1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí

24 369 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí
Chuyên ngành Môi trường
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 366 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phárừng ngập mặn nuôi tôm diễn ra trong nhiều năm tạimiền Nam và hiện tượng này vẫn còn tiếp diễn ở miềnBắc... Phòng ngừa có ý nghĩa quan trọng.. Nếu không có rừng

Trang 1

Ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí

A Ô nhiễm môi trường đất:

I, Hiện trạng ô nhiễm môi trường đất:

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và là thành phầnquan trọng của sinh thái duy trì sự sống cho nhiều loài trong thiên nhiên

Tổng diện tích đất tự nhiên trên toàn cầu là 13.382 triệu ha Trong đó, những loạiđất tốt, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như đất phù sa, đất đen, đất nâu chỉ chiếm12,6%, còn những loại đất quá xấu như: đất băng tuyết vĩnh cửu, hoang mạc, đất núi, đấtđài nguyên chiếm đến 40,5%

Toàn bộ đất đai có thể khai khẩn dễ dàng cho nhiều mục đích khác nhau hầu như dãđược sử dụng hết và chiếm hơn 50% diện tích đất nổi Cơ cấu sử dụng đất cụ thể như sau:

Đất nông nghiệp: 11%

Đất đồng cỏ, chăn thả: 24%

Đất rừng và rừng: 31%

Tổng số đất chưa sử dụng (đất dự trữ) dù còn chiếm gần 45% nhưng trong đó:

- Đất không đòi hỏi ác khoản chi lớn vào khai khẩn chỉ chiếm 5%/DTTN

- Đất cần những chi phí lớn trong sử dụng: 24%/DTTN (hoang mạc, đầm lầy, sườndốc đứng, đài nguyên rừng, đất hoang do con người)

- Đất không dùng được: 15%/DTTN (sông băng, núi cao gần đường tuyết, đàinguyên)

Trong số đất nông nghiệp, đất có năng suất cao chỉ chiếm 14%, đất có năng suất trung bình: 28% và đất có năng suất thấp chiếm đến 58%.

Mất rừng ở Việt Nam là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hoang mạc hoá, gây suy thoái môitrường, lũ lụt và hạn hán Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn(NN&PTNT) Hứa Đức Nhị cho biết như vậy tại Hội thảo thực hiện Công ước chống samạc hoá (UNCCD) khai mạc sáng nay (8/9) tại Hà Nội

Theo Thứ trưởng Hứa Đức Nhị, mặc dù một loạt chương trình như Chương trình 327 phủxanh đất trống đồi trọc, và Dự án trồng mới năm triệu hecta rừng đã nâng độ che phủ lên36% song việc phục hồi rừng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển đời sống kinh tế-xã hội của nhân dân địa phương, yêu cầu phòng hộ và chưa hạn chế tích cực quá trìnhhoang mạc hoá

Trang 2

Sa mạc hoá có nghĩa là sự suy thoái của đất đai tại các vùng khô hạn, bán khô hạn, vùngẩm nửa khô hạn, do các nguyên nhân khác nhau như thay đổi khí hậu và hoạt động của conngười Quá trình sa mạc hoá và thoái hoá đất ở Việt Nam là kết quả của xói mòn đất, đáong hoá, hạn hán, cát bay/cát chảy, đất nhiễm mặn, nhiễm phèn Việt Nam có sa mạc cụcbộ Trong tổng số khoảng 9,34 triệu hecta đất hoang hoá, 7.550.000ha đang chịu tác độngmạnh bởi sa mạc hoá Ước tính quá trình sa mạc hoá mỗi năm làm mất khoảng 20ha đấtnông nghiệp do nạn cát bay, cát chảy và hàng trăm nghìn hecta đất tiếp tục bị thoái hoá TạiQuảng Trị, 20-30ha đất ruộng vườn và cây ăn quả bị cát phủ dày thêm 2m mỗi năm.

Chống sa mạc hoá: Thiếu đồng bộ!

Việc chống sa mạc hoá ở Việt Nam đã được tiến hành trước khi tham gia UNCCD năm

1998, chẳng hạn thông qua việc kết hợp xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế và bảo vệmôi trường Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Ngọc Bình - cục trưởng Cục Lâm nghiệp, cònnhiều kết quả nghiên cứu chống sa mạc hoá chưa được áp dụng trong thực tiễn vì nghiêncứu chưa đi liền với chuyển giao công nghệ, thiếu truyền bá kiến thức và thông tin, hoặckhông gắn với yêu cầu đời sống xã hội Hiện tại còn tình trạng thiếu sự liên kết giữa cơquan ban hành chính sách và người thực hiện ở địa phương Sự phối hợp giữa các ngành,

cơ quan nhà nước các cấp và chương trình dự án cũng chưa chặt chẽ

Hiện chúng ta để sa mạc hoá xảy ra rồi mới chống

Do vậy, các nhà hoạch định chính sách phải hạn chếvà ngăn chặn trước, không để hiện tượng này xảy ra.Đây là vấn đề do ông Sâm thuộc Viện Khoa học Nôngnghiệp nêu lên và được nhiều đại biểu quan tâm Ôngnói: ''Trước đây, khi cà phê lên giá, chúng ta chặtnhiều khu rừng tốt ở Tây Nguyên để mở rộng diệntích Hậu quả hiện giờ là hạn hán nghiêm trọng Phárừng ngập mặn nuôi tôm diễn ra trong nhiều năm tạimiền Nam và hiện tượng này vẫn còn tiếp diễn ở miềnBắc Như vậy, chúng ta chỉ chống mà không phòng''

