả hồ sơ đăng ký, cấp Giấy CNQSDĐ, quyền SHN ở và tài sản khác gắn liền trên đất tại phường 5, TP A

Ngày 18/3/2019 UBND thành phố A, đã ban hành văn bản số 1126/UBND-TNMT, giải quyết đơn khiếu nại ngày 7/1/2019

Ngày 4/4/2019 không đồng ý với các phương án giải quyết của UBND thành phố A, ông/bà đã nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân Tỉnh H yêu cầu tuyên hủy văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 và văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A và buộc UBND thành phố A

Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật Khiếu nại năm 2011 về trình tự khiếu nại và khoản 2 điều 116 Luật TTHC 2015 về thời hiệu khởi kiện

Như vậy, Trường hợp của ông Bùi Quang Hải và bà Đặng Thị Kim còn thời hiệu khởi kiện

5./ Tóm tắt nội dung vụ án.

- Ngày 14/6/2016, Ông Bùi Quang Hải sinh năm 1971 và vợ là bà Đặng Thị Kim sinh

năm 1981, thường trú 179/8/1, Trần Phú, phường 5, thành phố A, nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất tại bộ phận tiếp

nhận và giao trả kết quả thuộc UBND thành phố A , diện tích 156,7 m 2 đất ở căn nhà số 179/8/1 Trần Phú, Phường 5, Thành phố A Đất trên gồm 2 phần:

Trang 5

+ Phần thứ nhất: 102 m 2 thuộc thửa 351 tờ bản đồ số 09 ( bản đồ năm 2000), đã được UBND thành phố A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản

khác gắn liền với đất số BM 625400 ngày 11/1/2013.

+ Phần thứ 2: 54,7m 2 thuộc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 09 (bản đồ năm 2000) phường

5, trên đất có dãy nhà cấp 4 (dãy nhà trọ) do ông Mĩ xây năm 2000

- Ngày 7/9/2016, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố A có văn bản số 2728/TB-CNVPĐK trả hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà

và tài sản khác gắn liền với đất cho ông Hải và bà Kim Không đồng ý với với thông báo 2728/TB-CNVPĐK ông Hải và bà Kim đã nộp đơn khởi kiện ra TAND thành phố A.(BL49)

- Ngày 9/12/2017, TAND thành phố A ra bản án sơ thẩm sau đó hai ông/bà kháng cáo.

- Ngày 5/4/2018, TAND tỉnh H ban hành bản án phúc thẩm số 04/2018/HC-PT tuyên

xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Hải, bà Kim buộc chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai nhận lại hồ sơ của ông Hải và Bà Kim và giải quyết các thủ tục tiếp theo quy định của pháp luật

- Ngày 20/4/2018, Ông Hải và bà Kim nộp lại hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất tại bộ phận tiếp nhận và giao trả kết hồ sơ thuộc UBND thành phố A (Biên nhận

số 2018.086.08648 hẹn thời gian nhận kết quả 06/06/2018- BL 12) Tuy nhiên đến ngày hẹn vẫn chưa có kết quả nên ông, bà yêu cầu Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố A giải trình

- Ngày 6/6/2018 Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh H ra văn bản số

2847/STNMT-CCQLĐĐ gửi Tổng cục Quản lý đất đai đề nghị hướng dẫn cấp giấp chứng nhận QSDĐ đối với những trường hợp lấn, chiếm “Sông, Biển” (BL 34)

- Ngày 14/8/2018 Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố A ban hành văn bản

số 4171/CNVPĐK-ĐKCG V/v trả lời đơn đề nghị, giải trình ngày 2/7/2018 Chi nhánh

VPĐK đất đai thành phố A đã có phiếu chuyển số 3187/ PC-CNVPĐK chuyển hồ sơ đến phòng Tài nguyên và Môi trường để báo cáo UBND TP.A xem xét, giải quyết hồ sơ Tuy nhiên hồ sơ chưa được chuyển lại nên không có căn cứ giải quyết các thủ tục tiếp theo (BL 13)

- Ngày 24/8/2018 Ông Hải làm đơn khiếu nại về việc chậm giải quyết cấp giấp chứng

nhận QSDĐ gửi Chủ tịch UBND TP.A và Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường TP.A (BL 33)

- 7/1/2019 Ông Hải và bà Kim tiếp tục nộp đơn khiếu nại UBND TP.A về việc chậm giải

quyết cấp giấy chứng nhận QSDĐ của gia đình ông theo bản án số 04/2018/HC-PT

Trang 6

- Ngày 30/1/2019 UBND TP A ra văn bản số 504/UBND-TNMT trả lời cho ông Bùi

Quang Hải – Đặng Thị Kim, ngày 9/3 UBND thành phố A đã có công văn số

1133/UBND-TNMT xin ý kiến hướng dẫn giải quyết, ngày 6/6/2018 Sở Tài nguyên và Môi trường đã có

văn bản số 2847/STNMT-CCQLĐĐ gửi tổng cục quản lý đất đai xem xét hướng dẫn giải

quyết, nên trong thời gian chờ chỉ đạo tạm trả hồ sơ lại cho ông Hải và bà Kim (BL 8)

