Kinh doanh là gì? Tất cả những khái niệm liên quan đến lĩnh vực kinh doanh bạn đọc đều có thể tìm thấy câu trả lời trong bài viết dưới đây. KINH DOANH ĐƯỢC HIỂU NHƯ THẾ NÀO Ở Việt Nam, thuật ngữ kinh doanh được sử dụng trong Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân và kinh doanh có thể được hiểu thông qua các dấu hiệu sau: Hoạt động phải được thực hiện một cách độc lập. Các chủ thể nhân danh mình để tiến hành hoạt động kinh doanh. Họ tự quyết định mọi vấn đề có liên quan và tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình; Hoạt động phải mang tính nghề nghiệp, nghĩa là chúng được tiến hành một cách chuyên nghiệp, thường xuyên, liên tục và hoạt động này mang lại nguồn thu nhập chính cho người thực hiện chúng; Được các chủ thể tiến hành với mục đích kiếm lời thường xuyên. Từ đó, ta có thể hiểu kinh doanh là những hoạt động đầu tư, sản xuất, mua bán, cung ứng dịch vụ,…. Được các chủ thể kinh doanh tiến hành một cách độc lập nhằm mang về lợi nhuận được tính bằng thước đo của tiền tệ. Những hoạt động sản xuất ra sẽ tạo ra của cải vật chất để phục vụ nhu cầu người tiêu dùng. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KINH DOANH HIỆN NAY Giao dịch trong nhiều giao dịch Trong hoạt động kinh doanh thì việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ như một hoạt động chủ yếu và diễn ra thường xuyên và lặp lại. Một sản phẩm và dịch vụ trước khi đến được tay người dùng cần trải qua nhiều giao dịch khác nhau. Trao đổi hàng hóa và dịch vụ Các hoạt động trong kinh doanh đều có sự liên quan trực tiếp và gián tiếp đến việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ đổi lấy tiền hoặc các giá trị của tiền. Kỹ năng kinh doanh để thành công Bất kỳ một lĩnh vực hay một chuyên ngành nào đều cần có kỹ năng chuyên môn nghề nghiệp. Đối với lĩnh vực kinh doanh, muốn trở thành một doanh nhân giỏi cần có những phẩm chất và những kỹ năng kinh doanh nhất định và bắt buộc để có thể điều hành doanh nghiệp. Lợi nhuận là mục tiêu chính Hoạt động kinh doanh hay bất kỳ một lĩnh vực nào khác đều mang một mục tiêu chính là kiếm lại lợi nhuận kinh tế. Lợi nhuận chính là những thành quả của hoạt động kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ của một doanh nhân. Người bán và người mua Trong lĩnh vực kinh doanh để thực hiện được thành công thì phải có hai yếu tố là bên bán và bên mua thì mới hoàn thành được giao dịch. Rủi ro và sự không chắc chắn Kinh doanh là một hoạt động sẽ phải trải qua nhiều rủi ro và những sự cố không chắc chắn. Một số rủi ro trong kinh doanh là mất mát do hỏa hoạn hay trộm cắp cũng có thể bảo vệ bằng chính bảo hiểm. Cũng có những điều không chắc chắn như mất mát do thay đổi các nhu cầu tiêu dùng mà thị trường biến động giá cả. Tiếp thị và phân phối hàng hóa Các hoạt động kinh doanh có thể liên quan đến tiếp thị và phân phối hàng hóa trong những trường hợp được gọi là hoạt động thương mại. Kết nối với sản xuất Các hoạt động kinh doanh có thể được kết nối với sản xuất hàng hóa và dịch vụ. Trong những trường hợp này được gọi là hoạt động công nghiệp. Các ngành công nghiệp có thể được coi là chính hoặc phụ tùy vào quy mô hoạt động kinh doanh Đáp ứng nhu cầu con người Doanh nhân là những người sẽ đáp ứng được những nhu cầu, mong muốn và những thắc mắc của con người thông qua hành vi và ý thức và doanh nhân sẽ xác định và phân tích những nhu cầu và mong muốn để tiến hành kinh doanh. Sản xuất những sản phẩm và cung cấp cho con người. Làm hài lòng con người và phục vụ giải quyết những mong muốn cần thiết. Ưu đãi hàng hóa và dịch vụ Trong kinh doanh để giao dịch được hàng hóa và dịch vụ. Hàng hóa được chia thành 2 loại chính và rõ rệt là: Hàng tiêu dùng: Những hàng hóa sử dụng bởi người tiêu dùng. Đây chính là những sản phẩm sử dụng trong sinh hoạt cuộc sống hàng ngày, những đồ dùng thiết yếu không thể thiếu. Hàng hóa sản xuất: Đây là loại hàng hóa được sản xuất nhằm phục vụ cho công việc sản xuất như các thiết bị máy móc… Nghĩa vụ xã hội Doanh nhân hiện đại là có ý thức và trách nhiệm với xã hội của họ. Kinh doanh ngày nay càng định hướng dịch vụ hơn là định hướng đến lợi nhuận kinh doanh.
Trang 11 GIÁO TRÌNH
NHẬP MÔN KINH DOANH
Trang 22
“Phi thương bất phú”- Kinh doanh mãi và vẫn luôn là nền tảng tạo ra của cải, tạo
ra sự thịnh vượng cho xã hội Với mong muốn tạo dựng “Chính phủ kiến tạo” và
“Quốc gia khởi nghiệp”, Chính phủ đang đặt mục tiêu tới 2020 Việt Nam có 1 triệu doanh nghiệp hoạt động (Nghị quyết 35/NQ-CP)
Để có doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, việc đào tạo, nuôi dưỡng và phát triển doanh nhân cần được coi trọng Mọi người, thuộc mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực đều
có khả năng phát triển thành một doanh nhân Kinh doanh và khởi nghiệp không gói gọn trong bất cứ ngành nghề nào Cử nhân kế toán có thể phát triển một đơn vị kinh doanh cung ứng dịch vụ kế toán, cử nhân thương mại có thể phát triển một đơn vị kinh doanh thương mại…, ngay cả kỹ sư xây dựng cũng có thể phát triển một doanh nghiệp cung ứng dịch vụ xây dựng, hay kỹ sư điện cũng có thể phát triển một đơn vị kinh doanh liên quan đến cung ứng các sản phẩm và dịch vụ liên quan tới điện Chính vì lý
do này, tại nhiều nước trên thế giới Nhập môn kinh doanh được lựa chọn là môn học bắt buộc đối với mọi lĩnh vực đào tạo, với quan điểm mọi người đều có thể kinh doanh
và vì vậy mọi người cần có kiến thức cơ bản về kinh doanh
Dựa trên quan điểm này, giáo trình Nhập môn kinh doanh được biên soạn với mục tiêu cung cấp những kiến thức cơ bản về kinh doanh cho người học Với giáo trình này, người học thuộc mọi lĩnh vực chuyên môn khác nhau có thể tiếp cận vào thế giới kinh doanh, có thể thông hiểu các khái niệm, nguyên tắc cơ bản của một tổ chức kinh doanh, hiểu được cách thức vận hành và các chức năng cơ bản mà một tổ chức kinh doanh cần phải có, nắm được những nguyên lý cơ bản để tạo lập và quản lý một tổ chức kinh doanh ở quy mô vừa và nhỏ
Để thực thi mục tiêu này, giáo trình được biên soạn thành 6 chương với 292 Trang Chương 1 - Tổng quan về kinh doanh, giới thiệu các khái niệm liên quan tới kinh doanh và tổ chức kinh doanh, giới thiệu tổng quan về kinh tế trong môi trường toàn cầu hóa
Trang 33
cơ bản về luật pháp liên quan tới việc tạo lập doanh nghiệp và tiến trình cũng như một
số phương thức tạo lập doanh nghiệp
Bốn chương còn lại của giáo trình tập trung giới thiệu những kiến thức cơ bản về quản lý doanh nghiệp Những kiến thức cơ bản này được nhóm gộp thành 4 chức năng tương ứng với 4 nội dung quản trị của một tổ chức kinh doanh:
Chương 3 - Quản trị sản xuất,
Chương 4 - Quản trị nguồn nhân lực
Chương 5 - Quản trị Marketing
Chương 6 - Kế toán trong doanh nghiệp
Toàn bộ nội dung của giáo trình được chúng tôi tiếp cận theo hướng vừa hiện đại, tiệm cận với nền tảng khoa học, lý luận của thế giới kết hợp với thực tiễn Việt Nam Các khái niệm, lý thuyết được chọn lọc, tổng hợp từ các tài liệu cập nhật mới, chủ yếu được xuất bản từ năm 2015 tới 2017 của những trường đại học hoặc nhà xuất bản danh tiếng trên thế giới Trên nền tảng lý luận khoa học này, nhóm biên soạn bổ sung, cập nhật các dữ liệu, tình huống của Việt Nam, các phân tích về tình hình kinh tế, kinh doanh trong điều kiện Việt Nam… để người học có thể dễ dàng tiếp thu và ứng dụng những lý thuyết được học vào môi trường kinh doanh tại Việt Nam
Giáo trình do TS Lê Thị Minh Hằng biên soạn chương 2, 3,4,5, GS.TS Nguyễn Trường Sơn biên soạn chương 1 và ThS Huỳnh Phương Đông biên soạn chương 6
Để hoàn thành giáo trình này, tập thể tác giả xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu
và các đồng nghiệp tại Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng đã động viên, khuyến khích nhóm tác giả từ khi hình thành ý tưởng tới khi hoàn thiện giáo trình, gửi lời cảm ơn tới Kế toán đã đồng hành cùng nhóm tác giả, gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn bộ giảng viên Khoa Quản trị kinh doanh đã ủng hộ, đã đóng góp ý kiến và đã có những hỗ trợ đặc biệt cho nhóm tác giả trong quá trình biên soạn giáo trình
Trang 44
hoàn thành giáo trình này
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện không thể tránh khỏi những sai sót, nhóm tác giả kính mong nhận được những phản hồi, góp ý, phê bình của bạn đọc để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong những lần tái bản sau
Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc
Nhóm tác giả
Trang 5Vai trò của kinh doanh trong xã hội 121.1.3
Tại sao phải học kinh doanh? 141.1.4
Các hình thức hoạt động kinh doanh 141.2
Sản xuất 151.2.1
Phân phối 161.2.2
Tiêu thụ sản phẩm 161.2.3
Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản 181.3
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 181.3.1
Năng suất lao động quốc gia 201.3.2
Một số chỉ số kinh tế quan trọng khác 231.3.3
Chu kỳ kinh tế và chu kỳ kinh doanh 291.4
Chu kỳ kinh tế 291.4.1
Chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp 341.4.2
Đạo đức kinh doanh 361.5
Các bên hữu quan 361.5.1
Đạo đức kinh doanh 371.5.2
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đạo đức 401.5.3
Khuyến khích các hành vi đạo đức 421.5.4
Trách nhiệm xã hội 441.6
Khái niệm 441.6.1
Tháp trách nhiệm xã hội 461.6.2
Kinh doanh quốc tế 471.7
Cơ sở kinh tế của kinh doanh quốc tế 471.7.1
Các hình thức kinh doanh quốc tế 501.7.2
Rào cản thương mại trong kinh doanh quốc tế 521.7.3
TỔNG KẾT CHƯƠNG 56
Trang 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
TẠO LẬP VÀ SỞ HỮU DOANH NGHIỆP 61
CHƯƠNG 2 Phân loại doanh nghiệp 61
Phân loại theo hình thức sở hữu 61
2.1.1 Phân loại theo lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế 75
2.1.2 Phân loại theo quy mô doanh nghiệp 75
2.1.3 Lựa chọn hình thức sở hữu 76
Doanh nghiệp tư nhân 78
2.2.1 Doanh nghiệp hùn vốn (Công ty) 80
2.2.2 Hợp tác xã 86
2.2.3 Doanh nghiệp xã hội 87
2.2.4 Doanh nghiệp nhỏ và vừa 89
Khái niệm và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa 89
2.3.1 Đặc điểm chung của doanh nghiệp nhỏ và vừa 90
2.3.2 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế 94
2.3.3 Thành lập doanh nghiệp 100
2.4 Doanh nhân và tinh thần kinh doanh 100
2.4.1 Thành lập doanh nghiệp mới 103
2.4.2 Mua lại và sáp nhập 103
2.4.3 Nhượng quyền thương mại 108
2.4.4 Giải thể và phá sản doanh nghiệp 114
TỔNG KẾT CHƯƠNG: 117
CÂU HỎI ÔN TẬP 121
CÂU HỎI THẢO LUẬN 122
QUẢN TRỊ SẢN XUẤT 124
CHƯƠNG 3 Tổng quan về quản trị sản xuất 124
3.1 Khái niệm quản trị sản xuất 124
3.1.1 Mục tiêu của quản trị sản xuất 126
3.1.2 Vai trò của chức năng sản xuất 129
3.1.3 Những thách thức của quản trị sản xuất đương đại 130 3.1.4
Trang 77
Ý tưởng về sản phẩm và dịch vụ mới 131
3.2.1 Thiết kế sản phẩm 132
3.2.2 Thiết kế dịch vụ 133
3.2.3 Thiết kế quy trình sản xuất 136
3.3 Loại hình sản xuất 137
3.3.1 Bố trí nội bộ hệ thống sản xuất 140
3.3.2 Hoạch định và kiểm soát sản xuất 144
3.4 Bản chất của hoạch định và kiểm soát sản xuất 144
3.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạch định và kiểm soát sản xuất 146
3.4.2 Quản trị vật liệu 149
3.5 Mua sắm 149
3.5.1 Kiểm soát tồn kho 150
3.5.2 TỔNG KẾT CHƯƠNG 153
CÂU HỎI ÔN TẬP 156
CÂU HỎI THẢO LUẬN 157
QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 158
CHƯƠNG 4 4.1 Nguồn nhân lực và đặc điểm nguồn nhân lực 158
Khái niệm 158
4.1.1 Đặc điểm nguồn nhân lực 159
4.1.2 Quản trị nguồn nhân lực 162
4.2 Khái niệm 162
4.2.1 Nội dung quản trị nguồn nhân lực 164
4.2.2 4.2 Tuyển dụng nhân lực 167
Phân tích và thiết kế công việc 168
4.2.1 Tuyển dụng 180
4.2.2 Sử dụng nhân lực 185
4.3 Bố trí nhân lực 185
4.3.1 Đánh giá kết quả công việc 185
4.3.2 Thù lao 191
4.4 Khái niệm 192
4.4.1 Các chính sách xây dựng thù lao lao động 192 4.4.2
Trang 88
Khái niệm 202
4.5.1 Đào tạo lại và bồi dưỡng kiến thức cho người lao động 203
4.5.2 Phát triển nguồn nhân lực 206
4.5.3 Xây dựng môi trường làm việc thân thiện 207
4.5.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 209
CÂU HỎI ÔN TẬP 211
CÂU HỎI THẢO LUẬN 211
QUẢN TRỊ MARKETING 212
CHƯƠNG 5 Tổng quan về Marketing 212
5.1 Marketing 212
5.1.1 Nhu cầu, mong muốn của khách hàng 213
5.1.2 Giá trị và sự thoả mãn 214
5.1.3 Thị trường 215
5.1.4 Vị trí của Marketing trong hoạt động của doanh nghiệp 216
5.1.5 Quản trị marketing 217
5.2 Khái niệm 217
5.2.1 Các quan điểm quản trị Marketing 218
5.2.2 Tiến trình quản trị marketing 225
5.3 Phân tích cơ hội thị trường 227
5.3.1 Lựa chọn thị trường mục tiêu 230
5.3.2 Đo lường và dự báo nhu cầu 231
5.3.3 Phân đoạn thị trường 231
5.3.4 Lựa chọn thị trường mục tiêu 231
5.3.5 Định vị thị trường 234
5.3.6 Hoạch định chiến lược marketing 235
5.3.7 Triển khai marketing - mix 235
5.3.8 Thiết kế kế hoạch marketing mix 246
5.3.9 Tổ chức thực hiện và kiểm tra hoạt động marketing 248
5.3.10 TỔNG KẾT CHƯƠNG 250
CÂU HỎI ÔN TẬP 253
Trang 99
KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 255CHƯƠNG 6
Tổng quan về kế toán 2556.1
Khái niệm 2556.1.1
Kế toán tài chính và kế toán quản trị 2586.1.2
Báo cáo tài chính 2626.2
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 265Bảng cân đối kế toán 271Báo cáo lưu chuyển tiền tệ 2736.2.3
Kế toán dồn tích 2746.3
Phân tích báo cáo tài chính 2806.4
Mục đích phân tích báo cáo tài chính 2806.4.1
Phương pháp phân tích báo cáo tài chính 2816.4.2
TÓM TẮT CHƯƠNG: 287CÂU HỎI ÔN TẬP 291CÂU HỎI THẢO LUẬN 291
Trang 10tế Nội dung của Chương 1 tập trung vào ba vấn đề sau :
- Khám phá thế giới kinh doanh và các vấn đề kinh tế
- Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội
- Khám phá những điều cơ bản về kinh doanh toàn cầu
Các vấn đề cơ bản của kinh doanh
mà chúng ta đang làm việc Có thể nói kinh doanh là một phần cuộc sống hàng ngày Mỗi người cần và nên có những kiến thức nhất định về kinh doanh và cũng cần phải hiểu vai trò quan trọng của kinh doanh trong cuộc sống
Kinh doanh là « nỗ lực có tổ chức của các cá nhân để sản xuất và bán, hàng hoá
và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội, vì mục đích lợi nhuận » (Pride, Hughes, & Kapoor, 2013) « Nỗ lực có tổ chức của cá nhân » được xem như là nỗ lực kết hợp bốn nguồn lực: nguyên vật liệu, nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính và nguồn lực thông tin để sản xuất và bán hàng hóa, dịch vụ Dewhurst (2014) thì cho rằng « kinh doanh là việc tổ chức tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu khách hàng» « Cung cấp hàng hóa » được hiểu là hành động sản xuất, mua hoặc/và bán
Trang 1111
sản phẩm hay cung ứng dịch vụ Theo luật doanh nghiệp 2014, kinh doanh được định nghĩa là « việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi » Tóm lại, cho dù có phát biểu bởi những câu từ khác nhau, các tác giả trong và ngoài nước đều thống nhất quan điểm cho rằng kinh doanh là việc thực thi một hoặc một số hành động nhằm cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng với mục tiêu lợi nhuận
Lợi nhuận
1.1.2
Hoạt động kinh doanh có thể nhằm đạt nhiều mục tiêu khác nhau, tuy nhiên mục tiêu trực tiếp, quan trọng nhất và không thể thiếu được đó là mục tiêu lợi nhuận Mục tiêu lợi nhuận còn là tiêu chí để phân biệt tổ chức kinh doanh với các tổ chức phi kinh doanh khác Lợi nhuận là mục tiêu chính của tổ chức kinh doanh Tổ chức nào tồn tại không vì mục tiêu lợi nhuận được gọi là tổ chức phi kinh doanh hay phi lợi nhuận
