Các nhân tố dẫn đến tiến trình toàn cầu hoá kinh tế Nhiều thế kỉ trước, những tiến bộ trong kỹ thuật hàng hải, công nghệđóng tàu, khai phá giao thông, những phát triển của thị trường hàn
Nội dung
Toàn cầu hoá
1 Khái luận chung về toàn cầu hoá
Toàn cầu hoá là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá kinh tế v.v trên quy mô toàn cầu Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hoá thương mại hay “tự do thương mại” nói riêng Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉ thấy các dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại kĩ thuật, công nghệ, thông tin, văn hoá
2 Các nhân tố dẫn đến tiến trình toàn cầu hoá kinh tế và quá trình phát triển của nó a Các nhân tố dẫn đến tiến trình toàn cầu hoá kinh tế
Nhiều thế kỉ trước, những tiến bộ trong kỹ thuật hàng hải, công nghệ đóng tàu, khai phá giao thông, những phát triển của thị trường hàng hoá đã tạo điều kiện mở mang giao lưu buôn bán giữa các quốc gia Trải qua quá trình phát triển lâu dài, quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng trở nên phổ biến, bao quát nhiều lĩnh vực với nhiều hình thức Đặc biệt vài chục năm gần đây xuất hiện những yếu tố kinh tế kỹ thuật rất mới dẫn đến bước phát triển nhảy vọt cua toàn cầu hoá các quan hệ kinh tế Sau đây là 6 yếu tố cơ bản thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá:
Một là, Sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất
Thực tiển của nền kinh tế thế giới đang cho thấy bước quá độ từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức, điều này được thể hiện rõ ở các quốc gia phát triển Cùng với nó các quốc gia đang phát triển cũng đã kết hợp bước chuyển nông nghiệp lên công nghiệp kết hợp những bước nháy tắt để rút ngắn quá trình xây dựng những cơ sở của nền kinh tế tri thức.
Sự phát triển của kinh tế tri thức dự trên các công nghệ có hàm lượng khoa hoc kỹ thuật cao, nhất là công nghệ thông tin đã mở ra điều kiện thuận lợi cho sự đẩy nhanh xu thế toàn cầu hoá, ví dụ như: các công nghệ mới làm tăng tốc độ giao dịch kinh doanh, rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian. Công nghệ thông tin đồng thời cũng góp phần nâng cao trình độ dân trí, tạo điều kiện cho dân chủ phát triển, thúc đẩy nhu cầu mở của, giao lưu hội nhập. Tóm lại, chính sự phát triển như vũ bảo của khoa học kỹ thuật đã làm phá vỡ hàng rào ngăn cách địa giới trong giao dịch của con người trên tất cả các mặt giãu các quốc gia Điều này đã đẩy quốc tế hoá nền kinh tế lên một thời kỳ mới, thời kỳ toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới Cac quốc gia dù muốn hay không dều chịu tác động của của quá trình toàn cầu hoá và đương nhiên để tồn tại và phát triển trong điều kiện hiện nay không thế không tham gia quá trình toàn cầu hoá, tức là hội nhập quốc tế.
Hai là, Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thi trường
Qua trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá có sự gắn bó chặt chẽ với tiến trình phát triển của kinh tế thi trường Kinh tế thị trường phát triển đã mở ra điều kiện cho sự gia tăng xu thế quốc tế hoá, thể hiện trên hai khía cạnh chính: Thứ nhất, kính tế thị trường mở ra cơ sở, điều kiện cho sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm cho quy mô sản xuất không bó hẹp trong phạm vi cua từng quốc gia mà mang tầm quốc tế, như vậy cũng có nghĩa là thúc đẩy quá trình phân công lao động quốc tế, gắn các quố gia vào sự ràng buộc của sản xuất và tiêu thụ Thứ hai, nền kinh tế thi trường phát triển của các quốc gia đưa lại cơ chế thống nhất cho sử lý các mối quan hệ, đó là cơ chế thị trường.
Có thể nói, ngày nay nền kinh tế thế giới thống nhất với cơ chế vận hành : cơ chế thi trường.
