1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh parkinson của cao chiết rau sam (Portulaca oleracea L.) trên mô hình ruồi giấm chuyển gene mang kiểu hình bệnh

6 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 745,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Parkinson là một trong những bệnh thoái hóa thần kinh phổ biến với các biểu hiện về rối loạn vận động và chết tế bào thần kinh sinh dopamine ở vùng chất đen. Các nghiên cứu trước đây cho thấy, ruồi chuyển gene knockdown duch trên các tế bào thần kinh sinh dopamine biểu hiện các triệu chứng của bệnh Parkinson bao gồm suy giảm vận động và chết tế bào sinh dopamine.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH PARKINSON CỦA CAO CHIẾT RAU SAM

(PORTULACA OLERACEA L.) TRÊN MÔ HÌNH RUỒI GIẤM CHUYỂN GENE

MANG KIỂU HÌNH BỆNH Trương Huỳnh Kim Thoa*

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh

*Tác giả liên hệ: truongthoa139@gmail.com

TÓM TẮT

Parkinson là một trong những bệnh thoái hóa thần kinh phổ biến với các biểu hiện về rối loạn vận động và chết tế bào thần kinh sinh dopamine ở vùng chất đen Các nghiên cứu trước đây cho thấy, ruồi chuyển gene knockdown duch trên các tế bào thần kinh sinh dopamine biểu hiện các triệu chứng của bệnh Parkinson bao gồm suy giảm vận động và chết tế bào sinh dopamine Các triệu chứng do knockdown duch giảm khi bổ sung thêm hợp chất kháng oxi hóa như curcumin hay vitamin C Các kết quả này cho thấy tiềm năng sử dụng mô hình ruồi knockdown duch trong sàng lọc chất kháng oxi hóa để điều trị bệnh Parkinson Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng ruồi knockdown duch nhằm mục đích kiểm tra khả năng sử dụng cao chiết từ rau sam (Portulaca oleracea L.) để điều trị bệnh Parkinson Kết quả thực nghiệm cho thấy cao chiết rau sam cải thiện triệu chứng suy thoái vận động do knockdown duch gây

ra ở ấu trùng ruồi mô hình và làm chậm tiến trình bệnh ở ruồi trưởng thành Đồng thời, ở mức độ tế bào, cao chiết rau sam cải thiện tình trạng thoái hóa tế bào thần kinh sản sinh dopamine gây ra do knockdown duch ở ruồi giấm

Từ khóa: Bệnh Parkinson, mô hình ruồi giấm, mô hình ruồi knock-down duch, kháng oxy

hóa, rau sam

EFFECT OF PURSLANE EXTRACT (PORTULACA OLERACEA L.) ON

ROSOPHILA MODEL OF PARKINSON’S DISEASE

Truong Huynh Kim Thoa*

University of Science – VNU Ho Chi Minh City

*Corresponding Author: truongthoa139@gmail.com

ABSTRACT

Parkinson’s disease is one of the most common neurodegenerative disoder, which is characterized by progressive deterioration of motor function and loss of dopaminergic neurons in the substantia nigra Previous studies showed that Drosophila which bearing dopaminergic neuron-specific knockdown of duch manifested PD’s symptoms including decreases in locomotor abilities and loss of dopaminergic neurons Noticeably, antioxidants such as curcumin and vitamin C improved these PD symptoms in the fly model These results demonstrated that duch-knockdown flies is a potential model for screening antioxidants which can be used for PD treatment In this study, we utilized duch-knockdown flies in order to evaluate capacity of purslane (Portulaca oleracea L.) extract in using for PD treatment The results showed that purslane extract could improve the locomotor abilities in the larval stage and decelerate disease’s progression in the adult stage Additionally, in cellular base, purslane extract could reduce DA neuron degeneration caused by knockdown of duch

