1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO cáo bài tập NHÓM môn KINH DOANH QUỐC tế các học THUYẾT THƯƠNG mại QUỐC tê

11 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 35,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung chính của học thuyết Một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất một sản phẩm khi quốc gia này có thể sản xuất hiệu quả hơn bất kỳ quốc gia nào khác.. Nội dung chính của họ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ



BÁO CÁO BÀI TẬP NHÓM MÔN KINH DOANH QUỐC TẾ́

CÁ́C HỌ̣C THUYẾ́T THƯƠNG MẠ̣I QUỐC TẾ́

Nhóm 2

Trang 2

MỤC LỤC

I LỜ̀I MỞ ĐẦU 3

II LỊCH SỬ CÁ́C HỌ̣C THUYẾ́T THƯƠNG MẠ̣I QUỐC TẾ́ 3

1 CHỦ NGHĨA TRỌ̣NG THƯƠNG 3

2 LỢI THẾ TUYỆT ĐỐI 3

3 HỌ̣C THUYẾT LỢI THẾ SO SÁNH 4

4 HỌ̣C THUYẾT HECKSCHER – OHLIN 5

5 HỌ̣C THUYẾT VỀ VÒNG ĐỜI SẢN PHẨM 6

6 HỌ̣C THUYẾT THƯƠNG MẠ̣I MỚI 7

7 LỢI THẾ CẠ̣NH TRANH CỦA MICHAEL PORTER 8

III KẾ́T BÀI 10

Trang 3

I LỜ̀I MỞ ĐẦU

Trong lịch sử kinh tế thế giới; đầu tiên các nước chỉ buôn bán trong vùng lãnh thổ của nước đó theo kiểu tự cấp tự túc Dần dần khi nền sản xuất phát triển, có của ăn của để các nước bắt đầu buôn bán với nhau, khi đó xuất hiện khái niệm Thương mại quốc tế

Thương mại quốc tế tức là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu

hình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên và nhiều nhà kinh tế học đã đưa ra những mô hình khác nhau để dự đoán cơ cấu trao đổi thương mại quốc tế và phân tích ảnh hưởng của các chính sách thương mại Sau đây chúng ta sẽ cùng phân tích một số học thuyết kinh

tế để rút ra từ những học thuyết đó những lợi ích và cái giá phải trả của các nước khi tham gia vào thương mại tự do

II LỊCH SỬ CÁ́C HỌ̣C THUYẾ́T THƯƠNG MẠ̣I QUỐC TẾ́

1 CHỦ NGHĨA TRỌ̣NG THƯƠNG

1.1 Thời gian, người đưa ra học thuyết

Xuất hiện tại Anh vào thế kỷ 16 do các tác giả như Thomas Mun, William Petty

và James Stuart (quốc tịch Anh) đề ra.

1.2 Nội dung chính của học thuyết

Học thuyết cho rằng vàng và bạc là những trụ cột chính của sự thịnh vượng quốc gia và vô cùng cần thiết cho một nền thương mại vững mạnh Một quốc gia có thể có được vàng và bạc nhờ vào xuất khẩu hàng hóa và ngược lại, việc nhập khẩu hàng hóa

từ quốc gia khác đồng nghĩa với việc vàng và bạc chảy sang các quốc gia đó

1.3 Giá trị của học thuyết

Quốc gia sẽ thu được nhiều lợi ích nhất khi duy trì thặng dư mậu dịch Bằng cách

đó, một quốc gia có thể tích lũy vàng và bạc và vì vậy làm tăng của cải, uy tín và sức mạnh quốc gia

1.4 Hạn chế của học thuyết

Chưa giải thích được tại sao các quốc gia lại trao đổi với nhau

Coi thương mại là một trò chơi có tổng lợi ích bằng không, những gì mà một quốc gia này thu được sẽ tương đương với những thứ mất đi của quốc gia khác

1.5 Quan điểm của về vai trò của chính phủ

Học thuyết ủng hộ sự can thiệp của chính phủ nhằm đạt được thặng dư trong cán cân thương mại

2 LỢI THẾ́ TUYỆT ĐỐI

2.1 Thời gian, người đưa ra học thuyết

Adam Smith (1723-1790) là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương

Trang 4

CÁC HỌC THUYẾT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Trong cuốn sách xuất bản năm 1776 “The Wealth of Nations” (Sự Thịnh vượng các Quốc gia), Adam Smith đã công kích giả định của chủ nghĩa trọng thương rằng thương mại là trò chơi có tổng bằng không