Kinh tế thị trường ngày càng phát triển khiến sự giao thoa và thâm nhập lẫn nhau giữa các nền kinh tế trở nên sâu sắc hơn Sự mở rộng quy mô và sự ràng buộc lẫn nhau giữa các quốc gia được thể hiện ở cả mức độ mở rộng và phát triển theo chiều sâu Đây là thời kỳ bùng nổ của thị trường tài chính, với sự xuất hiện của một loạt công cụ thanh toán và giao dịch hiện đại Đồng thời thị trường hàng hóa cũng tăng trưởng mạnh mẽ với khối lượng giao dịch thương mại ở mức chưa từng có và sự xuất hiện của các hình thức giao dịch mới như thương mại dịch vụ và thương mại điện tử.
Như vậy có thể thấy sư phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trường chínhlà cơ sở, điều kiệncho quá trình quốc tế hoá Nhìn chung các quốc gia trên thế giới ngày nayđèu dựa trên cơ chế thị trường, sử dụng các phương tiện và công cụcủa kinh tế thị trường trong hoạt động kinh doanh, đưa lại một không gian rộng lớn, không gian toàn cầu cho các hoạt động sản xuất và lưu chuyểncác yếu tố của chính quá trình sản xuất ấy,
Ba là, Sự gia tăng của các vấn đề toàn cầu trong bối cảnh thế giới kết thúc chiến tranh lạnh bước vào thời kì hoà bình hợp tác và phát triển.
Trong vài thập kỷ gần đây, nền kinh tế toàn cầu tăng trưởng mạnh mẽ đi kèm với những vấn đề mang tính chất toàn cầu như bất bình đẳng giàu nghèo, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh Những thách thức này liên quan đến mọi quốc gia và có tác động lan tỏa trên phạm vi toàn cầu, ảnh hưởng đến sự phát triển và sự tồn vong của nhân loại, đòi hỏi các chiến lược phát triển bền vững cùng sự hợp tác quốc tế để ứng phó hiệu quả.
Do đó khi giải quyết các vấn đề mang tính chất toàn cầu phải có sự nỗ lực của mọi quốc gia, sự liên kết sức lực của cả cộng đồng Bản thân mỗi quốc gia cho dù tiềm lực mạnh đến đâu cũng không thể giải quyết nổi vấn đề liên quan đến toàn thế giới Đây chính là cơ sở khách quan qui định , thúc đẩy cho việc tiến tới thống nhất những qui phạm chung cho quá trình phát triển kinh tế.
Bốn là , Sự bành trướng của các công ty xuyên quốc gia
Trong bối cảnh nền sản xuất tư bản có sự tập trung mạnh mẽ, độc quyền có thể hình thành và tác động sâu lên cấu trúc kinh tế Từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 và những thập kỷ tiếp theo của thế kỷ 21, nhờ cuộc cách mạng khoa học–kỹ thuật, các công ty xuyên quốc gia đã phát triển ở mức chưa từng có Hiện nay có gần 60.000 công ty xuyên quốc gia kiểm soát hai phần ba thương mại thế giới, chiếm 4/5 nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và 9/10 kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trên toàn cầu Với sức mạnh ấy, các công ty xuyên quốc gia không chỉ có ưu thế trong phân phối nguồn lực trên phạm vi toàn cầu và thúc đẩy phân công lao động quốc tế vào chi tiết hóa, mà còn thông qua toàn cầu hóa sản xuất và kinh doanh để đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hóa kinh tế.
Sự phát triển mạnh mẽ của các công ti xuyên quốc gia trên địa phận toàn cầu đã tạo ra mạng lưói liên kết kinh tế quốc tế Các quốc gia có thể tham gia ngay vào dây chuyền sản xuất quốc tế và cũng vì vậy mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau gia tăng.
Các công ty xuyên quốc gia đã đóng vai trò rất lớn trong việc tăng mức xuất khẩu, gia tăng mạnh mẽ vốn đầu tư trực tiếp nứoc ngoài vào các nước đang phát triển đẩy mạnh tiến trinhf hội nhập của nền kinh tế này vào nền kinh tế thế giới nói chung.