- 18/3/2019 UBND thành phố A, đã ban hành văn bản số 1126/UBND-TNMT, giải

quyết đơn khiếu nại ngày 7/1/2019, trả lời lý do tạm trả lại hồ sơ vì lo vướng mắc trong việc

áp dụng qui định của pháp luật, cần xin ý kiến hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu đủ điều kiện thì sẽ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo qui định (BL 10)

- Ngày 4/4/2019 ông/bà đã nộp đơn khởi kiện đến TAND Tỉnh H yêu cầu:

+Tuyên hủy văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 và văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A và

+ Buộc UBND thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với phần đất diện tích 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ 09 (bản đồ số 2000) phường 5, thành phố A theo qui định của pháp luật.(BL 1-7)

- Ngày 18/4/2019 TAND tỉnh H ra Thông báo về việc thụ lý vụ án hành chính sở thẩm

(BL 28)

- Ngày 21/10/2019 TAND tỉnh H ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm vụ án hành

chính về việc “Khởi kiện Qyêt định hành chính trong lĩnh vực đất đai”

II./ VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT ÁP DỤNG

1 Luật Tố tụng hành chính 93/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;

2 Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015

3 Luật Khiếu nại 2011

4 Luật đất đai số 49/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013;

5 Nghị định số 43/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật đất đai năm 2013;

6 Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ quy định về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai;

7 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 02 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số nghị định chi tiết thi hành Luật đất đai;

Trang 7

8 Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05 tháng 03 năm 2020 của Chính phủ quy định về công tác văn thư

9 Nghị định 110/2004/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 09/2010/ND9CP về công tác văn thư

III./ KẾ HOẠCH HỎI

1 Hỏi người khởi kiện

- Ông/bà cho HĐXX biết ông/bà kiện UBND TP A về vấn đề gì?

09 (bản đồ năm 2000 ) phường 5, TP A ông/bà mua của ai và mua vào thời điểm nào? ( Của Cha mẹ chuyển giao lại năm 2002)

tiền sử dụng đất cho phần diện tích này không?

- Từ đó đến nay Cơ quan chính quyền địa phương có hành vi hay ban hành một quyết

định nào về việc không cho ông bà sử dụng phần diện tích đất này hay không?

số 164 tờ bản đồ số 09 (bản đồ năm 2000 ) phường 5, TP A vào thời gian nào?

- Từ khi nộp hồ sơ đến thời điểm hiện tại cơ quan chức năng có đề nghị ông/ bà bổ sung

thêm giấy tờ gì nữa không?

- Ông/bà cho HĐ XX biết vì sao ông/bà yêu cầu HĐXX hủy văn bản số

504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 và văn bản số 1126/UBND-504/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A?

2 Hỏi người bị kiện:

- Ông/bà cho biết tại sao văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 và văn bản

số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A thì người ký là Phó chủ tịch?

- Việc phó chủ tịch ký có được sự ủy quyền của chủ tịch hay không?

- Ông cho biết Tại sao Trong văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/01/2019 và văn

bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A lại không có “Tên loại” văn bản?

- Ông có biết việc ra văn bản không có Tên loại là không đúng với quy định pháp luật

hay không?

- Theo quy định tại khoản 40, Điều 2 NĐ 01/2017 sửa đổi bổ sung NĐ 43/2014 về

gắn liền với đất; cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận được quy định như sau :Đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là không quá 30 ngày Tại sao ông Hải và bà Kim nộp hồ sơ từ 20/4/2018 nhưng mãi đến ngày 30/1/2019 UBND thành phố A mới ra VB

tạm trả hồ sơ? ( TL: vì Luật đất đai 2013 và VB hướng dẫn thi hành luật không quy

Trang 8

định về trường hợp này nên cần thời gian để xin ý kiến hướng dẫn của Sở TN-MT) Vậy tại sao đến thời hạn trả kết quả mà không thông báo cho Ông Hải bà Kim được biết mà phải đợi đến khi ông Hải bà Kim gửi đơn yêu cầu giải trình và đơn khiếu nại mới ra văn bản số 504/UBND-TNMT như trên?