2.2 Nội dung chính của học thuyết

Một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất một sản phẩm khi quốc gia này

có thể sản xuất hiệu quả hơn bất kỳ quốc gia nào khác

Adam Smith cho rằng các quốc gia nên chuyên môn hoá trong sản xuất những hàng hoá mà họ có lợi thế tuyệt đối và sau đó trao đổi chúng lấy những hàng hoá khác được sản xuất tại các quốc gia khác

Thương mại là một trò chơi có tổng dương

2.3 Giá trị của học thuyết

Nhận ra được tính ưu việt của chuyên môn hóa sản xuất và phân công lao động quốc tế

Đặt quan hệ giao thương giữa các quốc gia trên cơ sở bình đẳng, các bên cùng có lợi

2.4 Hạn chế của học thuyết

Không giải thích được liệu có xảy ra trao đổi mậu dịch giữa một cường quốc kinh tế (có hầu hết mọi lợi thế tuyệt đối) với một nước nhỏ (hầu như không có lợi thế tuyệt đối nào so với bên kia) hay không ?

Coi lao động là yếu tố sản xuất duy nhất tạo ra giá trị, là đồng nhất và được sử dụng với tỉ lệ như nhau trong tất cả các loại hàng hoá

2.5 Quan điểm về vai trò chính phủ

Đề cao vai trò của các cá nhân và doanh nghiệp, ủng hộ một nền thương mại tự

do, không có sự can thiệp của chính phủ

3 HỌ̣C THUYẾ́T LỢI THẾ́ SO SÁ́NH 3.1 Thời gian, người đưa ra học

thuyết

Thời gian: năm 1817, trong cuốn sách “Principles of Political Economy”

Người đưa ra học thuyết: David Ricardo (18 tháng 4, 1772) - Luân Đôn, Vương Quốc Anh

3.2 Nội dung chính của học thuyết

David Ricardo đã đưa học thuyết của Adam Smith tiến xa hơn một bước nữa khi phát hiện điều có thể xảy ra, nếu một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất tất cả các loại hàng hóa Theo đó, Ricardo đã nhấn mạnh: Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn hẳn các nước khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể và vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì mỗi nước có một lợi thế so sánh nhất định về sản xuất một số sản phẩm và kém lợi thế so sánh nhất định về sản xuất các sản phẩm khác

Trang 5

Theo học thuyết của Ricardo về lợi thế so sánh, vẫn có ý nghĩa khi một quốc gia chuyên môn hóa trong sản xuất những hàng hóa mà họ có thể sản xuất một cách hiệu quả nhất và mua những hàng hóa mà họ sản xuất kém hiệu quả hơn so với quốc gia khác Ngay cả nếu quốc gia đó mua từ những quốc gia khác các hàng hóa, mà bản thân

họ có thể sản xuất hiệu quả hơn

3.3 Giá trị của học thuyết

Sản lượng toàn cầu tiềm năng trong điều kiện thương mại tự do sẽ lớn hơn so với thương mại bị hạn chế Học thuyết Ricardo cho rằng người tiêu dùng tại tất cả quốc gia có thể tiêu dùng nhiều hơn nếu không có hạn chế thương mại Thương mại là một trò chơi có tổng dương, trong đó tất cả quốc gia đều nhận được lợi ích kinh tế

Bằng việc chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, mức sản lượng và tiêu dùng trên thế giới sẽ tăng lên, kết quả là mỗi nước đều có lợi ích từ thương mại Như vậy lợi thế so sánh là cơ sở để các nước buôn bán với nhau và là cơ sở để thực hiện phân công lao động quốc tế

3.4 Hạn chế của học thuyết

Hạn chế của học thuyết nằm ở giả định của nó:

1 Chúng ta giả định một thế giới đơn giản chỉ có hai quốc gia và hai loại hàng hóa Trong thế giới thực, có rất nhiều quốc gia và nhiều loại hàng hóa

2 Chúng ta giả định không có chi phí vận tải giữa các quốc gia

3 Chúng ta giả định không có sự khác biệt về giá giữa các nguồn lực sản xuất tại các quốc gia khác nhau Chúng ta không đề cập đến tỷ giá hối đoái, với giả định đơn giản rằng ca cao và gạo có thể được trao đổi với nhau theo tỷ lệ 1:1

4 Chúng ta giả định rằng nguồn lực sản xuất có thể được di chuyển tự do

từ hoạt động sản xuất một loại hàng hóa này sang loại khác Trong thực tế, điều này không phải lúc nào cũng đúng

