Nhưng sau cuộc khủng hoảng kinh tế vào năm 1929-1933 đãkhiến nhiều tổ chức phát hành lâm vào tình trạng phá sản, sự kiện này đã thúc đẩy hoạt động định mức tín nhiệm phát triển bởi sau đ
Trang 1Chương 1 Những vấn đề cơ bản về định mức tín nhiệm và tổ
chức định mức tín nhiệm.
1.1 Định mức tín nhiệm (ĐMTN)
1.1.1 Khái niệm định mức tín nhiệm(ĐMTN).
Định mức là việc đánh giá đối tượng theo một tiêu chuẩn nào đó như định mứctheo tiêu chuẩn về khả năng, giá trị, … Chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp việc định mức trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội
Định mức tín nhiệm hay "Credit Rating" là một khái niệm lần đầu tiên được đưa
ra vào năm 1909 trong một cuốn sách mang tên "Cẩm nang chứng khoán đường sắt" của tác giả John Moody Qua những tìm tòi nghiên cứu, phân tích và sáng tạo, ông là người đầu tiên công bố bảng ĐMTN cho trái phiếu trên thế giới Với cách thức đơn giản, thông qua sự kết hợp một cách có hệ thống giữa 3 chữ cái chính A ,B ,C và cách sắp xếp theo thứ tự từ Aaa đến C, ông đã đưa ra một cách thức để định mức tín nhiệm cho trái phiếu của 250 công ty của Mỹ lúc bấy giờ
Tuy nhiên vào lúc đó thì việc định mức tín nhiệm được rất ít người quan tâm chú
ý vì chưa thể ý thức được tầm quan trọng của công việc định mức tín nhiệm Lúcbấy giờ ĐMTN là một việc làm tự phát, còn mang tính chất cá nhân, là một việc làm theo cảm hứng Nhưng sau cuộc khủng hoảng kinh tế vào năm 1929-1933 đãkhiến nhiều tổ chức phát hành lâm vào tình trạng phá sản, sự kiện này đã thúc đẩy hoạt động định mức tín nhiệm phát triển bởi sau đó, do ý thức về mức độ nguy hiểm cho nền kinh tế từ việc phát hành bừa bãi chứng khoán của các nhà phát hành chính phủ Mỹ đã đưa ra rất nhiều những quy định chặt chẽ cho việc phát hành và đầu tư chứng khoán, trong đó có liên quan chặt chẽ đến việc định mức tín nhiệm
Vậy định mức tín nhiệm là gì? Tại sao lại có vai trò quan trọng như vậy?
Trải qua một quá trình nghiên cứu lâu dài, đã có rất nhiều nhà kinh tế đưa ra những khái niệm khác nhau về ĐMTN Tuy có sự khác nhau do việc đưa ra khái niệm xuất phát từ nhiều góc độ cũng như quy mô ĐMTN nhưng đa phần những khái niệm này đều thể hiện được bản chất và nội dung cơ bản của ĐMTN
Theo cách định nghĩa của Merrill Lynch thì ĐMTN là việc định giá hiện thời của
tổ chức ĐMTN về chất lượng tín dụng của một nhà phát hành chứng khoán đối với một khoản nợ nhất định, có thể xem nó như là việc đánh giá hiện thời của tổ
Trang 2chức ĐMTN về khả năng trả nợ trong tương lai của tổ chức phát hành chứng khoán Bên cạnh đó Moody's (một tổ chức ĐMTN lớn và lâu đời của Mỹ) lại chorằng ĐMTN là việc đánh giá về khả năng và sự sẵn sàng của nhà phát hành trongviệc thanh toán đúng hạn một khoản nợ nhất định trong khoảng thời gian tồn tại của nó.
Từ các nhận định trên ta có thể đưa ra một định nghĩa về ĐMTN:
ro ở đây là rủi ro vỡ nợ của người phát hành chứng khoán hoặc công cụ huy động vốn đó do việc đầu tư thất bại gây ra Không trả được nợ của khoản đầu tư chủ yếu là do tình trạng phá sản hoặc thiếu khả năng thanh toán đầy đủ nghĩa vụ vốn gốc và lãi theo nghĩa vụ của nhà phát hành
ĐMTN có thể làm lên hạng hay xuống hạng vị thế trên thị trường của nhà phát hành, một công cụ tài chính theo khả năng của nó có đáp ứng được các nghĩa vụ đối với nhà đầu tư hay không Điều này phụ thuộc vào hai yếu tố, thứ nhất là vàokhối lượng tiền có sẵn để thanh toán cho các nhà đầu tư và thứ hai là vào khả năng dễ bị vỡ nợ đến đâu khi các điều kiện kinh doanh thay đổi
Định mức tín nhiệm đánh giá mức độ rủi ro vỡ nợ cho ba loại chủ thể chính:
Người phát hành hay còn gọi là người có nghĩa vụ(công ty, ngân hàng, cácđịnh chế tài chính)
Một loại hình chứng khoán nào đó
Một quốc gia
Việc ĐMTN không phải là việc đưa ra giá trị thị trường, hay sự biến động trong tương của bất kì một loại chứng khoán nào đó ĐMTN chỉ là việc đưa ra ý kiến dựa trên các nhân tố rủi ro chứ không phải là một lời khuyên nên hay không nên mua, bán, hay giữ lại một khoản đầu tư nào Quyết định đầu tư hay không hoàn toàn chủ động vào nhà đầu tư, kết quả của việc ĐMTN chỉ nhằm giúp nhà đầu tư
có được một quyết định đầu tư đúng đắn, an toàn và phù hợp
Trang 3Kết quả của công việc ĐMTN có một ý nghĩa vô cùng lớn đối với nhà đầu tư nóiriêng và nền kinh tế nói chung Do đó việc ĐMTN không thể tiến hành một cách tùy tiện không có tổ chức bởi vì điều này có thể dẫn đến một hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế, tổ chức phát hành, nhà đầu tư … Để tránh hậu quả trên thì việc ĐMTN phải quán triệt đầy đủ các nguyên tắc sau:
