1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường theo pháp luật nước ngoài kinh nghiệm cho việt nam

80 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

5 - Nghiên cứu các vấn đề sau: quá trình hình thành và phát triển pháp luật BVMT của Trung Quốc, Singapore và Việt Nam; hành vi vi phạm hành chính và các biện pháp xử phạt VPHC trong lĩ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

-

HUỲNH PHI YẾN

XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

THEO PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI

- KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

-

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG

LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

THEO PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI

- KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

SINH VIÊN THỰC HIỆN: HUỲNH PHI YẾN KHÓA: 38 MSSV: 1353801011292 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS NGUYỄN THỊ NGỌC LAN

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,

được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc Lan,

đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

TP Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 7 năm 2017

Sinh viên thực hiện

Huỳnh Phi Yến

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ XỬ LÝ VI PHẠM TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 8

1.1 Pháp luật Singapore 8

1.1.1 Khái quát pháp luật bảo vệ môi trường của Singapore 8

1.1.2 Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của Singapore 10

1.1.3 Pháp luật hình sự về tội phạm môi trường của Singapore 13

1.2 Pháp luật Trung Quốc 19

1.2.1 Khái quát pháp luật bảo vệ môi trường của Trung Quốc 19

1.2.2 Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của Trung Quốc 20

1.2.3 Pháp luật hình sự về tội phạm môi trường của Trung Quốc 23

Kết luận chương 1 30

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XỬ LÝ VI PHẠM TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 31

2.1 Khái quát pháp luật bảo vệ môi trường của Việt Nam 31

2.2 Pháp luật về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của Việt Nam 33

2.2.1 Khái niệm vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 33

2.2.2 Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 37

2.2.3 Bất cập của quy định pháp luật Việt Nam về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 40

2.3 Pháp luật hình sự về tội phạm môi trường 43

2.3.1 Khái niệm tội phạm về môi trường 43

2.3.2 Hình phạt đối với tội phạm môi trường 44

2.3.3 Bất cập của pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm môi trường 48

Trang 6

2.4 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 51 2.4.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 51 2.4.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự về tội phạm môi trường

57

Kết luận chương 2 63 Kết luận 64

Trang 7

Các tội phạm về môi trường trong Bộ luật hình sự 2015 (BLHS) được quy định theo hướng chi tiết, cụ thể hóa về hành vi phạm tội Đặc biệt, lần đầu tiên BLHS quy định pháp nhân thương mại là chủ thể của tội phạm, trong đó có các tội phạm về môi trường Không chỉ dừng lại ở vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối

với pháp nhân tại Khoản 2 Điều 75 BLHS 2015 còn quy định: “Việc pháp nhân

thương mại chịu trách nhiệm hình sự không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân” nhưng lại không giới hạn cụ thể cá nhân nào phải chịu trách nhiệm hình sự

khi pháp nhân thương mại phạm tội về môi trường Thêm vào đó, một số bất cập khác như: nhiều hành vi vi phạm có tính chất nguy hiểm cho môi trường và xã hội nhưng không được luật hóa trong BLHS, ranh giới giữa vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT và tội phạm về môi trường chưa thật sự rõ ràng, quy định tội phạm

về môi trường có cấu thành vật chất Những vấn đề này đã gây ra nhiều khó khăn trong công tác phát hiện và xử lý tội phạm trong thời gian qua

Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản hướng dẫn như Nghị định 155/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, Nghị định 157/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, Nghị định 103/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản sau quá trình thực thi đã phát sinh nhiều hạn chế dẫn đến không thể xử phạt kịp thời và nhanh chóng đối với những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT

Trên thế giới, một số quốc gia đã có nhiều quy định tiến bộ về vấn đề xử lý xử

vi phạm trong lĩnh vực BVMT, tiêu biểu là các quy định trong pháp luật Singapore

Trang 8

2

và Trung Quốc Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật về BVMT của hai quốc gia trên được xây dựng tương đối hoàn thiện Vì vậy, việc tham khảo, học hỏi các quy định trên là cần thiết đối với Việt Nam