Như vậy sự phát triển và xâm nhập ngày càng mạnh của các công ty xuyên quốc gia vào các nền kinh tế dân tộc đã góp phần xoá bỏ sự ngăn cách biệt lập trong phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Các quốc gia dân tộc từng bước thamm gia, thích ứng với các chuẩn mực của nền kinh tế quốc tế đồng thời nó cũng đem lại nét mới từ những bản sắc riêng, bổ sung vào nền kinh tế toàn cầu làmm gia tăng tính đa dạng của nó.
N ăm là, Sự hình thành và phát triển của các định chế toàn cầu và khu vực.
Hội nhập kinh tế quốc tế
1 Khái luận chung về hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là tiến trình mà chủ thể là các quốc gia, các doanh nghiệp tham gia vào một môi trường kinh doanh mang tính chất toàn cầu, khu vực với các quy luật chung và có yếu tố cạnh tranh
Hội nhập kinh tế của các nền kinh tế chuyển đổi (trong đó có Việt Nam) là quá trình thực hiện tự do hoá thương mại và thực hiện cải cách toàn diện theo hướng mở cửa thị trường Từ đó đem lại nhiều cơ hội kinh tế như hàng hoá xuất khẩu có thể tiếp cận thị trường tốt hơn, thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài hơn và nhiều lợi ích gián tiếp khác đi liền với cạnh tranh quốc tế gay gắt và tăng dần hiệu quả theo quy mô.
2 Tính tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
Trong khoảng hai thập kỷ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, kinh tế thế giới có bước phát triển vượt bậc, với đặc điểm cơ bản là: Tốc độ tăng trưởng nhanh và khá ổn định; lạm phát được kiềm chế, tỷ lệ thất nghiệp giảm Nhưng từ giữa những năm 70 đến đầu thập kỷ 80 (thế kỉ XX) “thế giới đang trải qua một trong những cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất trong lịch sử của mình”.
Từ thập kỷ 80, toàn cầu hóa đã trở thành hiện tượng nổi bật và là xu thế khách quan của nền kinh tế thế giới Mỗi quốc gia dù đang ở bất kỳ trình độ phát triển nào cũng không thể tách rời sự tác động của thị trường khu vực và thế giới Liên kết kinh tế và quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng đã hình thành mạng lưới thương mại và đầu tư toàn cầu Trong bối cảnh ấy, hội nhập kinh tế và liên kết khu vực được coi là xu thế tất yếu của thời đại và ảnh hưởng sâu sắc đến chiến lược phát triển của các nước.
Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam ở mức kém phát triển, với tăng trưởng chậm và thậm chí có năm giảm sút Trong giai đoạn 1976-1980, tăng trưởng kinh tế rất yếu, thậm chí có năm giảm sút; từ 1981-1985, nhịp độ tăng trưởng được cải thiện, nhưng kinh tế vẫn bất ổn do lạm phát nghiêm trọng, đòi hỏi Việt Nam phải hội nhập kinh tế quốc tế để tranh thủ vốn công nghệ và đón đầu quá trình vươn lên thành nền kinh tế mạnh của khu vực Khi bước vào công cuộc đổi mới, Đại hội VI của Đảng nhận định: “Trên thế giới đang hình thành một thị trường” (khác với trước đó ta thường nhấn mạnh trên thế giới có hai thị trường vận hành theo các quy luật riêng) Cương lĩnh của Đảng được thông qua tại Đại hội VII có đánh giá rằng nền kinh tế Việt Nam cần chuyển đổi và tham gia mạnh mẽ vào khuôn khổ thị trường toàn cầu, đồng thời duy trì định hướng xã hội chủ nghĩa, để từ đó thu hút nguồn vốn và công nghệ, thúc đẩy tăng trưởng và hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
“nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống các dân tộc”. Đại hội IX lần đầu tiên đề cập khái niệm “toàn cầu hóa kinh tế”, coi đó là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia… và Đại hội X khẳng định lại “Toàn cầu hóa kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển." Là một bộ phận cấu thành của thế giới,nước ta không thể không tính đến và đứng ngoài xu thế đó.