Phân tích tín nhiệm trên cơ sở từng đợt phát hành và định hướng khách hàng
Đánh giá rủi ro dài hạn dựa trên ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh và kèmtheo xu hướng một nhà phát hành có trả được nợ trong tương lai hay không
Đánh giá rủi ro một cách toàn diện và thống nhất dựa vào một hệ thống các kí hiệu xếp hạng
Tính toán về khả năng sinh lời của khoản đầu tư được đo bằng các nhân tốthúc đẩy hoặc kiềm chế các nghĩa vụ tài chính của một nhà phát hành
Thực hiện tốt các nguyên tắc trên sẽ đảm bảo sự tin cậy cho những đối tượng sử dụng những thông tin từ kết quả ĐMTN, góp phần đảm bảo lợi ích của các nhà đầu tư nói riêng cũng như của cả hệ thống nói chung Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng ĐMTN chính là thước đo về tình hình kinh
tế của các đơn vị kinh tế Rõ ràng việc ĐMTN đã phát huy vai trò to lớn của nó trên thị trường vốn, thị trường chứng khoán Việc thiếu vắng một tổ chức ĐMTNtại bất kì một thị trường chứng khoán nào cũng đều là hạn chế, thiếu sót Ngày nay, ĐMTN được coi như là một công cụ hữu ích trong việc phát triển ổn định của thị trường chứng khoán tại mỗi quôc gia vì ý nghĩa to lớn của nó là không thể phủ nhận
1.1.2 Vai trò của định mức tín nhiệm.
ĐMTN phát sinh từ nhu cầu cung cấp thông tin về sự đáng tin cậy trong khả năng trả nợ của tổ chức phát hành cho nhà đầu tư trong những lĩnh vực mà ở đó
họ thiếu cả nguồn lẫn kỹ năng xử lý thông tin tài chính và các nhân tố thị trường gắn liền với rủi ro để ra quyết định đầu tư
Do đó ĐMTN không chỉ có vai trò quan trọng đối với các nhà đầu tư trên thị trường mà nó còn có ý nghĩa to lớn đối với tổ chức phát hành chứng khoán, các
tổ chức trung gian tài chính và các cơ quan quản lý nhà nước trên thị trường
Đối với nhà đầu tư: kết quả của việc ĐMTN giúp cho nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định định đầu tư đúng đắn hơn Nó đưa ra một cái nhìn tổng thể, toàn vẹn cho nhà đầu tư về tình hình kinh doanh và khả năng trả nợ của tổ chức phát hànhchứng khoán Bên cạnh đó ĐMTN cũng cho phép nhà đầu tư có thể lựa chọn các
Trang 4chứng khoán khác nhau dựa trên rủi ro và lợi nhuận Từ đó có thể xây dựng cho mình một danh mục đầu tư phù hợp với các chứng khoán có ĐMTN khác nhau tương ứng với thu nhập khác nhau giữa chúng.
Đối với nhà phát hành chứng khoán: Rõ ràng rằng vai trò của ĐMTN với tổ chức phát hành chứng khoán là rất to lớn Bất kỳ một kết quả nào của ĐMTN cũng làm ảnh hưởng đến sự tham gia vào thị trường vốn của họ Nếu một kết quảĐMTN ở mức cao thì sự tham gia này là rất thuận lợi, nhưng ngược lại nếu như kết quả thấp thì sẽ là một rào cản to lớn ngăn cản sự gia nhập thị trường vốn của
tổ chức phát hành Điều này cũng ảnh hưởng đến chi phí phát hành trong những đợt phát hành, bởi vì nếu ĐMTN thấp nó sẽ kéo theo việc nhà phát hành phải mất nhiều chi phí hơn trong việc huy động vốn, do chứng khoán của họ ít hấp dẫn nhà đầu tư Nhưng nếu kết quả ĐMTN là cao thì chi phí huy động vốn sẽ giảm
Đối với các tổ chức trung gian tài chính: Các trung gian tài chính như công ty bảo hiểm, các ngân hàng, quỹ đầu tư thì ĐMTN giúp cho họ có cơ sở để định giá
và tư vấn khách hàng trong trường hợp các tổ chức này chuyên làm nghiệp vụ bảo lãnh và môi giới
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước trên thị trường: Thông qua ĐMTN các nhà quản lý có thể biết được tình hình tài chính của nhà phát hành có lành mạnh hay không, từ đó ra quyết định để cấp phép phát hành chứng khoán Bên cạnh đóĐMTN cũng có thể coi là một trong những công cụ để giám sát thị trường giảm rủi ro xảy ra cho cả hệ thống lẫn nhà đầu tư
1.1.3 Phân loại định mức tín nhiệm.
Định mức tín nhiêm nợ: là việc định mức tín nhiệm cho các khoản đầu tư dài hạnnhư trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi
Định mức tín nhiệm các nhà phát hành: là việc ĐMTN của các công ty tư nhân, các tổ chức bảo hiểm, các quỹ đầu tư trong việc thanh toán các nghĩa vụ tài chính cho các nhà đầu tư
Định mức tín nhiệm ngân hàng: là việc đánh giá khả năng của các ngân hàng choviệc thanh toán các nghĩa vụ về tiền lãi và vốn gốc đối với các khoản tiền gửi củakhách hàng Đó chính là việc đánh giá mức độ an toàn trong hoạt động của ngân
Trang 5Định mức tín nhiệm quốc gia: là việc đánh giá khả năng tín dụng của một quốc gia cụ thể Nó cho biết ý kiến về rủi ro quốc gia, cho biết quốc gia đó có khả năng trả nợ khi phát hành trái phiếu trên thị trường quốc tế hay không.