Tóm lại, mặc dù pháp luật Việt Nam đã có những quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT Tuy nhiên, những quy định này vẫn chưa đầy đủ, bao quát hết hành vi vi phạm trên thực tế Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quy định tiến bộ trong pháp luật BVMT của Trung Quốc và Singapore, đồng thời với mong muốn đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực BVMT của

Việt Nam, tác giả chọn thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật: “Xử lý vi

phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường theo pháp luật nước ngoài - Kinh nghiệm cho Việt Nam”

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT là vấn đề đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu Do đó, những công trình, tài liệu về nội dung của này rất đa dạng

Sau đây, tác giả tổng kết một số công trình nổi bật như:

Vấn đề xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT đã được quy định từ lâu trong pháp luật Trung Quốc và Singapore Do đó có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan về vấn đề này: Asian Development Bank: Capacity Building for environment Law in the Asian and Pacific Regon (2002), Minister of the environment, Interpol: Advocacy Memorandum Arguments for Posecutors of Environment Crimes (2007), Environmental Law Program: UNITAR (2007), Rujun Shen, Highest Fine Imposed On Litterbug For High-Rise Littering (2012), Wang Jin, Suzhou city issued its first penalty bill of continuous payment calculated on

daily basis: the polluting company was fined RMB 18,000 per day (2015)

Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về lĩnh vực này như:

- Dư Quang Huy (2008), “ Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ

môi trường tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học

Luật Tp Hồ Chí Minh Luận văn đã phân tích những vấn đề lý luận, thực trạng và bất cập của các quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT Từ đó, tác giả đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam Tuy nhiên, vào thời điểm tác giả thực hiện khóa luận là năm 2008 nên các cơ

sở pháp lý: Luật Bảo vệ môi trường 2005, Luật xử lý vi phạm hành chính 2002, Nghị định 81/2006/NĐ-CP đến thời điểm hiện tại đã được sửa đổi bằng các văn bản

mới Do vậy, một số vấn đề tại đề tài không còn phù hợp với thực tế

- Nguyễn Thị Mỹ Trang (2010), “Xử lý vi phạm pháp luật môi trường Việt

Nam – Thực trạng và giải pháp”, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Tp

Trang 9

3

Hồ Chí Minh Tác giả đã nghiên cứu tổng quát các quy định pháp luật trong lĩnh vực BVMT bao gồm: quy định xử phạt vi phạm hành chính, quy định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm về môi trường Tuy nhiên, nội dung khóa luận chưa

đi sâu vào biện pháp xử phạt và hình phạt về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực

BVMT

- Nguyễn Thị Thu Lan (2014), “Tội gây ô nhiễm môi trường trong luật hình

sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh Tác giả đã

phân tích tội gây ô nhiễm môi trường trong BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung 2009

Đồng thời, tác giả so sánh quy định này trong pháp luật một số quốc gia như: Trung Quốc, Hoa Kì để tìm ra những nét tương đồng và khác biệt Đây là căn cứ để tác giả

đề xuất quy định hoàn thiện pháp luật hình sự đối với tội gây ô nhiễm môi trường khi sửa đổi BLHS Việt Nam

- Lê Thị Thảo Trang (2015), “Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong

lĩnh vực bảo vệ môi trường - Thực trạng và hướng giải quyết”, Khóa luận tốt

nghiệp, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh Tác giả đi sâu phân tích các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính tại Nghị định 179/2013/NĐ-CP Bên cạnh đó, tác giả có viện dẫn một số quy định pháp luật nước ngoài từ đó đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam

- Nguyễn Thị Quỳnh Nhi (2016), “Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính

trong lĩnh vực bảo vệ môi trường”, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Tp

Hồ Chí Minh Tác giả đã xây dựng những lý luận về vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, phân tích nguyên tắc, các biện pháp xử phạt VPPC theo quy định tại Luật Bảo vệ môi trường 2014 và Nghị định 179/2013/NĐ-CP Đồng thời phân tích tình trạng VPHC trong lĩnh vực BVMT để đề xuất những kiến nghị phù hợp

