Trong lần thực tập nghề nghiệp 1, chúng tôi đã được tiếp cận và tìm hiểu vềđịa bàn nghiên cứu một cách tổng quát nhất dựa trên các vấn đề về kinh tế, vănhóa, xã hội… Từ cái nhìn tổng q
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA
Luận văn
Tác động của một số yếu tố kinh tế - xã hội đến vai trò của cha, mẹ trong việc
chăm sóc và giáo dục con cái hiện nay tại thị trấn Phú Long - huyện Hàm Thuận Bắc - tỉnh Bình Thuận
Trang 2MỤC LỤC
DANH SÁCH NHÓM 3
PHẦN I : MỞ ĐẦU 4
2.1 Ý nghĩa thực tiễn 4
2.2 Ý nghĩa lý luận 5
3.1 Đối tượng nghiên cứu: 5
3.2 Phạm vi nghiên cứu: 6
Đối tượng: 9
Đối tượng: 10
PHẦN 2 NỘI DUNG CHÍNH 12
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12
1 Hệ thống khái niệm 12
2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu : 15
CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT CỦA ĐỀ TÀI 23
Về vật chất: 68
Về tinh thần: 68
PHẦN 3 : KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 72
2.1 Đối với các bậc cha mẹ : 82
2.2 Đối với chính quyền địa phương : 83
2.3 Đối nhà trường : 84
2.4 Đối với giáo viên hướng dẫn 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC ĐÍNH KÈM 86
DANH SÁCH NHÓM
Hồ Ngọc Anh
Trang 3PHẦN I : MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, Việt Nam đã tiến những bước đáng kểvào công cuộc đổi mới vào một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủnghĩa Yếu tố thúc đẩy sự thay đổi này chính là các hoạt động kinh tế và quá trình
đô thị hóa Quá trình này đã dẫn đến sự thay đổi tích cực và đáng khích lệ cho cácmối quan hệ giới trong công việc, gia đình và xã hội
Đời sống của mỗi cá nhân luôn được bắt đầu trước hết từ phạm vi gia đình
và suốt cuộc đời họ, gia đình là môi trường đóng vai trò hết sức quan trọng Nếugia đình được coi là tế bào của xã hội thì cha mẹ được coi là hạt nhân của tế bàonày Đồng thời, gia đình là nơi thực hiện quá trình xã hội hóa cá nhân đầu tiên,giúp cho cá nhân phát triển hoàn thiện về nhân cách và thể chất, từ đó giúp cho cánhân phát triển toàn diện
Trong lần thực tập nghề nghiệp 1, chúng tôi đã được tiếp cận và tìm hiểu vềđịa bàn nghiên cứu một cách tổng quát nhất dựa trên các vấn đề về kinh tế, vănhóa, xã hội… Từ cái nhìn tổng quan đó chúng tôi nhận thấy vấn đề vai trò của bố
mẹ trong việc giáo dục, chăm sóc con cái ở thị trấn Phú Long có rất nhiều thayđổi Vì vậy nhóm chúng tôi quyết định chọn vấn đề này để nghiên cứu
2 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Trang 4Giúp cho sự nhìn nhận của người dân đầy đủ, sâu sắc hơn về tầm quantrọng của giáo dục gia đình trong xã hội ngày nay để từ đó nâng cao tầm nhận thứccũng như chia sẻ những kinh nghiệm của người dân nơi đây trong việc chăm sóc,giáo dục con cái Bên cạnh đó, nghiên cứu còn giúp cho người đàn ông thấy đượcvai trò của người vợ trong việc chăm sóc, giáo dục con cái.
Tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá đúng vai trò của cha mẹ trong giađình, đồng thời đánh giá đúng vai trò của phụ nữ trong việc chăm sóc, giáo dụccon cái Qua đó đề xuất những chính sách và giải pháp nhằm phát huy năng lựccủa người phụ nữ, tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ hoàn thành tốt trách nhiệmcủa mình trong sản xuất, đời sống và các hoạt động xã hội
2.2 Ý nghĩa lý luận.
Với đề tài nghiên cứu “ Tác động của một số yếu tố kinh tế - xã hội đến vaitrò của cha, mẹ trong việc chăm sóc và giáo dục con cái hiện nay tại thị trấn PhúLong - huyện Hàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận.”, những thông tin thu thập được
từ cuộc nghiên cứu sẽ đưa ra những con số, những kết luận, đánh giá khách quan
cụ thể về vai trò của bố mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con cái hiện nay Nhữngđánh giá kết luận sẽ bổ sung tri thức khoa học cho chuyên ngành xã hội học(phương pháp nghiên cứu xã hội học: xã hội học về giới, xã hội học gia đình )
Kết quả nghiên cứu còn bổ sung và hoàn chỉnh các lý thuyết: cấu trúc- chứcnăng, xung đột, bình đẳng giới, định kiến giới, nhạy cảm giới
3 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Ảnh hưởng của một số yếu tố kinh tế, xã hội đến vai trò của bố mẹ trongviệc chăm sóc, giáo dục con cái hiện nay tại thị trấn Phú Long, huyện Hàm ThuậnBắc, tỉnh Bình Thuận
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
3.2.1 Phạm vi vấn đề nghiên cứu:
Quy mô nghiên cứu: Do điều kiện khách quan nhóm chúng tôi chỉ nghiêncứu trên một nhóm đối tượng nhất định
3.2.2 Khách thể nghiên cứu:
Trang 5Người dân thị trấn Phú Long.
3.2.3 Phạm vi không gian nghiên cứu:
Thị trấn Phú Long, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận
3.2.4 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/2009 đến tháng 12/2009
4 MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
4.1 Mục tiêu tổng quát:
Đánh giá tác động của một số yếu tố kinh tế - xã hội đến vai trò của cha mẹtrong việc chăm sóc và giáo dục con cái hiện nay tại thị trấn Phú Long - huyệnHàm Thuận Bắc – tỉnh Bình Thuận
4.2 Mục tiêu cụ thể:
Đánh giá vai trò của cha, mẹ trong gia đình ở các lĩnh vực: lao động sảnxuất và lao động tái sản xuất tại thị trấn Phú Long – Hàm Thuận Bắc – BìnhThuận
Tìm hiểu sự khác nhau giữa vai trò của người bố và người mẹ trong việcchăm sóc, giáo dục con cái hiện nay, đánh giá được sự thay đổi đó so với trướcđây tại thị trấn Phú Long – Hàm Thuận Bắc – Bình Thuận
Tìm hiểu những yếu tố kinh tế (thu nhập gia đình, cán cân thu nhập vợchồng, phân công lao động trong gia đình, nghề nghiệp của bố mẹ), xã hội (giớitính của con cái, quan niệm của bố mẹ về các vai trò giới của con cái, văn hoá(truyền thống của người Việt, văn hoá theo mô hình ứng xử phổ biến hiện nay liênquan đến giáo dục con cái tại địa phương, các yếu tố xây dựng gia đình văn hoá),cách giáo dục của bố mẹ (trình độ học vấn, nền tảng giáo dục gia đình), chính sáchcủa nhà nước và địa phương về bình đẳng giới, các phương tiện truyền thông đạichúng …) có tác động đến vai trò của bố mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con cáitại thị trấn Phú Long – Hàm Thuận Bắc – Bình Thuận
Tìm hiểu ảnh hưởng của các chính sách, chương trình và dự án đối với việcchăm sóc, giáo dục con cái trong gia đình tại thị trấn Phú Long – Hàm Thuận Bắc– Bình Thuận
Trang 6Từ kết quả phân tích có thể đưa ra một số kết luận và kiến nghị có liên quanđến đề tài nhằm điều chỉnh và bổ sung để đảm bảo lợi ích của phụ nữ trong mốitương quan phụ nữ và nam giới tại thị trấn Phú Long – Hàm Thuận Bắc – BìnhThuận.
Nâng cao kỹ năng thực hành nghiên cứu giới của nhóm nghiên cứu
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Chọn mẫu thu thập thông tin định lượng
Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Số lượng các đơn vị nghiên cứu không được nhỏ hơn 30
- Chọn kích thước mẫu lớn tới mức nào mà ngân quỹ, thời hạn và yếu tốnhân sự cho phép
- Đảm bảo sai số chọn mẫu hợp lý
- Đảm bảo độ tin cậy của thông tin, tính đại diện của chỉ tiêu nghiên cứu, độphức tạp và thuần nhất của tổng thể
Tiêu chí chọn mẫu khảo sát
Cuộc khảo sát này được thực hiện trong thời gian rất ngắn nên chúng tôikhông thể tiến hành thu thập thông tin trên toàn bộ những người dân trong toàn thịtrấn mà chỉ tiến hành trên một số hộ dân nhất định Đó là những người dân:
o Đã kết hôn
o Đã có con (tuổi của con từ 2 – 18 tuổi trở lên)
o Thuộc gia đình đầy đủ
Những người đã kết hôn và có con thì vai trò chăm sóc và giáo dục con cái
của họ mới được thể hiện rõ nét
Nhóm chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát tất cả các khu phố (8 khu phố) có trênđịa bàn thị trấn Phú Long Chúng tôi đã tiến hành khảo sát trên 146 hộ dân và một
số cán bộ lãnh đạo thị trấn, khu phố, người dân tại địa bàn
Quy mô mẫu thực tế
Với đề tài này nhóm chúng tôi quyết định chọn phương pháp chọn mẫu xácsuất mà cụ thể hơn là chọn mẫu chỉ tiêu Nhóm chúng tôi lựa chọn phương phápchọn mẫu này vì nó phù hợp với đề tài của chúng tôi Do đề tài của chúng tôi có
Trang 7khung mẫu, chọn mẫu để phản ánh tối ưu cơ cấu của tổng thể, hơn nữa thời giannghiên cứu trên địa bàn không cho phép nên chúng tôi quyết định lựa chọnphương pháp chọn mẫu này làm phương pháp chọn mẫu tối ưu nhất cho đề tài.Phương pháp chọn mẫu chỉ tiêu này còn có ưu điểm là nhanh và tiện lợi, công việcchọn của điều tra viên đơn giản và nhẹ nhàng, có thể tiết kiệm thời gian và các chiphí khác, có thể so sánh kết quả giữa các bộ phận của tổng thể Tuy nhiên cáchchọn này cũng có những hạn chế nhất định là phụ thuộc vào tính chủ quan củađiều tra viên.