5 Chúng ta giả định rằng suất sinh lợi không đổi theo quy mô; điều đó có nghĩa là chuyên môn hóa tại Gbana hay Hàn Quốc không có tác động gì đến lượng tài nguyên cần thiết để sản xuất một tấn ca cao hay gạo Trên thực tế, suất sinh lợi có thể tăng hoặc giảm khi thực hiện chuyên môn hóa Nguồn lực cần thiết để sản xuất một loại hàng hóa có thể sẽ giảm đi hoặc cũng có thể tăng khi một quốc gia thực hiện chuyên môn hóa trong sản xuất loại hàng hóa đó

6 Chúng ta giả định rằng mỗi quốc gia có một số lượng dự trữ tài nguyên

cố định và thương mại tự do không thay đổi tính hiệu quả khi một gia sử dụng các tài nguyên đó Giả định tính này chưa xem xét tới những thay đổi năng động trong kho dự trữ tài nguyên của một gia và hiệu quả đem lại từ thương mại tự do khi một quốc gia sử dụng các tài nguyên đó

7 Chúng ta giả định rằng không có bất cứ tác động nào của thương mại đến phân phối thu nhập trong phạm vi quốc gia

4 HỌ̣C THUYẾ́T HECKSCHER – OHLIN

4.1 Thời gian, người đưa ra học thuyết

Eli Heckscher (vào năm 1919) và Bertil Ohlin (vào năm 1933) – 2 nhà kinh tế học người Thụy Điển, đã đưa ra giải thích khác về lợi thế so sánh

4.2 Nội dung chính của học thuyết

Trang 6

CÁC HỌC THUYẾT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Lập luận rằng lợi thế so sánh hình thành từ những khác biệt quốc gia về mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất Các quốc gia có mức độ dồi dào về các yếu tố sản xuất khác nhau, điều này giải thích tại sao các quốc gia có chi phí các yếu tố sản xuất khác nhau, hay nói cách khác, yếu tố sản xuất càng dồi dào thì chi phí càng thấp

So sánh với học thuyết Ricardo:

- Giống: đều cho rằng thương mại tự do là có lợi

- Khác: Học thuyết của Hecksher-Ohlin cho rằng mô hình của thương mại quốc tế được xác định bởi những khác biệt quốc gia về các mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất, không phải khác biệt về năng suất như học thuyết Ricardo

*Mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất có nghĩa là mức độ dồi dào tài nguyên của một quốc gia như đất đai, lao động và vốn

4.3 Giá trị của học thuyết

Các quốc gia sẽ xuất khẩu những hàng hóa mà sử dụng nhiều các yếu tố sản xuất dồi dào tại địa phương, trong khi đó lại nhập khẩu những hàng hóa mà sử dụng nhiều yếu tố sản khan hiếm tại địa phương Vì vậy học thuyết này cố gắng giải thích mô hình thương mại quốc tế mà chúng ta đang thấy trong nền kinh tế toàn cầu

Học thuyết Hecksher-Ohlin là một trong những tư tưởng có ảnh hưởng to lớn nhất đến kinh tế học quốc tế Phần lớn nhà kinh tế học áp dụng học thuyết này hơn học thuyết của Ricardo vì các giả thuyết ít và đơn giản hơn

4.4 Hạn chế của học thuyết

Nghiên cứu thực nghiệm của Wassily Leontief được công bố năm 1953 về mô hình Heckscher – Ohlin đã có kết quả khác với những gì mà học thuyết này dự báo, phát hiện này của Leontief được gọi là nghịch lý Leontief Những kiểm nghiệm cho học thuyết Hecksher-Ohlin sử dụng dữ liệu cho một số lượng lớn các nước vẫn có xu hướng khẳng định sự tồn tại của nghịch lý Leontief

Điều này dẫn đến việc các nhà kinh tế thích sử dụng về mặt lý thuyết, nhưng đây lại là một công cụ dự đoán khá nghèo nàn của các mô hình thương mại quốc tế tồn tại trong thế giới thực Trên thực tế, học thuyết Hecksher-Ohlin dự báo các mô hình thương mại với độ chính xác thấp hơn Ricardo

Một giả thuyết trong học thuyết Heckscher-Ohlin: công nghệ tại các quốc gia là tương tự nhau -> điều này không sát với thực tế