Ông Pak Sum Low, đại diện Uỷ ban Kinh tế-Xã hộiLHQ tại châu Á (UNESCAP), hoàn toàn đồng ý với ýkiến trên: ''Chúng ta đã rút ra nhiều bài học kinhnghiệm và thấy được tầm quan trọng của quy hoạchkinh tế Khi lập quy hoạch kinh tế, chúng ta phải đánhgiá tác động của nó, chẳng hạn xem xét lợi ích củaviệc mở rộng diện tích cà phê có bù đắp được hậu quả nó gây ra hay không Tôi cho rằngvấn đề ở đây là cần có phương thức tiếp cận tổng hợp để đảm bảo phát triển kinh tế xã hội

7 triệu Toàn quốc

Đụn và bãi

Đất nhiễm

Đồng bằng sôngCửu Long

Khánh Hoà)

Trang 3

đi đối với bảo vệ môi trường.''

Liên quan tới vấn đề này, bà Lê Bích Thắng thuộc Cục Bảo vệ Môi trường cho rằng chống

sa mạc hoá cần sự phối hợp đồng bộ của nhiều ngành Sẽ chẳng có hiệu quả nếu một ngànhcứ chống sa mạc hoá trong khi ngành khác cứ tiếp tục thu hẹp diện tích rừng để nuôi tômhoặc trồng cà phê Phòng ngừa có ý nghĩa quan trọng Một trong các biện pháp chống samạc hoá là quy hoạch hợp lý việc sử dụng tài nguyên đất và rừng Nếu không có rừng, sẽkhông giữ được nước cũng như chắn cát

Thách thức và cơ hội

Tham gia UNCCD là một cơ hội để Việt Nam liên kết chặt chẽ với các quốc gia thành viên,tổ chức quốc tế nhằm chia sẻ kinh nghiệm, các giống cây chịu hạn tốt cũng như thu hútđược nguồn tài trợ để thực hiện các dự án chống sa mạc hoá

Bà Nguyễn Ngọc Lý, trưởng Phòng Phát triển Bền vững thuộcChương trình Phát triển LHQ (UNDP) tại Việt Nam, lưu ý rằng xâydựng những dự án xin tài trợ như vậy hoàn toàn khác dự án ODA, đòihỏi Việt Nam phải hiểu và đáp ứng các yêu cầu khắt khe của nhà tàitrợ, cụ thể là Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) - một trong những cơchế tài chính quốc tế chính của UNCCD Bà nói: ''Việt Nam đi chậmhơn so với các nước khác trong việc đưa ra cơ chế khung để huy độngnguồn tài chính quốc tế, so với Trung Quốc, Malaysia và Ấn Độ Dovậy, ngay từ bây giờ chúng ta phải chuẩn bị năng lực trình bày cũngnhư dự án thuyết phục với dữ liệu chính xác để cạnh tranh''

Cũng theo bà Lý, thông tin kỹ thuật của chúng ta thì nhiều song không chính xác, gây khókhăn cho việc huy động vốn và để các nước khác cạnh tranh mất Do vậy, Ban điều phốiquốc gia thực hiện UNCCD nên hợp tác với Ban điều phối quốc gia GEF để tìm hiểu rõquy định của các nhà tài trợ trong việc xây dựng dự án chống sa mạc hoá Ngoài ra, các cơquan nghiên cứu cũng nên tập trung vào những nghiên cứu mang tính phát triển, không nênthiên quá về kỹ thuật Hiện có nhiều nghiên cứu song chưa đi sâu vào vấn đề tại sao lại xảy

ra sa mạc hoá ngay trong những vùng đất màu mỡ

Một thách thức nữa trong công tác phòng và chống sa mạc hoá ở Việt Nam là nâng caonăng lực quản lý tài nguyên bền vững của các cơ quan cấp tỉnh, huyện, xã Trình độ nhậnthức của cả cấp Trung ương và địa phương về vai trò của quản lý bền vững tài nguyêntrong bảo vệ môi trường và giảm nghèo còn hạn chế Sa mạc hoá diễn ra bởi còn tồn tạinạn chặt phá rừng trái phép, canh tác không bền vững, di cư bất hợp pháp, cháy rừng, khaithác quá mức tài nguyên nước

Việt Nam để sa

mạc hoá xảy ra rồi

mới chống!

Trang 4

Nhận thức và trình độ dân trí thấp cũng là một nguyên nhân cơ bản dẫn tới thoái hoá đất.Vì thiếu nhận thức, hiểu biết nên người dân địa phương còn phá rừng bừa bãi, canh táckhông hợp lý, tham gia thiếu nhiệt tình các hoạt động quản lý tài nguyên, chỉ quan tâm tớilợi ích trước mắt, quên mất mục tiêu lâu dài Đó không chỉ là nguyên nhân dẫn tới suythoái môi trường mà còn dẫn tới đói nghèo.