Trong tổng số 3337 hộ dân thì có 2346 hộ dân đạt các tiêu chí chọn mẫu(đặc điểm mẫu) Mẫu khảo sát được chọn theo công thức sau :
e là độ tin cậy (với đề tài này chúng tôi chọn độ tin cậy là 92%)
Dựa trên danh sách 2346 hộ dân đạt tiêu chí chọn mẫu, chúng tôi chọn ra
146 hộ dân để khảo sát bằng cách tính bước nhảy k theo công thức :
k = N/ n= 2346/ 146 = 16Chúng tôi thực hiện bốc ngẫu nhiên để chọn hộ dân được chọn đầu tiên, đó
là hộ có số thứ tự 4 Như vậy những người kế tiếp được chọn sẽ là k+4, 2k+4,3k+4… cho đến khi chọn đủ 146 mẫu khảo sát thì dừng lại
Mẫu dự trữ:
Nhóm chúng tôi lấy mẫu dự trữ là 10% để đề phòng những người đượcchọn phỏng vấn không có ở nhà hoặc không thể tham gia trả lời Và mẫu dự trữđược tính như sau: 146 * 10%
Chọn mẫu thu thập thông tin định tính:
Trang 8 Chọn mẫu phỏng vấn sâu:
Để thu thập thông tin một cách đầy đủ và phản ánh đúng thực tế của tìnhhình tại địa phương, bên cạnh việc thu thập các thông tin thứ cấp, phát bản hỏichúng tôi còn sử dụng phương pháp phỏng vấn cụ thể là phỏng vấn sâu
Mục tiêu của việc chúng tôi phỏng vấn sâu là không phải để hiểu một cách
đại diện, khái quát về tổng thể mà giúp chúng tôi hiểu sâu, hiểu kỹ từng vấn đềnhất định
Đối tượng:
- Hộ dân: (xét theo tiêu chí: Chủ hộ; Nghề nghiệp.)
- Cán bộ Hội Phụ Nữ (xét theo tiêu chí: Hội trưởng Hội Phụ Nữ Thị trấn vàKhu phố)
- Cán bộ Hội Khuyến Học (xét theo tiêu chí: Thị trấn và Dòng họ)
Đối với phương pháp phỏng vấn sâu, đối tượng được chúng tôi phỏng vấn
là một số cán bộ thị trấn, khu phố và người dân Sở dĩ chúng tôi chọn phỏng vấncán bộ thị trấn, khu phố vì đây là những người là những người nắm bắt thông tintổng thể của địa phương một cách đầy đủ nhất, ở họ chúng tôi có thể xin được các
số liệu liên quan tới phạm vi nghiên cứu của đề tài
Người dân là những người sống tại địa phương trực tiếp tạo ra các vấn đề vàcũng là đối tượng chịu sự ảnh hưởng chính của các vấn đề trong phạm vi nghiêncứu của nhóm chúng tôi Những thông tin của người dân cung cấp sẽ là nhữngthông tin chính xác nhất, phản ánh đúng hiện thực nhất
Chọn mẫu phỏng vấn hồi cố:
Mục tiêu của việc chúng tôi phỏng vấn hồi cố là thu thập thông tin để thấy
được sự thay đổi vai trò của bố mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con cái qua cácthời kì
Đối tượng:
- Phỏng vấn những người lớn tuổi (> 60 tuổi)
- Những người có con trong độ tuổi từ 8 – 24 tuổi trở lên
Số mẫu cần chọn: chúng tôi chọn 7% trong mẫu khảo sát : 7%*146 = 10
6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Trang 9Các yếu tố kinh tế (thu nhập gia đình, cán cân thu nhập vợ chồng, phâncông lao động trong gia đình, nghề nghiệp của bố me), xã hội (giới tính của concái, quan niệm của bố mẹ về các vai trò giới của con cái, văn hoá (truyền thốngcủa người Việt, văn hoá theo mô hình ứng xử phổ biến hiện nay liên quan đến giáodục con cái tại địa phương, các yếu tố xây dựng gia đình văn hoá), cách giáo dụccủa bố mẹ (trình độ học vấn, nền tảng giáo dục gia đình), chính sách của nhà nước
và địa phương về bình đẳng giới, các phương tiện truyền thông đại chúng …) cóảnh hưởng đến vai trò của bố mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con cái ở thị trấnPhú Long
Vai trò của bố mẹ trong việc giáo dục, chăm sóc con cái đang có sự thay đổi
so với trước đây (trước năm 2003)
Vai trò chăm sóc, giáo dục con cái trong gia đình hiện nay ở thị trấn PhúLong chủ yếu là do người phụ nữ đảm nhận
Một vài yếu tố kinh tế (nghề nghiệp của bố mẹ, thu nhập của gia đình…)
-xã hội( sự phát triển của các phương tiện truyền thông đại chúng, nhu cầu -xã hộihoá giáo dục ) tác động làm cho việc chăm sóc, giáo dục con cái đang có xuhướng chuyển cho nhà trường và xã hội
7 KHUNG LÝ THUYẾT
Trang 10PHẦN 2 NỘI DUNG CHÍNH.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
A Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Văn hoá truyền thống của người Việt
- Văn hoá theo mô hình ứng xử phổ biến hiện nay liên quan đến giáo dục con cái tại địa phương
- Các yếu tố của xây dựng gia đình văn hoá
VAI TRÒ CỦA BỐ, MẸ TRONG VIỆC CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC CON CÁI
MỘT SỐ NHÂN TỐ KINH TẾ - XÃ HỘI
Nhân tố kinh tế
Nhân tố xã hội
Nghề nghiệp của
bố mẹ
Giới tính của con cái
Truyền thông đại chúng
Chính sách của nhà nước và địa phương về bình đẳng giới
Quan niệm của bố mẹ về các vai trò giới của con cái
Vai trò chăm sóc:
Sức khoẻ Tâm tư tình cảm Giải trí…….
Vai trò giáo dục:
Vấn đề học tập của con cái
Giáo dục nhân cách, cách cư xử với mọi người.
Giáo dục giới tính
Giáo dục trong mối quan hệ với người thân trong gia
đình, dòng họ, mối quan hệ bạn bè….
Giải pháp cho các vấn đề.
Nêu cao hơn nữa vai trò của bố mẹ.
Con cái phải tự có ý thức.
Xã hội quản lý chặt hơn…
Trang 11Trong khoa học xã hội một vấn đề hay một hiện tượng có rất nhiều cáchđịnh nghĩa khác nhau nhưng trong đề tài này chúng tôi sử dụng các khái niệm sauđây:
Vai trò: là tập hợp những ứng xử của mỗi cá nhân mà mọi người khác chờ
đợi (nhà tâm lý, xã hội học Pháp - Jean Stoetzel)
Vai trò xã hội: là một khái niệm xuất phát từ người diễn viên đóng vai và
diễn trò trên sân khấu, sau đó được xã hội hóa vào đời sống và trở thành thuật ngữkhoa học (G H Mead (1863 – 1931) – Nhà triết học, xã hội học, tâm lý học ngườiMỹ) Là khái niệm chỉ sự mong đợi xã hội đối với hành vi diễn xuất của cá nhântrong một tình huống xã hội cụ thể và trong một khung cảnh xã hội nhất định Vaitrò như là tập hợp những ứng xử của mỗi cá nhân mà mọi người khác chờ đợi (Xãhội học những vấn đề cơ bản – Nguyễn Minh Hoà)
Vị trí xã hội: Theo nghĩa chung nhất thì đó là sự định vị một cá nhân trong
một đơn vị xã hội Còn cụ thể thì nó thường được hiểu theo hai nghĩa sau:
+ Thứ nhất : là chỗ đứng của cá nhân trong một bậc thang xã hội Trongmột bậc thang xã hội nào đó cá nhân có thể đứng ở khoảng cao, khoảng trung bìnhhay khoảng thấp
+ Thứ hai : vị thế xã hội còn được hiểu như là toạ độ của cá nhân trong
uy tín xã hội Đó là toàn bộ sự đánh giá của một nhóm hay một cộng đồng xã hộiđối với cá nhân, biểu thị mức độ tôn trọng, kính nể, trọng thị (Xã hội học những
vấn đề cơ bản – Nguyễn Minh Hoà).