5 HỌ̣C THUYẾ́T VỀ VÒNG ĐỜ̀I SẢN PHẨM 5.1 Thời gian, người đưa ra

học thuyết

Raymond Vernon – nhà kinh tế người Mỹ là người đầu tiên đưa ra học thuyết vào giữa thập niên 60

5.2 Nội dung chính của học thuyết

Khi các sản phẩm đã chín muồi, vị trí bán hàng và địa điểm sản xuất tối ưu sẽ thay đổi, ảnh hưởng đến dòng chảy và xu hướng thương mại

Trong giai đoạn thứ nhất khi sản phẩm mới được tung ra thị trường, nước tiêu

dùng sản phẩm cũng là nước sản xuất vì có mối quan hệ gắn bó giữa đổi mới và nhu

Trang 7

cầu Nước sản xuất ban đầu này - thường là các nước công nghiệp tiên tiến - trở thành nước xuất khẩu sang các nước có thu nhập cao khác

Bước sang giai đoạn thứ hai , sản xuất bắt đầu diễn ra ở các nước công nghiệp

hàng đầu khác và dần dần thay thế cho hàng xuất khẩu của nước đổi mới sang các thị trường này

Giai đoạn thứ ba bắt đầu khi nhu cầu của các nước khác về sản phẩm mới đạt

tới quy mô cho phép các nhà sản xuất thu được lợi thế của sản xuất quy mô lớn và bản thân họ trở thành các nhà xuất khẩu ròng (tức xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu) sang các nước không sản xuất sản phẩm mới, qua đó thay thế cho hàng xuất khẩu từ nước đổi mới

Trong giai đoạn cuối cùng, khi công nghệ và sản phẩm ngày càng được tiêu

chuẩn hóa và ngay cả những công nhân không được đào tạo cũng có thể sản xuất, các nước đang phát triển có chi phí thấp bắt đầu xuất khẩu sản phẩm này và họ tiếp tục thay thế xuất khẩu của nước đổi mới Cũng trong giai đoạn này, nước đổi mới đã chuyển sang sản xuất các sản phẩm mới khác [1]

5.3 Giá trị của học thuyết

Có thể có ích trong việc giải thích mô hình thương mại quốc tế trong một giai đoạn ngắn, khi mà nền kinh tế Mỹ chiếm vị trí thống trị trên toàn cầu Mô hình này khái quát trình tự từ khâu nghiên cứu và phát triển tới khâu sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm mới sẽ diễn ra tuần tự từ nước phát triển cao chuyển sang các nước phát triển thấp hơn tới các nước đang phát triển theo xu hướng tìm tới địa điểm có chi phí sản xuất thấp hơn

5.4 Hạn chế của học thuyết

Xem xét từ quan điểm của người Châu Á và Châu Âu, những lập luận của Vernon rằng hầu hết các sản phẩm được phát triển và bắt đầu ở Mỹ dường như là một quan điểm mang tính dân tộc vị kỳ và ngày càng lỗi thời Mặc dù, có thể đúng là trong suốt giai đoạn Mỹ thống trị nền kinh tế toàn cầu ( từ 1945 đến 1975 ), hầu hết các sản phẩm mới đều bắt đầu tại Mỹ, nhưng luôn có những ngoại lệ đặc biệt Những ngoại lệ này dường như ngày càng trở nên phổ biến hơn trong những năm gần đây

Hơn nữa, với quá trình hội nhập và toàn cầu hóa ngày càng gia tăng như đã nghiên cứu ở chương 1, số lượng những sản phẩm mới ( ví dụ máy tính xách tay, đĩa compact và máy ảnh kỹ thuật số ) được giới thiệu cùng lúc tại các thị trường Mỹ, Nhật, cũng như các nước Châu Âu phát triển khác ngày càng tăng lên Điều này có thể

là do được hỗ trợ bưởi sự phân công lao động quốc tế trên toàn thế giới, với các bộ phận cấu thành của một sản phẩm được sản xuất ở nhiều địa điểm khác nhau trên thế giới nhằm đạt được sự kết hợp giữa các yếu tố chi phí và chuyên môn thuận lợi nhất

6 HỌ̣C THUYẾ́T THƯƠNG MẠ̣I MỚI 6.1 Thời gian ra đời, người đưa ra học thuyết

Học thuyết nổi lên từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX do Paul Krugman – nhà kinh tế học người Mỹ đề xuất

6.2 Nội dung chính của học thuyết

Trang 8

CÁC HỌC THUYẾT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Học thuyết nêu ra hai quan điểm quan trọng:

- Thứ nhất: Thông qua tác động lên tính kinh tế theo quy mô, thương mại

có thể làm gia tăng mức độ đa dạng của các hàng hóa cung cấp cho người tiêu dùng và giảm bớt chi phí bình quân trên một đơn vị sản phẩm

- Thứ hai: Những ngành sản xuất mà sản lượng đầu ra đòi hỏi đạt tính kinh tế theo quy mô phải có tỉ trọng nhu cầu đáng kể trong tổng cầu thế giới, thị trường toàn cầu chỉ có thể hỗ trợ cho một số ít doanh nghiệp => cần trở thành quốc gia tiên phong

6.3 Giá trị của học thuyết

Quốc gia có thể có lợi ích từ thương mại ngay cả khi không có lợi thế từ nguồn lực hay công nghệ Cụ thể, một quốc gia có thể trở thành nước xuất khẩu chính cho một mặt hàng nếu nó là quốc gia đầu tiên sản xuất sản phẩm đó

Chính phủ nên xem xét bảo hộ các công ty và ngành trong giai đoạn đầu đưa ra sản phẩm và những ngành công nghiệp đòi hỏi tính kinh tế theo quy mô

6.4 Hạn chế của học thuyết

Hạn chế của Học thuyết Thương Mại mới có lẽ là luận điểm tạo ra chính sách can thiệp và thương mại chiến lược của chính phủ - Học thuyết này cho rằng các doanh nghiệp nội địa để trở thành doanh nghiệp tiên phong trong các ngành công nghiệp mới nổi đều do có sự trợ cấp, can thiệp của chính phủ Điều này đi ngược lại với phương châm về thương mại tự do của các học thuyết thương mại khác Những nhà lý luận chính trị theo chủ nghĩa thương mại mới nhấn mạnh vai trò của vận may, sự tiên phong trong kinh doanh và sự đột phá để có được lợi thế của doanh nghiệp đi trước

6.5 Quan điểm về vai trò của chính phủ:

Chính phủ đóng vai trò quan trọng, trợ cấp, hỗ trợ cho cá hoạt động nghiên cứu, phát triển cũng như tạo cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp trong nước

7 LỢI THẾ́ CẠ̣NH TRANH CỦA MICHAEL PORTER 7.1 Thời gian,

người đưa ra học thuyết

Năm 1990, giáo sư Michael Porter của Đại học Kinh doanh Harverd, Hoa Kỳ đã công bố những kết quả sau nỗ lực nghiên cứu chuyên sâu nhằm xác định xem tại sao các nước thành công, còn một số khác lại thất bại trong cạnh tranh quốc tế Ông đã giải thích sự thành công của các quốc gia dựa trên mô hình kim cương, phân tích các cụm công nghiệp

7.2 Nội dung chính của học thuyết

Porter giả thiết rằng có 4 thuộc tính chung của quốc gia, tạo nên môi trường cạnh tranh cho các công ty địa phương và các thuộc tính này khuyến khích hoặc cản trở sự hình thành lợi thế cạnh tranh:

- Tính sẵn có của các yếu tố sản xuất

- Các điều kiện về nhu cầu

- Các ngành công nghiệp liên kết và phụ trợ

 Chiến lược, cơ cấu và năng lực của doanh nghiệp

Trang 9

Các doanh nghiệp có khả năng thành công nhất trong những ngành và các phân ngành khi có mô hình kim cương thuận lợi nhất Ngoài ra, mô hình kim cương tác động qua lại với nhau có nghĩa là tác động của một thuộc tính sẽ phụ thuộc vào tình trạng của các thuộc tính khác

7.2.1 Tính sẵn có của các yếu tố sản xuất:

Ông thừa nhận sự phân cấp của các yếu tố sản xuất, phân biệt giữa các yếu tố cơ bản và các yếu tố cao cấp

Các yếu tố cao cấp là sản phẩm của đầu tư cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ cũng là yếu tố hết sức quan trọng trong lợi thế cạnh tranh Do đó, chính phủ đầu tư vào đào tạo cơ bản và nâng cao để cải thiện trình độ và kỹ năng chung cũng như kích thích nghiên cứu chuyên sâu