Theo bà Lý, Việt Nam cần tổ chức các hội thảo quốc gia về chống sa mạc hoá để tổng kếtnhững việc đã làm và tìm cách giải quyết các tồn tại cũng như thách thức trong tương lai

II, Nguyên nhân và hậu quả:

Có thể nói đất đai có giá trị kinh tế trên thế giới không nhiều lắm, thế nhưng chúngđang bị thoái hóa do nhiều nguyên nhân khác nhau, chủ yếu là do sa mạc hóa, xói mòn,nhiễm mặn, và ngập úng

Sa mạc hóa là hiện tượng cát lan rộng phủ lên các bãi cỏ và đất nông nghiệp, baogồm cả những tổn thất về thảm thực vật và tính đa dạng sinh học Quá trình này đang xảy

ra ở các vùng đất khô cằn, nhưng những thiệt hại của nó có lẽ rộng lớn hơn ta thường nghĩ

- Công bố của Bộ NNPTNT khẳng định, có đến 4,3 triệu hécta đất tại nhiều khu vực đang

bị sa mạc hoá, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hơn 20 triệu người dân

Nếu không có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu, diện tích này sẽ còn lan rộng

Số liệu trên đây được Bộ NNPTNT công bố ngày 28.6 tại hội nghị triển khai Chương trìnhhành động quốc gia chống sa mạc hoá Diện tích 4,3 triệu hécta đang bị thoái hoá, sa mạchoá nằm trong số 9 triệu hécta đất hoang hoá ở VN và chiếm khoảng 28% tổng diện tích

Chiếm đến 90% diện tích đất đang chịu tác động sa mạc hoá là các khu vực đất trống, đồitrọc bị thoái hoá mạnh, đất bị đá ong hoá do tình trạng phá rừng và sử dụng đất không hợp

Phần còn lại là các khu vực đụn cát, bãi cát di động tại các tỉnh ven biển miền Trung(419.000ha), hiện tượng đất khô tại các tỉnh Nam Trung Bộ và đất bị xói mòn tại các tỉnhTây Bắc, Tây Nguyên và đất bị nhiễm mặn, nhiễm phèn ở ĐBSCL Bộ NNPTNT cho hay,dù không có những vùng sa mạc tập trung lớn song diện tích đất bị hoang mạc hoá, thoáihoá phân bổ rải rác trên khắp cả nước bên cạnh sự gia tăng của quá trình thoái hoá đất, suy

Các hiện tượng này đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động phát triển kinh tế, xã hộivà xoá đói giảm nghèo tại khu vực nông thôn

Trang 5

Bộ trưởng Bộ NNPTNT - ông Cao Đức Phát - nhận định, mất rừng là nguyên nhân hàngđầu dẫn đến tình trạng hoang mạc hoá, môi trường sinh thái suy thoái và lũ lụt, hạn hán giatăng Thực tế cho thấy chương trình trồng mới 5 triệu hécta rừng mỗi năm được đầu tư1.000 tỉ đồng vẫn không đáp ứng được yêu cầu phòng hộ và hạn chế tích cực quá trình

Do đó đại diện nhiều địa phương cho rằng, cần thực hiện một giải pháp tổng thể gồm trồngrừng phòng hộ, phát triển hệ thống thủy lợi cải tạo đất cát, đất phèn, đất nhiễm mặn, xâydựng các tuyến đê chống cát bay, cát di động và tiến hành cảnh báo sớm, hạn chế ảnh

Nhiều tỉnh như Quảng Trị đã triển khai cải tạo 30.000ha đất cát bằng cách trồng 8.000harừng qua đó cải tạo 5.000ha đất cát thành đất nông nghiệp, xây dựng 19 làng sinh thái vàđào đắp hàng chục kilômét kênh mương dẫn nước cải tạo vùng cát Song do diện tích đấtthoái hoá, đất hoang mạc hoá xuất hiện tại 25/64 địa phương trong cả nước, công tác triểnkhai chương trình hành động quốc gia chống sa mạc hoá đang gặp nhiều khó khăn về kinh

Bộ NNPTNT khẳng định không thể bỏ rơi các vùng đất khô cằn và xác định 4 địa bàn ưutiên chống sa mạc hoá gồm duyên hải miền Trung, Tây Bắc, Tứ giác Long Xuyên và TâyNguyên Các khu vực này thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tàinguyên rừng, nước, tăng cường quản lý sử dụng đất đai, hạn chế ảnh hưởng của hạn hán vàđáp ứng các yêu cầu cấp bách của nhân dân trong khu vực chịu ảnh hưởng

Đại diện Tổ chức Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam - bà Setzuko Yamazakilưu ý phải quan tâm tới giải pháp "sống chung với hạn hán" Với quan điểm này, cần phảitính đến các giải pháp đảm bảo cuộc sống người dân trong điều kiện tài nguyên nước hạnchế và nguy cơ thoái hoá đất dựa trên việc huy động người dân tham gia chống hạn, sửdụng các giống cây trồng chịu hạn, bảo vệ đất và sử dụng bền vững tài nguyên nước