Dưới góc độ khoa học pháp lý, một số công trình nghiên cứu, bài viết của các nhà chuyên môn, luật gia về nổi bật như:

- Dư Huy Quang (2009), “Hạn chế của quy định hiện hành về xử lý vi phạm

hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 23

Bài viết đã phân tích những bất cập, hạn chế đồng thời kiến nghị hoàn thiện quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT Tuy nhiên, bài viết dựa trên cơ sở pháp lý là Nghị định 81/2006/NĐ-CP nên nhiều nội dung không còn tính mới và phù hợp với thực tiễn

- Nguyễn Thị Tố Uyên (2014), “Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định về

trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam”, tạp chí

Nghiên cứu lập pháp, số 4 Bài viết chủ yếu phân tích về những điểm hạn chế của

các quy định về trách nhiệm hành chính đối với chủ thể vi phạm, sau đó đưa kiến

Trang 10

4

nghị về: thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt tiền, biện pháp khắc phục hậu quả Đây là tài liệu có giá trị đối với đề tài vì đã cung cấp thông tin về quá trình phát triển của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT của Việt Nam

- Nguyễn Văn Phước, Nguyễn Thanh Hùng, Bùi Tá Long (2009), “Kết quả

xác định vi phạm, mức độ ảnh hưởng do hành vi gây ô nhiễm của Công ty Cổ phần hữu hạn Vedan Việt Nam” Nhóm tác giả đã thu thập thông tin về vi phạm, mức độ

ảnh hưởng do hành vi gây ô nhiễm của công ty Vedan gây ra cho ba vùng: TP.HCM, Vũng Tàu và Đồng Nai Dựa trên cơ sở khoa học và vận dụng các quy định của pháp luật BVMT, nhóm tác giả đã phân tích những thiếu sót, hạn chế trong các quy định truy cứu trách nhiệm đối với chủ thể này

- Trần Thắng Lợi (2005), “Trách nhiệm pháp lý về môi trường ở một số

nước”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 16 Bài viết tập trung phân tích trách nhiệm

pháp lý đối với vi phạm pháp luật môi trường tại một số quốc gia như: Nhật Bản, Singapore và Trung Quốc Đồng thời, sau quá trình nghiên cứu, so sánh tác giả đưa

ra những ưu điểm, hạn chế đối với các từng biện pháp trách nhiệm pháp lý, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, hình thức

xử phạt, trách nhiệm hình sự của pháp nhân,…trong pháp luật BVMT tại Việt Nam

- Huỳnh Thu Anh, Nguyễn Thị Thanh Bình, Hoàng Thị Dung, Nguyễn Trịnh

Thanh Hà (Chủ nhiệm đề tài) (2015), “Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong

luật hình sự Việt Nam dưới góc độ nghiên cứu so sánh với pháp luật hình sự Trung Quốc, đề tài nghiên cứu cấp bộ Nhóm tác giả phân tích, so sánh các quy định về

trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong BLHS Trung Quốc, quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong BLHS 2015 Từ đó học hỏi các quy định phù hợp, đề xuất kiến nghị hoàn thiện trách nhiệm hình sự của pháp nhân khi sửa đổi, bổ sung BLHS Việt Nam

Trên đây là những công trình nghiên cứu khoa học, bài viết, bài phân tích có liên quan đến vấn đề xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT Tuy nhiên sự nghiên cứu này bị giới hạn ở phạm vi vì đều được thực hiện trước khi Nghị định 155/2016/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) được ban hành Đồng thời, mặc dù một

số tác giả có đề cập đến các quy định của pháp luật xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT của nước ngoài nhưng chỉ đơn thuần là nêu ra quy định chứ chưa đi sâu vào phân tích, lý giải, so sánh với pháp luật Việt Nam

3 Mục tiêu của đề tài

Trang 11

5

- Nghiên cứu các vấn đề sau: quá trình hình thành và phát triển pháp luật

BVMT của Trung Quốc, Singapore và Việt Nam; hành vi vi phạm hành chính và các biện pháp xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT; tội phạm về môi trường và hình phạt Phân tích, bình luận các quy định pháp luật và những yếu tố ảnh hưởng