Doanh nghiệp thông qua việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ sẽ thu được doanh thu bán hàng từ khách hàng Tuy nhiên, để có sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp cũng phải mua nhiều yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu, nhiên liệu, phải đầu tư CSVC, MMTB, phải trả lương cho người lao động… Nếu doanh thu bán hàng của doanh nghiệp lớn hơn chi phí
đã bỏ ra, doanh nghiệp sẽ kiếm được một khoản lợi nhuận Cụ thể hơn, như thể hiện trong Hình 1.1, lợi nhuận là những gì còn lại sau khi trừ tất cả các chi phí kinh doanh đã được trích từ doanh thu bán hàng
Doanh nghiệp sẽ bị lỗ khi chi phí lớn hơn doanh thu bán hàng Trong tình thế này, doanh nghiệp sẽ bị “mất mát” Một doanh nghiệp không thể tiếp tục hoạt động khi “mất mát” liên tục xảy ra Nhà quản lý và nhân viên phải tìm cách nào đó để tăng doanh thu bán hàng hoặc/và giảm chi phí để tạo ra lợi nhuận Nếu đơn vị kinh doanh không thể thực hiện được hành động nào đó nhằm loại bỏ tổn thất, nó có thể bị phá sản hoặc buộc phải đóng cửa
Trang 1212
Hình 1.1: Mối quan hệ giữa doanh thu và lợi nhuận Chủ doanh nghiệp, cổ đông hoặc người sở hữu doanh nghiệp đương nhiên quan tâm tới mục tiêu lợi nhuận, nhưng một số bên hữu quan khác có thể lại quan tâm tới trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Các bên hữu quan được được mô tả là tất cả những người hoặc nhóm người có liên quan, có ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi các chính sách, quyết định, và các hoạt động của tổ chức Do vậy, trong kinh doanh, các doanh nghiệp ngoài việc tìm kiếm lợi nhuận, để phát triển bền vững họ còn cần phải thường xuyên quan tâm
và thực hiện tốt trách nhiệm xã hội Suy cho cùng, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội là con đường tốt nhất và bền vững nhất trong việc mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp
Lợi nhuận của một doanh nghiệp trở thành tài sản của chủ sở hữu doanh nghiệp Như vậy, lợi nhuận chính là phần thưởng mà chủ doanh nghiệp nhận được cho việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ đáp ứng mong muốn của khách hàng Tuy nhiên để đạt được phần thưởng này, trước đó chủ doanh nghiệp đã phải chi trả chi phí cho các nhà cung cấp, người lao động, người cho vay… Suy cho cùng họ là người nhận phần thưởng sau cùng Bên cạnh đó chủ doanh nghiệp cũng phải chịu rất nhiều rủi ro trong quá trình hoạt động
Vai trò của kinh doanh trong xã hội
1.1.3
Tất cả chúng ta vừa là khách hàng, vừa là nhân viên, vừa là đối tượng nộp thuế và hưởng lợi từ thuế trong một mối quan hệ phức tạp giữa kinh doanh và xã hội Kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong xã hội, có thể kể tới một số đóng góp cơ bản của kinh doanh cho xã hội như sau:
DOANH THU
Trang 1313
Cung cấp sản phẩm và dịch vụ có giá trị Hãy nhìn xung quanh bạn, đa phần sản phẩm, dịch vụ mà bạn đang sử dụng là do tổ chức kinh doanh tạo ra Sản phẩm, dịch vụ-đầu ra của tổ chức kinh doanh đang từng ngày nâng cao chất lượng cuộc sống của bạn
Tạo việc làm Tại đa số các quốc gia, tỷ trọng việc làm do tổ chức kinh doanh tạo ra
là lớn nhất Tổ chức kinh doanh không chỉ trả thù lao cho người lao động và còn đóng góp
tỷ trọng lớn vào các quỹ phúc lợi xã hội, quỹ lương hưu, quỹ bảo hiểm y tế…
Đóng thuế Tổ chức kinh doanh là thành phần đóng góp lớn vào ngân sách thông qua thuế, như thuế môn bài, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tài nguyên…
Đóng góp vào sự tăng trưởng, ổn định và an toàn của quốc gia Thông qua thuế, tổ chức, cá nhân kinh doanh đóng góp tỷ trọng lớn vào nguồn thu của ngân sách, yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động điều hành của Chính phủ Ngoài ra, thông qua việc tạo ra việc làm, tạo thu nhập cho một bộ phận lớn dân cư, tổ chức kinh doanh ảnh hưởng mạnh
mẽ tới sự ổn định của xã hội, tới phúc lợi xã hội cũng như điều kiện sống của người dân
Tuy nhiên, ngoài những ảnh hưởng tích cực tới kinh tế, xã hội, tổ chức kinh doanh còn tạo ra một số ảnh hưởng tiêu cực, chẳng hạn như:
Gây ô nhiễm môi trường Tổ chức kinh doanh là thành phần ảnh hưởng lớn tới các vấn đề về môi trường như khí thải, rác thải, gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất… Gây ra những rủi ro về sức khỏe và an toàn Nhiều tổ chức kinh doanh trong quá trình hoạt động đã tạo ra những sự cố như cháy nổ Ngoài ra, một số tổ chức kinh doanh,
có thể vô tình hay cố ý đã tạo ra sản phẩm, dịch vụ nguy hiểm, gây mất an toàn cho người tiêu dùng
Sự bất ổn về tài chính Một số tổ chức kinh doanh do hoạt động kém hiệu quả đã gây
ra những vụ phá sản hay thua lỗ lớn Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới lực lượng lao động, đôi khi còn gây ra phản ứng dây chuyền tới nhiều tổ chức kinh doanh khác Trong một số trường hợp, Chính phủ phải đứng ra giải quyết để bảo đảm sự ổn định xã hội
Trang 14- Giúp lựa chọn nghề nghiệp Kiến thức cơ bản về kinh doanh cho bạn hình dung cách thức mà các tổ chức kinh doanh hoạt động, những chức năng, vị trí công việc thường
có tại một tổ chức kinh doanh, từ đó giúp bạn hình dung vị trí công việc của mình trong tương lai
- Giúp nuôi dưỡng và phát triển mục tiêu khởi nghiệp Mọi người thuộc mọi ngành nghề, lĩnh vực chuyên môn đều có thể khởi nghiệp một doanh nghiệp Một kế toán viên có thể khởi nghiệp một doanh nghiệp tư vấn kế toán, một kĩ sư xây dựng có thể khởi nghiệp một doanh nghiệp thiết kế, thi công xây dựng… Những kiến thức cơ bản về kinh doanh cung cấp cho tất cả mọi người những khái niệm ban đầu, những nguyên tắc cơ bản
mà mọi tổ chức kinh doanh cần phải có Từ đó khơi dậy niềm đam mê kinh doanh và tinh thần khởi nghiệp trong mọi người
- Trở thành khách hàng và nhà đầu tư thông thái Chúng ta không thể sống ngoài thế giới kinh doanh, chúng ta là khách hàng của nhiều tổ chức kinh doanh, một số lợi ích, phúc lợi mà chúng ta đang hưởng có nguồn gốc từ kinh doanh Chúng ta có nhu cầu đầu
tư khoản tiền tiết kiệm hàng tháng để kiếm thêm nhu nhập… Những kiến thức cơ bản về kinh doanh sẽ giúp chúng ta thông hiểu hơn các vấn đề kinh doanh, giúp chúng ta có quyết định hiệu quả hơn
Các hình thức hoạt động kinh doanh
1.2
Hoạt động kinh doanh có phạm vi rất rộng lớn, về cơ bản bao gồm các lĩnh vực : sản xuất, phân phối, tiêu thụ
Trang 15- Hoạt động khai thác và sơ chế: là những hoạt động nhằm khai thác hoặc sử dụng tài nguyên thiên nhiên có sẵn, hoặc còn ở dạng tự nhiên Ví dụ : trong khai thác mỏ, người
ta lấy quặng và khoáng chất từ lòng đất ; trong ngư nghiệp, người ta đánh bắt cá từ sông, biển, hay nuôi chúng trong các hồ nhân tạo …
- Hoạt động chế tạo: là việc chế biến các nguyên liệu từ thiên nhiên, các vật liệu (đầu
ra của một hệ thống sản xuất) thành các sản phẩm hàng hóa Chẳng hạn sản xuất bánh kẹo
từ đường, sữa, bột, sản xuất vải từ sợi, sản xuất thép cây, thép cuộn từ thép tấm hay từ quặng thép Sản xuất chế tạo còn bao gồm cả quá trình chế tạo linh kiện, chi tiết dùng để lắp ráp thành sản phẩm tiêu dùng và sản phẩm công nghiệp Chẳng hạn trong ngành công nghiệp xe hơi, những hãng sản xuất xe hơi lớn như Toyota, Ford , chủ yếu làm nhiệm vụ lắp ráp các linh kiện thành chiếc xe hơi hoàn chỉnh Còn có hàng trăm đơn vị chuyên sản xuất linh kiện, động cơ, bình ắc qui, vỏ xe, kính, ghế nệm và rất nhiều bộ phận khác
- Hoạt động tạo dịch vụ: là hoạt động tạo ra các sản phẩm vô hình nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú trong cuộc sống của con người Sản xuất càng phát triển, đời sống con người càng cao, nhu cầu sử dụng dịch vụ càng lớn Dịch vụ ngày càng đóng góp tỷ trọng lớn vào nền kinh tế Theo dữ liệu thống kê, dịch vụ chiếm tỷ trọng trên 40% trong GDP của Việt Nam, chiếm hơn 70% GDP của nước Mỹ, 78% GDP của nước Anh (Theo Wikipedia) Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người sử dụng nhiều dịch vụ khác nhau: dịch vụ khám chữa bệnh do các bác sĩ cung cấp, dịch vụ ăn uống, học tập, sinh hoạt, giải trí… Trong sản xuất, mỗi đơn vị sản xuất cũng thường sử dụng nhiều dịch vụ như : dịch vụ vận tải, dịch vụ bán buôn, bán lẻ, dịch vụ viễn thông, các dịch vụ ngân hàng, tài chính, bảo hiểm… Ngoài ra còn phải kể đến là các dịch vụ công do chính phủ cung cấp cho người dân và doanh nghiệp…