Gia đình: là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ
huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyềngiữa họ với nhau theo quy định của pháp luật (Luật hôn nhân và gia đình năm2000)
Gia đình: là một nhóm xã hội được xác định bởi nơi trú ngụ chung, sự hợp
tác và tái sản xuất kinh tế, gồm những người trưởng thành trong đó có ít nhất haingười duy trì mối quan hệ tình dục được xã hội công nhận với một hoặc nhiều đứatrẻ là con đẻ hoặc con nuôi của những người trưởng thành có quan hệ với nhau(George Peter Murdock (1879-1949) – Nhà dân tộc học Hoa Kì )
Trang 12Gia đình: là một nhóm xã hội, một thiết chế xã hội, một tổ chức xã hội
được hình thành từ lâu trong lịch sử Nó được xây dựng nhằm giải thích bản chấtcủa các mối quan hệ, trật tự và sự bất ổn mang tính xã hội trong gia đình (Xã hộihọc gia đình và những vấn đề của gia đình – Trần Thị Kim Xuyến)
Giới: Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam
giới và phụ nữ Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ vànam giới các đặc điểm giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và
có thể thay đổi được (Xã hội học về giới – Trần Thị Kim Xuyến)
Quan hệ giới: Là các mối quan hệ xã hội giữa phụ nữ và nam giới, đặc biệt
là cách thức phân chia quyền lực giữa nam và nữ (Xã hội học về giới – Trần ThịKim Xuyến)
Vai trò giới: Là những hoạt động khác nhau mà xã hội mong nuốn phụ nữ
và nam giới thực hiện (Xã hội học về giới – Trần Thị Kim Xuyến)
Nhạy cảm giới: Là sự nhận thức đầy đủ và đúng đắn về nhu cầu, vai trò và
trách nhiệm khác nhau của phụ nữ và nam giới (Xã hội học về giới – Trần ThịKim Xuyến)
Trách nhiệm giới: Là việc nhận thức được các vấn đề giới, sự khác biệt
giới và nguyên nhân của nó, từ đó đưa ra biện pháp tích cực nhằm giải quyết vàkhắc phục mọi bất bình đẳng trên cơ sở giới (Xã hội học về giới – Trần Thị KimXuyến)
Phân công lao động trên cơ sở giới: Là sự phân công việc và trách nhiệm
khác nhau giữa phụ nữ và nam giới (Xã hội học về giới – Trần Thị Kim Xuyến)
Bình đẳng giới: Là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống
và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới (Xã hội học về giới – Trần Thị KimXuyến) Phụ nữ và nam giới có vị thế bình đẳng như nhau và cùng:
+ Có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện cácnguyện vọng của mình
+ Có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng các nguồnlực xã hội và thành quả phát triển
+ Được bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
Trang 13Giáo dục: là khái niệm cơ bản, quan trọng nhất của giáo dục học.
- Về bản chất, giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh nghiệmlịch sử xã hội của các thế hệ loài người
- Về hoạt động, giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo dục đểhình thành cho họ những phẩm chất nhân cách
- Về mặt phạm vi, khái niệm giáo dục bao hàm nhiều cấp độ khác nhau:
+ Ở cấp độ rộng nhất, giáo dục được hiểu đó là quá trình xã hội hoácon người Quá trình xã hội hoá con người là quá trình hình thành nhân cách dướiảnh hưởng của tác động chủ quan và khách quan, có ý thức và không có ý thức củacuộc sống, của hoàn cảnh xã hội đối với các cá nhân
+ Ở cấp độ thứ hai, giáo dục có thể hiểu là giáo dục xã hội Đó làhoạt động có mục đích của xã hội, với nhiều lực lượng giáo dục, tác động có hệthống, có kế hoạch đến con người để hình thành cho họ những phẩm chất nhâncách
+ Ở cấp độ thứ ba, giáo dục được hiểu là quá trình sư phạm Quátrình sư phạm là quá trình tác động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương phápkhoa học của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh nhằm giúp học sinhnhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành những phẩm chất nhân cách Ở cấp độnày, giáo dục bao gồm : Quá trình dạy học và quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp
+ Ở cấp độ thứ tư, Giáo dục được hiểu là quá trình bồi dưỡng đểhình thành những phẩm chất đạo đức cụ thể, thông qua việc tổ chức cuộc sốnghoạt động và giao lưu ( Hà Thị Mai, Giáo dục học đại cương, Đại học Đà Lạt,
2007 [Lưu hành nội bộ])
Giáo dục trong gia đình được hiểu là toàn bộ những tác động của gia đình
đối với sự hình thành và phát triển nhân cách con người, trước hết của lớp trẻ
"Giáo dục gia đình là nền tảng đạo đức con người" (GS-TS Nguyễn Thái Hợp).Gia đình là thể chế xã hội đầu tiên góp phần quyết định vào sự hình thành nhâncách trẻ em, hay nói đúng hơn, vào sự hình thành cấu trúc nhân cách
Chăm sóc con cái: chăm sóc ở gia đình và cộng đồng (hoặc hành vi thúc
đẩy vốn con người) là những điều mà mọi người cần thực hiện để đảm bảo trẻ em
Trang 14được phát triển toàn diện khả năng của chúng Chăm sóc bao gồm các hoạt độngđược thực hiện ở cấp hộ gia đình nhằm đảm bảo sự tồn tại, sinh trưởng, phát triển
và bảo vệ cho trẻ Cụ thể, thực hành chăm sóc bao gồm thực hành chăm sóc sứckhoẻ, nuôi dưỡng trẻ về thể chất, chăm sóc tâm lý
Sức khỏe: Sức khỏe là trạng thái thoải mái hoàn toàn về thể chất,tinh thần
và xã hội (Tổ chức y tế thế giới – WHO)
2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu :
Tài liệu nghiên cứu 1:
b) Mục tiêu nghiên cứu:
Nhằm tìm hiểu rõ vai trò của người phụ nữ tại địa bàn nghiên cứu Từ đóđánh giá đúng vai trò của phụ nữ trong nông nghiệp, nông thôn, qua đó đề xuấtnhững chính sách và giải pháp nhằm phát huy năng lực của phụ nữ nông thôn, tạođiều kiện thuận lợi để phụ nữ hoàn thành tốt trách nhiệm của mình trong sản xuất,đời sống và các hoạt động xã hội
c) Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu vai trò và sự bất ổn trong vai trò của phụ nữ trong nông nghiệp
và phát triển nông thôn trên toàn địa bàn xã Nghiên cứu này được tiến hành từtháng 01/2005 đến 03/2006
d) Phương pháp nghiên cứu :
Đề tài đã sử dụng tổng hợp các phương pháp như:
Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp từ UBND xã Nghĩa Hiệp, Hội phụ
nữ và ban thống kê xã
Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp qua phỏng vấn chuyên sâu 10 tổchứ, cá nhân, những người âm hiểu Điều tra 60 mẫu hộ nông dân để đánh giá
Trang 15trách nhiệm, vị trí, sự phát huy vai trò và năng lực của phụ nữ trong gia đình Sốmẫu điều tra được chọn ngẫu nhiên theo tỷ lệ 5% số hộ theo danh sách lập thành 3nhóm: hộ khá, hộ trung bình, hộ khó khăn của mỗi thôn Nội dung điều tra được
cụ thể hóa bằng phiếu điều tra
e) Nội dung nghiên cứu:
Điều tra nghiên cứu được chia làm 2 phần :
Phần 1 : Tìm hiểu vai trò của người phụ nữ trong nông nghiệp và phát triển nông
thôn xã Nghĩa Hiệp Trong đó tập trung ở các vấn đề:
Sự tham gia của phụ nữ trong các tổ chức chính quyền, đoàn thể
Vai trò của phụ nữ trong sản xuất
Vai trò của phụ nữ t rong việc kiểm soát các nguồn lực kinh tế hộ
Phụ nữ với việc tiếp cận các kênh thông tin và quan hệ xã hội nôngthôn
Phần 2: Khuyến nghị các giải pháp nâng cao vai trò của phụ nữ trong nông nghiệp
và phát triển nông thôn xã Nghĩa Hiệp
f) Ưu và nhược điểm của đề tài:
Trước hết, nhóm nghiên cứu đã nhận thấy vấn đề xã hội cần được quan tâm
đó là sự bất cập trong vai trò của người phụ nữ ở xã Nghĩa Hiệp hiện nay Họchiếm tỷ lệ thấp trong bộ máy chính quyền thôn, xã Họ chưa hoàn toàn bình đẳngtrong việc quyết định các công việc trong gia đình, trong thừa kế và kiểm soát tàisản đồng thời nhóm nghiên cứu đưa ra được các khuyến nghị và giải pháp phùhợp với thực trạng địa phương và dựa trên nguyện vọng của chị em phụ nữ trênđịa bàn xã Tuy nhiên, khi nghiên cứu đề tài này nhóm nghiên cứu chỉ nghiên cứutrên một bộ phận dân cư nhất định đó là 60 hộ gia đình là nông dân trong khi đóphụ nữ trong địa bàn xã không chỉ là nông dân mà còn có các hộ là gia đình côngnhân viên chức, gia đình kinh doanh… Không những thế khi nghiên cứu các hộnông dân thì trên thực tế những hộ gia đình này tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các tổchức chính quyền, đoàn thể là không cao, vì vậy thông tin khi thu thập được khôngđại diện Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu lấy địa bàn nghiên cứu là một xã ở vùngnông thôn Bắc Bộ mà trong mỗi một khu vực thì có những điều kiện tự nhiên, kinh