đến quy định này trong pháp luật các nước

- Xem xét thực tiễn áp dụng những quy định pháp luật như nghiên cứu một số

quyết định của Tòa án Trung Quốc, Singapore khi xử lý các vụ việc vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT; từ đó tiếp thu, học hỏi những vấn đề phù hợp với Việt

Nam

- Bên cạnh đó, tác giả cũng tiến hành xem xét các số liệu điều tra, khảo sát,

thu thập được về tình hình vi phạm pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh

vực BVMT tại Trung Quốc, Singapore và Việt Nam

- Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích, so sánh các quy định trong pháp luật Trung

Quốc và Singapore với nhau và với Việt Nam, tác giả đề xuất một số kiến nghị cụ

thể nhằm hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu là hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT và các chế tài áp dụng, bao gồm: vi phạm hành chính, tội phạm về tội phạm, các biện pháp xử phạt và hình phạt Từ đó, tác giả nhận thấy những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong các quy định trên

Tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu là các hành vi vi phạm hành chính, tội phạm về môi trường, các biện pháp xử phạt và hình phạt được áp dụng trong lĩnh vực BVMT của pháp luật Singapore, Trung Quốc và Việt Nam Và để có cái nhìn tổng quan thì tác giả cũng có nghiên cứu quá trình phát triển các quy định về xử lý

vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam, Trung Quốc và Singapore

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu tác giả kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, cụ thể như sau:

- Phương pháp nghiên cứu và phân tích: nghiên cứu và phân tích các quy định

về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT trong pháp luật Trung Quốc, Singapore và Việt Nam Phương pháp nghiên cứu nhằm thu thập kiến thức, hiểu biết chung nhất về pháp luật của các quốc gia trên Tác giả sử dụng phương pháp này ở chương 1, cụ thể tại phần: 1.1.1 Khái quát pháp luật bảo vệ môi trường của Singapore, 1.1.2 Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, 1.1.3 Pháp luật hình sự về tội phạm môi trường của Singapore, 1.2.1 Khái quát pháp luật bảo vệ môi trường của Trung Quốc, 1.2.2 Pháp luật xử lý vi phạm

Trang 12

6

hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của Trung Quốc, 1.2.3 Pháp luật hình

sự về tội phạm môi trường và ở chương 2, tại các phần: 2.2.1 Khái niệm vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, 2.2.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, 2.2.3 Bất cập của quy định pháp luật Việt Nam về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, 2.3.1 Khái niệm tội phạm về môi trường, 2.3.2 Hình phạt đối với tội phạm môi trường, 2.3.3 Bất cập của pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm môi trường, 2.4.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, 2.4.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự về tội phạm môi trường

- Phương pháp so sánh, đối chiếu được áp dụng để làm rõ: những điểm giống

và khác nhau trong cùng một vấn đề, một khái niệm như: khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, tội phạm về môi trường, các biện pháp xử phạt hành chính, hình phạt, kĩ thuật xây dựng văn bản Đây sẽ là cơ sở để tác giả tiếp thu những quy định phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam Phương pháp này được sử dụng ở chương 1, cụ thể tại phần: 1.1.1 Khái quát pháp luật bảo vệ môi trường của Singapore, 1.1.2 Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, 1.1.3 Pháp luật hình sự về tội phạm môi trường của Singapore, 1.2.1 Khái quát pháp luật bảo vệ môi trường của Trung Quốc, 1.2.2 Pháp luật xử

lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của Trung Quốc, 1.2.3 Pháp luật hình sự về tội phạm môi trường và chương 2, tại các phần: 2.2.1 Khái niệm vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, 2.2.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, 2.2.3 Bất cập của quy định pháp luật Việt Nam về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, 2.3.1 Khái niệm tội phạm về môi trường, 2.3.2 Hình phạt đối với tội phạm môi trường, 2.3.3 Bất cập của pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm môi trường