Trang 16Trong kinh doanh, một số tổ chức mong muốn trực tiếp đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng, chẳng hạn như cách tập đoàn thời trang Inditex phân phối thương hiệu thời trang Zara, hay cách công ty thời trang Ivy phân phối sản phẩm của mình tại thị trường Việt Nam Tuy nhiên, trong nhiều tình huống việc nhà sản xuất trực tiếp phân phối sản phẩm tới tay người tiêu dùng là không hiệu quả Vì vậy, hiện nay, đa số nhà sản xuất phân phối sản phẩm của mình qua hệ thống nhà bán buôn, bán lẻ, qua hệ thống siêu thị, chẳng hạn như cách mà tập đoàn Vinamilk hay Công ty cổ phần may Việt Tiến đang thực hiện
Hệ thống phân phối có tác động tích cực tới việc mở rộng thị trường tiêu thụ, gia tăng
sự hiện diện của sản phẩm, nhãn hiệu trên thị trường, gia tăng sự sẵn sàng và giảm chi phí
Tiêu thụ sản phẩm
1.2.3
Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Theo phạm trù kinh tế ta có thể hiểu tiêu thụ hàng hoá là một quá trình chuyển hoá hình thái của hàng hoá từ hiện vật sang giá trị Nó là cầu nối trung gian giữa một bên là sản xuất - phân phối và một bên là tiêu dùng
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình quyết định ba vấn đề trung tâm cốt lõi trong hoạt động sản xuất kinh doanh đó là: sản xuất và kinh doanh cái
Trang 17Do tiêu thụ hàng hóa là cả một quá trình gồm nhiều hoạt động khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ bổ sung cho nhau, cho nên để tổ chức tốt việc tiêu thụ hàng hóa doanh nghiệp không những phải làm tốt mỗi khâu công việc mà còn phải phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu kế tiếp, giữa các bộ phận tham gia trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa trong doanh nghiệp Phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu kế tiếp có nghĩa là các khâu trong quá trình tiêu thụ hàng hóa không thể đảo lộn cho nhau mà phải thực hiện một cách tuần tự nhau theo chu trình của nó Doanh nghiệp không thể tổ chức sản xuất trước rồi mới đi nghiên cứu nhu cầu thị trường, điều đó sẽ làm cho hàng hóa không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, cũng có nghĩa không thể tiêu thụ được sản phẩm hàng hóa và doanh nghiệp phá sản
- Hiểu theo nghĩa hẹp: Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa được hiểu như là hoạt động bán hàng Hoạt động bán hàng trong doanh nghiệp là quá trình thực hiện chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho khách hàng và thu tiền về hay được quyền thu tiền về do bán hàng
Vậy tiêu thụ hàng hóa được thực hiện thông qua hoạt động bán hàng của doanh nghiệp nhờ đó hàng hoá được chuyển thành tiền và tiếp tục thực hiện vòng chu chuyển vốn trong doanh nghiệp và chu chuyển tiền tệ trong xã hội, đảm bảo phục vụ cho nhu cầu
xã hội
Trang 18Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
1.3.1
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product - GDP) là một trong những chỉ số
cơ bản phản ánh sức khỏe nền kinh tế của một quốc gia GDP là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là một quốc gia) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) GDP là tổng của tiêu dùng, đầu ra, chi tiêu chính phủ và cán cân thương mại
GDP= C+I+G+(X-M) Sản xuất
Trang 1919
Trong đó:
C (consumption): chi tiêu cho tiêu dùng cá nhân của hộ gia định về hàng hóa, dịch vụ
I (Investment) là tổng đầu tư ở trong nước của tư nhân
G (Goverment purchases) là chi tiêu của chính phủ
X-M (Export – Import) = Giá trị xuất khẩu – Giá trị nhập khẩu = Xuất khẩu ròng
Chỉ tiêu GDP được sử dụng để phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất trong phạm vi quốc gia, để so sánh nền kinh tế quốc gia giữa các giai đoạn khác nhau, và để so sánh sức mạnh giữa các nền kinh tế khác nhau
GDP danh nghĩa là tổng sản phẩm nội địa theo giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ cuối cùng tính theo giá hiện hành Sản phẩm sản xuất ra trong thời kỳ nào thì lấy giá của thời kỳ đó Do vậy còn gọi là GDP theo giá hiện hành Để so sánh GDP giữa các thời điểm khác nhau người ta cần điều chỉnh GDP danh nghĩa thành GDP thực tế GDP thực
tế là tổng sản phẩm nội địa tính theo sản lượng hàng hoá và dịch vụ cuối cùng của năm nghiên cứu còn giá cả tính theo năm gốc, do đó còn gọi là GDP theo giá so sánh
Bảng 1.1 Ước tính tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam và các nước trong khu vực từ 2015-20201
Trang 2020
Trong vòng 4 năm trở lại đây, từ 2015 tới 2018, Việt Nam luôn duy trì được mức tăng trưởng GDP cao trong khoảng từ 6% tới 7% Năm 2018, GDP của Việt Nam ước tính tăng trưởng 6,5% (Theo World Bank)
Hình 1.3 Ước tính tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam và các nước trong khu vực từ 2015-20202Năng suất lao động quốc gia
1.3.2
Năng suất là một trong những chỉ tiêu đo lường hiệu quả nền kinh tế của một quốc gia Năng suất được đo bằng bình quân sản lượng đầu ra mà mỗi lao động tạo ra trong một đơn vị thời gian Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc so sánh năng suất giữa các
tổ chức, cá nhân khác nhau, năng suất thường được tính bằng giá trị đầu ra bình quân mà mỗi lao động tạo ra trong một đơn vị thời gian Trên phương diện kinh tế vĩ mô, theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), năng suất lao động quốc gia được tính bằng tổng thu nhập trong nước (GDP) chia cho tổng số lao động làm việc trong nền kinh tế đó
Trang 2121
Việt Nam là quốc gia có năng suất lao động thấp trong khu vực và trên thế giới Theo báo cáo của Tổng cục thống kế, năm 2017 năng suất lao động của Việt Nam tăng 6% so với năm 2016, ước tính đạt 93,2 triệu đồng/lao động (tương đương khoảng 4.159USD/lao động) Mặc dù năng suất lao động của Việt Nam tăng đều trong các năm, nhưng Việt Nam vẫn là quốc gia có năng suất lao động thấp Theo dữ liệu 2017, năng suất lao động của Việt Nam năm 2016 đạt 9.894 USD, chỉ bằng 7% của Singapore; 17,6% của Malaysia; 36,5% của Thái Lan; 56,7% của Philippines và 42,3% của Indonesia (Tổng cục thống kê, 2017)
Bảng 1.2 GDP bình quân đầu người Việt Nam và một số nước trong khu vực theo giá hiện hành
(USD) (Tổng cục thống kê, 2016) Năm Bruney Singapore Thái Lan Malaysia Philippine Indonesia Việt Nam
Trang 2222
Sự gia tăng năng suất là tín hiệu tăng trưởng của nền kinh tế, bởi vì với một lực lượng lao động không đổi, chúng ta đã tạo ra số lượng hàng hóa và dịch vụ lớn hơn Để xem xét ảnh hưởng của năng suất đến nền kinh tế như thế nào, hãy xem xét ba câu hỏi sau:
Một, tăng trưởng năng suất ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế? Sự gia tăng năng suất có nghĩa là cần ít hơn nhân công để sản xuất một lượng hàng hóa và dịch vụ không đổi Kết quả là, doanh nghiệp cắt giảm được chi phí, họ có thể thu được lợi nhuận nhiều hơn, hoặc/và bán sản phẩm với giá thấp hơn Như vậy, tăng trưởng năng suất có thể giúp doanh nghiệp của một quốc gia nâng cao khả năng cạnh tranh so với doanh nghiệp của các quốc gia khác
Hai là, làm thế nào để một quốc gia nâng cao năng suất? Theo Pride và cộng sự (2013) giảm chi phí và khuyến khích người lao động làm việc hiệu quả hơn là cốt lõi của tất cả các nỗ lực để nâng cao năng suất Trong tình huống của Việt Nam, cụ thể, theo Tổng cục thống kế (2016), năng suất của Việt Nam thấp là do những lý do sau:
- Xuất phát điểm thấp và quy mô kinh tế nhỏ
- Cơ cấu kinh tế chưa hợp lý, tỷ trọng lao động trong khu vực nông, lâm, thủy sản còn cao, trong ngành công nghiệp, tỷ trọng lớn lao động vẫn nằm trong ngành công nghiệp chế biết, chế tạo có năng suất thấp
- Máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ sản xuất trình độ thấp
- Chất lượng lao động thấp, lao động chưa được đào tạo chiếm tỷ trọng lớn (80%), chất lượng đào tạo, đặc biệt đào tạo nghề còn nhiều bất cập
- Trình độ tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh thấp, hiệu quả sử dụng các nguồn lực không cao
- Quá trình đô thị hóa chậm, tích tụ công nghiệp không cao
- Thể chế kinh tế và hiệu quả quản lý Nhà nước còn một số tồn tại, chẳng hạn như
hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thiếu đồng bộ, chồng chéo, thể chế kinh tế thị trường thiếu đồng bộ, thủ tục hành chính chưa tốt
Trang 2323
Và một số giải pháp nâng cao năng suất lao động Việt Nam (Tổng cục thống Kê, 2016):
- Cải cách thể chế, chính sách
- Cơ cấu lại ngành nông nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
- Nâng cao năng lực khoa học kĩ thuật và sáng tạo, đổi mới cho doanh nghiệp
- Đổi mới giáo dục, đào tạo và dạy nghề theo hướng hiện đại, đáp ứng nhu cầu xã hội
Ba là, liệu sự tăng trưởng năng suất có phải là luôn luôn tốt không? Sự tăng trưởng năng suất có đem lại ảnh hưởng tiêu cực nào không? Sự gia tăng năng suất bên cạnh tác động tích cực tới tăng trưởng và phát triển kinh tế, thì nó ảnh hưởng tiêu cực tới việc làm và thất nghiệp Tăng trưởng năng suất dẫn tới nhu cầu sử dụng ít lao động hơn trên một đơn vị sản phẩm/dịch vụ đầu ra, điều này có thể dẫn đến gia tăng tỷ lệ thất nghiệp Trong trường hợp này, tăng năng suất là tốt cho người sử dụng lao động nhưng không tốt cho người lao động đang thất nghiệp, họ phải tìm việc làm trong một thị trường lao động cạnh tranh hơn
Một số chỉ số kinh tế quan trọng khác
1.3.3
Ngoài tổng sản phẩm nội địa (GDP) và năng suất, người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu khác để đánh giá trạng thái nền kinh tế của một quốc gia Đầu tiên phải kể đến là tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp đo bởi % số người lao động không có việc làm trên tổng số người lao động trong xã hội Theo tổng cục thống kê, đến quý 1/2018, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động ước tính là 2.2%, trong đó khu vực thành thị là 3.13%; khu vực nông thôn là 1.73%
Tiếp theo là chỉ số giá tiêu dùng (Consumer Price Index - CPI) CPI thường được đo lường hàng tháng, phản ảnh xu hướng và mức độ biến động giá cả của các mặt hàng trong
“rổ” hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đại diện, theo thời gian Theo tổng cục thống kế, năm
2017, tại Việt Nam, CPI tăng bình quân 0.29%/tháng CPI tháng 12 năm 2017 tăng 1.29%
Trang 2424
so với tháng 12 năm 2016 Hàng hóa được liệt kê trong chỉ số CPI thường bao gồm thực phẩm và đồ uống, dịch vụ vận chuyển, nhà ở, quần áo, dịch vụ chăm sóc y tế, giải trí, giáo dục, truyền thông, và một số hàng hóa/dịch vụ khác Chỉ số giá tiêu dùng CPI là chỉ tiêu kinh tế quan trọng phản ánh ảnh hưởng của lạm phát đến nền kinh tế quốc gia Ngoài ra, CPI còn ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống từng cá nhân người tiêu dùng
Ngoài tỷ lệ thất nghiệp và CPI, một số chỉ tiêu khác cũng được sử dụng để phân tích
sự ổn định, phát triển của nền kinh tế (Bảng 1.3)
Bảng 1.3 Một số chỉ tiêu đo lường sức khỏe của nền kinh tế
1.Cán cân thương mại Tổng giá trị xuất khẩu trừ đi tổng giá trị nhập khẩu của một
quốc gia trong khoảng thời gian cụ thể
2 Lợi nhuận DN Tổng lợi nhuận của các tập đoàn trong khoảng thời gian đã
chọn
3 Tỷ lệ lạm phát Số liệu thống kê kinh tế theo dõi sự tăng giá của hàng hóa và
dịch vụ trong một khoảng thời gian Chỉ tiêu này thường được tính theo tháng hoặc theo năm
4 Thu nhập quốc gia Tổng thu nhập của các tầng lớp dân cư, bao gồm người lao
động, hộ kinh doanh, các công ty, và các loại thu nhập khác
5 Lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản là lãi suất thấp nhất được các ngân hàng
thương mại chủ lực áp dụng đối với các khoản vay dành cho các doanh nghiệp là khách hàng lớn Tại Việt Nam, lãi suất cơ bản chỉ áp dụng đối với VNĐ, do Ngân hàng Nhà nước công
bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung-cầu vốn
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trang 2525
Đọc thêm 1.1 TÌNH HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM NĂM 2017
(Báo cáo của Tổng cục thống kê) Kinh tế - xã hội nước ta năm 2017 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đà phục hồi[1], các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh Châu Âu đạt mức tăng trưởng khả quan Hoạt động đầu tư, thương mại toàn cầu có xu hướng cải thiện rõ rệt cùng với niềm tin của người tiêu dùng tăng lên là các yếu tố tác động tích cực đến sản xuất trong nước Tuy nhiên, xu hướng gia tăng của chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa bảo hộ sản xuất, bảo hộ mậu dịch cùng những thay đổi về địa chính trị, chính sách thương mại của một số nước lớn đang là những thách thức đối với kinh tế nước ta
Ở trong nước, bên cạnh các vấn đề tồn tại của nền kinh tế như chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh thấp, sự sụt giảm của ngành khai khoáng, cùng với giá thịt lợn giảm mạnh, thiên tai, bão, lũ liên tiếp xảy ra tác động tiêu cực tới sản xuất nông nghiệp và thách thức mục tiêu tăng trưởng năm 2017 của cả nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP)
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2017 ước tính tăng 6,81% so với năm 2016, trong đó quý I tăng 5,15%; quý II tăng 6,28%; quý III tăng 7,46%; quý IV tăng 7,65% Mức tăng trưởng năm nay vượt mục tiêu đề ra 6,7% và cao hơn mức tăng của các năm
từ 2011-2016[2], khẳng định tính kịp thời và hiệu quả của các giải pháp được Chính phủ ban hành, chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng nỗ lực thực hiện Trong mức tăng 6,81% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đã có sự phục hồi đáng kể với mức tăng 2,90% (cao hơn mức tăng 1,36% của năm 2016), đóng góp 0,44 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,00%, đóng góp 2,77 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 7,44%, đóng góp 2,87 điểm phần trăm
Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ đạt mức tăng 8,36% so với năm trước, là
Trang 2626
ngành có đóng góp cao nhất vào mức tăng trưởng chung (0,79 điểm phần trăm); dịch
vụ lưu trú và ăn uống có mức tăng trưởng khá cao 8,98% so với mức tăng 6,70% của năm 2016, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 8,14% (mức tăng cao nhất trong 7 năm gần đây[5]), đóng góp 0,46 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,07% (mức tăng cao nhất kể từ năm 2011[6]), đóng góp 0,21 điểm phần trăm
Về cơ cấu nền kinh tế quý I năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,19%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,06%; khu vực dịch vụ chiếm 43,99%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,76% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2016 là: 11,42%; 34,37%; 43,54%; 10,67%) Xét về góc độ sử dụng GDP quý I, tiêu dùng cuối cùng tăng 6,73% so với cùng kỳ năm 2016, đóng góp 7,25 điểm phần trăm vào mức tăng chung (trong đó tiêu dùng cuối cùng của
hộ dân cư đóng góp 6,65 điểm phần trăm); tích lũy tài sản tăng 8,50%, đóng góp 2,27 điểm phần trăm; chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ ở tình trạng nhập siêu làm giảm 4,42 điểm phần trăm của mức tăng trưởng chung
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước các năm 2015-2017