Keywords: Parkinson’s disease, Drosophila model, duch-knockdown Drosophila model,

antioxidants, purslane

TỒNG QUAN

Parkinson là một trong những bệnh thoái hóa

thần kinh phổ biến ở người cao tuổi, với

khoảng 3% dân số trên độ tuổi 65 mắc bệnh

Bệnh có dấu hiệu trẻ hóa và có mức độ gia

tăng nhanh nhất trong các bệnh lý thần kinh

hiện nay Bệnh Parkinson có các biểu hiện lâm sàng về rối loạn vận động như run, cứng

cơ và cử động chậm chạp, đồng thời có dấu hiệu chết tế bào thần kinh sinh dopamine ở vùng liềm đen, thuộc não giữa

Mô hình ruồi giấm có lịch sử lâu đời trong

Trang 2

nghiên cứu sinh học và vẫn còn nguyên giá

trị cho đến hiện tại Mang nhiều đặc điểm

thuận lợi cho nghiên cứu như vòng đời ngắn,

số lượng nhiều, chi phí thấp, cũng như có

mức độ tương đồng nhất định so với người

(75% gene bệnh ở người có gene tương đồng

trên ruồi), mô hình ruồi giấm là mô hình tiềm

năng cho sàng lọc thuốc invivo sơ cấp

Ubiquitin carboxyl-terminal hydrolase L1

(UCH-L1) là một protein hoạt động trong hệ

thống phân hủy protein Ubiquitin

proteasome, biểu hiện nhiều ở não và được

biết có liên quan đến bệnh Parkinson Ở ruồi

giấm, gene tương đồng với uch-l1 là duch,

với mức độ tương đồng về trình tự khoảng

46% Các nghiên cứu trước đây của chúng tôi

cho thấy, dòng ruồi chuyển gene làm

knockdown duch tại tế bào thần kinh sinh

dopamine biểu hiện các triệu chứng của bệnh

Parkinson bao gồm suy giảm vận động và

chết tế bào thần kinh sản sinh dopamine

Ngoài ra, khi bổ sung thêm hợp chất kháng

oxi hóa như curcumin, vitamin C vào môi

trường nuôi ruồi, các triệu chứng do

knockdown duch được cải thiện Từ đó,

chúng tôi nhận thấy UCH-L1 có thể có liên

quan tới stress oxi hóa tế bào, đồng thời, mô

hình ruồi knockdown duch là mô hình tiềm

năng trong sàng lọc chất kháng oxi hóa để

điều trị bệnh Parkinson

Nhiều công bố khoa học trước đây cho thấy

rau sam (Portulaca oleracea L.) là thực vật

có nhiều thành phần kháng oxi hóa như

vitamin A, vitamin C, acid béo omega-3,

flavonoid hay alkaloid Bên cạnh đó, rau sam

cũng chứa dopamine và levodopa (tiền chất

của dopamine), là chất dẫn truyền thần kinh

có liên quan mật thiết đến bệnh Parkinson

Nhằm mục đích khảo sát khả năng sử dụng

rau sam như một ứng viên thuốc điều trị

Parkinson, trong nghiên cứu này, chúng tôi

tiến hành các thí nghiệm khảo sát tác động

của cao chiết rau sam lên mô hình ruồi

knockdown duch mang kiểu hình bệnh

Parkison

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Phương pháp chiết cao rau sam

Rau sam (Portulaca oleracea L.) được thu

hái và đông khô đến khi khô hoàn toàn

Trọng lượng mẫu sau khi đông khô được xác

định, xay nhuyễn Chiết cao rau sam bằng

dung môi nước: mẫu bột nghiền rau sam được trộn đều, ngâm dầm với nước cất hai lần, tỷ lệ m:v=1:15, sau đó ly tâm, thu dịch Dịch trích được sấy khô bằng máy đông khô

và được trữ lạnh ở -300C

Cao chiết rau sam được thêm vào môi trường nuôi ruồi thí nghiệm theo các nồng độ khảo

sát, ở 2 dòng ruồi giấm knock-down duch

(Kd) và dòng đối chứng (Dc)

Đánh giá tác động của cao chiết lên sinh lý

Sức ăn: Pha môi trường thường bổ sung cao

chiết rau sam theo các nồng độ thí nghiệm và Comassive-G250 2% Bắt ấu trùng bậc 3 sớm, cho ăn trong vòng 30 phút Thu ấu trùng và rửa sạch bằng PBS, chuyển vào eppendorf 1,5ml mới, đồng hóa mẫu trong PBS Định lượng Commasive bằng đo chỉ số