- Phương pháp thu thập, chọn lọc nhằm có được các số liệu thực tế, đã được một số cơ quan, tổ chức điều tra, chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật khảo sát liên quan đến tình hình xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT Phương pháp này được tác giả sử dụng ở phần: 2.2.3 Bất cập của quy định pháp luật Việt Nam về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, 2.3.3 Bất cập của pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm môi trường, 1.1.3 Pháp luật hình sự về tội phạm môi trường của Singapore, 1.2.1 Khái quát pháp luật bảo vệ môi trường của Trung Quốc, 1.2.2 Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của Trung Quốc, 1.2.3 Pháp luật hình sự về tội phạm môi trường

Trang 13

7

- Phương pháp đánh giá và tổng hợp: đưa ra nhận xét đối với các quy định của pháp luật Trung Quốc, Singapore và Việt Nam về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT, đồng thời tác giả tổng hợp các lý luận, quy định có liên quan đến

đề tài khóa luận để đề xuất kiến kiến nghị hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm

trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam Phương pháp này sử dụng ở cả hai chương của

Trang 14

8

CHƯƠNG 1: PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ XỬ LÝ VI PHẠM TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

1.1 Pháp luật Singapore

1.1.1 Khái quát pháp luật bảo vệ môi trường của Singapore

Hệ thống pháp luật BVMT của Singapore được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, không chỉ bao gồm các đạo luật, Điều ước quốc tế về BVMT, mà còn có sự kết hợp của kế hoạch, chương trình hành động quốc gia được đặt ra trong từng giai đoạn, nhiệm kỳ cụ thể Trong đó Luật Quản lý và Bảo vệ môi trường năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2008 đóng vai trò là luật khung, điều chỉnh khái quát các hoạt động BVMT Tác giả nhận thấy, Luật Quản lý và Bảo vệ môi trường Singapore có nhiều điểm tương đồng với Luật Bảo vệ môi trường 2014 của Việt Nam như về phạm vi áp dụng tương đối rộng, điều chỉnh hầu hết các vấn đề về hoạt động BVMT; cấu trúc xây dựng luật ở cả hai văn bản đều bao gồm các phần (mục hoặc chương) như: thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước, công cụ cấp phép (báo cáo đánh giá tác động môi trường, giấy phép phát thải, xả thải ), các quy định về kiểm soát ô nhiễm không khí, kiểm soát ô nhiễm nước, ô nhiễm đất, chất thải nguy hại, kiểm soát tiếng ồn, bảo tồn năng lượng, và các biện pháp thực thi (hay còn có tên gọi khác là chế tài áp dụng)1 Tuy nhiên, Luật Quản lý và Bảo vệ môi trường Singapore có điểm khác biệt là tại mỗi chương đều dành riêng điều luật cuối cùng

để quy định các chế tài xử lý vi phạm, còn những điều luật còn lại sẽ mô tả hành vi

vi phạm Ví dụ: chương VI Luật Quản lý và Bảo vệ môi trường Singapore chia thành 5 phần với 23 điều luật quy định về ô nhiễm môi trường do phương tiện giao thông gây ra Trong đó, từ phần I đến phần V đề cập đến các vấn đề như: quy định chung về phương tiện giao thông, ngưỡng tiếng ồn vượt giới hạn đối với phương tiện giao thông, nhiệm vụ cung cấp thông tin của chủ sở hữu, tiêu chuẩn và điều kiện của hệ thống khí thải và các quy định khác Tại Điều 23 – điều cuối cùng của

phần V quy định về hình phạt: “Người nào vi phạm bất kỳ quy định nào trong

chương này sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự với hình phạt tiền không quá 2.000 SGD, nếu tái phạm mức phạt tiền không quá 5.000 SGD 2

Cách quy định này không chỉ áp dụng đối với Luật Quản lý và Bảo vệ môi trường của Singapore mà hầu hết trong các văn bản luật khác Điển hình như: Điều