Tốc độ tăng so với năm trước (%) Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng
Trang 2727
Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2017 tăng 0,21% so với tháng trước, trong đó nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất với 2,55% (dịch vụ y tế tăng 3,30%) do trong tháng có 15 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương điều chỉnh tăng giá dịch vụ
y tế (tác động làm CPI chung tăng khoảng 0,13%) Nhóm giao thông tăng 0,84%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,43% do nhu cầu mua sắm hàng mùa đông tăng lên; đồ uống và thuốc lá tăng 0,17%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,22% do giá gas, giá dầu hỏa và giá điện, nước sinh hoạt được điều chỉnh tăng, cùng với nhu cầu sửa chữa nhà ở tăng cao trong những tháng cuối năm Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,17%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03% Riêng nhóm giáo dục giá không đổi so với tháng trước CPI bình quân năm
2017 tăng 3,53% so với bình quân năm 2016, dưới mục tiêu Quốc hội đề ra CPI tháng 12/2017 tăng 2,6% so với tháng Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,23%, trong đó lương thực tăng 0,56%, thực phẩm giảm 0,5%; bưu chính viễn thông giảm 0,03% 12/2016, bình quân mỗi tháng tăng 0,21%
Quy mô nền kinh tế năm 2017 theo giá hiện hành đạt 5.007,9 nghìn tỷ đồng; GDP bình quân đầu người ước tính đạt 53,5 triệu đồng, tương đương 2.385 USD, tăng 170 USD so với năm 2016 Về cơ cấu nền kinh tế năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 15,34%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,34%; khu vực dịch vụ chiếm 41,32%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,00% (Cơ cấu tương ứng của năm 2016 là: 16,32%; 32,72%; 40,92%; 10,04%)
Bên cạnh đó, có một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI năm 2017, trong
đó chỉ số giá nhóm thực phẩm bình quân năm giảm 2,6% so với năm 2016 (chủ yếu giảm ở nhóm thịt tươi sống); các cấp, các ngành tích cực triển khai các biện pháp
Trang 2828
bình ổn giá cả thị trường trong dịp Tết Nguyên Đán; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, tổ chức các đoàn công tác liên ngành kiểm tra tình hình triển khai thực hiện công tác quản lý bình ổn giá tại một số địa phương Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều hành chính sách tiền tệ kiên định mục tiêu giữ ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát Lạm phát cơ bản tháng 12/2017 tăng 0,11%
so với tháng trước và tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước Lạm phát cơ bản bình quân năm 2017 tăng 1,41% so với bình quân năm 2016
Lao động, việc làm
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước năm 2017 ước tính là 54,8 triệu người, tăng 394,9 nghìn người so với năm 2016, bao gồm: Lao động nam 28,4 triệu người, chiếm 51,9%; lao động nữ 26,4 triệu người, chiếm 48,1% Xét theo khu vực, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên khu vực thành thị là 17,6 triệu người, chiếm 32,2%; khu vực nông thôn là 37,2 triệu người, chiếm 67,8%
Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động của cả nước năm 2017 ước tính 48,2 triệu người, tăng 511 nghìn người so với năm trước, trong đó lao động nam 26,1 triệu người, chiếm 54,1%; lao động nữ 22,1 triệu người, chiếm 45,9% Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động khu vực thành thị là 16,1 triệu người, chiếm 33,4%; khu vực nông thôn là 32,1 triệu người, chiếm 66,6% Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2017 ước tính 53,7 triệu người, tăng 416,1 nghìn người so với năm 2016 Trong tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm
2017, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 40,3% (Năm 2016 là 41,9%); khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 25,7% (Năm 2016 là 24,7%); khu vực dịch vụ chiếm 34,0% (Năm 2016 là 33,4%) Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm
2017 khu vực thành thị chiếm 31,9% (Năm 2016 là 31,7%); khu vực nông thôn chiếm 68,1% (Năm 2016 là 68,3%) Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo năm
Trang 29Trong giai đoạn tăng trưởng, GDP tăng nhanh, tỷ lệ thất nghiệp thấp, giá cả thường có
xu hướng tăng lên Nền kinh tế tăng trưởng nhanh quá có thể dẫn tới lạm phát Ngược lại,
2017 ước tính đạt 21,5%, cao hơn mức 20,6% của năm trước Số người có việc làm trong quý I năm nay ước tính là 53,4 triệu người, tăng 74,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; quý II là 53,4 triệu người, tăng 164,3 nghìn người; quý III là 53,8 triệu người, tăng 496,9 nghìn người; quý IV là 54,1 triệu người, tăng 671,8 nghìn người
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2017 là 2,24% (Năm 2016 là 2,30%; năm 2015 là 2,33%), trong đó khu vực thành thị là 3,18% (Năm 2016 là 3,23%; năm 2015 là 3,37%); khu vực nông thôn là 1,78% (Năm 2016 là 1,84%; năm 2015 là 1,82%) Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (Từ 15-24 tuổi) năm 2017 là 7,51%, trong đó khu vực thành thị là 11,75%; khu vực nông thôn là 5,87%
Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động năm 2017 là 1,63%, thấp hơn mức 1,66% của năm 2016 và 1,89% của năm 2015, trong đó khu vực thành thị là 0,85% (Năm 2016 là 0,73%; năm 2015 là 0,84%); khu vực nông thôn là 2,07% (Năm 2016 là 2,12%; năm 2015 là 2,39%)
Trang 3030
trong giai đoạn suy thoái, GDP tăng trưởng chậm thậm chí là tăng trưởng âm, các doanh nghiệp gặp khó khăn, sản lượng sản xuất sụt giảm dẫn tới tỷ lệ thất nghiệp tăng cao Mức
sử dụng các nguồn lực cũng giảm dẫn tới giá cả có thể dừng hoặc giảm (giảm phát)
Trong giai đoạn thịnh vượng, nền kinh tế ở điểm cao nhất của nó và tỷ lệ thất nghiệp thấp và GPD cao Kinh tế tăng trưởng ở mức cao, làm tăng thu nhập cho người tiêu dùng,
họ sẵn sàng chi tiêu để mua sản phẩm và dịch vụ Trong thực tế, các doanh nghiệp thường
mở rộng và cung cấp sản phẩm và dịch vụ mới trong giai đoạn thịnh vượng để tận dụng lợi thế của việc gia tăng sức mua của người tiêu dùng
Thực ra không có một định nghĩa rõ ràng về suy thoái, tuy nhiên, các nhà kinh tế cho rằng suy thoái là trạng thái khi quy mô của nền kinh tế bị thu hẹp lại trong khoảng thời gian từ 2-3 quý liên tiếp Quy mô nền kinh tế bị thu hẹp, thu nhập sụt giảm dẫn tới sức mua giảm Người tiêu dùng giảm bớt chi tiêu cho những nhóm hàng không cần thiết như
xa xỉ phẩm Quy mô sản xuất của doanh nghiệp giảm xuống khiến tỷ lệ thất nghiệp gia tăng
Khi suy thoái kéo dài trầm trọng sẽ dẫn tới khủng hoảng Khủng hoảng được đặc trưng bởi tỷ lệ thất nghiệp rất cao, tiền lương thấp, sức mua giảm, người dân thiếu niềm tin vào nền kinh tế, giá trị cổ phiếu giảm, và nhìn chung toàn bộ hoạt động kinh doanh sụt giảm
Theo các tính toán của những nhà kinh tế, từ Chiến tranh Thế giới II tới nay, chu kỳ kinh doanh bình quân kéo dài từ ba đến năm năm, thời gian trung bình của suy thoái kinh
tế là 11 tháng (Pride et al., 2013) Theo thống kê của IMF, từ sau chiến tranh thế giới II tới nay, thế giới đã trải qua 4 cuộc suy thoái toàn cầu : 1975, 1982, 1991 và 2008 (Theo Đinh Vũ Trang Ngân, 2013), trong đó cuộc khủng hoảng toàn cầu 2009 là nghiêm trọng nhất Sản lượng toàn cầu bình quân đầu người giảm 2.5% và tổng hoạt động thương mại thu hẹp 11%
Trang 3131
Đọc thêm 1.2 20 năm đổi mới: ba chu kỳ kinh tế (Thời báo Kinh tế Sài Gòn 26.02.2009) Nhìn vào số liệu thống kê về tăng trưởng và thất nghiệp ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay có thể thấy sau hơn 20 năm đổi mới nước ta đã trải qua ba giai đoạn suy thoái chu kỳ với tần suất từ 9-10 năm Lần đầu tiên là năm 1989-1990 khi tăng trưởng GDP trung bình chỉ đạt 4,9% trong khi tỷ lệ thất nghiệp lên đến 13% năm 1989 và 9% năm 1990 Từ năm 1990, sau khi tư duy cải cách thực sự được chuyển hóa thành các chính sách kinh tế và đi vào cuộc sống, nền kinh tế đã nhanh chóng vượt qua giai đoạn khó khăn và bước vào thời kỳ phát triển mạnh với tốc độ tăng GDP bình quân 8,2%/năm trong giai đoạn 1991-1995, đạt mức cao nhất trong chu kỳ là 9,5% năm