OD tại bước sóng 595nm

Lượng tồn dư chất kháng oxi hóa: Nghiền 50

cá thể ấu trùng bậc 3 ở các nồng độ cần khảo sát với 500 µl nước cất 2 lần Ly tâm lạnh ở

4oC trong 20 phút, thu dịch nổi Pha loãng tới các nồng độ cần thiết Giữ lạnh và tránh sáng Đặt phản ứng với DPPH 50µM trong

40 phút Đo OD ở bước song 517nm Xác định IC50 của từng dòng theo độ pha loãng

Đánh giá khả năng vận động của ruồi giấm

Các thí nghiệm vận động chỉ thực hiện trên

cá thể đực do sinh sản của ruồi cái sẽ ảnh hưởng đến khả năng vận động

Thử nghiệm bò trườn: Đổ đĩa agar 2% Cho

3-4 cá thể ấu trùng bậc 3 lên đĩa agar/lần, quay lại từ 1-2 phút, đảm bảo cho mỗi cá thể

ấu trùng di động đều đặn ít nhất 40s/đoạn phim Các đoạn phim được xử lý với ImageJ, plugin wrMTrck để thu số liệu vận tốc, biểu

đồ và thống kê (One way-ANOVA) được vẽ

và xử lý với GraphPad 6.01

Thử nghiệm leo trèo: Ruồi trưởng thành

được bắt trong cùng một ngày sau khi thoát kén Sử dụng khoảng 80-100 cá thể ruồi trưởng thành/dòng ruồi Chuẩn bị ống 12cm, chia vạch tính điểm, tính từ đáy mỗi vạch cách nhau 1cm Gây mê, bắt vào mỗi ống 10

cá thể ruồi, mỗi dòng bắt đủ 8 ống Đập theo chiều trọng lực 5 lần, giữ yên ít nhất 60 giây, lặp lại 8 lần Quay phim lại toàn bộ quá trình

từ khi bắt đầu đập Kết quả được đọc thông qua chỉ số leo trèo được tính bằng tỉ lệ phần trăm cá thể vượt vạch 6cm trong 8 lần đập Mỗi ống climbing ghi nhận một số liệu Độ

Trang 3

suy giảm khả năng vận động được tính bằng

gốc của đường tuyến tính đi qua các giá trị

trung bình theo ngày của từng dòng Biểu đồ

được vẽ bằng GraphPad 6.01

Định lượng tế bào thần kinh sinh

dopamine

Tách mô não cần nhuộm (não của ấu trùng

bậc 3, não ruồi trưởng thành) trong PBS lạnh

Cố định mô với para-formaldehit 4%

Nhuộm miễn dịch với kháng thể bậc 1 kháng

tyroxyl hydroxylase, kháng thể bậc 2 gắn

chất phát huỳnh quang Kết quả được ghi

nhận dưới kính hiển vi huỳnh quang Nikon

ECLIPSE NI-U ở độ phóng đại 100X Lượng

tế bào được đếm thủ công với phần mềm ImageJ, thu kết quả bằng Microsoft Excel, xử

lý thống kê (One-way ANOVA) và vẽ biểu

đồ bằng phần mềm GraphPad 6.01

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN Ảnh hương của cao chiết rau sam tới các quá trình sinh lý của ruồi giấm

Sức ăn: Cao chiết rau sam có xu hướng làm

tăng khả năng ăn của ấu trùng trên cả hai dòng Kd và Dc, nồng độ càng cao, lượng thức ăn tiêu thụ càng lớn

Hình 1 A: Biểu đồ tác động của cao chiết rau sam lên sức ăn của ấu trùng bậc ba dòng đối

chứng và dòng knockdown duch B: Lượng chất kháng oxi hóa hấp thu tính theo lượng thức

ăn so với dòng Dc+1.25mM (thí nghiệm lặp lại 6 lần, 10 cá thể cho mỗi lần khảo sát,

One-way ANOVA test, ** p<0.01, *** p<0.001, **** p<0.0001)

Lượng tích trữ chất kháng oxi hóa:

Hình 2 Đồ thị biểu diễn tương quan lượng chất kháng oxi hóa ở các dòng ăn cao so với dòng

ăn môi trường nồng độ 0mg/ml Dựa vào Hình 2 có thể nhận thấy, khả năng

hấp thụ tốt nhất ở khoảng 0.63mg/ml Ở các

nồng độ cao hơn, lượng chất kháng oxi hóa

tích trữ không tăng nhanh theo nồng độ mà

gần như đạt đến mức bão hòa Kết hợp với

kết quả từ thí nghiệm feeding chúng tôi nhận

thấy: ở dòng Kd duch, trong khoảng nồng độ

từ 1.25mg/ml đến 5mg/ml, tổng lượng chất kháng oxy hóa mà ấu trùng ăn vào tăng khoảng 5-6 lần, đồng thời cũng tăng nhanhh lượng chất kháng oxy hóa tích trữ (Hình 1B

và Hình 2) Từ nồng độ 5mM đến 15mM, lượng chất kháng oxy hóa thu nạp tăng khoảng 4-5 lần nhưng lượng tích trữ gần như

Trang 4

không đổi (Hình 1B và Hình 2) Như vậy ở

khoảng nồng độ từ 5 đến 15mg/ml, ấu trùng

đã đạt đến giới hạn hấp thụ, có khả năng gia

tăng bài tiết chất kháng oxi hóa ra ngoài

Tác động của cao chiết rau sam lên khả

năng vận động của ruồi knockdown duch

Ở ấu trùng bậc 3: ấu trùng dòng knockdown

(Kd) có hiện tượng suy giảm khả năng vận

động so với dòng đối chứng (Dc), biểu hiện

qua việc suy giảm tốc độ di chuyển

(p<0.0001) Kết quả này cho thấy việc

knockdown gene duch trên các tế bào thần

kinh sinh dopamine làm suy giảm vận động

Ở dòng Kd, ấu trùng ăn môi trường cao các

nồng độ 2.5, 5 và 10 mg/ml đều cho kết quả

cải thiện khả năng vận động so với dòng Kd

không ăn cao (Hình 4) Ở dòng ấu trùng

Kd+15mg/ml, chúng tôi nhận thấy sự suy

giảm vận động so với dòng Kd+10mM (p<

0.01), điều này có thể do sự ảnh hưởng của

cao chiết rau sam lên các quá trình sinh lý, sức ăn và bài tiết của ruồi giấm ở nồng độ 15mg/ml cao hơn các nồng độ khác, làm ảnh hưởng khả năng vận động của ấu trùng

Ở ruồi trưởng thành: Ở lô không cho ăn môi trường cao, chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt rõ rệt giữa các dòng thí nghiệm Kết quả nhận được tương tự đối với dòng Dc

ăn cao Tuy nhiên, kết quả climbing trên dòng Kd ăn cao cho thấy tốc độ suy giảm vận động có xu hướng giảm từ nồng độ 1.25 mg/ml, thấp nhất ở 2.5 mg/ml và gia tăng trở lại ở nồng độ 10 mg/ml.m Từ các kết quả trên chúng tôi đi đến nhận xét, cao chiết rau sam được bổ sung ở giai đoạn ruồi trưởng thành có khả năng làm giảm tiến triển bệnh ở một số nồng độ, tác động này là chuyên biệt lên dòng knockdown duch Nồng độ cho tác dụng tốt nhất là 2.5mg/ml

Hình 3 Tốc độ bò trườn của ấu trùng bậc 3 (n=30, one-way ANOVA với * p<0.05,

** p<0.01, *** p<0.001, **** p<0.0001)

Hình 4 Tốc độ suy giảm vận động của dòng Kd và dòng Dc từ 0 đến 11 ngày tuổi Tác động của cao chiết rau sam lên tế bào

thần kinh sinh dopamine ở ruồi giấm

Ở ấu trùng ruồi giấm bậc 3: kết quả nhuộm

miễn dịch cho thấy có sự thoái hóa tế bào

thần kinh sinh dopamine ở dòng Kd so với

dòng Dc trên cụm DM (p<0.05), cụm DL2

(p<0.001) và trên tổng số lượng tế bào ở cả

ba cụm DM, DL1 và DL2 (p<0.05) (Hình 5) Xét trên dòng đối chứng, cao chiết rau sam không gây ảnh hưởng đến số lượng tế bào thần kinh sinh dopamine ở cả hai nồng độ 2.5