Khi xác định đối tượng ĐMTN cần phải lưu ý rằng:
Thứ nhất, đối tượng của ĐMTN không được quá hẹp, vì như thế sẽ có rất
ít đối tượng để tổ chức ĐMTN có thể phục vụ và dẫn đến hiệu quả kinh tế không như mong muốn
Thứ hai, đối tượng xếp hạng không được quá rộng,bởi vì đối tượng của ĐMTN quá lớn sẽ vượt ra khỏi khả năng của tổ chức ĐMTN, dẫn đến mất
uy tín Đây là điều tối kị của tổ chức ĐMTN trong hoạt động của mình
Thứ ba, ĐMTN phải được tiến hành từ đơn giản đến phức tạp,từ dài hạn đến ngắn hạn
Thứ tư, việc ĐMTN phải phục vụ được cho sự phát triển của thi trường nợ,trong đó thời gian đầu phải tập trung vào trái phiếu niêm yết
Việc xếp hạng của các tổ chức ĐMTN thường được trình bày dưới dạng biểu tượng giúp cho các phía sử dụng thông tin dễ hiểu, dễ nhận rõ
Dưới đây là bảng kí hiệu và minh hoạ của một số tổ chức định mức trên thế giới:
Bảng 1 – Bảng kí hiệu và minh họa của một số tổ chức định mức tín nhiệm.
STT S&P Moody's Duff &
Phelps
Fitch's Tris(Th
ái lan)
Ram(Malaysia)
4 BBB Baa BBB BBB BBB BBB(1,2,3)
Trang 6 AA: Những công ty này có chất lượng rất cao, mức rủi ro cũng rất thấp nhưng vẫn tồn tại những bất lợi khi mà các điều kiện kinh doanh thay đổi.
A : Công ty có chất lượng cao, khả năng thanh toán nợ gốc và lãi cho nhà đầu tư vẫn cao, nhưng các công ty này có thể bị ảnh hưởng khi các điều kiện kinh doanh thay đổi theo chiều hướng xấu Các công ty được đánh giá tín nhiệm ở mức này thì khả năng thanh toán nợ gốc và lãi là thấp hơn hai trường hợp trên
Baa,BBB: Công ty có chất lượng trung bình, vẫn có đủ khả năng thanh toán nợ gốc và lãi đúng hạn nhưng hoạt động kinh doanh có thể gặp phải khó khăn khi mà điều kiện kinh doanh cũng như các điều kiện bên ngoài khác thay đổi theo chiều hướng bất lợi Trường hợp này khả năng thanh toán lãi vay và nợ gốc là thấp hơn A
Ba,BB: Công ty có chất lượng dưới trung bình, rủi ro trong đầu tư cao, khả năng thanh toán nợ gốc và lãi vay là thấp hơn mức trung bình Loại này có mức độ đầu cơ thấp
B: Công ty có chất lượng thấp, rủi ro trong đầu tư là rất cao, khả năng thanh toán nợ gốc và lãi vay đúng hạn của công ty thấp khi việc kinh doanh của công ty gặp phải khó khăn bất lợi do sự thay đổi của điều kiện kinh doanh cũng như điều kiện bên ngoài sẽ làm công ty mất khả năng thanh toán lãi và gốc Loại này có mức độ đầu cơ trung bình
Caa,CCC: Công ty có chất lượng rất thấp Loại này có mức độ đầu cơ cao
Ca,CC: Công ty có khả năng thanh toán nợ gốc và lãi là thấp nhất Loại này có mức độ đầu cơ cao nhất
C: Công ty bị đánh giá là mất khả năng thanh toán rất cao, việc thanh toán
Trang 7 D: Công ty có rủi ro vỡ nợ, báo hiệu công ty mất khả năng thanh toán cả lãi và nợ gốc.
