TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN (DADS 13-HVTP) GIỮA Công ty TNHH Kim Lân (gọi tắt là công ty Kim Lân) địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh Khương, Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, ký kết Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL có hiệu lực 12 tháng để bán máy thiết bị làm máy ổn áp LIOA cho Công ty TNHH Nhật Linh (gọi tắt là công ty Nhật Linh) địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh Khương, Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh theo các đơn đặt hàng và chứng từ giao thực tế.
Trang 1
HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn: DÂN SỰ
Mã hồ sơ:
Diễn lần:
Ngày diễn:
GVHD:
Họ và tên:
Lớp:
Số báo danh:
Vai diễn: ………
…, ngày 11 tháng 12 năm 2021
Trang 2VỤ ÁN TRANH CHẤP
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
Trang 3NỘI DUNG
I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HỒ SƠ
1 Tóm tắt nội dung vụ án
Ngày 02/01/2015, Công ty TNHH Kim Lân (gọi tắt là công ty Kim Lân) địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh Khương, Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, ký kết Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL có hiệu lực
12 tháng để bán máy thiết bị làm máy ổn áp LIOA cho Công ty TNHH Nhật Linh (gọi tắt là công ty Nhật Linh) địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh Khương, Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh theo các đơn đặt hàng và chứng từ giao thực tế
Ngày 25/2/2016 hai bên lập Biên bản đối chiếu công nợ về việc chốt nợ đến ngày 31/12/2015 là 3.270.212.570 đồng,
Ngày 8/5/2016 biên bản đối chiếu công nợ để xác nhận công nợ tính đến ngày 30/4/2016, số tiền Công ty Nhật Linh đang nợ chưa thanh toán là 3.177.970.970 đồng
Ngày 17/5/2016, Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh đã làm việc với nhau để giải quyết việc thanh toán tiền hàng và bàn giao tài sản cho hai bên
Ngày 27/5/2016 Tại công văn số 77/CV-NL công ty Nhật Linh đã thông báo với công ty TNHH Kim Lân về lộ trình và phương thức thanh toán nợ như sau: Mỗi tuần thanh toán một lần với số tiền là 300 triệu đồng vào các ngày thứ
6 hàng tuần cho đến khi hết và việc thanh toán kết thúc vào ngày 30/7/2016 Ngày 07/6/2016, bằng Công văn số 87/CV-NL công ty TNHH Nhật Linh đã thể hiện việc không trả nợ công ty TNHH Kim Lân như đã nêu trên
Ngày 10/7/2016 Công ty Kim Lân đã nộp đơn khởi kiện công ty Nhật Linh tại tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh để yêu cầu tòa án buộc công ty Nhật Linh phải trả cho công ty Kim Lân số tiền nợ gốc là 3.270.212.570 đồng (Ba tỷ hai trăm bảy mươi triệu hai trăm mười hai nghìn năm trăm bảy mươi đồng) và lãi suất theo quy định của pháp luật
Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện gồm có:
1 Bản sao Hợp đồng nguyên tắc số 01/2015/NLBN-KL
2 Bản sao GCNĐKKD Công ty TNHH Kim Lân
3 Bản sao Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016
Trang 44 Bản sao Biên bản đối chiếu công nợ ngày 08/5/2016
5 Bản sao Công văn số 0506 ĐN/CN ngày 09/5/2016
6 Hóa đơn GTGT
Ngày 21/8/2016, TAND Huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh ra thông báo số 05/2016/TB-TLVA thông báo về việc thụ lý vụ án
Ngày 3/9/2016 TAND Huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh tiến hành hòa giải
Ngày 25/9/2016 Công ty Nhật Linh nộp đơn xin tạm đình chỉ giải quyết vụ án