- Theo quy định tại Điều 28, Luật khiếu nại 2012 thì Thời hạn giải quyết khiếu nại lần

đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải

quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý Tại sao ngày 7/1/2019 Ông Hải và bà Kim nộp đơn khiếu nại UBND TP.A nhưng đến ngày

18/3/2019 UBND thành phố A mới ban hành văn bản số 1126/UBND-TNMT, về việc

giải quyết đơn khiếu nại ngày 7/1/2019 của ông Hải, bà Kim?

- Ông/ bà cho biết căn cứ theo quy định pháp luật nào để ra văn bản số

504/UBND-TNMT về việc Tạm trả hồ sơ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền

sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại phường 5 đối với ông Hải bà Kim?

- Ông/bà cho biết đất lấn, chiếm lấn biển) có phải là đất vi phạm pháp luật theo luật đất

đai hay không?

- Theo quy định tại Điều 19 Nghị định 43/2014 quy định Các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Ông/ bà cho biết phần diện tích đất 54,7m2 thuộc thửa đất số 164 tờ bản đồ số 09 (bản đồ năm 2000 ) phường 5, TP A của vợ chồng ông Hải bà Kim thuộc trường hợp nào?

3 Hỏi người có QLVNVLQ:

Trang 9

IV./ LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO ĐƯƠNG SỰ ( Người khởi kiện)

ĐOÀN LUẬT SƯ TP HÀ NỘI

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ HG

-o0o -CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-o0o -…………, ngày … tháng … năm 20…

BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ

(Vụ án khởi kiện về cấp giấy chứng nhận QSDĐ)

Kính thưa: - Hội đồng xét xử!

- Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát;

- Thưa toàn thể quý vị có mặt tại phiên tòa hôm nay

- Tôi là Luật sư N - thuộc Văn Phòng Luật Sư HG, Đoàn luật sư TP Hà Nội Tôi tham

gia với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Ông Bùi Quang Hải và

Bà Đặng Thị Kim là Người Khởi kiện trong vụ án hành chính sơ thẩm “Khởi kiện về

việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” với người bị kiện là UBND TP A, tỉnh H.

Vụ án hiện đang được TAND Tỉnh H thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm theo hồ sơ thụ lý số 47/2019/TLST-HC ngày 18/04/2019 Nay được đưa ra xét xử theo Quyết định số: 13/2019/QĐXXST-HC

Trước hết, tôi xin được chân thành cảm ơn HĐXX đã tạo điều kiện cho tôi được nghiên cứu hồ sơ và tham dự phiên tòa

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành và qua diễn biến thực tế của phiên tòa hôm nay, tôi xin trình bày một số quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Người khởi kiện như sau:

trái với quy định của pháp luật, bởi lẻ:

Trang 10

Thứ nhất, về mặt thẩm quyền ban hành Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019, và văn bản số 1126/UBND-TNMT về việc giải quyết đơn khiếu nại ngày 7/1/2019 của UBND thành phố A là trái với quy định pháp luật, cụ thể:

+ Căn cứ theo quy định pháp luật: Căn cứ khoản 6, Điều 29, Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định.

Điều 29 Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện

6 Chỉ đạo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; ủy quyền cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện hoặc người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong phạm vi thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện;

Căn cứ khoản 2, Điều 13, Nghị định 30/2020/NĐ-CP ngày 05 tháng 03 năm 2020 của Chính phủ quy định về công tác văn thư

Điều 13 Ký ban hành văn bản

1 Cơ quan, tổ chức làm việc theo chế độ thủ trưởng

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ký tất cả văn bản do cơ quan, tổ chức ban hành; có thể giao cấp phó ký thay các văn bản thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách và một số văn bản thuộc thẩm quyền của người đứng đầu Trường hợp cấp phó được giao phụ trách, điều hành thì thực hiện ký như cấp phó ký thay cấp trưởng

2 Cơ quan, tổ chức làm việc theo chế độ tập thể

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức thay mặt tập thể lãnh đạo ký các văn bản của cơ quan, tổ chức Cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức được thay mặt tập thể, ký thay người đứng đầu cơ quan, tổ chức những văn bản theo ủy quyền của người đứng đầu và những văn bản thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách

+ Căn cứ thực tế vào Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 và văn bản số 1126/UBND-TNMT về việc giải quyết đơn khiếu nại ngày 7/1/2019 của UBND thành phố A

thì người ký tên là Phó chủ tịch, không có văn bản ủy quyền nào (Bút lục 1-8)

Tại Phiên Tòa hôm nay, phía bị kiện cũng không cung cấp được chứng cứ, tài liệu bổ sung cho việc giao quyền này

Cho nên, tôi cho rằng Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 và văn bản số

1126/UBND-TNMT về việc giải quyết đơn khiếu nại ngày 7/1/2019 của UBND thành phố A

ban hành không đúng thẩm quyền, trái với quy định của pháp luật

Ngày đăng: 23/02/2022, 11:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w