Trang 16tế - xã hội khác nhau quy định nênhành vi, lối sống khác nhau dẫn đến có nhữngkết quả về vấn đề như nguyên nhân, thực trạng, giải pháp khác nhau…
Tài liệu nghiên cứu 2:
a) Tên bài viết:
“Phân công lao động và quyết định công việc gia đình” (Nghiên cứu ở
Hưng Yên và Hà Nội) của giáo sư Lê Thi – Viện gia đình và giới – Viện khoa học
xã hội Việt Nam Bài viết được đăng trên tạp chí “Nghiên cứu gia đình và giới”quyển 19 số 5 năm 2009
b) Phương pháp nghiên cứu:
Trong bài viết này tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như:Điều tra bằng bản hỏi với 400 phiếu, phỏng vấn sâu cả nam và nữ và thảo luậnnhóm tập trung Địa điểm nghiên cứu tại 4 địa điểm: xã Mễ Sơn và Thị trấn VănGiang của Hưng Yên; xã Phú Minh và phường Bùi Thị Xuân của Hà Nội
c) Nội dung của bài nghiên cứu:
Bài viết đã có những kết luận về việc phân công lao động trong gia đìnhthông qua việc tìm hiểu hình thức ứng xử giữa vợ và chồng trong việc đưa ra ýkiến trong gia đình theo thành thị và nông thôn
Bài viết cũng nêu lên được người làm chính những công việc trong gia đình
ở cả 4 địa bàn nghiên cứu trên
Tác giả cũng nêu ra được quyền quyết định trong các công việc lớn của giađình
d) Ưu và nhược điểm của bài viết:
Bài nghiên cứu có ưu điểm là đã đưa ra những kết luận về vấn đề nghiêncứu một cách đầy đủ các phương diện phân công lao động trong gia đình Tuynhiên hạn chế của nghiên cứu là địa bàn nghiên cứu hẹp Kết luận của vấn đề chưamang tính đại diện cho phụ nữ cả nước
Tài liệu nghiên cứu 3:
a) Tên bài viết :
“Vai trò của người phụ nữ trong gia đình và cuộc sống” Trần Thanh
Thảo – Tiengiang.gov.vn
Trang 17b) Nội dung của bài nghiên cứu :
Tác giả cũng đưa ra những phân tích cụ thể đã hiểu rõ vai trò và ảnh hưởngcủa người phụ nữ trong việc tổ chức đời sống gia đình với những nội dung :
Người phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục con cái chủ yếu trong giađình
Người phụ nữ là người sắp xếp, tổ chức cuộc sống gia đình
Người phụ nữ giữ vai trò trọng yếu trong việc điều hòa các mối quan hệ giađình, tuy nhiên nhìn chung công việc nội trợ vẫn còn là mảng công việc chủ yếu
do phụ nữ đảm trách
Người phụ nữ góp phần hỗ trợ chồng thành đạt trong cuộc sống
Người phụ nữ có vai trò trong các hoạt động xã hội, góp phần thúc đẩyquan hệ gia đình thêm gắn bó, chan hoà
c) Ưu và nhược điểm của bài viết:
Từ những nội dung phân tích cụ thể tác giả đã đề cập và nêu đượcnhững phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ với những đức tính đảm đang, chịukhó, biết thông cảm và sự tinh tế của người phụ nữ trong việc góp phần hỗ trợchồng thành đạt trong cuộc sống
Tuy nhiên tác giả vẫn chưa nêu rõ được mà chỉ một cách chung chungnhững công việc phụ nữ thường làm và phải làm trong gia đình mang một tínhchất khoán trắng cho họ
+ Chưa đề cập đến vai trò của họ trong các quyết định liên quan đến côngviệc chung của gia đình như giáo dục, chăm sóc con cái cũng như quyền hạn củahọ
+ Sự đóng góp của phụ nữ trong vấn đề kinh tế, góp phần ổn định gia đình.+ Chưa nói đến vai trò của phụ nữ ngoài xã hội, những gì họ có thể làm vàkhả năng của họ
+ Sự hạn chế về cơ hội, nghề nghiệp mà phụ nữ mắc phải khi tham gia vào
xã hội
Tài liệu nghiên cứu 4:
Trang 18Vũ Tuấn Huy (Viện Xã hội học),
b) Nội dung của bài nghiên cứu :
Nghiên cứu của các tác giả ghi nhận trong xã hội Việt Nam có những lựclượng xã hội đối chọi theo hướng thúc đẩy bình đẳng nam nữ và làm gia tăng bấtbình đẳng giới Các tác giả ghi nhận sự thích ứng của các giá trị về vai trò giới nhưmột cách đáp ứng với những biến đổi xã hội ở Việt Nam, ví dụ một mức sống mớiđang hình thành của tầng lớp trung lưu, hoặc những nhu cầu cao về học vấn chotrẻ em….”
c) Ưu và nhược điểm của bài viết :
Đề tài đã tìm câu trả lời cho các câu hỏi là những biến đổi xã hội nhữngnăm qua đã tác động thế nào đến sự phân tầng về giới và phụ nữ Việt Nam đã cónhững vị trí gì trong không gian gia đình (domestic sphere) Đề tài được thực hiệntrong bối cảnh còn ít các tri thức về vai trò giới trong gia đình ở Việt Nam, cácnghiên cứu về chủ đề này còn thưa thớt, và thiếu một bộ cơ sở dữ liệu về phâncông lao động gia đình
Tài liệu nghiên cứu 5:
a) Tên đề tài:
“Thực trạng giáo dục và vai trò của cha mẹ trong giáo dục con cái ở nông thôn Việt Nam” Đặng Thị Hoa – Viện Dân tộc học.
b) Một số nghiên cứu và lý thuyết được đề cập:
Nghiên cứu của Jean Lave về khả năng nhận thức sơ đẳng có từ khi mớichào đời, con người còn nâng cao hiểu biết của mình trong quá trình cảm nhận từhiện trường và từ bối cảnh thực tế cuộc sống
Trang 19Nghiên cứu của D.W.Sharp và Michael ở Mehicô về khả năng nhận thứccủa trẻ ở các độ tuổi khác nhau cũng có sự khác nhau về phân loại tương ứng với
độ tuổi và thời gian trẻ tới trường
Lý thuyết tiếp cận nhân học về nhận thức và giáo dục phải kể đến các nhànhân học: Jean Piaget (1896 – 1980), George Herbert Mead (1863 – 1931)
Lý thuyết phát triển nhân cách của Freud nhấn mạnh vào sự hình thànhkhuôn mẫu cảm xúc từ thời thơ ấu và hình thành nên “cái tôi” trong cuộc đời
c) Phạm vi nghiên cứu:
Tác giả đã tiến hành nghiên cứu trên thực địa cả 3 địa bàn sau:
Xã Cát Thịnh, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái là một xã miền núi phía Bắcgồm 26 thôn bản với 6 dân tộc cùng sinh sống
Xã Phú Đa, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên – Huế là một xã ven biểnmiền Trung, là nơi cư trú của cư dân người Việt có nghề chài lưới ven song,biển
Xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang là một xã thuần nôngcủa người Việt (Kinh), có vị trí quan trọng cửa ngõ đi vào thành phố HồChí Minh
d) Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được tác giả sử dụng là điền dã Dân tộchọc, phỏng vấn sâu các đối tượng: Giáo viên, nhà quản lý, học sinh, phụ huynh
Tổ chức các cuộc thảo luận nhóm tập trung; quan sát tham dự các trường học, hộgia đình,…Sử dụng kết quả điều tra bảng hỏi và các tài liệu thứ cấp thu thập được
từ trung ương và địa phương
e) Nội dung nghiên cứu:
Điều tra nghiên cứu được chia làm 3 phần
Phần 1: Tác giả tìm hiểu thực trạng giáo dục ở vùng nông thôn Việt Nam
qua 2 điểm :
Trang 20 Tìm hiểu trình độ học vấn của người dân ở 3 địa điểm tiến hànhnghiên cứu từ các kết quả thu được tác giả căn cứ vào đó để so sánh
tỷ lệ trẻ được đến trường và tỷ lệ mù chữ giữa 3 địa điểm
Tìm hiểu cơ hội và điều kiện tiếp cận với giáo dục của người dân Từnhững chính sách đã ban hành của trung ương tác giả đã điều tra việcphổ biến và thực hiện cũng như cách tiếp cận các chính sách ở 3 địađiểm như thế nào và đã thu được kết quả ra sao
Phần 2: Tìm hiểu vai trò của cha mẹ trong giáo dục con cái qua 6 điểm:
Quyền quyết định của cha mẹ đối với việc học tập của con cái
Cách thức cha mẹ kiểm soát việc học tập và vui chơi của con cai
Mối liên hệ giữa cha mẹ và nhà trường thể hiện qua việc họp phụhuynh của cha mẹ
Cách thức cha mẹ giúp con cái học tập tại nhà
Quan niệm và cách dạy bảo, đưa con cái vào kỷ luật
Mong muốn của cha mẹ về con cái thể hiện qua việc định hướngnghề nghiệp cho con cái
Phần 3: Tìm hiểu cách thức chi tiêu cho giáo dục trong hộ gia đình
Theo nghiên cứu của tác giả các khoảng chi tiêu giáo dục sau được xem làgánh nặng với gia đình là đóng góp cho trường, lớp, nộp học phí và mua sách giáokhoa trong đó gánh nặng lớn nhất là đóng học phí, mặc dù chi phí giáo dục caongười dân vẫn cố gắng cho con học và việc này được xem là ưu tiên hàng đầu Vìđiều này đã trở thành xu hướng chung của toàn xã hội
f) Ưu và nhược điểm của đề tài:
Bài nghiên cứu có ưu điểm là đã đưa ra những kết luận về vấn đề giáo dụccủa các bậc cha mẹ đối với con cái đó là biết đầu tư chăm lo cho việc học tập củacon cái hơn, giúp con cái xác định được mục đích cần thiết của việc học tập Tuynhiên hạn chế là chỉ tâm trung làm rõ việc giáo dục con cái về mặt học tập màchưa làm rõ được việc giáo dục đạo đức và thể chất cho con trẻ
B Lý thuyết tiếp cận.