Việc thêm con số 1, 2, 3 hoặc dấu cộng và dấu trừ để tăng thêm tính chính xác của ĐMTN
Như trên đã dẫn chứng các tổ chức ĐMTN thường sử dụng các chữ cái Latin để
kí hiệu mức độ tín nhiệm của chứng khoán được xếp hạng Điều này tạo ra một
sự thống nhất, giúp các nhà đầu tư dễ hiểu cũng như dễ so sánh các kết quả của ĐMTN
Nguyên tắc trong việc xây dựng hệ thống đánh giá xếp hạng là phải đảm bảo: Đơn giản: Đây là nguyên tắc đặc biệt quan trọng Bởi vì mục đích của việc xếphạng đó là nhằm cung cấp cho người sử dụng thông tin một chỉ báo dễ hiểu, dễ
so sánh giữa mức độ thu nhập và mức độ tổn thất có thể xảy ra cho nhà đầu tư Chính vì vậy các tổ chức ĐMTN phải xây dựng và duy trì hệ thống biếu tượng xếp hạng của mình càng đơn giản, càng dễ hiểu càng tốt
Khả năng so sánh được một cách rộng rãi: đảm bảo nguyên tắc này có nghĩa là
hệ thống xếp hạng của các tổ chức ĐMTN được áp dụng một cách thống nhất để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đối chiếu trực tiếp các rủi ro của các chứng khoán được xếp hạng Như vậy, hệ thống xếp hạng của các tổ chức ĐMTN phải
có cùng một cách diễn giải, cùng ý nghĩa đối với tất cả các chứng khoán thuộc cùng một chủng loại, bất kể chứng khoán đó do ai phát hành hoặc phát hành bằng đồng tiền nào Ngoài ra nguyên tắc này còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc
so sánh các loại chứng khoán với nhau Tóm lại nguyên tắc này đảm bảo cho nhàđầu tư khi lựa chọn chứng khoán để đầu tư
Xây dựng hệ thống xếp hạng dài hạn và ngắn hạn riêng, trong đó cần xây dựng
hệ thống dài hạn trước và có xu hướng phát triển, mở rộng trước
Trang 8 S&P chia lĩnh vực phân tích thành loại chính là rủi ro kinh doanh bao gồmđặc tính nghành, vị thế cạnh tranh, quản lý và rủi ro tài chính bao gồm tìnhhình, chính sách tài chính, lợi nhuận, cấu trúc vốn, dòng tiền mặt…
Moody 's: việc đánh giá khả năng trả nợ của công ty được phân chia theo một số yếu tố chính như:
Chất lượng quản lý và thái độ của nhà quản lý đối với rủi ro
Các hoạt động chủ yếu và vị thế cạnh tranh của công ty
Tình hình tài chính và các nguồn tiền mặt
Cơ cấu của công ty
Các cam kết hỗ trợ tài chính của công ty mẹ(nếu có)
Khuynh hướng phát triển của nghành,của quốc gia
Các biến cố đặc biệt
Một số công ty khác phân tích nghành, phân tích tài chính (giai đoạn 1 gồm hoạt động phân tích các chỉ số truyền thống đối với trái phiếu, giai đoạn 2 thường được kết hợp nghiên cứu với các cổ phiếu phổ thông bao gồm việc phân tích chỉ số thu nhập trên vốn cổ phần ROE của công ty và phân tích), xem xét những yếu tố phi tài chính như quản lý, ảnh hưởng từ nước ngoài và các ràng buộc khác
Thứ hai : Xây dựng bảng điểm(thang điểm)
Các tổ chức ĐMTN sử dụng bảng cho điểm chia các yếu tố phân tích thành nhiều hạng mục khác nhau, cung cấp một khung mô hình cho tất cả các chỉ tiêu
mà tổ chức quan tâm,xem xét khi xếp hạng một đối tượng nhất định Tuy nhiên không có một công thức chung để có thể kết hợp các yếu tố này lại để đi đến kết luận xếp hạng Qua đó ta có thể thấy hệ thống cho điểm trên hệ thống biếu tượngxếp hạng nhằm phân biệt từng hạng mục về khả năng thanh toán và mức độ tín nhiệm của nhà phát hành
Thứ ba: phương pháp xếp hạng
Đây là một công viêc phức tạp, các loại hình công ty khác nhau đòi hỏi phải có những hệ thống chỉ tiêu khác nhau Các chỉ tiêu này luôn có xu hướng chú trọng phân tích năm yếu tố sau:
Khả năng thanh khoản
Chất lượng tài sản
Lợi nhuận
Đòn bẩy tài chính
Dòng ngân lưu
Trang 9Mỗi yếu tố trên có thể được xem xét khác nhau tùy thuộc công ty đó thuộc lĩnh vực tài chính hay các khu vực kinh tế khác.
Các tổ chức ĐMTN ra được ra đời từ đầu thế kỷ 20 Năm 1909, công ty Moody của Mỹ đã khởi đầu cho việc xếp hạng tín nhiệm chứng khoán Ban đầu công ty này chuyên xếp hạng trái phiếu đường sắt, sau đó công ty này tiếp tục xếp hạng trái phiếu công nghiệp và các tiện ích công cộng khác Đến năm 1922, công ty Standard & Poor's ra đời và tiến hành việc xếp hạng các trái phiếu công ty, sau
đó tiến tới xếp hạng các trái phiếu chính quyền địa phương vào năm 1940, xếp hạng các thương phiếu từ năm 1960 và đến năm 1984 thì xếp hạng các quỹ trái phiếu và thị trường tiền tệ
Những tổ chức ĐMTN được thành lập trong thế kỷ 20 là sự kế thừa và phát triển của ba tổ chức tiền thân đã có từ trước đó rất lâu Các tổ chức hoạt động đó là: Tổ chức thông báo tín nhiệm (Credit Reporting Agency), Tổ chức kinh doanhthông tin bằng các ấn phẩm chuyên ngành và các ấn phẩm tài chính (Credit Information Services) và các ngân hàng đầu tư (Investment Bankers)