103 Phần VIII (Các quy định về nhà tang lễ, nghĩa trang và hỏa táng) Đạo luật sức khỏe cộng đồng năm 2002 - Điều 103 là luật cuối cùng của chương VIII quy định:

dựng pháp luật về bảo vệ môi trường”, tr 4

Trang 15

9

“Bất kỳ người nào vi phạm bất kỳ điều khoản nào trong phần này sẽ bị buộc tội và

phải chịu hình phạt tiền không quá 2.000 SGD Nếu tái phạm sẽ bị phạt tiền không quá 5.000 SGD hoặc bị phạt tù không quá 3 tháng hoặc cả hai 3 ” Hoặc tại Luật

quản lý chất nguy hại, Luật này gồm 5 chương quy định các vấn đề như khái niệm, quy trình vận chuyển chất thải nguy hại, lưu giữ chất nguy hại, thẩm quyền thanh tra, kiểm tra và quy định cụ thể khác Tại Điều 25 – Điều luật cuối cùng của chương

V quy định về hình phạt như sau: “Bất kỳ người nào vi phạm các quy định ở điều 4,

5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14 , 15, 16, 17 ,18, 19, 20 , 21, 22, 23, 24 bị xem là có hành vi phạm tội và phải chịu hình phạt tiền không quá 30.000 SGD hoặc phạt tù không quá 2 năm hoặc cả hai Trong trường hợp tái phạm, phạt thêm một khoản tiền phạt không quá 1.000 SGD cho mỗi ngày tiếp tục vi phạm 4” Điều này có nghĩa

là các quy định xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT ở Singapore sẽ được quy định ngay trong văn bản luật, chủ yếu trong Luật Quản lý và Bảo vệ môi trường, chứ không tách riêng quy định trong các luật chuyên ngành khác (như Bộ luật hình sự) hay trong các văn bản dưới luật (các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính) như ở Việt Nam Với cách quy định chung như vậy, pháp luật Singapore đã tạo nên sự thuận lợi nhất định cho người dân trong việc tìm hiểu các quy định của pháp luật và nâng cáo hiệu quả thi hành pháp luật Bởi lẽ ngay khi nhận thức được hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật thì đồng thời người dân cũng nhận thức được hậu quả của mình phải gánh chịu nếu thực hiện hành vi đó Từ

đó, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa vi phạm pháp luật Thiết nghĩ đây là một điểm hay trong kỹ thuật lập pháp mà Việt Nam có thể học tập kinh nghiệm của Singapore để nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật

Bên cạnh luật khung, Singapore còn ban hành một số luật khác về BVMT như Luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường5 (bao gồm: Luật không khí sạch, Luật về vi phạm tiếng ồn nơi công cộng, Luật về thoát nước và chống ô nhiễm nước, Luật về phòng, chống ô nhiễm biển); Luật về hệ thống cống tiêu thoát nước6

http://statutes.agc.gov.sg/aol/search/display/view.w3p;ident=de0b3339-4fbf-41f4-946a-

đích liên quan đến việc kiểm soát ô nhiễm môi trường, điều chỉnh 4 đối tượng: không khí, biển, phòng, tiếng

ồn, nước và chất thải

6

Luật này điều chỉnh các vấn đề liên quan đến việc điều kiện, quy trình và các chế tài áp dụng đối với việc xây dựng, vận hành, sử dụng hệ thống cống tiêu thoát nước

Trang 16

rõ hành vi vi phạm và các chế tài xử lý nên không cần thiết phải xây dựng khái niệm về VPHC hoặc tội phạm về môi trường

1.1.2 Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của Singapore

Singapore là quốc gia nổi tiếng nghiêm khắc trong việc thi hành pháp luật nói chung, đặc biệt là trong lĩnh vực BVMT Tùy thuộc vào mức độ vi phạm, tính chất hành vi mà chủ thể vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hành chính hoặc hình sự Đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT thì Singapore áp dụng những hình thức xử phạt sau: Phạt tiền, tạm giữ, tịch thu công cụ, phương tiện phạm tội, thu hồi giấy phép và buộc tạm dừng hoạt động