Ngày 25/9/2016 TAND Huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh ra quyết định
số 03/2016/QĐST-KDTM tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Ngày 18/10/2016 Công ty Kim Lân nộp đơn về việc tiếp tục giải quyết vụ án
Ngày 28/10/2016 TAND Huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh ra quyết định
số 30/2016/QĐST-KDTM tiếp tục giải quyết vụ án dân sự
Ngày 30/10/2016 Công ty Kim Lân chỉ yêu cầu Công ty Nhật Linh phải trả
số tiền nợ gốc là 3.250.319.430 đồng và lãi suất tạm tính là 250.000.000 đồng
Ngày 15/11/2016 Công ty Nhật Linh có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản trên đất Kim Lâm
Ngày 17/11/2016, Công ty Nhật Linh nộp Đơn phản tố đòi lại 12 tài sản trên đất của Kim Lân và đòi cấn trừ khoản nợ trên
Ngày 22/11/ 2016 TAND Huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh ra quyết định
số 01/2016/QĐ-BPKCTT quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại công ty Kim Lân
Ngày 26/12/2016 TAND Huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh ra quyết định Số: 12/2016/QĐXXST-KDTM quyết định đưa vụ án ra xét xử
2 Kết quả nghiên cứu hồ sơ
2.1 Vấn đề về tố tụng
Trang 52.1.1 Quyền khởi kiện:
Theo hồ sơ vụ án, Ngày 07/6/2016, bằng Công văn số 87/CV-NL Công ty
TNHH Nhật Linh đã thể hiện việc không trả nợ công ty TNHH Kim Lân
Như vậy, ngày 07/6/2016 chính là ngày mà quyền và lợi ích hợp pháp của Công
ty Kim Lân bị xâm phạm Cho nên Công ty Kim Lân có quyền khởi kiện
1.1.2 Thời hiệu khởi kiện:
Căn cứ Điều 319, Luật Thương mại 2005 quy định:
“Điều 319 Thời hiệu khởi kiện
Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể
từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 của Luật này.”
Theo hồ sơ vụ án, Ngày 07/6/2016, bằng Công văn số 87/CV-NL công ty
TNHH Nhật Linh đã thể hiện việc không trả nợ công ty TNHH Kim Lân
Như vậy, ngày 07/6/2016 cũng chính là ngày mà quyền và lợi ích của Công ty Kim Lân bị xâm phạm Đến ngày 10/7/2016 Công ty Kim Lân khởi kiện ra Tòa
án vì vậy vẫn còn trong thời hiệu khởi kiện
2.1.3 Xác định tư cách đương sự trong vụ án:
Nguyên đơn: Căn cứ theo khoản 2 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm
2015:
Nguyên đơn: Công ty TNHH Kim Lân
Địa chỉ trụ sở: Cụm công nghiệp Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh
Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Anh Tuấn Chức vụ: Giám Đốc
Đại diện theo ủy quyền: Bà Kiều Thị Hải Vân
Bị đơn: Căn cứ theo khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Bị đơn: Công ty TNHH Nhật Linh.
Địa chỉ trụ sở: Cụm công nghiệp Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Chí Linh Chức vụ: Giám Đốc
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến Công
1.1.3 Thẩm quyền giải quyết.
Trang 6Căn cứ vào Điều 5.1 quy định.
“Điều 5: Điều khoản chung
5.1 Hai bên cam kết thực hiện đúng và đầy đủ các điều khoản đã ghi trong hợp đồng này Không bên nào được tự ý hủy bỏ hoặc thay đổi mà không có sự thỏa thuận của bên kia Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có những mâu thuẫn hoặc tranh chấp xảy ra, hai bên phải cùng nhau thỏa thuận giải quyết thỏa đáng, chân tình bằng văn bản Nếu không thỏa thuận được hai bên sẽ viện đến trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội, phán quyết của trọng tài kinh tế TP Hà nội sẽ là quyết định cuối cùng và bắt buộc hai bên phải thi hành Các chi phí kiểm tra, xác minh và lệ phí tòa án do bên có lỗi chịu.”