1 Lý thuyết cấu trúc – chức năng.
Trang 21Lý thuyết cấu trúc – chức năng được phát triển trên quan điểm củaH.Spencer, đại diện tiêu biểu trong sự phát triển của lý thuyết này là T Parson vàR.K Merton, hai nhà xã hội học người Mỹ.
Quan điểm chính của trường phái này nhấn mạnh đến sự ổn định, cân bằng;
ít nói đến sự biến đổi xã hội
+ Các bộ phận trong xã hội được tổ chức thành một hệ thống
+ Xã hội có khuynh hướng quay trở lại trạng thái ổn định và cân bằng saumột tình trạng rối loạn nào đó
+ Hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều tiến hóa để thúc đẩy sự tồntại và phát triển của xã hội
Vận dụng lý thuyết này vào nghiên cứu để xem xét phụ nữ và nam giớitrong xã hội hiện nay có chức năng gì trong gia đình; và ngoài xã hội, tương ứngvới những chức năng họ đảm nhận có ảnh hưởng như thế nào sự phân công laođộng trong gia đình và xã hội
2 Lý thuyết vai trò.
Theo thuyết vai trò, nhiều sự khác biệt giới là sản phẩm của các vai trò xãhội khác nhau được giới nam và nữ chiếm lĩnh Thuyết vai trò nêu ra ý tưởng cácvai trò xã hội thường dẫn đến những khuôn mẫu xã hội Có thể dần xóa bỏ nhữngkhuôn mẫu giới không phù hợp bằng việc thay đổi vai trò giới trong thực tế Trênthực tế, những vai trò giới luôn thay đổi theo sự biến đổi của thực tiễn xã hộinhưng các khuôn mẫu giới thì thay đổi chậm hơn dẫn đến căng thẳng tâm lý cho
cá nhân vừa đang thể nghiệm những vai trò giới trong thực tế vừa chịu áp lực củakhuôn mẫu giới vốn chậm biến đổi Chẳng hạn khuôn mẫu giới giành cho phụ nữ
là làm việc nhà nhưng trên thực tế dưới sự tác động của sự biến đổi phụ nữ thửnghiệm trên lĩnh vực lao động, hoạt động cộng đồng điều này tăng thêm gánh nặng
và áp lực cho người phụ nữ
Điểm hạn chế của thuyết này là: làm cho người ta hiểu và cho rằng thật hữuích cho phụ nữ và đàn ông khi đảm nhận những vai trò khác nhau và làm cho xãhội cố gắng tái tạo đảm bảo cho vai trò đó luôn được duy trì Vì vậy dẫn đến tìnhtrạng rập khuôn đưa phụ nữ vào những vai trò mà bắt họ phải đảm nhận trong khi
Trang 22những vai trò đó người đàn ông cũng có thể đảm nhận như vai trò lao động sảnxuất xã hội.
3 Lý thuyết phân tầng
Đại diện tác giả theo thuyết này là R.Collin (1991), ông cho rằng sự khácbiệt giới là do phụ nữ thường tham gia sản xuất và tiêu dùng văn hoá trong khi đónam giới tập trung nhiều hơn vào lĩnh vực sản xuất vật chất và các quan hệ quyềnlực của nó Khi ở nhà, người chồng nếu có thu nhập cao hơn vợ, họ sẽ quyền lựchơn đối với người vợ Joan Huber đã đề xuất một lý thuyết khác về gia đình vàgiới có tính đến các tác động của các điều kiện sinh thái học xã hội và khuôn mẫu
sử dụng công cụ lao động Bà đưa ra 3 luận điểm cơ bản: 1 Người sản xuất ra của
cải có xu hướng nhiều quyền lực hơn người tiêu dùng chúng; 2 Do cấu tạo sinhhọc nên nam giới nhường quyền mang thai và nuôi con cho người phụ nữ; 3.Quyền lực và uy tín nằm trong tay người kiểm soát và phân phối của cải
CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT CỦA ĐỀ TÀI
A VAI TRÒ CỦA BỐ MẸ TRONG VIỆC CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC CON CÁI
Gia đình có vai trò to lớn trong việc duy trì nòi giống và là môi trường nuôi
dưỡng nhân cách của con người, không một thiết chế xã hội nào có thể thay thếđược, trong đó cha mẹ là những người giữ vai trò quan trọng trong việc chăm sóc
và giáo dục con cái Cha mẹ là những người luôn bên cạnh từ khi con cái đượcsinh ra cho tới khi trưởng thành, vai trò của họ đối với con cái được thể hiện ởnhững nội dung như: dành thời gian cho chăm sóc và giáo dục con, giáo dục controng việc hình thành nhân cách, về giới tính…Tuy nhiên việc chăm sóc và giáodục con ở mỗi gia đình lại khác nhau vì vậy vai trò của cha mẹ được thể hiện ở cácyếu tố trên trong mỗi gia đình cũng không giống nhau Điều này được chúng tôilàm rõ hơn khi cuộc khảo sát thu được những kết quả như sau:
Bảng 1 Thời gian cha mẹ dành cho việc chăm sóc và giáo dục con cái (%)
Trang 23Qua đó có thể nói rằng công việc chăm sóc con cái luôn là trách nhiệm chủ yếu thuộc về người vợ bởi theo quan niệm của người Việt, người phụ nữ luôn gắn với vai trò nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái, còn người chồng thì thường chịu trách nhiệm về kinh tế, họ dành thời gian cho công việc làm ăn nên dường như không có nhiều thời gian cho công việc chăm sóc con cái Theo ý kiến của Huỳnh Thị Thanh Xuân, 47 tuổi (Tổ dân phố: Xóm Gò; Khu phố ; Phú Xuân; Thị trấn
Phú Long): “Người mẹ dành nhiều thời gian hơn cho việc chăm sóc con cái, làm
việc thì ai cũng phải làm nhưng người đàn ông trong nhà đảm trách lớn hơn nên ít
có thời gian chăm sóc con cái Như gia đình nhà tôi ông xã suốt ngày đi làm con
cái phần lớn là do tôi chăm sóc là chủ yếu ”
Bảng 2 Người giữ vai trò quan trọng quyết định các công việc trong chăm sóc, giáo dục con cái (%)
Trang 24Giáo dục con cái 34.0 15.3 50.7 100.0
Định hướng nghề
Qua bảng số liệu ta thấy ngay trong gia đình cũng có sự khác biệt rất rõ ởcác công việc chăm sóc và giáo dục con cái Trong hầu hết các công việc kể trênđều do người phụ nữ đảm nhận
Trong công việc nuôi nấng chăm sóc con cái, 69.2% số người được hỏi chorằng công việc này do người vợ quyết định Trong khi đó, chỉ có 2.7% cho rằngđây là công việc của người chồng Nhưng 28.1% lại cho rằng đây là công việc của
cả hai vợ chồng Qua khảo sát chúng tôi thấy những đứa con từ khi mới sinh rađến khi trưởng thành, phần lớn thời gian là gần gũi và thường là chịu ảnh hưởng từngười mẹ hơn từ cha Chúng được mẹ cho bú sữa, bồng ẵm, dỗ dành, tắm giặt, rungủ, cho ăn uống, chăm sóc rất nhiều khi ốm đau Nên đây là công việc mà người
vợ có vai trò quyết định Người phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục con cái chủyếu trong gia đình
Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở công việc hướng dẫn con học bài Vợ làngười giữ vai trò quan trọng (47.3%) trong khi vai trò của chồng chỉ đạt 22.2%nhưng cũng có 29.9% cho rằng cả hai vợ chồng đều có vai trò quan trọng nhưnhau Vợ thường dành thời gian hướng dẫn con học bài nhiều hơn chồng ( 28.7%
số người được hỏi cho rằng người vợ thường dành trên 2giờ/ngày để chăm sóc,giáo dục con cái, nhưng chỉ có 0.7% số người được hỏi cho rằng người chồng
thường dành trên 2giờ/ ngày để chăm sóc, giáo dục con cái) (nguồn: Bảng 38 và
bảng 39 phụ lục 1 đính kèm) nên người vợ đóng vai trò quan trọng hơn người
chồng trong việc hướng dẫn con học bài
Trong việc giáo dục và định hướng nghề nghiệp cho con thì vai trò củangười vợ có phần giảm hơn so với hai công việc trên (tỷ lệ % tương đương lầnlượt là 34% và 11.8%) Vai trò của cả hai vợ chồng được đề cao ở hai công việcnày (50.7% số người được hỏi cho rằng cả hai vợ chồng đều có vai trò quan trọng
Trang 25như nhau trong việc giáo dục con cái, 65.4% số người được hỏi cho rằng cả hai vợchồng đều có vai trò quan trọng như nhau trong việc định hướng nghề nghiệp chocon) Do đây là những công việc quan trọng có liên quan đến tương lai của con cáinên cả hai vợ chồng đều có vai trò như nhau trong vấn đề nêu trên “Bố mẹ nên hướng nghề nghiệp cho con cái tốt hơn là để chúng quyết định tương lai của chúng Mình là người lớn, mình nhiều kinh nghiệm hơn con cái ,mình biết việc nào tốt thì phải chỉ cho nó chứ ” (Theo ông Nguyễn Văn Cột 39 tuổi –Phú Xuân – Phú Long)