Các tổ chức thông báo tín nhiệm: Hình thức này ra đời từ rất sớm, cùng với sự phát triển của các giao dịch phương xa vào thế kỉ 17 Khi nhu cầu giao dịch giữa những người cách xa nhau về mặt địa lý càng tăng thì nhu cầu thông tin về phía đối tác ngày càng trở nên cấp thiết Hình thức thông báo tín nhiệm sơ khai chính
là các thư giới thiệu từ một số người có tiếng tăm, hoặc là người mà cả hai bên đều biết Nhưng khi khối lượng giao dịch ngày càng tăng thì đã phát sinh một loại hình dịch vụ mới, đó là các tổ chức thông báo tín nhiệm với công ty đầu tiên
là Mercantile Agency do một thương gia buôn lụa và hàng khô Lewis Tappan thành lập vào năm 1841, chuyên cung cấp thông tin về tình hình kinh doanh và mức độ tín nhiệm của rất nhiều các doanh nghiệp khác nhau, thông qua một đội ngũ đại lý đông đảo tại nhiều nơi
Trang 10Tổ chức kinh doanh thông tin bằng các ấn phẩm chuyên nghành và ấn phẩm tài chính: Đối tượng đầu tiên của các tổ chức kinh doanh thông tin phải kể đến là các công ty hỏa xa của Mỹ bởi sự hoạt động rộng rãi và thu hút nhiều nhân công của các công ty này Công ty kinh doanh thông tin đầu tiên là Baltimore & Ohio,bắt đầu hoạt động vào năm 1828 Công ty này chuyên cung cấp các thông tin về các công ty xe lửa trên toàn nước Mỹ lúc bấy giờ trên tờ “ Nhật báo hỏa xa Mỹ
”cho các nhà đầu tư Tuy nhiên việc kinh doanh dịch vụ cung cấp thông tin mới chỉ thực sự bắt đầu khi ông Henry Varnum Poor, tổng biên tập của tờ báo trên cùng con trai đã thành lập công ty kinh doanh thông tin và xuất bản cuốn sách “ Cẩm nang đường sắt Mỹ ” Cuốn sách này đã trở thành một ấn phẩm được xuất bản hàng năm, bắt đầu từ năm 1868 Trong cuốn sách này có các thông tin về cácchỉ số tài chính và tình hình hoạt động trong nhiều năm của các công ty đường sắt lớn nhất Ấn phẩm này được coi là một nguồn cung cấp thông tin rất đáng tin cậy trong nhiều năm
Năm 1916, công ty Poor tham gia nghiệp vụ xếp hạng tín nhiệm Đây là một sựphát triển tất yếu của nghiệp vụ cung cấp thông tin tài chính và hoạt động của nghành đường sắt mà nó thực hiện trong nhiều năm qua
Đến năm 1941, công ty này đã sáp nhập với công ty Standard Statistic – một công ty cũng hoạt động trong nghành ĐMTN để hình thành nên công ty Standard
& Poor’s (S&P)
Các ngân hàng đầu tư: Trước khi các tổ chức thông báo tín nhiệm cũng như các
tổ chức kinh doanh thông tin ra đời, các nhà đầu tư phải dựa vào một tổ chức trung gian để có thông tin nhằm đưa ra quyết định đầu tư chứng khoán Tổ chức trung gian đó chính là các ngân hàng đầu tư Việc các ngân hàng đầu tư đứng ra bảo lãnh, mua và phân phối các chứng khoán của các công ty đường sắt cũng đồng nghĩa với việc họ đã đem đặt cược uy tín của mình vào những việc đó Chính vì lẽ, đó các ngân hàng đầu tư yêu cầu các nhà phát hành phải cung cấp đầy đủ các thông tin có liên quan thậm chí họ còn tham gia vào hội đồng quản trịhoặc ban điều hành của tổ chức phát hành Tuy nhiên, khi các ngân hàng đầu tư càng tham gia sâu vào việc quản lý công ty phát hành, nhà đầu tư lại càng nghi ngờ về thông tin nội gián mà ngân hàng này có được.Đến năm 1930, khi các quy định về công bố thông tin ngày càng rõ ràng hơn đã làm giảm vai trò của các ngân hàng đầu tư Sự phát triển này đã đánh dấu việc chuyển giao vai trò đánh giá chất lượng chứng khoán dựa vào uy tín của các ngân hàng đầu tư sang cho các công ty xếp hạng tín nhiệm Việc chuyển giao này làm cho việc xếp hạng tín nhiệm ngày càng chuyên nghiệp hơn và tránh được mâu thuẫn về lợi ích
Trang 111.2.1.2 Sự phát triển của các tổ chức định mức tín nhiệm.
Thời kỳ từ năm 1909 đến năm 1970.
Sự xuất hiện của các tổ chức ĐMTN vào đầu thế kỷ 20 chủ yếu diễn ra tại Mỹ
Sở dĩ như vậy là bởi vì các công ty đường sắt lớn mà chủ yếu là các công ty tư nhân rất phát triển Chính vì điều này đã tạo ra một thị trường trái phiếu lớn hơn bất kì nơi nào trên thế giới Kể từ sau năm 1920, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm hoạt động rất mạnh Bởi vì thời kì này thị trường nợ có quá nhiều hàng hóa, từ trái phiếu liên bang, trái phiếu địa phương đến trái phiếu công ty đều rất phát triển Tuy nhiên từ năm 1929 đến năm 1937 là thời kỳ khó khăn nhất của các tổ chức ĐMTN, đó là việc chính quyền địa phương và chính quyền liên bang mất khả năng chi trả các khoản nợ của mình Điều này đã khiến cho uy tín cũng như hoạt động của các tổ chức ĐMTN suy giảm và trở nên khó khăn hơn
Đến năm 1940,các tổ chức ĐMTN mới hoạt động tương đối ổn định trở lại vì thị trường nợ đã hoạt động tương đối an toàn và không có bước đột biến Trong thời
kỳ này, các tổ chức ĐMTN có được thu nhập chủ yếu từ việc bán các ấn phẩm của họ (trong đó có kết quả xếp hạng), và các tài liệu khác có liên quan Điều này có nghĩa là người mua chứng khoán phải chịu các chi phí thông tin
Thời kỳ từ năm 1970 đến nay.