và 5 mg/ml Xét trên dòng knockdown duch,

Trang 5

cả hai nồng độ 2.5 và 5mg/ml đều cho kết

quả cải thiện tổng số tế bào thần kinh sinh

dopamine ở 3 cụm

Ở ruồi trưởng thành: Ở nồng độ 0, kết quả

nhuộm miễn dịch cho thấy có sự thoái hóa tế

bào thần kinh sinh dopamine giữa dòng Kd

và Dc trên cụm PPM3 (p<0.001) và trên tổng

5 cụm (p<0.001) (Hình 6) Xét trên dòng đối

chứng, cao chiết rau sam không gây ảnh

hưởng đến số lượng tế bào thần kinh sinh

dopamine ở cả hai nồng độ 2.5 và 5 mg/ml

(p>0.05) Xét trên dòng knockdown duch,

không có sự khác biệt rõ ràng giữa lượng tế

bào thần kinh sinh dopamine của hai dòng

Kd ăn cao và Kd nồng độ 0 trên từng cụm tế bào thần kinh riêng lẻ (p>0.05) Tuy nhiên, khi so sánh trên tổng số tế bào ở cả 5 cụm khảo sát, có sự khác biệt đáng kể giữa dòng

Kd ăn cao và Kd nồng độ 0 (p<0.01) (Hình 6F), cao chiết rau sam ở nồng độ 2.5 và 5mg/ml cải thiện suy thoái tế bào thần kinh sinh dopamine trên dòng knockdown duch

Do sự cải thiện phân tán rải rác ở nhiều cụm với số lượng nhỏ, nên không nhận thấy khác biệt khi xét từng cụm

Hình 5 1-Biểu đồ số lượng tế bào thần kinh sinh dopamine ở thùy não ấu trùng bậc ba A:

cụm DM, B: cụm DL1, C: cụm DL2, D: tổng số tế bào 3 cụm (DM, DL1, và DL2) (n=8, Kruskal Wallis test, * p<0.05, ** p<0.01, *** p<0.001, **** p<0.0001) 2-Hình chụp não ấu

trùng bậc 3

Hình 6 Biểu đồ số lượng tế bào thần kinh sinh dopamine ở não ruồi trưởng thành (n=8, A,

C, D, E, F: One-way ANOVA, B: Kruskal-Wallis test, * p<0.05, ** p<0.01, *** p<0.001,

**** p<0.0001)

Trang 6

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

Cao chiết rau sam làm giảm suy thoái vận

động do knockdown duch ở ấu trùng và làm

chậm quá trình tiến triển bệnh ở ruồi trưởng

thành, cũng như làm giảm sự thoái hóa tế bào

thần kinh sản sinh dopamine Nồng độ rau

sam thích hợp cho tác động cải thiện kiểu

hình bệnh PD và hạn chế tác động lên sinh lý

trên mô hình ruồi giấm là 2.5 mg/ml Kết quả

của đề tài đóng góp dữ liệu khoa học cho việc sử dụng cao chiết rau sam trong hỗ trợ điều trị bệnh Parkinson, đặc biệt cho các trường hợp đột biến hoặc giảm biểu hiện gene uch-l1 Đồng thời phát triển ứng dụng

mô hình ruồi giấm knockdown duch sàng lọc thêm hợp chất kháng oxi hóa có tác động tích cực lên cơ thể sống và cải thiện tình trạng bệnh Parkinson

TÀI LIỆU THAM KHẢO

FEIGIN, V.L., et al., Global, regional, and national burden of neurological disorders during 1990-2015: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2015 Lancet

Neurology, 2017 16(11): p 877-897

MARTINS, W.B., et al., Neuroprotective effect of Portulaca oleracea extracts against 6-hydroxydopamine-induced lesion of dopaminergic neurons Anais da Academia

Brasileira de Ciências, 2016 88(3): p 1439-145

Ngày đăng: 23/02/2022, 09:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w