Thời gian tới theo Thứ trưởng Bộ NNPTNT - ông Hứa Đức Nhị, VN sẽ tiếp tục triển khaicác dự án liên quan đến chương trình chống sa mạc hoá với tổng kinh phí 192 triệu USD.Phía các nhà tài trợ hiện cũng phê duyệt 3 dự án quản lý bền vững lâm nghiệp, cải tạo thíđiểm đất sa mạc hoá với tổng vốn trên 8,2 triệu USD

Bên cạnh đó Bộ KHĐT cũng đã trình Thủ tướng kế hoạch phát triển rừng sản xuất giaiđoạn 2007-2015 với tổng vốn đầu tư lên tới 40.000 tỉ đồng cùng với trên 14.600 tỉ đồngcho dự án trồng mới 5 triệu hécta rừng

Trang 6

Tổng thư ký Liên hiệp quốc Ban Ki Moon cũng cho hay mối đe dọa đôi của hiệntượng trái đất nóng dần và nạn sa mạc hóa đang tạo ra điều mà ông gọi là 'những thách

Ông Ban Ki Moon cho biết như thế tại cuộc hội thảo do Liên hiệp quốc tổ chức ở Madridđể bàn về công tác chống nạn sa mạc hóa

Ông nói rằng trái đất nóng dần và sự thay đổi thời tiết có thể khiến cho các vấn đề sa mạchóa, hạn hán và thiếu an toàn lương thực trở nên tệ hại hơn ở những vùng đất vốn đã khô

Hiện tượng đáng ngại hơn sa mạc hóa trên đây là sự thoái hóa dần dần của đất nôngnghiệp Theo đánh giá của UNEP, thế giới hiện có gần 0,2 tỷ ha (khoảng 11% tổng số đấtnông nghiệp) đang bị thoái hóa ở mức trung bình hoặc trầm trọng trong 45 năm qua donhững hoạt động của con người Xói mòn đất là loại thoái hóa chủ yếu Ở các vùng ôn đới,xói mòn đất có tính cục bộ, nhưng vẫn có ảnh hưởng nhất định đến sản lượng nông nghiệp.Xói mòn đất ở Mỹ vào cuối năm 1990 làm sản lượng ngũ cốc giảm từ 3-10% so với khảnăng thu hoạch Tình trạng này nặng nề hơn nhiều ở các nước đang phát triển vùng nhiệtđới, là nơi mà đất đai, lượng mưa và biện pháp canh tác dễ đưa tới xói mòn nhất Tốc độrửa trôi đất luôn lớn hơn nhiều so với tốc độ tạo thành đất tự nhiên Con số dự báo hàngnăm của Costarica, Malauy, Mali và Mêhicô về tổn thất này là 0,5-1,5%/GDP mỗi nước.Ước tính hàng năm có khoảng 6-7 triệu ha đất nông nghiệp không sản xuất được do xóimòn, gấp đôi so với thế kỷ trước

Ngoài ra, sự mở rộng nhanh chóng hệ thống thủy lợi trong 40 năm qua đã nảy sinhvấn đề ngập úng, nhiễm mặn, nhiễm phèn, làm giảm hiệu quả đầu tư vào thủy lợi Toàncầu có khoảng hơn 850 triệu ha (1/4 diện tích đất có khả năng nông nghiệp) bị nhiễm mặn.Hầu hết là do nhiễm mặn tự nhiên, nhưng có khoảng 66 triệu ha, hoặc 50% đất làm thủylợi bị nhiễm mặn do tưới tiêu kém Năng suất bị giảm nghiêm trọng ở khoảng 20 triệu hađất được tưới Bình quân mỗi năm diện tích bị úng, chua, mặn, tăng lên 1,5 triệu ha

Việc đô thị hóa cũng làm mất đi gần 1 triệu ha đất nông nghiệp mỗi năm, phần lớnlà đất tốt ở những vùng có điều kiện tưới tiêu thuận lợi

Cơ cấu sử dụng đất ở Việt Nam có xu hướng giống như trên thế giới, tăng đất nôngnghiệp, giảm đất rừng, tăng đất chuyên dùng và đất trống đồi trọc Đất nông nghiệp tăngchủ yếu do phá rừng ở Tây Nguyên, Đông nam bộ và 1 phần ở đồng bằng sông Cửu Long.Riêng các vùng đồng bằng Bắc bộ, khu 4 và duyên hải Trung bộ, đất nông nghiệp bị giảm,bình quân mỗi năm giảm 10.000ha, chủ yếu là loại đất tốt do dân số và đô thị hóa gia tăng.Đất trống đồi trọc – thực chất là đất đã bị thoái hóa sau quá trình sử dụng quá mức, trungbình từ 1980 – 1994 tăng mỗi năm gần 1%, hiện nay chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng diệntích tự nhiên: 42,2%

Suy thoái đất ở Việt Nam chủ yếu là do xói mòn, rửa trôi Cường độ xói mòn đất đạttừ 150 – 200 tấn/ha/năm, trong khi tốc độ tạo đất chỉ từ 2.5 – 12.5 tấn/ha/năm Cả nước

Trang 7

mỗi năm mất 700 – 800 triệu tấn thổ nhưỡng rửa trôi ra sông ngòi và biển cả, kéo theo đólà nhiều chất dinh dưỡng.