Trong việc giáo dục cho con ở nội dung kỹ năng lao động thì cả hai vợchồng đều thực hiện (41.8%) nhưng kết quả khảo sát lại cho thấy vai trò của ngườicha trong vấn đề này lại cao hơn của người mẹ (37.7% so với 15.8%) Tuy nhiêntrong nội dung giáo dục về cách ăn ở ứng xử thì các ý kiến trả lời có xu hướngngược lại nghĩa là có đến 39.0% cho biết người vợ giữ vai trò chủ yếu thực hiệncông việc này, trong khi đó ý kiến cho rằng đó là công việc của người chồng chỉchiếm 8.2%
Bảng 3: Người thường đưa con đi khám chữa bệnh khi con đau ốm trong gia đình.(%)
họ bị những bệnh đơn giản như ho, sốt, cảm cúm…thì người vợ có thể một mìnhđưa con đi khám, hơn nữa người vợ thường có nhiều thời gian hơn chồng, điềunày cũng giải thích vì sao số người trả lời rằng người chồng thường đưa con đi
Trang 26khám chỉ chiếm 15.1%; một số khác cho biết ông bà nội/ ngoại là người đưa con
họ đi khám (1.4%), đây là những trường hợp con cái được gửi cho ông bà nộingoại nên khi cháu đau ốm thì ông bà thường đưa cháu đi khám bệnh
Bảng 4 Người thường tham gia các buổi họp phụ huynh học sinh cho con.(%)
đi được thì những người thân con lại trong gia đình sẽ đi thay (10.6%)
Bảng 5 Mức độ thường xuyên đưa con đi chơi vào những ngày nghỉ hoặc kỳ nghỉ hè (%)
Trang 27những kỳ nghỉ do kinh tế chưa sung túc, đôi khi do họ không có thời gian trongnhững dịp đó Trong kỳ nghỉ hè, con cái phải đi học thêm từ rất sớm nên cũng ảnhhưởng tới dự định đi chơi của cả nhà, 15.8% cho biết họ không bao giờ đưa con đichơi trong những kỳ nghỉ Họ lý giải do kinh tế gia đình còn quá khó khăn nênkhông có tiền đưa con đi chơi Trong những ngày nghỉ các em phải ở nhà để phụgiúp bố mẹ những công việc mà mình có thể làm như trông nhà, trông em hay tănggia sản xuất với bố mẹ Thậm chí có người còn cho rằng việc đưa con đi chơitrong các ngày nghỉ là không cần thiết.
Bảng 6 Những địa điểm mà cha mẹ thường đưa con đi chơi (%)
Bảng 7 Mức độ cha mẹ kể chuyện truyền thuyết, cổ tích Việt Nam cho con (%)
Trang 28Bố mẹ thể hiện sự quan tâm tới con mình bằng cách kể cho chúng nghenhững câu chuyện cổ tích hay truyền thuyết vào thời gian rảnh rỗi Qua khảo sátchúng được biết hầu như cả hai vợ chồng đều kể cho con nghe những câu chuyệntheo kinh nghiệm sống của mình nhưng chỉ ở mức độ thỉnh thoảng và ít khi(29.9% và 31.6%), tỉ lệ các bậc cha mẹ không bao giờ kể chuyện cho con nghecũng khá cao (29.1%) Điều này cũng dễ lý giải vì ngày nay sự đa dạng về sáchbáo hay các chương trình trên ti vi đã đáp ứng đủ nhu cầu về các câu chuyện kểcủa thiếu nhi vì vậy họ không cần pgair kể cho con nghe một cách thường xuyênnữa Cũng có những gia đình thường xuyên hay rất thường xuyên kể chuyện chocon nghe nhưng chỉ chiếm tỉ lệ không đáng kể (4.3% và 5.1%).
Bảng 8 Người thực hiện giáo dục cho con ở các nội dung giáo dục nhân cách (%)
Trang 29giáo dục cho con về tính trung thực ngường nhịn (26.0%), lễ phép, thương yêu,tôn trọng mọi người (24.7%) ; trong khi đó người chồng lại đóng vai trò quyếtđịnh giáo dục cho con tính tự lập (28.1%), tuân thủ pháp luật (17.3%) phần lớnnhững người trả lời đều có ý kiến đề cao vai trò, trách nhiệm của cả hai vợ chồngtrong việc giáo dục nhân cách cho con cái ở tất cả các nội dung trên.
Giáo dục của ông bà, cha mẹ, anh chị xuất phát từ mong muốn con cháumình biết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, từ tốn, lễ phép, vâng lời người lớn, thưagửi, cảm ơn, xin lỗi, không nói tục, chửi bậy, không nói dối, biết trung thực, tựgiác học tập Đây là những điều dạy bảo chung của ông bà, cha mẹ đối với tất cảcon cháu, mong muốn con cháu trở thành người tốt, có ích cho xã hội Tuy nhiêntrong việc giáo dục trẻ, giáo dục gia đình luôn tuân theo những khuôn mẫu quyđịnh đối với từng giới Chẳng hạn với trẻ trai, bố mẹ thường dạy trẻ sống phải cóbản lĩnh, dám làm, dám chịu trách nhiệm, can đảm, độc lập và có chính kiến trongcông việc, luôn chứng tỏ mình là người đàn ông trong mọi nơi, mọi lúc Đối vớitrẻ gái phải dịu dàng, kín đáo, nhẹ dàng, trong giao tiếp, ăn nói, xưng hô lễ phép,người lớn bảo phải biết nghe lời và làm đúng những gì người lớn bảo
Bảng 9 Người thực hiện giáo dục nhân cách cho con những nội dung trong mối quan hệ với người thân trong gia đình, họ hàng (%)
Người thực hiện
Nội dung Vợ Chồng
Cả hai vợ, chồng
Người khác Tổng
Kính trên nhường dưới 28.1 9.6 55.5 1.4 100.0Thương yêu, tôn trọng lẫn nhau
29.5 15.1 52.7 1.4 100.0Vâng lời người lớn 23.3 19.9 51.4 2.8 100.0Giúp đỡ lẫn nhau 22.6 14.4 47.9 2.8 100.0
Việc giáo dục con cái cũng luôn nêu cao yếu tố mối quan hệ với người thântrong gia đình, họ hàng Các bậc làm cha, làm mẹ muốn con cái của mình ngoanngoãn lễ phép và kính trọng người trên điều này được thể hiện trong việc giáo dụccon ở những nội dung như: kính trên nhường dưới, thương yêu – tôn trọng lẫnnhau, vâng lời người lớn và giúp đỡ lẫn nhau đối với những người thân trong giađình Đây là những nội dung khá quan trọng và cần thiết trong cuộc sống vì vậy cả
Trang 30hai vợ chồng đóng vai trò thiết yếu trong việc giáo dục cho con của họ, “một giọt
máu đào, hơn ao nước lã” muốn nói lên tình cảm ruột thịt không thể thiếu trong
cuộc sống của một đời người! Ở đây vai trò của người mẹ lại chiếm vị thế hơn cả,
họ thực hiện việc giáo dục cho con ở những nội dung trên có phần cao hơn các ông
bố, cũng là điều dễ hiểu bởi người phụ nữ luôn gần gũi con mình hơn và giànhnhiều thời gian hơn cho việc chăm sóc, giáo dục con Đó cũng là một trong nhữngyếu tố tác động đến sự khác biệt này
Bảng 10. Người thực hiện giáo dục nhân cách cho con những nội dung trong mối quan hệ bạn bè của con (%)
Người thực hiện
Nội dung Vợ Chồng
Cả hai vợ, chồng
Người khác Tổng
Phải chọn bạn mà chơi 39.7 13.0 44.3 3.1 100.0Phải học tập những đức tính tốt của
bạn 34.5 11.7 39.3 14.5 100.0Phải luôn phấn đấu để hơn bạn 34.5 22.7 40.0 2.7 100.0Phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau
23.0 16.8 56.6 3.5 100.0
Không chỉ giáo dục con trong mối quan hệ gia đình mà cha mẹ còn giáo dụccon mình cả trong mối quan hệ bạn bè, những người bạn của con cũng chính là đốitượng mà bố mẹ cần quan tâm tới, họ muốn quản lý con mình bằng việc quan tâmxem con mình chơi với ai và tình bạn của chúng như thế nào Khi được hỏi về việcgiáo dục con ở nội dung này thì đa số những người được phỏng vấn cho rằng cảhai vợ chồng đều phải quan tâm tới con cái mình và giáo dục cho họ biết thươngyêu giúp đỡ lẫn nhau chọn bạn mà chơi, học tập những đức tính tốt của bạn(56.6%, 44,3%, 39.3%), bên cạnh đó nội dung phải phấn đấu để hơn bạn cũngđược họ quan tâm tới (40.0%), phải chăng họ mong muốn con mình phải cố gắngphấn đấu thật nhiều để đạt được những gì họ chưa có
Nếu phân tích theo việc bố hay mẹ là người thực hiện các công việc nàynhiều hơn thì tỷ lệ khẳng định vai trò của người mẹ bao giờ cũng cao hơn người
Trang 31cha trong gia đình (39.7%, 34.5%, 34.5%, 23.0% so với 13.0%, 11.7%, 22.7%,16.8%).