1994, thất nghiệp chỉ còn 5,8%
Biểu đồ tăng trưởng và thất nghiệp trong các chu kỳ kinh tế - Nguồn:
Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Tuy nhiên, do cú sốc của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á nên nước ta lại nhanh chóng đi vào thời kỳ suy thoái 1998-1999 Tốc độ tăng trưởng chỉ còn 5,8% năm
1998 và xuống đáy 4,8% năm 1999 Cũng trong năm 1999, thất nghiệp tăng lên
Trang 3232
6,7% và tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn ở mức rất cao 28,9% Từ năm 2000-2008, việc tiếp tục kiên trì đường lối đổi mới với nhiều cải cách mạnh mẽ, đặc biệt là sự ra đời Luật Doanh nghiệp đã giải phóng nguồn lực dồi dào trong khu vực dân doanh GDP liên tục tăng qua các năm và đạt 8,5% năm 2007, thất nghiệp giảm xuống chỉ còn 4,2% Tuy nhiên, để đạt được kết quả đó, trong giai đoạn 2003-2007 cung tiền cũng tăng cao trung bình 25%/năm, tín dụng nội địa tăng trên 35%/năm và đạt mức cao nhất thế giới là 53% trong năm 2007 Trong khi đó, có tới 60% lượng tín dụng được dành cho các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả khi ICOR ở mức rất cao (9-12) và chỉ có thể tạo việc làm cho khoảng 10% lực lượng lao động
Theo phân tích về chu kỳ của trường phái kinh tế học Áo (Mises, Hayek), sự dư thừa tín dụng và phân bổ không hiệu quả này rốt cuộc đã dẫn tới khủng hoảng tín dụng và buộc thị trường tín dụng phải điều chỉnh như chúng ta đã chứng kiến trong năm 2008
Bên cạnh đó, khủng hoảng kinh tế - tài chính thế giới cũng là một cú sốc mạnh từ bên ngoài đã cộng hưởng và nhanh chóng đưa nước ta vào pha suy thoái của chu kỳ Tăng trưởng GDP giảm xuống chỉ còn 6,2% năm 2008, thất nghiệp tăng lên 4,6% Một số dự báo từ IMF cho rằng tăng trưởng GDP năm 2009 có thể chỉ còn khoảng 4% và thất nghiệp sẽ ở mức rất cao Một điểm cần lưu ý là các trường phái kinh tế đều không thể thống nhất về tần suất của các chu kỳ kinh tế Việt Nam đã ở đáy của chu
kỳ trong giai đoạn 1989-1990, 1998-1999 và có thể là 2008-2009 nhưng không phải là đến 2018-2019 chúng ta mới rơi vào thời kỳ suy thoái tiếp theo
Một số bài học
Từ kinh nghiệm một số nước trong việc vượt qua khủng hoảng chu kỳ chúng ta có thể rút ra một số bài học cho công tác hoạch định chính sách vĩ mô như sau:
Trang 3333
Thứ nhất, giai đoạn vượt qua suy thoái mang tính chu kỳ luôn là cơ hội tốt để những nước đang chuyển đổi như Việt Nam đẩy mạnh cải cách và chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chỗ chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư, xuất khẩu tài nguyên chuyển sang tăng trưởng nhờ vào năng lực cạnh tranh, phát huy lợi thế so sánh
Thứ hai, đối với một nền kinh tế có độ mở cao như nước ta thì các cú sốc từ bên ngoài sẽ nhanh chóng tác động tới nền kinh tế trong nước và đẩy chu kỳ kinh tế đi vào giai đoạn suy thoái Cuối tháng 9, đầu tháng 10-2008, khi cuộc khủng hoảng tài chính - tín dụng tại Mỹ đang ở giai đoạn khó khăn nhất và đã lan ra nhiều nước trên thế giới, nhiều nhà hoạch định chính sách và chuyên gia kinh tế vẫn khẳng định “sẽ không ảnh hưởng trầm trọng đến nền kinh tế Việt Nam”, “không ảnh hưởng nhiều đến Việt Nam” hoặc “không gây quan ngại nhiều đến nền kinh tế Việt Nam” một cách rất chủ quan và thiếu căn cứ
Thứ ba, kỳ vọng (expectations) của người dân và doanh nghiệp là phạm trù của môn tâm lý học nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển của kinh tế học hiện đại và do đó các nhà hoạch định chính sách không thể bỏ qua Ở các nước phát triển, việc tính toán và theo dõi các chỉ số nói lên kỳ vọng của người dân và doanh nghiệp như chỉ số lòng tin người tiêu dùng, chỉ số lòng tin nhà đầu tư, chỉ số lòng tin các chủ doanh nghiệp là rất quan trọng trong việc hoạch định chính sách vĩ mô
Thứ tư, trong thời kỳ khó khăn của chu kỳ kinh tế, chính sách tiền tệ và tài khóa cần được kết hợp linh hoạt để phục hồi tăng trưởng GDP và tạo việc làm Việc nới lỏng chính sách tiền tệ, hạ lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn là cần thiết nhưng cần chú ý không rơi vào bẫy thanh khoản (liquidity trap) khi lãi suất đã giảm thấp nhưng ngân hàng vẫn không cho vay, doanh nghiệp không thể tiếp cận tín dụng như trong thời gian qua ở nước ta Khi đó chính sách tiền tệ sẽ không còn tác dụng kích thích nền kinh tế
Trang 34- Giai đoạn hình thành: Đây là giai đoạn khởi nghiệp của các ý tưởng kinh doanh, thường bắt đầu từ việc lựa chọn ý tưởng kinh doanh, nghiên cứu thị trường mục tiêu và đánh giá các khả năng hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh Tiếp theo đó là việc cụ thể hóa ý tưởng kinh doanh thành mô hình kinh doanh thông qua việc xác định thị trường mục tiêu, khách hàng mục tiêu và mô tả sản phẩm dịch vụ Trong giai đoạn này doanh nghiệp chưa phải đối mặt với những vấn đề lớn về mặt quản trị nhưng sẽ phải phát sinh nhiều chi phí cho việc chứng minh tính khả thi của các ý tưởng, xác lập kế hoạch và tiếp cận các nguồn vốn
- Giai đoạn bắt đầu phát triển: Đây là giai đoạn doanh nghiệp bắt đầu cung cấp sản phẩm cho thị trường Giai đoạn này thường chứa đựng nhiều khó khăn Về tài chính, thông thường đây là giai đoạn doanh nghiệp phải chi nhiều chi phí cho các khoản đầu tư như đầu tư cho cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị…, trong khi đó doanh số, sản lượng bán còn thấp, cho nên đây thường là giai đoạn có dòng ngân quỹ âm Vấn đề lớn nhất của giai đoạn này chính là việc phải bảo đảm nhu cầu tài chính cho việc trang bị tài sản, đáp ứng các nhu cầu gia tăng trên thị trường
Trang 3535
- Giai đoạn phát triển nhanh: Đây là giai đoạn doanh nghiệp đã khẳng định được thị trường, khách hàng tăng nhanh do đã quen với sản phẩm Doanh nghiệp kinh doanh tốt do tận dụng được lợi thế kinh tế quy mô, doanh thu không những bù đắp được chi phí mà còn mang lại lợi nhuận cao và ổn định cho doanh nghiệp Tuy nhiên, đây cũng là giai đoạn bắt đầu phát sinh những khó khăn trong quản trị do quy mô gia tăng, phạm vi kiểm soát rộng, đòi hỏi phải chuẩn hóa công tác quản trị Nhiều mâu thuẫn giữa các quan điểm quản trị khác nhau có thể hình thành, đồng thời cũng phát sinh những mâu thuẫn trong việc phân chia lợi nhuận Nếu vượt qua được giai đoạn này, doanh nghiệp có thể đi nhanh vào giai đoạn phát triển đỉnh cao
- Giai đoạn trưởng thành: Trong giai đoạn này, doanh thu và lợi nhuận không tăng lên mạnh nữa mà sẽ ổn định ở một mức nào đó Tại mức này, thị phần bị chia sẻ bởi đối thủ cạnh tranh trong cùng ngành Giai đoạn này các chủ sở hữu và nhà đầu tư thường hài lòng về tài chính Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp đã ổn định Tuy nhiên trong giai đoạn này, doanh nghiệp phải đối mặt với một số nguy cơ, trong đó quan trọng nhất là nguy cơ lạc hậu, lỗi thời của sản phẩm, dịch vụ Nếu không có một chiến lược đúng đắn, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với sự suy giảm trong doanh thu và lợi nhuận
- Giai đoạn suy thoái: trong giai đoạn này, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp
bị giảm dần cho đến khi không còn lợi nhuận Tình hình sẽ đặc biệt khó khăn hơn nếu có
sự biến động lớn trong nền kinh tế vĩ mô hoặc sự biến động lớn trong nhu cầu của khách hàng