Ô nhiễm môi trường đất cũng đang có chiều hướng tăng lên do tăng mức sử dụngcũng như sử dụng không hợp lý các dạng phân bón, chất thải rắn đô thị chưa được thu gomvận chuyển và xử lý kịp thời

Việt Nam hiện vẫn còn sử dụng một số loại thuốc mà thế giới hạn chế hoặc cấmdùng như Methyl Parathin (thuộc nhóm lân hữu cơ) – loại độc nhất hiện nay Nhiều nơihãy còn dùng phân tươi tưới trực tiếp cho rau, hoa quả, đã gây ô nhiễm sinh học nghiêmtrọng đến đất trồng, và ảnh hưởng lập tức đén sức khỏe con người Tổng lượng rác thải đôthị Việt Nam đạt khoảng 15- 18 nghìn m3/ngày đêm và ngày càng tăng lên, trong khi cácbãi đổ rác đã trở nên nhỏ hẹp, không đúng quy cách kỹ thuật vệ sinh môi trường, xử lý rácbằng phương pháp công nghiệp còn rất hạn chế

B, Ô nhiễm môi trường nước:

1, Hiện trạng môi trường nước:

Dưới dạng nước mưa và dòng chảy, nước là một chất hòa tan duy nhất giải quyếtviệc vânk chuyển các chất dinh dưỡng chủ yếu cho sự sống trong thiên nhiên Đối với nềnkinh tế – xã hội, nước là một trong những yếu tố quan trọng nhất Nó được sử dụng chocác mục đích công nghệ: sản xuất các dung dịch, làm nguội và làm nóng mày móc thiết bị,vận chuyển nguyên liệu và tống đẩy các phế liệu; sức nước tạo thủy điện, và cho các mụcđích vệ sinh, phòng bệnh… Trong nhiều ngành sản xuất, nước là nguyên liệu gốc, là nửathành phẩm và trong một số trường hợp, là một trong những thành phần chủ yếu của thànhphẩm Con người mỗi ngày cần 2,5l nước uống

Tổng lượng nước ngọt trên toàn thế giới là 40,9 nghìn km3, phân bố nhiều nhất ởChâu Mỹ La Tinh và Caribê(26%), Đông Á và Thái Bình Dương (22,7%) Nếu xét trữluợng nước bình quân đầu người, đứng đầu vẫn là Châu Mỹ La Tinh và Caribê (23,9 nghìn

m3/người) Trung Đông và Bắc Phi là nơi ít nhất, cả về trữ lượng (0,73%) lẫn nước bìnhquân đầu người (1ngàn m3/người)

Trong sử dụng, nên phân biệt 2 dạng nước:

- Nước thu hồi được: là lượng nước sau khi rút ra khỏi nguồn được chuyển đến nơisử dụng

- Nước tiêu thụ: là lượng nước sau khi rút ra khỏi nguồn nó không có giá trị lâu dàihơn cho tái sử dụng trong địa phương do sự bốc hơi dự trữ lâu dài trong các cơ thể sốngcủa động thực vật, hoặc thấm qua tạo độ ẩm trong đất

Mức sử dụng nước của con người gia tăng nhanh chóng, trong 3 thế kỷ qua, mức sửdụng tăng hơn 35 lần, và theo dự kiến, mức sử dụng nước sẽ tăng từ 30 -35% trong năm

2000 Hầu hết ở các quốc gia, tưới tiêu trong nông nghiệp là nguồn tiêu thụ nước chính,chiếm khoảng 70% lượng nước cung cấp

Trang 8

Tuy nhiên chỉ có 40% nước tưới được dùng để phát triển mùa màng, phần còn lại làlãng phí đi và gây ra tình trạng ngập úng, nhiễm phèn, mặn.

Mức sử dụng nước ở các nước đang phát triển hàng đầu cao gấp 3 lần các nước đangphát triển Cơ cấu dùng cũng có khác nhau, các nước phát triển dùng nhiều nước trong sảnxuất công nghiệp hơn

Lượng nước ngọt nói chung phong phú, nhưng phân bố không đều theo khu vực vàtrong năm nên nảy sinh những vấn đề khá nghiêm trọng về thiếu và thừa nước Ở các vùngTrung cận đông và bắc Châu Phi, có 22 quốc gia mức bình quân nước đầu người <1000

m3 Khan hiếm nước ở đây là một sự thực khắc nghiệt mang tầm cỡ quốc gia Người dânphải đi từ 16 -25 km/ngày để lấy nước Cũng ở khu vực trên có 18 quốc gai mức bình quândưới 2000m3/ người, chỉ giảm căng thẳng trong mùa mưa Ở Trung Quốc, Tây và Nam ẤnĐộ, Mêhicô, Inđônêsia, khan hiếm nước xảy ra trên qui mô vùng cũng khá nghiêm trọng.Nhiều nhà máy ở Inđônêsia việc ngưng hoạt động trở thành thông lệ vào mùa khô