Bảng 11.Cách xử sự của cha mẹ khi con mắc lỗi (%)
ý rằng không được quá lạm dụng việc đánh đòn nếu không sẽ để lại những tâm lýkhông tốt trong trẻ Đặc biệt có tới 6.8% cho biết họ không nói gì khi con mắc lỗi.Đây là những trường hợp rất thờ ơ hoặc quá chiều con Khi con mắc lỗi, nếu nhắcnhở hoặc la mắng hay sử dụng các hình thức trừng phạt khác với con thì họ sợ condỗi rồi không vui nên họ chọn phương án không nói gì khi con mắc lỗi
Bảng 12 Mức độ quan tâm của cha mẹ đến một số vấn đề của con (%)
Mức độ
Chỉ tiêu
Không bao giờ Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên
Rất thường xuyên
Trang 32Mức độ quan tâm của cha mẹ tới các vấn đề như : lịch học, thời gian sinhhoạt…của con cái là khác nhau, 81.4% cho rằng họ thường xuyên nắm rõ lịch học
và thời gian sinh hoạt của con Sở dĩ có điều này là do họ quan tâm tới lịch họccủa con hơn nữa con cái thường dán thời khóa biểu lên tường nên họ có thể dễdàng tiếp cận được với lịch học của con Cha mẹ là những người nuôi nấng và gầngũi con từ nhỏ hơn nữa họ sống chung nhà với con nên họ biết rất rõ thời gian sinhhoạt của con Chỉ có 10.3% cho rằng họ hiếm khi nắm được thời gian sinh hoạtcủa con là do họ bận rộn với công việc bên ngoài nên không có thời gian gần gũi
và quan tâm con Tuy nhiên chỉ có 18.2% cho rằng họ thường xuyên liên lạc vớinhà trường trong khi đó có tới 75.5% cho biết họ hiếm khi hoặc chỉ tỉnh thoảngmới liên lạc với nhà trường Họ chủ yếu liên lạc với giáo viên chủ nhiệm thôngqua phiếu liên lạc và các buổi họp phụ huynh nhưng việc phát phiếu liên lạc vàhọp phụ huynh chỉ tổ chức mỗ kỳ một lần nên khó liên lạc được với nhà trường.Đặc biệt có tới 1.8% số người được hỏi cho biết họ không bao giờ liên lạc với hàtrường Đây là những người quá bận rộn với công việc của mình hoặc do họ đi làm
xa nên không quan tâm tới việc học tập của con
Bảng 13 Mức độ cha mẹ trò chuyện, chia sẻ với con cái về một số vấn đề.(%)
Mức độ
Nội dung
Không bao giờ Hiếm khi Thỉnh thoảng Thường xuyên
Rất thường xuyên Tổng
Mối quan hệ trong gia
Trang 33Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy mức độ trò chuyện, chia sẻ của cha mẹvới con cái về các vấn đề xung quanh còn khá rời rạc Điều này được thể hiện: họchỉ thỉnh thoảng trò chuyện, chia sẻ với con cái về mối quan hệ trong gia đình, họhàng (45.8%), vấn đề học tập (45.8%), mối quan hệ bạn bè của con (53.5%), tâm
sự những buồn vui trong cuộc sống (47.6%), vấn đề tình cảm yêu đương (41.4%)hay chia sẻ những kinh nghiệm sống của cha mẹ (43.7%)…Trong khi tỷ lệ nhữngngười thường xuyên chia sẻ và trò chuyện với con về các vấn đề trên thấp hơn khánhiều Họ chỉ thường xuyên chia sẻ với con về mối quan hệ trong gia đình, họhàng (38.9%), việc học hành (39.7%) và những kinh nghiệm sống của cha mẹ(31%)
Đặc biệt có 9% cho biết họ không bao giờ quan tâm, chia sẻ với con về mốiquan hệ bạn bè của con Họ cho rằng con cái có quyền tự quyết định việc chọn bạnnên họ không cần quan tâm tới nữa 11.6% cho hay họ không bao giờ chia sẻ vớicon cái về chuyện tình cảm yêu đương hay chia sẻ những kinh nghiệm sống củacha mẹ Họ lý giải rằng do con họ còn nhỏ hơn nữa những điều đó là không cầnthiết đối với việc giáo dục cho con Nếu cha mẹ không biết cách quan tâm tớinhững sự chuyển biến trong tâm lý của trẻ ở độ tuổi dậy thì thì sẽ rất nguy hiểm.Con cái dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng tâm lý và thiếu hiểu biết về những vấn
đề trên nhưng không biết chia sẻ với ai, trong trường hợp này con cái sẽ dễ mắcphải những sai lầm không đáng có 4.2% cho biết họ không bao giờ tâm sự về mốiquan hệ trong gia đình, họ hàng hay chia sẻ những buồn vui trong cuộc sống vớicon cái Đây là những trường hợp luôn phải sống xa nhà để làm việc, kiếm tiềnnuôi gia đình nên họ không có thời gian chia sẻ với con hơn nữa họ cho rằng việccủa con cái là phải học tập tốt và vâng lời cha mẹ chứ không phải dành thời gian
để quan tâm tới những chuyện khác
Bảng 14 Quan niệm của cha mẹ về tầm quan trọng của việc giáo dục cho con
về các chất gây nghiện.(%)
Trang 34do mà họ đưa ra chủ yếu là họ lo lắng rằng những chất gây nghiện đó nếu con cái
họ sử dụng sẽ rất nguy hại cho sức khỏe, thể chất, tinh thần của chúng (38.4%),bên cạnh đó còn một lý do khác nữa là họ nghĩ rằng khi con họ sử dụng chất gâynghiện sẽ gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế gia đình họ, ngoài ra họ còn nói rằnghiện nay xã hội quá phức tạp, việc những trẻ thanh niên sa vào các tệ nạn nhưnghiện hút, chích ma túy, rượu chè, thuốc lá…rất phổ biến, họ lo sợ con mìnhcũng bị vướng mắc, họ muốn con mình được trang bị kiến thức để tránh xa các tệnạn này (28.8%) nên vấn đề này rất quan trọng trong giáo dục con; chỉ có 8.9%người trả lời cho rằng việc giáo dục về chất gây nghiện ít quan trọng mà lý dochính họ đưa ra là con cái mình có thể nhận thức được tác hại của các chất gâynghiện, họ tin tưởng rằng con cái mình sẽ không bị vướng mắc vào những chất
gây nghiện đó (Nguồn : bảng 50 phụ lục 1 đính kèm.)
Đặc biệt có tới 8.9% cho rằng việc giáo dục cho con về tác hại của các chất gây nghiện như : thuốc lá, ma túy, rượu bia…là ít quan trọng lý do mà
họ đưa ra là con cái họ còn nhỏ không nên biết về tác hại của các chất này Thậm chí có trường hợp chính bản thân người cha hoặc người mẹ cũng không biết về tác hại của những chất gây nghiện nên họ cũng không thể giáo dục cho con.