Trên thực tế nền kinh tế nước ta gắn kết khá chặt chẽ với kinh tế thế giới cả ở “đầu vào” lẫn “đầu ra” Để duy trì tốc độ tăng trưởng tương đối cao, nước ta cần số vốn đầu tư không nhỏ song vốn trong nước lại có hạn nên riêng trong 5 năm qua đã phải huy động khoảng 30% nhu cầu vốn từ bên ngoài (cả FDI lẫn ODA) và nhập khẩu một lượng đáng kể máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu Do thu nhập của các tầng lớp dân cư còn thấp và cần có ngoại tệ để nhập khẩu hàng hóa phục vụ sản xuất, nhiều hàng hóa làm ra phải tiêu thụ tại thị trường bên ngoài, do đó kim ngạch xuất khẩu của nước ta chiếm tới trên 60% giá trị GDP (nếu tính cả giá trị xuất nhập khẩu thì chúng chiếm trên 130% GDP, so với Trung Quốc tỷ lệ đó chỉ khoảng 57%)
Với nhận thức và nhu cầu nói trên, suốt mấy thập kỷ qua Đảng ta luôn nhấn mạnh mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu, tranh thủ vốn và công nghệ từ nước ngoài Đại hội IX lần đầu nêu khái niệm “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”, và tháng 11/2001 Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã thông qua Nghị quyết 07/NQ-TW về hội nhập kinh tế quốc tế Cũng theo tinh thần đó, Đại hội X bổ sung thêm ý tưởng và biện pháp nhằm tăng cường và làm sâu sắc quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, phục vụ phát triển đất nước.
“tích cực” sau ý “chủ động” hội nhập kinh tế quốc tế nhằm nhấn mạnh thêm quyết tâm hội nhập Trên thực tế nước ta đã hội nhập với kinh tế thế giới khi gia nhập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) năm 1995, tổ chức thương mại thế giới WTO (2006) ký các hiệp định thương mại - đầu tư song phương với EU, Hoa Kỳ rồi sau là Nhật Bản theo các thông lệ quốc tế.
3 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam từ đổi mới đến nay
Hoạt động của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế luôn luôn là một chủ đề nóng hổi bởi vì trước hết các doanh nghiệp là nền tảng của nền kinh tế quốc gia và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trực tiếp tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp Việc nắm vững các cam kết hội nhập hiện nay của ta và nhìn thấy trước triển vọng của tiến trình này trong tương lai có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp, bởi vì nó là cơ sở để các doanh nghiệp định hướng chiến lược phát triển và kế hoạch hoạt động phù hợp với tình hình đan xen giữa những cơ hội và thách thức, đặc biệt là sự cạnh canh ngày càng tăng từ nhiều phía và ngay cả trên thị trường trong nước.
Việt Nam bắt đầu hội nhập kinh tế quốc tế từ khi khởi xướng sự nghiệp đổi mới tại Đại hội Đảng lần thứ VI, đánh dấu quá trình tự do hóa hoạt động kinh doanh, mở cửa thị trường và tham gia vào các tổ chức/thể chế kinh tế khu vực và thế giới Điều này có nghĩa là chúng ta dần gỡ bỏ các ràng buộc và cản trở đối với sản xuất kinh doanh, xây dựng cơ chế kinh tế dựa trên nguyên tắc của thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa và tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài, giảm và tiến tới xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan cùng các rào cản khác để trao đổi hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ, lao động giữa Việt Nam và các nước được thuận lợi, phù hợp với quy định của các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới mà Việt Nam tham gia Đồng thời đổi mới kinh tế trong nước và mở rộng quan hệ kinh tế-thương mại với các nước đã đưa Việt Nam ký kết trên 70 hiệp định thương mại song phương, trong đó nổi bật và toàn diện nhất là Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ ký năm 2001, và Việt Nam đã gia nhập vào nhiều tổ chức kinh tế, thương mại quốc tế.
- Bước phát triển có tính đột phá của quá trình này là việc chúng ta chính thức gia nhập ASEAN ngày 25/7/1995 và tham gia Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996 Từ đó đến nay, Việt Nam cũng lần lượt cùng các nước ASEAN tham gia vào các cơ chế liên kết ASEAN trong các lĩnh vực dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, công nghệ thông tin…
Vào tháng 11 năm 1998, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC), khối kinh tế khu vực lớn nhất thế giới Việc gia nhập APEC mang lại cho Việt Nam quyền tham gia mạng lưới thương mại và đầu tư khu vực, với hơn 80% kim ngạch buôn bán, gần 2/3 vốn đầu tư và trên 50% viện trợ nước ngoài (ODA) của Việt Nam gắn với khu vực này.