Tuy nhiên xét thấy, không có Trung tâm trọng tài nào có tên là “trọng tài kinh tế Thành phố Hà Nội” cho nên Điều khoản này bị vô hiệu
Căn cứ Điều 6 Luật Trọng tài thương mại năm năm 2010 quy định về trường hợp Toà án từ chối thụ lý trong trường hợp có thoả thuận trọng tài như sau:
“Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được.”
Như vậy, thẩm quyền giải quyết tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh thuộc Tòa án vì thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được
Căn cứ vào khoản 1, Điều 30 BLTTDS 2015 quy định “1 Tranh chấp phát
sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận” và điểm b, khoản 1, điều
35, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:
“Điều 35 Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện
1 Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:
a) …
b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;”
Nhu vậy, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện
Trang 7Căn cứ tại Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy
định: “Tòa án nơi bị đơn có trụ sở nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm” Qua nội dung hồ sơ thì bị đơn là Công
ty TNHH Nhật Linh có địa chỉ trụ sở tại Cụm công nghiệp Thanh Khương, Thuận Thành, Bắc Ninh Do đó thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thuộc Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh như hồ sơ thể hiện là đúng quy định của pháp luật
2.2 Vấn đề về nội dung
2.2.1 Yêu cầu của Nguyên đơn
Công ty Kim Lân yêu cầu Công ty Nhật Linh phải trả số tiền nợ gốc là
3.250.319.430 đồng và lãi suất tạm tính là 250.000.000 đồng
Bị đơn có yêu cầu phản tố: Công ty Nhật Linh nộp Đơn phản tố đòi lại 12 tài sản trên đất của Kim Lân và đòi cấn trừ khoản nợ trên
2.2.2 Quan hệ pháp luật tranh chấp:
Theo nội dung hồ sơ thể hiện, Công ty Kim Lân đòi Công ty Nhật Linh trả tiền hàng hóa còn nợ phát sinh từ Hợp Đồng Nguyên Tắc ký ngày 02/01/2015
Cho nên, đây là tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc tranh chấp về kinh doanh, thương mại theo quy định tại Khoản 1, Điều 30 Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015
2.2.3 Các nội dung các bên đã thống nhất:
Các bên chưa thống nhất được nội dung nào
2.2.4 Các nội dung các bên đang tranh chấp:
- Các bên chưa thống nhất được số nợ gốc
- Các bên chưa thống nhất được việc đòi lại tài sản trên đất của bị đơn theo Đơn phản tố
Trang 8II KẾ HOẠCH HỎI ( Với vai trò Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn).
II.1 Hỏi nguyên đơn: Đại diện theo ủy quyền của Công ty Kim Lân
Nguyên đơn hãy cho biết tại sao lại khởi kiện công ty Nhật Linh?
Hiện tại phía bị đơn còn nợ bao nhiêu tiền?
Số tiền nợ đó bị đơn có biết không?
Bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016 có được các bên thống nhất hay không? Ngày 17/5/2016 hai bên đã thống nhất với nhau về những vấn đề gì?
Công ty Nhật Linh có cam kết trả nợ phải không?
Căn cứ vào đâu nguyên đơn cho rằng công ty Nhật Linh không trả nợ cho mình?
2.2 Hỏi bị đơn: Đại diện theo ủy quyền của Công ty Nhật Linh
Tại sao Công ty Nhật Linh từ chối thanh toán cho Kim Lâm theo Hợp đồng nguyên tắc ký ngày 02/01/2015?
Ngày 25/2/2016 bị đơn ký xác nhận trong Biên bản đối chiếu công nợ đúng không?
Vậy bị đơn xác nhận số nợ 3.250.319.430 đồng phải không?
Tại sao ngày 27/5/2016 công ty Nhật Linh đã thông báo với nguyên đơn về lộ trình và phương thức thanh toán nợ nhưng lại không thực hiện?
Dựa trên cơ sở nào mà phía bị đơn cho rằng Công ty Nhật Linh có góp vốn vào công ty Kim Lân?
Góp theo hình thức nào? Có hợp đồng góp vốn không?