Các doanh nghiệp dù ở trong các ngành, lĩnh vực khác nhau đều phải trải qua các giai đoạn phát triển cơ bản này Tuy nhiên, thực tế thì có một tỷ lệ không nhỏ các doanh nghiệp không vượt qua được giai đoạn đầu tiên hoặc chưa kịp phát triển tới giai đoạn đỉnh cao thì đã rơi vào suy thoái Sự thành công hay thất bại của mỗi doanh nghiệp, độ dài của mỗi giai đoạn phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh, khả năng quản trị, tái cấu trúc hoặc tái lập doanh nghiệp với những khó khăn trong từng giai đoạn
Trang 36Hình 1.5 Các bên hữu quan
Để có được nguồn lực cần thiết, doanh nghiệp cần phải nhận diện các nhóm đang kiểm soát các nguồn lực Doanh nghiệp cũng cần phải nhận diện những cá nhân/nhóm có thể hỗ trợ để doanh nghiệp giữ danh tiếng và thương hiệu của mình trong chính cộng đồng doanh nghiệp và xã hội Chính vì vậy, nhận diện đúng và đẩy đủ các bên hữu quan là một yêu cầu quan trọng đối với tổ chức kinh doanh
Doanh nghiệp
Chính phủ Cổ
đông
Hội đồng quản trị
Nhân viên
Khách hàng
Cung cấp tín dụng
Cung cấp dịch vụ Cung
cấp vật tư
Nhà phân phối
Hiệp hội nghề nghiệp
Các bên liên doanh
Xã hội
Tổ chức giáo dục
Tổ chức
từ thiện
Báo chí
Trang 3737
Mỗi bên hữu quan đều có kỳ vọng riêng của mình, ví dụ như khách hàng mong muốn sản phẩm có chất lượng tốt và giá cả hợp lý; người lao động mong muốn mức lương bằng hoặc cao hơn mức lương thị trường, điều kiện làm việc an toàn và vệ sinh Các doanh nghiệp cần hiểu những ưu tiên và kỳ vọng của các bên hữu quan Doanh nghiệp quan tâm không chỉ đến lợi ích của chủ sở hữu mà phải ứng xử phù hợp với niềm tin và giá trị của các bên hữu quan của doanh nghiệp Tính phức tạp của kinh doanh phụ thuộc vào mối quan hệ của doanh nghiệp và các bên hữu quan của mình Giữ được mối quan hệ tốt với các bên hữu quan là chìa khóa của thành công Doanh nghiệp phải hiểu rõ hoạt động của mình tác động thế nào đến các bên hữu quan và ngược lại các bên hữu quan ảnh hưởng thế nào tới hoạt động của doanh nghiệp
Đạo đức kinh doanh
1.5.2
Đạo đức kinh doanh là tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực phù hợp với môi trường có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của các chủ thể kinh doanh (Pride et al., 2013) Đạo đức kinh doanh thường được nhắc đến khi có vấn đề về đạo đức trong kinh doanh Vấn đề đạo đức là tình huống mà cá nhân hoặc tổ chức rơi vào tình thế khó xử, họ phải lựa chọn một trong nhiều hành động khác nhau, họ bị đánh giá là đúng hay sai, chấp nhận được hay không chấp nhận được theo các chuẩn mực chung của xã hội (Pride et al., 2013) Vấn đề đạo đức thường bắt nguồn từ các mâu thuẫn, có thể là mâu thuẫn trong mỗi cá nhân, mâu thuẫn giữa các cá nhân với nhau hoặc mâu thuẫn giữa tổ chức với các bên hữu quan của mình do có sự bất đồng về quan niệm, giá trị đạo đức, mâu thuẫn trong mối quan hệ hợp tác hoặc phối hợp, đặc biệt là mâu thuẫn về lợi ích
Trong kinh doanh, doanh nhân phải đối mặt với hàng loạt vấn đề về đạo đức kinh doanh, trong đó một số vấn đề phổ biến có thể liệt kê như sau:
Kinh doanh công bằng và trung thực: Điều này đòi hỏi các doanh nhân phải trung thực trong việc nhận thức và chấp hành một cách nghiêm túc tất cả các quy định của pháp
Trang 3838
luật, của Nhà nước nhằm đảm bảo một sự công bằng chung cho tất cả các bên hữu quan, đặc biệt là giữa các chủ thể kinh doanh khác nhau
Bảo đảm hài hòa các quan hệ của tổ chức: Trong kinh doanh, các doanh nhân luôn
bị cám dỗ bởi việc đặt lợi ích của mình cao hơn lợi ích của người khác và của cả tổ chức, đặc biệt là đối với nhân viên và khách hàng Các biểu hiện của nó rất đa dạng, tuy nhiên mọi biểu hiện đều dẫn tới một kết quả chung là ảnh hưởng và gây thiệt thòi cho nhân viên
và khách hàng
Xung đột lợi ích: Xung đột lợi ích có nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên biểu hiện đáng lưu ý nhất chính là việc một người kinh doanh cố gắng tạo ra các tình huống nhằm mang lại lợi ích riêng cho cá nhân mình thông qua các hành vi hối lộ Việc đưa và nhận hối lộ tất cả đều được xem là phi đạo đức
Truyền thông sai lệch: Truyền đạt thông tin không đúng, đặc biệt là quảng cáo sai lệch, gây hiểu nhầm có thể được xem là những hành vi bất hợp pháp và phi đạo đức Truyền thông sai lệch thông tin thường nhằm mục đích mang lại lợi ích không chính đáng cho doanh nghiệp và tất cả đều có thể gây thiệt hại cho khách hàng, các bên hữu quan và những người kinh doanh chân chính
Đọc thêm 1.3 BỘ QUY TẮC ỨNG XỬ BSCI
Bộ Quy Tắc Ứng Xử BSCI phiên bản 1/2014 hiện hành nhằm đề ra các giá trị và nguyên tắc mà người tham gia BSCI cố gắng thực hiện trong các chuỗi cung ứng của mình Bộ quy tắc này đã được Hiệp Hội Thương Mại Nước Ngoài (FTA) phê duyệt vào ngày 28.11.2013 thay thế bộ Quy Tắc Ứng Xử BSCI 2009 Sáng kiến tuân thủ trách nhiệm xã hội trong kinh doanh (BSCI) được hiệp hội thương mại nước ngoài FTA giới thiệu, công nhận mậu dịch quốc tế là một phương tiện thiết yếu cho sự thịnh vượng của nhân loại và tăng trưởng kinh tế xã hội Bộ quy tắc ứng xử này là tập hợp các nguyên tắc và giá trị phản ánh mậu dịch quốc tế là một phương tiện thiết yếu
Trang 3939
cho sự thịnh vượng của nhân loại và tăng trưởng kinh tế xã hội Bộ quy tắc ứng xử này là tập hợp các nguyên tắc và giá trị phản ánh sự tin tưởng của người tham gia BSCI và những mong đợi của họ đối với các đối tác kinh doanh Bộ quy tắc ứng xử BSCI viện dẫn đến các công ứng quốc tế như Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền của trẻ
em và Nguyên tắc kinh doanh, các nguyên tắc hướng dẫn về kinh doanh và nhân quyền của Liên Hiệp Quốc, hướng dẫn OECD, hiệp ước toàn cẩu của Liên Hiệp Quốc, các công ứng và khuyến nghị của ILO có liên quan đến cải thiện điều kiện làm việc trong chuỗi cung ứng Các doah nghiệp kinh doanh tán thành bộ quy tắc ứng xử BSCI phải cam kết thực hiện các nguyên tắc đã đặt ra trong tài liệu này và hành thành trách nhiệm tôn trọng nhân quyền trong phạm vi ảnh hưởng của họ Bộ quy tắc ứng
xử BSCI quy định vấn đề trách nhiệm xã hội thông qua các nội dung:
- Quyền tự do lập hiệp hội và thương lượng tập thể Doanh nghiệp tôn trọng quyền của người lao động trong việc thành lập công đoàn, không phân biệt đối xử với người lao động vì họ là thành viên công đoàn hay không và tôn trọng quyền thương lượng tập thể của người lao động
- Không phân biệt đối xử Không phân biệt đối xử theo giới tính, độ tuổi, tôi giáo, chủng tộc, đẳng cấp, nguồn gốc, tầng lớp xã hội, tình trạng khuyết tật, sắc tộc và dân tộc, quốc tịch, tư cách thành viên trong hiệp hội
- Thù lao công bằng Trả thù lao công bằng, tuân thủ mức lương tối thiểu do chính phủ quy định Tiền lương được thanh toán đúng hạn, đều đặn, đầy đủ
- Giờ làm việc hợp lý Làm việc 48h/tuần Trong trường hợp có làm thêm thì phải trên nguyên tắc tự nguyện, phù hợp luật pháp và thỏa ước lao động tập thể
- An toàn và sức khỏe nghề nghiệp Tuân thủ các quy định về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp Cần bảo vệ đặc biệt cho người trẻ tuổi, người sắp và mới làm mẹ, người khuyết tật
Trang 40Hình 1.6 Các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi đạo đức trong doanh nghiệp
- Không sử dụng lao động trẻ em Không sử dụng trẻ em dưới 15 tuổi, trừ
trường hợp ngoại lệ được ILO công nhận
- Bảo vệ đặc biệt đối với lao động trẻ em Bảo đảm lao động trẻ không làm việc ban đêm và không làm việc trong điều kiện có hại đến sức khỏe, sự an toàn, đạo đức
- Không có việc làm bấp bênh Bảo đảm tuyển lao động không dẫn đến tình
trạng bấp bênh và ảnh hưởng đến xã hội hoặc kinh tế cho người lao động
- Không lao động lệ thuộc Không tham gia bất kì hình thức lao động nô lệ,
cưỡng bức, lệ thuộc, giao kèo, buôn bán hoặc lao động không tự nguyện
- Bảo vệ môi trường Thực hiện các hành động cần thiết để tránh làm suy thoái môi trường
- Hành vi kinh doanh có đạo đức Không tham gia vào bất kì hành động tham nhũng nào, không tống tiền, tham ô và hối lộ
Mức độ của hành vi đạo đức