- Tháng 12/1994, Việt Nam gửi đơn xin gia nhập tổ chức Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT), tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và năm 1995 đã chính thức xin gia nhập WTO- một tổ chức thương mại toàn cầu với 145 thành viên, hiện kiểm soát trên 90% tổng giá trị giao dịch thương mại của thế giới Cho đến nay, ta đã tiến hành nhiều bước chuẩn bị theo yêu cầu của WTO, họp 5 phiên với Nhóm Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO, hoàn thành giai đoạn diễn giải, minh bạch hoá chế độ thương mại của ta Chúng ta đã chuyển Ban thư ký WTO bản chào ban đầu về thuế quan và dịch vụ và bắt đầu tiến hành giai đoạn đàm phán thực chất về mở cửa thị trường với các nước thành viên WTO.
- Từ đầu năm 2002, chúng ta cùng các nước ASEAN tiến hành đàm phán với Trung Quốc về thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc. Đầu tháng 11/2002 vừa qua, các nước ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế hai bên, trong đó quy định những nguyên tác cơ bản của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc sẽ hoàn thành vào năm 2010 đối với Trung quốc và ASEAN-6, năm 2015 đối với ASEAN-4. Bắt đầu từ năm 2003, hai bên sẽ đàm phán cụ thể hoá các nguyên tắc trên thành các quy định để thực hiện Khu vực mậu dịch tự do này.
Ngành hay địa phương đã làm gì để hội nhập kinh tế quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập WTO?
Ngay sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào tháng 01/2007 Tại Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tháng 02/2007, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW “Về một số chủ trương chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới” Để triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã có Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP ban hành Chương trình hành động cụ thể hóa các nhóm nhiệm vụ lớn của Nghị quyết số 08-NQ/TW Sau hơn 5 năm triển khai thực hiện, ngày 14/8/2012 Hội nghị toàn quốc đánh giá thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết 16/2007/NQ-CP đã được tổ chức tại Hà Nội dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ Hội nghị đánh giá, hầu hết các nhiệm vụ đề ra tại Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP đều đã được hoàn thành, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước, với một số điểm nổi bật như: Đã hình thành được một hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ, đồng bộ, phù hợp với các quy định củaWTO; Nhận thức chung về chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng vàNhà nước đã được nâng lên; Các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cơ bản được hoàn thành; Kinh tế vĩ mô dần đi vào ổn định, bước đầu tạo được lòng tin cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước; An sinh xã hội được đảm bảo và duy trì được ổn định chính trị và ổn định xã hội
Về phía tỉnh Hải Dương, kết quả triển khai thực hiện các Nghị quyết trên cũng đã đạt được những kết quả bước đầu, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, tiêu biểu như: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt trên 9%/năm; Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; Thị trường xuất nhập khẩu ngày càng được mở rộng; Thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài; An ninh chính trị được giữ vững và Đời sống nhân dân được đảm bảo Trong giai đoạn tới, Việt Nam nói chung và tỉnh Hải Dương nói riêng bước vào giai đoạn phát triển mới trong bối cảnh khu vực và quốc tế có nhiều thay đổi Để tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác hội nhập kinh tế quốc tế trên địa bàn tỉnh, góp phần tích cực phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tới chúng ta cần tích cực triển khai một số nhóm giải pháp:
Nhóm giải pháp chung tập trung cải thiện chất lượng tăng trưởng, nâng cao hiệu quả đầu tư, khuyến khích tiết kiệm và thu hút nguồn vốn từ các thành phần kinh tế vào đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; đồng thời triển khai hiệu quả các chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân, đặc biệt đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới Đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư vốn trong nước, cần đổi mới tư duy, nhận thức và có quan điểm về thu hút các dự án đầu tư có chất lượng cao, gắn với kiểm tra giám sát trong quá trình hoạt động; từng bước loại bỏ những dự án đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội thấp, gây ô nhiễm môi trường, và khuyến khích các dự án có hiệu quả cao, có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến, thu hút nhiều lao động và bảo đảm môi trường Xây dựng và triển khai tốt các chính sách khuyến khích, ưu đãi, hỗ trợ thu hút đầu tư vào những vùng nông thôn, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất, chế biến hàng nông sản phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại, nhất là với đầu tư và phát triển thị trường trực tiếp nước ngoài, chú trọng các đối tác trọng điểm có công nghệ tiên tiến như EU, Nhật Bản, Mỹ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về hội nhập kinh tế quốc tế trong toàn đảng, toàn dân và đa dạng hóa hình thức truyền thông cho phù hợp với từng đối tượng; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn liên quan tới hội nhập kinh tế quốc tế Tăng cường kiểm tra, giám sát triển khai các chương trình, kế hoạch hội nhập kinh tế quốc tế và thường xuyên theo dõi, đánh giá kết quả, kịp thời phát hiện khó khăn để điều chỉnh và bổ sung giải pháp cho phù hợp.