Có Hóa đơn chứng từ chứng minh việc góp vốn hay không? Số vốn góp là bao nhiêu?
Căn cứ vào đâu mà bị đơn lại đòi tài sản trên đất của Công ty Kim Lân?
Bị đơn có gì chứng minh rằng những tài sản đó là của Công ty Nhật Linh? Những tài sản đó là tài sản gì?
Trang 9III LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP
NGƯỜI KHỞI KIỆN.
ĐOÀN LUẬT SƯ TP HN
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ HG
-o0o -CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-o0o -…, ngày … tháng … năm 2021
BẢN LUẬN CỨ BÀO CHỮA
(Vụ án Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa)
Kính thưa: - Hội đồng xét xử!
- Thưa vị đại diện Viện Kiểm sát;
- Thưa toàn thể quý vị có mặt tại phiên tòa hôm nay
Tôi là Luật sư V- thuộc Văn Phòng Luật Sư HG, Đoàn luật sư TP HN Tôi tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Công ty TNHH Kim Lân địa chỉ: Cụm công nghiệp Thanh Khương, Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh là nguyên đơn trong vụ án dân sự sơ thẩm
“Tranh chấp kiện đòi nợ tiền hàng ” với bị đơn là Công ty TNHH Nhật Linh địa
chỉ: Cụm công nghiệp Thanh Khương, Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Vụ án hiện đang được TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm theo hồ sơ thụ lý số 05/TLST-KDTM ngày 21/8/2016 Nay được đem ra xét xử theo Quyết định số: 12/2016/QĐXXST-KDTM ngày 26/12/2016
Trước hết, tôi xin được chân thành cảm ơn HĐXX đã tạo điều kiện cho tôi được nghiên cứu hồ sơ và tham dự phiên tòa
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành và qua diễn biến thực tế của phiên tòa hôm nay, tôi xin trình bày quan điểm bảo vệ cho Nguyên đơn như sau:
1 Yêu cầu Công ty TNHH Nhật Linh có trách nhiệm thanh toán số nợ gốc cho Công ty TNHH Kim Lân và lãi phát sinh do chậm trả cụ thể như sau:
- Số tiền nợ gốc: 3.250.319.430 đồng
Trang 10- Số tiền lãi chậm trả phát sinh từ số nợ gốc theo quy định pháp luật từ ngày bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán là ngày 07/06/2016 đến ngày khởi kiện tạm tính là 250.000.000 đồng
Như vậy, tổng số tiền phải thanh toán là: 3.500.319.430 đồng (Ba tỷ năm
trăm triệu ba trăm mười chín nghìn bốn trăm ba mươi đồng)
Yêu cầu trên của thân chủ tôi là hoàn toàn có cơ sở để chấp nhận Bởi lẽ:
Thứ nhất, ngày 02/01/2015 giữa Công ty Kim Lân và Công ty Nhật Linh
có ký hợp đồng nguyên tắc về mua bán hàng hóa với thời hạn là 12 tháng Sau khi kết thúc thời hạn hợp đồng các bên đã tiến hành chốt công nợ hợp đồng
Căn cứ vào Điều 2 của Hợp đồng nguyên tắc “Bên mua sẽ thanh toán cho
bên bán sau khi bên bán hoàn tất việc giao hàng cho bên mua tại đúng địa điểm giao hàng như thỏa thuận.”