Để giải quyết tình trạng khan hiếm nước bề mặt, các nước này đã tăng cường sửdụng nước ngầm Và do nước ngầm bị khia thác với tốc độ nhanh hơn tốc độ khôi phụccủa nước tự nhiên, nên mực nước ngầm giảm mạnh Thí dụ: 10 tỉnh, thành phố phía bắcTrung Quốc (Bắc Kinh, Tây An, Thiên Tân…) chủ yếu dùng nước ngầm để cấp nước, mỗinăm mực nước ngầm giảm xuống 1m, tại bang Tamil Nadu ở miền nam Ấn Độ, sau 1 thậpniên bơm nước với cường độ lớn đã làm mực nước giảm xuống hơn 25m

Tình trạng này khiến cho lượng nước ngầm nhiễm mặn tăng lên, sụt lún đất giảmkhả năng tích tụ nước của lớp vở

Ngược lại, nhiều nước ở Châu Mỹ la tin, Đông Á và Thái Bình Dương, vào mùamưa lượng nước ào ạt đã gây nên lũ lụt, ngập úng Tai họa do lũ lụt đã giết hại hàng nghìnngười và làm tổn thất hàng tỉ đô la mỗi năm

Nước sinh hoạt ô nhiễm nặng (Tuổi trẻ, ngày 02/04/2008)

Nguồn nước ở nhiều nơi nhiễm phèn, hóa chất, thậm chí còn bị nhiễm lưu huỳnh rấtdễ ngộ độc và gây ra một số bệnh nguy hiểm nhưng người dân vẫn phải sử dụng Theo sốliệu của Chi cục Thủy lợi và phòng chống lụt bão TP Đà Nẵng, hiện nay chỉ có 54% sốdân nông thôn toàn TP được sử dụng nước sạch Nhiều vùng như thôn Phong Nam (xãHòa Châu), khu tái định cư ở xã Hòa Phong, thôn Trung Sơn 1 (xã Hòa Liên) phải sửdụng nước nhiễm phèn, nhiễm chì khá cao, gây ra một số bệnh làm người dân rất lo lắng

Sợ bị bệnh nhưng vẫn phải sử dụng

Thôn Phong Nam, xã Hòa Châu có 483 hộ với 2.000 nhân khẩu, chỉ cách Nhà máynước Cầu Đỏ chừng 3km Vậy mà các hộ dân ở đây bao năm nay vẫn phải sử dụng nguồnnước nhiễm phèn và nhiễm chì khá cao Bà Ngô Thị Nghiên cho biết: "Nước múc từ giếnglên để một vài phút là thấy vàng khè, mùi tanh và cặn bẩn, dù có bể lọc nhưng cũng khônghết" Mỗi ngày bà Nghiên phải đến Nhà máy nước Cầu Đỏ mua hai thùng nước với giá2.000 đồng để dùng Bà Dư Thị Lực bức xúc: "Nước như thế này uống vào rất lo Ở đâynhiều người chết vì bệnh ung thư nên người dân rất lo lắng Cả làng này mong có nướcsạch để không đi mua nước mỗi ngày nữa"

Trang 9

Theo ông Nguyễn Ngọc Ba - trưởng Trạm y tế xã Hòa Châu, thống kê trong hai năm

2006 và 2007 cả thôn có 16 người chết, trong đó có năm người chết vì ung thư, người dânrất sợ vì cho rằng nguyên nhân từ nguồn nước "Nguồn nước ở thôn Phong Nam nhiễmquá nhiều phèn và hóa chất Thậm chí có nhiều vùng còn bị nhiễm lưu huỳnh rất dễ ngộđộc và gây ra một số bệnh nguy hiểm" - ông Ba nhận xét Trong khi đó, người dân thônTrung Sơn, xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang hằng ngày phải sống chung với nguồn nước thảitừ các nhà máy ở Khu công nghiệp Hòa Khánh đổ ra khiến nước sinh hoạt bị ô nhiễmnặng Nhiều người bị bệnh da liễu, phụ nữ bị bệnh phụ khoa

Nước sạch chỉ đạt 3-4%

Theo số liệu của đội y tế dự phòng huyện Hòa Vang, hiện nay toàn huyện chưa tới5% số hộ dùng nước máy, 4.000 hộ dùng nước giếng khoan, 358 hộ dùng nước tự chảy(dùng hệ thống máng dẫn nước từ sông, suối về), còn lại là dùng nước từ giếng đào Trongkhi đó bác sĩ Nguyễn Ngọc Tửu, đội trưởng đội y tế dự phòng huyện, cho biết phần lớncác giếng nước đều không đạt yêu cầu

Năm 2007, trong số 60 mẫu nước xét nghiệm chỉ 5% có thể sử dụng được Phần lớnđều bị nhiễm vi sinh, coliform hoặc bị nhiễm hữu cơ do nguồn rác, phân, nước thải ngấmvào Điều này chắc chắn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân Đặc biệttrong những năm gần đây, tỉ lệ ung thư ở một số làng như Cẩm Nê (Hòa Tiến), PhongNam (Hòa Châu) tăng cao làm người dân rất lo lắng