Mối quan hệ giữa yếu tố cơ bản và yếu tố nâng cao rất phức tạp Có nghĩa là các yếu tố cơ bản có thể cung cấp lợi thế ban đầu và sau đố sẽ được củng cố và mở rộng thông qua đầu tư vào các yếu tố cao cấp Ngược lại, các bất lợi của các yếu tố cơ bản

có thế tạo ra những áp lực buộc phải đầu tư vào các yếu tố nâng cao

7.2.2 Các điều kiện về nhu cầu:

Porter lập luận rằng các doanh nghiệp giành được lợi thế cạnh tranh nếu người tiêu dùng trong nước họ sành điệu và đòi hỏi cao.Những người tiêu dùng tạo áp lực lên các doanh nghiệp trong nước phải nỗ lực đáp ứng những tiêu chuẩn cao về chất lượng sản phẩm cũng như sản xuất ra các mẫu mã mới

Ví dụ: Người Ý có gu thẩm mỹ rất cao, họ đòi hỏi khắt khe đối với những sản phẩm trang trí => các công ty gạch men Ý sản xuất các sản phẩm có tính thẩm mỹ rất cao

7.2.3 Các ngành công nghiệp liên kết và phụ trợ:

Các ngành công nghiệp liên kết và phụ trợ đầu tư vào các yếu tố sản xuất cao cấp

có thể sẽ lan tỏa sang một ngành khác, từ đó giúp ngành này đạt được một vị trí cạnh tranh vững mạnh trên thế giới

Các ngành thành công trong phạm vi một quốc gia có xu hướng tập hợp lại với nhau thành các cụm gồm các ngành có liên quan được gọi là cụm công nghiệp

Những kiến thức giá trị có thể luân chuyển giữa các doanh nghiệp trong cùng một cụm, từ đó mang lại lợi ích cho tất cả các doanh nghiệp trong cụm đó

Ví dụ: Ngành công nghiệp sản xuất máy in của Đức có tính cạnh tranh nhờ vào

sự phát triển của ngành công nghiệp sản xuất máy làm giấy, ngành sản xuất giấy và mực in của quốc gia này

7.2.4 Chiến lược, cơ cấu và năng lực của doanh nghiệp:

Porter đã chỉ ra hai điểm quan trọng:

- Thứ nhất, sự khác biệt về đặc điểm, hệ tư tưởng quản trị có thể giúp hoặc không giúp doanh nghiệp trong việc tạo dựng lợi thế quốc gia

- Thứ hai, có sự liên hệ chặt chẽ giữa mức độ cạnh tranh gay gắt trong nước, sự sáng tạo và sự duy trì lâu dài của lợi thế cạnh tranh trong một ngành Mức độ cạnh tranh trong nước tạo ra áp lực phải cải tiến, nâng

Trang 10

CÁC HỌC THUYẾT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

cao chất lượng, giảm chi phí và đầu tư nâng cấp các yếu tố sản xuất cao cấp

7.3 Giá trị của học thuyết

Porter khẳng định mức độ thành công mà một quốc gia đạt được trên thị trường thế giới trong một số ngành nhất định là hàm số của các biến số trong mô hình

Chính phủ có thể can thiệp tích cực hoặc tiêu cực vào từng thuộc tính trong số 4 yếu tố của mô hình kim cương

Mô hình kim cương giúp dự đoán được mô hình thương mai quốc tế

7.4 Hạn chế của học thuyết

Học thuyết của Porter chưa được kiểm chứng nhiều trên các thực nghiệm

Nội dung của học thuyết này chủ yếu dựa trên những tổng kết thực tiễn

7.5 Quan điểm về vai trò của chính phủ

Chính phủ cần:

- Tác động đến cầu thông qua đưa ra các tiêu chuẩn sản phẩm

- Tăng cạnh tranh bằng luật chống độc quyền và các quy định

- Chú trọng giáo dục để nâng cao trình độ lao động và hoàn thiện cơ sở hạ tầng

Các học thuyết đã giải thích tại sao một quốc gia có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế, đồng thời cũng giải thích về mô hình thương mại quốc tế mà chúng ta quan sát được trong nền kinh tế toàn cầu Học thuyết của Smith, Ricardo và Heckscher-Ohlin đều ủng hộ thương mại tự do, ngược lại, học thuyết chủ nghĩa trọng thương và ở mức độ nào đó của học thuyết thương mại mới có thể được hiểu là ủng hộ

sự can thiệp của chính phủ nhằm thúc đẩy xuất khẩu thông qua trợ cấp và để giới hạn nhập khẩu thông qua thuế quan và hạn gạch Thêm vào đó, các học thuyết khác nhau đưa ra những giải thích bổ sung rộng rãi cho nhau trên nhiều mặt

Ngày đăng: 23/02/2022, 07:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w