Cụ thể ngày 25/2/2016 hai bên thống nhất chốt số nợ và ký xác nhận vào Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/2/2016 (BL 27) xác nhận Công ty Nhật Linh còn nợ Công ty Kim Lân tính đến hết ngày 31/12/2015 số tiền là
3.250.319.430 VNĐ
Biên bản có đầy đủ chữ ký đại diện và con dấu của hai bên Bằng biên bản này, Công ty Nhật Linh đã xác nhận khoản nợ và nghĩa vụ trả nợ của mình đối với Công ty Kim Lân Từ Sự thừa nhận này, bị đơn xác nhận có khoản nợ này trên thực tế và Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/02/2016 là một chứng cứ có giá trị chứng minh rất cao
Biên bản làm việc ngày 17/5/2016 giữa Công ty Kim Lân và Công ty Nhật
Linh, đại diện Công ty Nhật Linh – Bắc Ninh cam kết sẽ thanh toán cho công
ty Kim Lân tiền hàng còn nợ nhưng lộ trình và phương thức thanh toán theo thỏa thuận giữa 2 bên trong thời gian sớm nhất (Bút lục 33)
Bên cạnh đó, ngày 27/5/2016, Bằng công văn số 77/CV-NL Công ty Nhật
Linh đã thông báo với công ty TNHH Kim Lân về lộ trình và phương thức thanh toán nợ như sau: Mỗi tuần thanh toán một lần với số tiền là 300 triệu đồng vào các ngày thứ 6 hàng tuần cho đến khi hết và việc thanh toán kết thúc vào ngày 30/7/2016
Tuy nhiên, Ngày 07/6/2016, bằng Công văn số 87/CV-NL Công ty TNHH
Nhật Linh đã thể hiện việc không trả nợ công ty TNHH Kim Lân
Công ty Nhật Linh đã không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình như cam kết, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và nghĩa vụ của Nguyên đơn
Trang 11Tại Biên bản lấy lời khai ngày 12/11/2016 Công ty Nhật Linh đã thừa nhận
đã ký xác nhận tại Biên bản đối chiếu công nợ ngày 25/12/2015, như vậy nghĩa
là công ty Nhật Linh thừa nhận số nợ này với CÔng ty Kim Lân
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 30/10/2016 Công ty Kim Lân khai rằng:
“Sau nhiều lần mua bán linh kiện như vậy tính đến ngày 25/2/2016 giữa hai
công ty có gặp nhau để đối chiếu công nợ của năm 2015 cụ thể công ty TNHH Nhật Linh còn nợ lại công ty TNHH Kim Lân số tiền là 3.270.212.570 đồng (Ba
tỷ hai trăm bảy mươi triệu hai trăm mười hai ngàn 80 năm trăm bảy mươi đồng) Công nợ được đại diện của hai công ty ký tên xác nhận.”
Như vậy, từ những lập luận trên tôi khẳng định giữa hai công ty Kim Lân
và Nhật Linh có mối quan hệ mua bán hàng hóa xác lập dựa trên Hợp đồng nguyên tắc và những lần giao dịch sau đó trên cơ sở bản hợp đồng này, từ đó phát sinh nghĩa vụ giao hàng và quyền được nhận tiền thanh toán tiền hàng từ người mua của thân chủ tôi là Công ty Kim Lân; phát sinh quyền được nhận hàng và nghĩa vụ thanh toán tiền hàng của Công ty Nhật Linh đối với người bán
là Công ty Kim Lân
Trong giao dịch mua bán hàng hóa, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và do vậy, khi thân chủ tôi đã thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ giao hàng của mình thì phía Công ty Nhật Linh phải có trách nhiệm thanh toán tiền hàng cho thân chủ tôi là đúng Quan trọng hơn là Công ty Nhật Linh đã xác nhận công nợ phát sinh từ Hợp đồng nguyên tắc nên tôi khẳng định có việc Công ty Nhật nợ tiền hàng và chưa thanh toán số tiền gốc là 3.250.319.430 đồng cho Công ty Kim Lân trên thực tế
Thứ hai, Căn cứ theo Điều 290 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về Thực
hiện nghĩa vụ trả tiền trong giao dịch dân sự thì “Nghĩa vụ trả tiền phải được
thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận
và nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi”
Căn cứ khoản 2, Điều 50 Luật thương mại năm 2005 cũng quy định: “Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận”.
Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 quy định về quyền yêu cầu trả lãi do chậm thanh toán như sau: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm
thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó…”
Về mức lãi suất chậm trả áp dụng trong trường hợp này, căn cứ vào Điều
11 quy định về xác định lãi suất trung bình quy định tại Điều 306 của Luật