Có thể nói thời kỳ này sự phát triển của các tổ chức ĐMTN mang tính toàn cầuhóa
Từ cuối thập niên 70, sự phát triển của các tổ chức ĐMTN mang tính đột biến Nói như vậy là vì thời gian này, các tổ chức ĐMTM gặp được một đợt sóng phát triển tài chính lớn và các tổ chức này đã tận dụng được điều này Rất nhiều các quốc gia đã lần lượt thành lập các tổ chức ĐMTN của nước mình Cũng thời điểm này, ngoài việc xếp hạng các chứng khoán thông thường, các tổ chức
ĐMTN còn xếp hạng tín nhiệm cho các quốc gia và các định chế tài chính xuyênquốc gia Cũng trong thời kỳ đó, các công ty ĐMTN bắt đầu thu phí từ nhà phát hành và đây đã trở thành nguồn thu chính của họ
Trong xu thế phát triển đó, các tổ chức định mức tín nhiệm đã thiết lập hệ thống chi nhánh của mình ở các thị trường mới nổi – nơi đang cần việc xếp hạng đối với các tổ chức phát hành chứng khoán quốc tế của các công ty đang thường trú tại quốc gia đó Chính phủ của các quốc gia công nghiệp mới NICs và các nước đang phát triển ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của các tổ chức
ĐMTN đối với sự phát triển của thị trường trái phiếu và tiền tệ Năm 1993, diễn đàn của các tổ chức ĐMTN ASEAN (AFCRA) được thành lập như là tiền đề choviệc thúc đẩy các tiêu chuẩn quốc tế của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm
Trang 12ASEAN, Philipines thành lập năm 1982, Malaysia năm 1991, Thái Lan năm
1993, Indonexia năm 1995
Các tổ chức ĐMTN ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng không thể thiếu của mình trong sự phát triển của nền kinh tế của các quốc gia nói chung và thị trường tài chính nói riêng Đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay thì các tổ chức ĐMTN lại càng có điều kiện để phát triển nghiệp vụ chuyên môn cũng như quy mô tổ chức của mình
1.2.2 Vai trò của tổ chức định mức tín nhiệm.
Từ sự hình thành và phát triển của tổ chức ĐMTN ta có thể đưa ra một định nghĩa về tổ chức ĐMTN như sau:
“ Tổ chức ĐMTN hay các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là các tổ chức
chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng hạn theo những điều khoản đã cam kết của tổ chức phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể ”.
Chính sự phát sinh nhu cầu thông tin đáng tin cậy về các tổ chức phát hành củacác nhà đầu tư là cơ sở để hình thành nên tổ chức ĐMTN Qua thời gian,các tổ chức này đã ngày càng khẳng định tầm quan trọng của mình đối với thị trường vốn và nền kinh tế
Tổ chức phát hành đóng vai trò là cầu nối giữa nhà đầu tư và thị trường.
Các nhà phát hành dùng xếp hang tín nhiệm như một chiến lược để huy động vốn Bởi vì, khi một nhà phát hành có nhu cầu huy động vốn, thì thông qua việc xếp hạng đó sẽ giúp cho việc huy động vốn thông qua phát hành chứng khoán dễdàng hơn Hơn nữa thông qua kết quả của việc xếp hạng mà hạng của các nhà phát hành sẽ khác nhau làm cơ sở cho các nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định đầu tư
Tổ chức ĐMTN được coi như một công cụ để giám sát thị trường tài chính.
Khi thị trường tài chính và xu hướng toàn cầu hóa ngày càng phát triển thì các tổchức ĐMTN ra đời, tồn tại và phát triển nhằm giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư,và rủi ro cho cả hệ thống nói chung Từ kết quả đánh giá của các tổ chức ĐMTN, các nhà đầu tư có thể biết được tình hình tài chính của các tổ chức phát hành, các chứng khoán được xếp hạng cao được phân biệt với các chứng khoán được xếp hạng thấp, nhờ đó đã góp phần giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư và cho
cả hệ thống
Trang 13Các tổ chức ĐMTN đóng vai trò như một tiêu chuẩn quản lý chính thức.