Theo ông Lê Duy Vọng - chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi và phòng chống lụt bãoĐà Nẵng, dự định năm 2010 sẽ có ít nhất 80% người dân vùng nông thôn toàn TP được sửdụng nước sạch, nguồn kinh phí cần khoảng 100 tỉ đồng Tuy nhiên, ông Vọng nói: "Mỗinăm chi cục chỉ được cấp 4-5 tỉ đồng từ nguồn vốn của TP và nguồn vốn của dự án cungcấp nước sạch vùng nông thôn Do vậy, mỗi năm chúng tôi chỉ cung cấp thêm được 3-4%lượng nước sạch cho người dân" Ông Vọng cho biết thêm: "Trước mắt, chúng tôi ưu tiênnguồn kinh phí để cung cấp nước sạch cho những vùng bị ô nhiễm nặng về nguồn nướcnhư ở Phong Nam và khu tái định cư trụ sở UBND huyện Hòa Vang Người dân các vùngđồng bằng phải sử dụng nguồn nước khoan chưa bị ô nhiễm; vùng trung du, miền núi sửdụng nguồn nước sông suối với hệ thống bể lọc vừa rẻ lại thuận tiện"

Hồ trong phố: Kè rồi vẫn bẩn! (Lao động, ngày 31/03/2008 )

Hà Nội đang tập trung xây kè, nạo vét và chỉnh trang lại khuôn viên của nhiều "láphổi xanh" trong TP nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm Nhưng xem ra công việc này vẫntỏ ra thiếu hiệu quả, khi mà cả hồ lớn, hồ bé trong thành phố vẫn bẩn như thường!

Hồ bẩn: Chuyện dài nhiều tập

Vừa tìm chỗ gửi xe để tản mát quanh hồ Xã Đàn (phường Nam Đồng - Đống Đa) thìmột cơn gió thoảng nhẹ qua mũi chúng tôi, mang theo mùi khai nồng của bùn và cá chết.Nước ở hồ cạn, trơ ra một mảng đáy hồ đầy rác rưởi, rải rác có người đi dọc bờ nhặt đồngnát Trên mấy bậc tam cấp dẫn xuống hồ, cơ man nào là vỏ lon, bát hương và cả xác cá nổidập dềnh, bốc mùi hôi thối

Trang 10

Hồ Linh Đàm - một hồ lớn và nằm trong khu đô thị mới của thành phố - cũng đồng

"cảnh ngộ" Gần một tháng nay, dân cư sống ở khu vực đường đôi Linh Đàm và người điđường phải chịu mùi hôi thối, tanh nồng bốc lên từ phần hồ đã rút hết nước Ven hồ đầytúi nylon, vỏ kẹo bánh, đặc biệt cửa cống nước thải sinh hoạt từ khu dân cư, được đổ trựctiếp xuống hồ

Hơn nữa hồ đang được tận dụng để nuôi cá, theo các chuyên gia, việc này có thểđem lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng có tác động bất lợi với người dân trong khu vực Hồnuôi cá nhưng vẫn tiếp nhận nước thải sinh hoạt từ khu dân cư đồng nghĩa với việc hoà lẫnchất thải hữu cơ và amoni hàm lượng cao Điều này càng nguy hiểm hơn với những hộ dânsử dụng nước ngầm trực tiếp trong khu vực

Nằm ở phía nam TP, một loạt các hồ lớn là Yên Sở, Linh Đàm và Định Công đượcxem là các hồ đầu mối đóng vai trò điều hoà nước mưa Theo Bộ Xây dựng, trong quyhoạch tổng thể thoát nước HN, các hồ này sẽ tiếp nhận trực tiếp nước thải sau khi xử lý tạichỗ từ lưu vực thoát nước số 7 Chỉ riêng hồ đầu mối Yên Sở phải oằn mình mỗi khi điềuhoà nước từ kênh Yên Sở, dòng kênh có màu đen kịt, đặc quánh và luôn bốc lên mùi thốiđặc trưng của hàng nghìn mét khối nước thải từ thành phố đổ về

Ngay tại nội thành, hồ Linh Quang (phường Văn Chương - Đống Đa) nằm lọt thỏmgiữa khu dân cư, đông đúc chật hẹp Hồ nhìn không khác gì một cái ao làng bị bỏ quên vớicỏ bèo mọc um tùm, xung quanh là mấy dãy nhà dân lụp xụp với mấy cái lán dựng tạm bợ.Đặc biệt ngay sát hồ có một cái chợ cóc, rác rưởi ùn ùn chất thành đống và nghiễm nhiêntrở thành bãi rác của chợ Mấy bà hàng rau quả cuối ngày gom các loại quả thối, rác rưởi,dửng dưng quẳng xuống bờ hồ

Hồ Linh Quang là hình ảnh cũ của hồ Kim Liên, hiện nay hồ đang được nạo vét, xây

kè Khi rút cạn nước, người ta được mục kích lớp bùn đặc quánh lẫn rác thải là nguyênnhân khiến hồ Kim Liên trước đây chỉ như "cái ao bùn" Đến những hồ được tiếng sạchđẹp như hồ Ngọc Khánh, người đi bộ vẫn bắt gặp tình trạng mặt nước nổi váng, rác khôngchìm xuống được và cá con chết nổi trắng bụng ở một góc hồ