Bảng 15: Có hay không việc giáo dục giới tính cho con cái trong gia đình.(%)
Trang 35Không 74 51.0
Bảng 16 Người thực hiện giáo dục giới tính cho con trong gia đình (%)
Người thực hiện Giáo dục đối với con trai Giáo dục đối với con gái
Trong số 146 hộ được hỏi (có 145 hộ trả lời) thì có 71 hộ (49.0%) cho biết
họ có giáo dục giới tính cho con mình và có 74 hộ (51.0%) trả lời rằng họ khônggiáo dục giới tính cho con với những lý do chủ yếu như sau: đó là chuyện khó nói(59.2%), xưa nay không ai làm (40.8%), việc giáo dục giới tính không có lợi ích,
họ sợ rằng đó là việc “vẽ đường cho hưu chạy” (31.6%), chỉ có một số ít ý kiến là
do con còn nhỏ (14.3%) Qua đó cho thấy, vấn đề giới tính vẫn còn bị xem là mộtvấn đề khó nói, khiến cho mọi người đều cảm thấy e ngại khi phải nhắc đến do đóviệc giáo dục giới tính cho con trong các gia đình vẫn còn chưa phổ biến
Trong số những người trả lời có giáo dục giới tính cho con thì số ý kiến chobiết người giáo dục cho con trai là bố chiếm 64.4%, trong khi chỉ có 5.7% người
bố giáo dục vấn đề này cho con gái; người chịu trách nhiệm giáo dục giới tính chocon gái là mẹ chiếm 43.2%, đối với con trai là 15.6%; cả hai vợ chồng cùng giáodục cho con trai và con gái chiếm tỉ lệ tương ứng là 20.0% và 51.1% Khi được hỏi
lý do vì sao người bố lại ít giáo dục vấn đề này riêng cho con gái đến vậy thìchúng tôi được biết do đây là chuyện tế nhị, khó nói, hơn nữa con gái thườngxuyên tâm sự với người mẹ hơn
Bảng 17 Những mong muốn của cha mẹ về con cái trong tương lai (%)
Trang 36Làm kinh tế giỏi 40.7 23.8
Qua bảng thống kê, có thể thấy được những mong đợi của bố mẹ về con trai
và con gái có khá nhiều điểm giống nhau nhưng cũng có một số khác biệt Cụ thểnhư sau:
Những bậc cha mẹ đều mong đợi con trai cũng như con gái đều phải cónghề nghiệp ổn định, điều này là điều được mong đợi phổ biến nhất với tỉ lệ tươngứng cho con trai và con gái là 80.0%, 85.4%
Ý kiến mong đợi con cái sống có đạo đức cũng chiếm tỉ lệ cao ở cả con trai
và con gái là 62.1% và 53.8%
Ý kiến mong muốn con cái có học vấn cao, làm kinh tế giỏi, có địa vị trong
xã hội thì các ý kiến đã có sự khác biệt giữa con trai và con gái Số ý kiến cho biết
họ mong đợi những điều này ở con trai chiếm tỉ lệ cao hơn ở con gái với số liệutương ứng là 53.6%, 40.7%, 40.7%; trong khi đó ý kiến mong đợi ở con gái trongnhững điều này là 29.2%, 23.8%, , 19.2% Về mong muốn con cái thoát ly nôngthôn thì các ý kiến trả lời cũng tương tự với tỉ lệ 39.3% cho con trai và 30.0% chocon gái, họ cho biết con trai có thể thoát ly nông thôn ra thành thị làm việc và họ ít
lo lắng hơn Còn việc con gái ra thành thị làm việc họ rất lo lắng, hơn nữa họmuốn con gái ở nhà giúp đỡ công việc trong nhà Điểm khác biệt này được thấy rõhơn ở việc bố mẹ mong muốn con gái quán xuyến việc nhà chiếm tỉ lệ cao hơn ởcon trai 44.6% so với 12.9%
Có một điểm khác biệt nữa ở điều mong đợi con cái làm việc trong biênchế, đó là số ý kiến cho biết họ mong muốn con gái làm việc nhà nước chiếm đến23.8% trong khi ở con trai chiếm 17.1%
Trang 37Bảng 18 Những vấn đề cha mẹ lo lắng về con cái hiện nay.(%)
tệ nạn này, đây cũng là lý do vì sao việc bố mẹ lo lắng con trai mình bị lây nhiễmHIV/AIDS xếp thứ 3 (51.8%)
Kể đến vấn đề lo lắng tiếp theo thì chúng tôi cũng nhận thấy có sự khácnhau giữa con trai và con gái: việc bố mẹ lo lắng con trai mình bị lây nhiễm HIV/AIDS xếp thứ 3 (51.8%) trong khi đó về vấn đề này bố mẹ lo cho con gái chiếm tỉ
lệ thấp hơn rất nhiều (19.2%), việc có quan hệ yêu đương sớm ở con gái là vấn đềkhiến bố mẹ lo lắng nhiều hơn ở con trai (46/9% so với 23.0%), bố mẹ lo lắng contrai không học hết chương trình phổ thông lại cao hơn ở con gái (41.7% so với33.8%), điều này cũng xảy ra tương tự ở việc lo lắng về sự hiếu thảo của con trai
Trang 38và con gái, họ lo sợ con cái sẽ bất hiếu với mình (40.3% và 33.8%), về vấn đề sứckhỏe thì họ lại lo ở con gái hơn là con trai (43.1% so với 26.6%) Sự lo lắng của
bố mẹ về con trai và con gái trong các vấn để kể trên có sự khác nhau do họ nghĩrằng con trai với bản chất ham tìm tòi, khám phá, thử sức, mạnh bạo và ngangbướng hơn con gái nên dễ bị vướng mắc vào các trường hợp trên; còn con gái vẫn
dễ dạy bảo hơn nhưng tố chất sức khỏe thường yếu ớt nên họ rất lo lắng con gái họkhông có sức khỏe tốt
Riêng vấn đề thi đại học thì mức độ lo lắng của họ dường như thấp hơn cácvấn đề trên ở cả con trai và con gái với tỉ lệ lần lượt 23.7% và 22.3%, điều nàyđược các bậc phụ huynh giải thích rằng đại học không phải là con đường duy nhất
để lập nghiệp, họ muốn con cái mình đỗ tốt nghiệp phổ thông, nếu không thi đỗđại học thì vẫn có thể tìm được việc làm phù hợp với trình độ của mình
B MỘT SỐ YẾU TỐ KINH TẾ, XÃ HỘI TÁC ĐỘNG ĐẾN VAI TRÒ CỦA
BỐ MẸ TRONG VIỆC CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC CON CÁI
Trang 39Việc chăm sóc và giáo dục con cái là vai trò và nghĩa vụ của các bậc cha,
mẹ nhưng bên cạnh đó còn có các yếu tố kinh tế xã hội tác động đến vai trò này.Qua khảo sát ở thị trấn Phú Long chúng tôi thu được một số kết quả như sau:
Bảng 19 Mức độ cha mẹ đưa con cái đi chơi vào ngày nghỉ hoặc kỳ nghỉ hè phân theo thu nhập trung bình (%)
Thu nhập trung bình
Mức độ cha mẹ đưa con cái đi chơi vào ngày
nghỉ hoặc kỳ nghỉ hè
Rấtthườngxuyên
Thườngxuyên
Thỉnhthoảng Ít khi
Khôngbaogiờ
Hầu hết những người dân đều có đưa con đi chơi trong các kỳ nghỉ, trong
đó có sự khác biệt về mức độ thường xuyên giữa những gia đình có mức thu nhậpkhác nhau Cụ thể: đối với những gia đình mà người chồng không có thu nhậphoặc có thu nhập dưới 1 triệu thì thỉnh thoảng họ mới đưa con đi chơi (50.0% đến100.0% chọn phương án “thỉnh thoảng”), đối với những người có thu nhập từ 1triệu đến 3 triệu thì mức độ đưa con đi chơi thường xuyên hơn nhưng cũng chỉchiếm 14.8%, trong khi đó mức độ thỉnh thoảng và ít khi vẫn được nhiều người cómức thu nhập này chọn trả lời (31.5% và 33.3%); tình trạng tương tự cũng diễn ra
ở những người có mức thu nhập từ trên 3 triệu đến 5 triệu, chỉ có 11.1% chọnphương án “thường xuyên”, trong khi đó có đến 37.0% và 40.7% lựa chọn phương
án thỉnh thoảng và ít khi Tuy nhiên, có rất nhiều lý do khiến cho mức độ đưa concái đi chơi trong kỳ nghỉ ở các trường hợp đối với những người có thu nhập thấpthì mức độ đưa con đi chơi, nghỉ mát sẽ không thường xuyên bởi điều kiện kinh tếkhông cho phép họ đưa con đi chơi nhiều Còn đối với những người có thu nhậpcao hơn, mặc dù họ vẫn thường xuyên đưa con đi chơi hơn những gia đình khác
Trang 40nhưng những trường hợp đó lại chiếm tỉ lệ không cao, họ vẫn thỉnh thoảng hoặc ítkhi đưa con đi chơi hơn bởi lý do họ đưa ra là vấn đề thời gian, họ dành nhiều thờigian cho công việc làm ăn, buôn bán nên mức độ đưa con đi chơi vẫn còn chưathường xuyên.
Bảng 20 Những khó khăn trong giáo dục con cái phân theo thu nhập trung bình (%)
Không
đủ kiếnthức
Kinhphí eohẹp
Lúngtúng
về nộidungvàcáchdạy
Mâuthuẫnvềgiáodụccon
Môitrườngxungquanhphứctạp
Không
có khókhăn gì
Dựa vào kết quả thống kê, chúng tôi nhận thấy có sự khác nhau về các vấn
đề khó khăn trong giáo dục con cái giữa những người có các mức thu nhập trungbình khác nhau Đối với những gia đình có mức thu nhập dưới 1 triệu, rõ ràng họgặp khó khăn nhiều nhất về vấn đề tài chính (kinh phí eo hẹp 24.1%), còn về cáckhó khăn khác như không đủ kiến thức, không đủ thời gian, môi trường xungquanh phức tạp thì chiếm tỉ lệ thấp hơn (từ 5.8% đến 172.%) Đối với những giađình có mức thu nhập từ 1 đến 3 triệu thì lại gặp khó khăn nhiều nhất ở vấn đề hai
vợ chồng có cách giáo dục khác nhau (mâu thuẫn về giáo dục con 61.5%), điềunày có thể giải thích bởi con số 55.2% cho biết họ không đủ kiến thức để giáo dụccon cái và điều này dẫn đến lúng túng về nội dung và cách dạy (51.4%), nhữngtrường hợp này chính là những người làm nông và có trình độ học vấn chủ yếu làcấp 1 và cấp 2, đó là lý do giải thích cho việc thiếu kiến thức và lúng túng về giáo