Hầu hết ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển đều yêu cầu các công tykhi đăng kí tham gia vào thị trường phải đạt đến một số điểm nhất định về uy tín
và số điểm này phải được cung cấp bởi một tổ chức ĐMTN có uy tín Nếu khôngđáp ứng điều này thì các công ty trên sẽ không được tham gia vào thị trường chứng khoán Đây là một biện pháp để các nhà quản lý thị trường xây dựng đượcmột thị trường chứng khoán đạt hiệu quả và vững mạnh
Thông qua hoạt động của các tổ chức ĐMTN ta có thể thấy các tổ chức này đều có những đặc điểm chung, những đặc điểm này đã tạo cho các tổ chức
ĐMTN sự khác biệt với các tổ chức khác trong nền kinh tế.Để hoạt động thành công các tổ chức ĐMTN của các nước đều phải có những tính chất chung như: tính công bằng,khách quan, được tin cậy, tính độc lập, có năng lực về kỹ thuật, nhân lực đầy đủ về số lượng và chất lượng,và quan trọng nhất đó là tiếp cận được với các thông tin đáng tin cậy về các tổ chức phát hành chứng khoán Để tin cậy và có ích cho nhà đầu tư, các tổ chức ĐMTN phải được đánh giá thông qua sự tham gia của các tổ chức này trên thị trường về mức độ tín nhiệm và tính công bằng của mình Nhưng trước hết các tổ chức này phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kĩ thuật cần thiết, có nguồn tài chính đầy đủ, có khả năng tiếp cận được với nguồn thông tin dồi dào và đáng tin cậy về nhà phát hành Tính độc lập của tổ chức ĐMTN được xem xét trên hai khía cạnh chủ yếu là mức độ tín nhiệm
và sự thành công với nỗ lực kinh doanh Tổ chức định mức tín nhiệm phải hoàn toàn độc lập, tách khỏi ảnh hưởng chính trị và các áp lực của chủ thể mà nó quảnlý.Sự độc lập có một vai trò vô cùng quan trọng trong thành công của nghề này Qua quá trình hình thành và phát triển,tổ chức ĐMTN đã được xây dựng dưới những hình thức sở hữu như: doanh nghiệp tư nhân,công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty cổ phần Với hình thức là doanh nghiệp tư nhân các tổ chức ĐMTN
có thể không bị chi phối bởi yếu tố nào và độc lập trong hoạt động của mình Nhưng tổ chức ĐMTN dưới hình thức này bị hạn chế rất nhiều yếu tố như pháp luật và khả năng huy động vốn Dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn các tổ chức ĐMTN có thể huy động được vốn nhưng lại bị hạn chế và khả năng chuyểnnhượng là rất hẹp Tổ chức dưới loại hình công ty cổ phần là có nhiều ưu điểm hơn cả: khả năng huy động vốn là rộng, hơn nữa việc chuyển nhượng vốn là khá thuận lợi,khả năng thích hợp với thị trường là cao Đặc biệt, mô hình công ty cổ phần có tính độc lập cao,ít chịu tác động của bên ngoài Vì vậy các tổ chức ĐMTN dưới dạng này có điều kiện để đánh giá một cách khách quan về chất lượng của các loại chứng khoán.Do đó,trên thế giới các tổ chức ĐMTN thường được tổ chức dưới dạng này
Trang 14Điều kiện chủ yếu để hình thành và phát triển tổ chức định mức tín nhiệm đó là:
Có thị trường nợ phong phú và phát triển:
Rõ ràng rằng một thị trường nợ thưa thớt ít hàng hóa sẽ là một môi trường bất lợi cho sự ra đời của tổ chức ĐMTN Bởi vì một thị trường như vậy sẽ không tạo
ra đối tượng xếp hàng cho các tổ chức ĐMTN Điều này sẽ kéo theo việc nguồn thu của các tổ chức này không được bảo đảm, hoạt động của các tổ chức khó có thể duy trì trong một môi trường như vậy Trái lại, một thị trường nợ phát triển phong phú, đa dạng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức ĐMTN phát triển
cả về quy mô cũng như nghiệp vụ
Yếu tố con người trong hoạt động ĐMTN phải đạt yêu cầu cả về trình độ và đạo đức:
Việc xếp hạng tín nhiệm là một công việc hết sức phức tạp và khó khăn Hơn thế nữa,môi trường hoạt động cũng như các khoản thu nhập “kếch xù” từ việc cung cấp, biết trước thông tin trên thị trường tài chính có thể làm ảnh hưởng đến
tư cách và đạo đức của một bộ phận không nhỏ những người hoạt động trong lĩnh vực này Vì vậy, song song với trình độ thì đạo đức cũng là một yêu cầu không thể thiếu đối với nguồn nhân lực hoạt động trong tổ chức ĐMTN
Có một khung pháp lý riêng điều chỉnh hoạt động của các tổ chức ĐMTN:
ĐMTN là một công việc có tính nhạy cảm rất cao đối với thị trường vốn Một rủi ro phát sinh từ tổ chức ĐMTN xảy ra trên thị trường vốn có thể dẫn đến rủi rocho toàn hệ thống dẫn đến khủng hoảng kinh tế Vì vậy nhất thiết phải có một hệthống pháp luật riêng cho hoạt động của tổ chức ĐMTN
Học hỏi và hợp tác với các nước có kinh nghiệm trong lĩnh vực ĐMTN:
Trong xu thế toàn cầu hóa như hiện nay thì việc bắt tay hợp tác với nước ngoài
là cần thiết cho sự hình thành của các tổ chức ĐMTN Điều đó có thể tạo điều kiện giúp ta có được kinh nghiệm,đồng thời có thể tranh thủ sự giúp đỡ của các nước bạn
1.2.3 Hoạt động và sản phẩm cơ bản của tổ chức định mức tín nhiệm.
Tùy theo đối tượng xếp hạng mà các công ty ĐMTN có thể có một hoặc nhiều sản phẩm cụ thể khác nhau đối với từng loại công cụ huy động vốn trên thị trường.Các sản phẩm dịch vụ này thường là các ấn phẩm do các tổ chức ĐMTN phát hành, hoặc là sự thông báo lên các phương tiện thông tin đại chúng của tổ
Trang 15đánh giá của tổ chức ĐMTN sẽ được truyền đến những ai quan tâm Các sản phẩm dịch vụ chủ yếu của tổ chức ĐMTN bao gồm:
Xếp hạng tín nhiệm, sản phẩm này cung cấp cho những người sử dụng thông tin
từ việc xếp hạng có được những báo cáo phân tích về tình hình tín dụng của tổ chức phát hành, từ đó có thể cho thấy khả năng trả nợ gốc và lãi của các tổ chức phát hành có cao hay không Thông qua đó các nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định đầu tư tương ứng với kết quả xếp hạng tín nhiệm cao hay thấp Dịch vụ này
có thể đưa ra các đánh giá về các chứng khoán nợ dài hạn hay các cổ phiếu ưu đãi đang lưu hành của tổ chức phát hành Sản phẩm này của tổ chức ĐMTN thường được thể hiện dưới dạng báo cáo, trong đó bao gồm hồ sơ của tổ chức phát hành, báo cáo tài chính, các phân tích,đánh giá, cũng như xây dựng một tỷ
lệ cho việc so sánh các tổ chức phát hành với nhau Điều này là rất quan trọng bởi vì tổ chức ĐMTN tiến hành xếp hạng rất nhiều các tổ chức phát hành khác nhau, sản phẩm này có thể cho phép người ta có thể so sánh giữa các loại hình rủi ro khác nhau
Ngoài ra tổ chức ĐMTN còn có thể cung cấp thông tin và tư vấn cho nhà đầu tư.Người sử dụng thông tin từ sản phẩm này của tổ chức ĐMTN có thể có được những thông tin vào bất kỳ lúc nào Đó có thể là một sự thay đổi trong việc xếp hạng, thông tin đánh giá về các đợt phát hành mới của tổ chức phát hành…
Một sản phẩm nữa của tổ chức ĐMTN đó là thông báo kết quả ĐMTN qua cácphương tiện truyền thông.Những đối tượng mua dịch vụ này từ tổ chức ĐMTN
sẽ được thông báo các thông tin tức thời về tình hình kinh doanh, tình hình tín dụng của tổ chức phát hành thông qua các phương tiện truyền thông
Trang 16Chương 2
Mô hình tổ chức định mức tín nhiệm điển hình của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm rút ra cho
Việt Nam.