* Nhóm giải pháp ngành và doanh nghiệp: Đẩy mạnh việc nâng cao năng lực cạnh tranh của tất cả các ngành kinh tế trong tỉnh, đặc biệt là các ngành có năng lực cạnh tranh thấp Đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, cần tăng cường chính sách hỗ trợ xuất khẩu và chuyển dần từ gia công sang sản xuất trực tiếp và xuất khẩu.
Tăng cường chính sách thúc đẩy tăng hàm lượng giá trị gia tăng trong các ngành thông qua cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, cải tiến mẫu mã sản phẩm Tuyên truyền, vận động,khuyến khích các doanh nghiệp trong tỉnh khai thác tối đa thị trường trong tỉnh, trong nước; tận dụng các cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế để thâm nhập, mở rộng ra các thị trường nước ngoài Tăng cường các hoạt động liên doanh, liên kết có chọn lọc với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Chú trọng, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ cho sản xuất công nghiệp trong tỉnh, giảm dần phụ thuộc vào các nguồn nguyên liệu nhập khẩu Từng bước xây dựng mạng lưới phân phối ổn định, xuyên suốt tới tận người tiêu dùng; lựa chọn tham gia các hội chợ, triển lãm thương mại do các đơn vị, tổ chức thực hiện trong tỉnh, trong nước và ngoài nước để quảng bá sản phẩm của mình, mở rộng thị trường tiêu thụ Tâp trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; tập trung vào các sản phẩm có thế mạnh, bên cạnh đó cần tìm kiếm nguồn cung nguyên liệu trong nước để có thể thay thế dần nguyên liệu nhập khẩu Mặt khác, các doanh nghiệp cũng cần đa dạng hóa nguồn vốn vay như huy động từ các tổ chức, thành phần trong xã hội, liên doanh liên kết để cùng nhau hội nhập và phát triển.
* Nhóm giải pháp xã hội: Tập trung phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đào tạo nguồn nhân lực lao động trẻ có tay nghề giỏi, trình độ khoa học kỹ thuật để thu hút các dự án có trình độ công nghệ cao, giá trị gia tăng lớn Tăng cường các chính sách đào tạo nghề cho lao động khu vực nông thôn, trước mắt đào tạo nghề cho người lao động bị thu hồi đất để xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động, cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân. Tiếp tục tập trung phát triển thị trường lao động, đặc biệt là khu vực nông thôn, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án, chính sách đã ban hành để giảm nghèo bền vững, ổn định đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh Tăng cường các chính sách đảm bảo cuộc sống cho các hộ dân khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.
Nhóm giải pháp thể chế tập trung hoàn thiện đồng bộ hệ thống văn bản pháp quy, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương và các văn bản của Trung ương; đẩy nhanh cải cách thủ tục hành chính theo hướng minh bạch, thông thoáng, loại bỏ các thủ tục không cần thiết, đặc biệt là các thủ tục liên quan đến doanh nghiệp Đồng thời nâng cao năng lực và tính chuyên nghiệp của các cơ quan quản lý nhà nước, nâng cao trình độ chuyên môn và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi nhiệm vụ.
Tăng cường minh bạch các loại thông tin, nhất là các thông tin liên quan đến doanh nghiệp, người dân Tăng cường xây dựng mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh; giữa các cơ quan quản lý nhà nước các cấp với nhau; giữa các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp, cộng đồng dân cư./