Ô nhiễm do ý thức con người

Trao đổi với PV Báo Lao Động, bà Trần Thu Thuỷ - Phó Chủ tịch UBND phườngNam Đồng - khẳng định: "Hồ Xã Đàn được kè bờ vào cuối năm 2007 do phường trực tiếpquản lý Đến nay, tình trạng ô nhiễm đã giảm đáng kể so với mọi năm, song chưa hoàntoàn triệt để bởi ý thức của một số hộ dân sống quanh hồ vẫn chưa cao" Một người dânsống lâu năm tại đây cũng than thở: "Xây kè rồi vẫn rất ô nhiễm, cứ nắng lên là lượng rácthải lại tăng, hàng quán hai bên hồ thi nhau mọc lên, ngang nhiên đổ rác xuống hồ"

Ông Nguyễn Đình Huấn - Chủ tịch phường Văn Chương, địa bàn có hai hồ HuyVăn và Linh Quang - bày tỏ lo lắng: "Cái khó nhất hiện nay là làm thế nào để duy trì cảnhquan môi trường tại hồ sau khi được chắn kè và xây dựng Không ít người dân vẫn chứngnào tật ấy, quen tay tấp rác quanh hồ và mặc nhiên xem đó là nhiệm vụ của người laocông" Hồ Huy Văn đã chắn kè tạo cảnh quan thông thoáng, nhưng chỉ cách hồ vài mét làmấy đống rác to tướng ngang nhiên tồn tại trên đường dẫn ra hồ Còn với thực trạng hồ

Trang 11

Linh Quang, ông Huấn cho biết hồ chỉ được bàn giao lại cho phường sau khi hoàn thànhviệc cải tạo.

Nhiều hồ được xây dựng, sửa sang đẹp đẽ rồi trở thành địa điểm kinh doanh thuậnlợi cho một số người, kèm theo đó là các hoạt động khiến môi trường quanh hồ lại "táibẩn" Cứ tầm 5 giờ chiều hàng ngày, không gian thoáng đãng, mát mẻ tại hồ Đống Đabỗng chốc trở nên nhộn nhịp Không kể những hàng càphê, bia hơi, rượu dân tộc củanhững gia đình có vị trí mặt tiền hướng ra hồ bung ra tiếp khách, hàng loạt quán cóc vớichiếu cói cơ động sẵn sàng phục vụ rượu đế, mực nướng cho khách hóng gió ven hồ Địađiểm tập trung nhiều khách du lịch như hồ Trúc Bạch cũng không thoát khỏi tình trạng lộnxộn, mất mỹ quan mỗi khi chiều về

Khách bộ hành tập thể dục ngoài việc tránh hàng quán, còn phải "né" những túi nylon rác sinh hoạt của các hộ dân xếp "ngay ngắn" trên con đường lát gạch quanh hồ "Ý thức" hơn một chút, các hộ dân sống gần đó tập kết rác tại chân cột đèn ven hồ để người thu gom dễ nhận ra.

Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong

việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình

trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại

Tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp

lực ngày càng nặng nề dối với tài nguyên nước trong vùng lãnh thổ Môi

trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô

nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn ở các thành phố lớn, hàng trăm

cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có

công trình và thiết bị xử lý chất thải Ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp

là rất nặng Ví dụ: ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và

bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11; chỉ số nhu cầu ô xy

sinh hoá (BOD), nhu cầu ô xy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và

2.500mg/1; hàm lượng chất rắn lơ lửng cao gấp nhiều lần giới hạn cho

phép

Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84

lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã

gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước mặt trong vùng dân cư

Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công

nghiệp tập trung là rất lớn

Trang 12

Tại cụm công nghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn nước bịnhiễm bẩn bởi nước thải công nghiệp với tổng lượng nước thải ước tính500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy, bột giặt, nhuộm, dệt ở thành phố TháiNguyên, nước thải công nghiệp thải ra từ các cơ sở sản xuất giấy, luyện gangthép, luyện kim màu, khai thác than; về mùa cạn tổng lượng nước thải khuvực thành phố Thái Nguyên chiếm khoảng 15% lưu lượng sông Cầu; nướcthải từ sản xuất giấy có pH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượngchất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…

Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ởBắc Ninh cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý,gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực

Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy rõ nhất là ở thành phố Hà Nội vàthành phố Hồ Chí Minh ở các thành phố này, nước thải sinh hoạt không cóhệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh,mương) Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất không xử lý nước thải, phầnlớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống xử lý nước thải; mộtlượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là nhữngnguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong cáckênh, sông, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng

ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thải của thành phố lên tới 300.000 400.000 m3/ngày; hiện mới chỉ có 5/31 bệnh viện có hệ thống xử lý nướcthải, chiếm 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ sở sản xuất có xử lýnước thải; lượng rác thải sinh hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngàyđang xả vào các khu đất ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ sốBOD, oxy hoà tan, các chất NH4, NO2, NO3 ở các sông, hồ, mương nội thànhđều vượt quá quy định cho phép ở thành phố Hồ Chí Minh thì lượng rác thảilên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có xử lý nước thải;

Ngày đăng: 25/01/2014, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w