2.1 Mô hình tổ chức định mức tín nhiệm của một số quốc gia trên thế giới.
2.1.1 Mô hình tổ chức định mức tín nhiệm Standard & Poor’s (S&P) của Mỹ.
Mỹ là một quốc gia mà sự ra đời tổ chức ĐMTN có từ rất sớm Trong đó có hai tổ chức ĐMTN nổi tiếng nhất và cũng lâu đời nhất trên thế giới là Standard
& Poor’s và Moody’s Hai công ty này cùng với một số công ty khác đã xếp hạng cho nhiều công cụ nợ được giao dịch trên thị trường tài chính ở Mỹ cũng như nhiều nước trên thế giới
Tập đoàn xếp hạng tín nhiệm S&P được Henry Varnum Poor – người đã xuất bản quyển “ Lịch sử ngành đường sắt và kênh đào Mỹ ” – khai sinh ra Ông là người được xem như đi đầu trong lĩnh vực xuất bản các ấn phẩm hướng dẫn trong lĩnh vực đầu tư xuất bản năm 1860 Nhưng mãi đến năm 1923, công ty nàymới xếp hạng cho các trái phiếu Năm 1967,công ty này đã được công ty
Megraw – Hill Coporation mua lại và hiện nay S&P là công ty con của Megraw – Hill Coporation, có hệ thống văn phòng khắp thế giới: New York, London, Tokyo, Francisco, Paris, Stockholm, Madrid, Melbourne, Toronto, Hongkong.Tập đoàn ĐMTN của S&P được tổ chức thành 6 ban theo hướng chuyên môn hóa, phù hợp với ngành hoặc các loại nợ Mỗi ban đứng đầu là giám đốc điều hành, quản lý các ban này là hội đồng quản trị, có chủ tịch và các trưởng ban sẽ chịu trách nhiệm về phong cách chỉ đạo và quản lý Trong mỗi ban còn chia ra làm các bộ phận thực hiện các công việc chuyên môn như: Bộ phận hỗ trợ quản
lý, bộ phận thông tin, bộ phận nghiên cứu, bộ phận định mức, bộ phận hỗ trợ
Trang 17Sơ đồ 2.1 – Mô hình tổ chức của tập đoàn định mức tín nhiệm Standard &
Ban đánh giá các định chế tài chính (Financial Institutions): ban này thực hiện các việc đánh giá công ty là ngân hàng, các công ty tài chính độc lập, công ty cứu hộ, môi giới chứng khoán, thị trường tiền tệ Các quỹ tương
hỗ cũng là đối tượng đánh giá của ban này
Ban đánh giá cấu trúc tài chính (Structured Finance): chuyên đánh giá về các khoản có thể thế chấp, cầm cố tại ngân hàng đi vay, các trái phiếu có giá trị thấp, chứng khoán vốn cổ đông …
Ban đánh giá các dịch vụ bảo hiểm (Insurance Rating Services): chuyên đánh giá các khả năng cung ứng của các nhà bảo hiểm, cũng như khả năngchi trả, bồi thường của họ Đó là khả năng đáp ứng những cam kết nợ đối với khách hàng về bảo hiểm tài sản, thương vong, sinh mạng và sức khỏe
Ban đánh giá tài chính quốc tế (International Finance): ban này quản lý các văn phòng của S&P bên ngoài nước Mỹ để chuyển ĐMTN cho các tổ chức tài chính xuyên quốc gia
Ban đánh giá tài chính đô thị (Municipal Finance) chuyên đánh giá xếp hạng tín nhiệm khi các tiểu bang và chính quyền địa phương phát hành tráiphiếu đô thị
Dịch vụ do S&P cung cấp rất đa dạng nhưng chủ yếu bao gồm các dịch vụ liên quan đến xếp hạng tín nhiệm và các dịch vụ thông tin tài chính, đầu tư – chủ yếu thông tin về tình hình tài chính các công ty, đưa ra dự báo trên thị trường tài chính cho một ngành hoặc một phân khúc thị trường Quy trình ĐMTN của S&P được mô tả qua sơ đồ:
Sơ đồ 2.2 – Quy trình định mức tín nhiệm của Standard & Poor’s
Nguồn: Request@standardandpoor.com
Quy trình này sắp xếp theo thời gian, được thể hiện trong bảng 2.1