- Phạt tiền: là hình thức xử phạt phổ biến được áp dụng đối với tổ chức, cá

nhân Hình thức xử phạt tiền quy định chủ yếu tại Luật Quản lý và Bảo vệ môi trường Bên cạnh đó Luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, Luật quản lý chất thải nguy hại, Đạo luật về môi trường sức khỏe cộng đồng 1987 sửa đổi, bổ sung 2002, Luật Bảo tồn thiên nhiên cũng đề cập đến hình thức xử phạt này Trong năm 2013 tại Singapore đã có 9.346 hành vi vi phạm về môi trường vệ sinh công cộng, trong

đó, 8.195 trường hợp bị áp dụng thức xử phạt tiền10 Điều này chứng tỏ hình thức

xử phạt tiền được áp dụng phổ biến trên thực tế tại quốc gia này Bên cạnh đó, hình phạt tiền có tác động trực tiếp đến lợi ích kinh tế của chủ thể vi phạm, buộc họ phải nộp một khoản tiền phạt tương ứng với tính chất và hậu quả của vi phạm Vì vậy, hình thức xử phạt này không những đạt được lợi ích về kinh tế mà còn giáo dục, nâng cao ý thức của tổ chức, cá nhân vi phạm

bản luật về bảo vệ các loài động vật hoang dã, hải sản, vườn quốc gia, về kiểm soát ô nhiễm môi trường

10

“Number of littering fines at 6 year”,

http://www.straitstimes.com/singapore/courts-crime/number-of-littering-fines-at-6-year-high , truy cập ngày 15/6/2017

Trang 17

11

Mức phạt tiền rất đa dạng như tại Điều 6 chương I Luật Quản lý và Bảo vệ

môi trường quy định: “Bất kỳ người nào không tuân thủ quy định tại điều 3 11

hoặc điều 5 12

sẽ bị phạt tiền không quá 5.000 SGD lần đầu vi phạm Trong trường hợp vi phạm lần hai mức phạt không quá 10.000 SGD” hay theo Điều 5 chương II Luật

Quản lý và Bảo vệ môi trường: “Bất kỳ người nào không tuân thủ quy định tại Điều

3 (quy định về mức ồn) hoặc Điều 4A (cấm xây dựng tại các địa điểm nhất định trong một thời gian nhất định) hoặc bất kỳ điều khoản, điều kiện nào trong nội dung giấy phép đã được cấp thì phải chịu mức tiền phạt không quá 40.000 SGD Nếu tái phạm, phạt thêm không quá 1.000 SGD cho mỗi ngày vi phạm tiếp theo 13” Thêm

vào đó, tại Điều 30 Chương III Đạo luật về môi trường sức khỏe cộng đồng 1987

sửa đổi, bổ sung 2002 quy định mức phạt tiền như sau: “Bất kỳ người nào vi phạm

bất kỳ quy định nào của chương này đều bị phạt tiền: (i) Vi phạm lần đầu với mức phạt tiền không quá 1.000 SGD và phạt thêm không quá 100 SGD cho mỗi ngày vi phạm tiếp theo; (ii) Đối vi phạm lần thứ hai thì phạt tiền không quá 2.000 SGD và phạt thêm 200 SGD cho mỗi ngày vi phạm tiếp theo; (iii) Vi phạm lần thứ ba hoặc những lần tiếp theo, phạt tiền không quá 5.000 SGD và phạt thêm 500 SGD cho mỗi ngày vi phạm tiếp theo 14 ”

Theo như các ví dụ trên cho thấy cách quy định hình thức phạt tiền của Singapore là ấn định một mức tiền phạt nhất định cho từng vi phạm cụ thể chứ không quy định khung tiền phạt (mức thấp nhất – mức cao nhất) cho từng vi phạm như pháp luật Việt Nam Điều này có nghĩa là khoản tiền phạt cố định này sẽ được

áp dụng cho tất cả các trường hợp vi phạm và không xét đến các trường hợp tăng nặng hay giảm nhẹ như pháp luật Việt Nam Đồng thời, cách quy định này tạo ra sự công bằng và hạn chế tình trạng nhũng nhiễu trong quá trình áp dụng pháp luật, từ

đó nâng cao hiệu quả thi hành trên thực tế Khác với quy định của Singapore, các văn bản xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT của Việt Nam đều quy định tái phạm hay vi phạm nhiều lần là tình tiết tăng nặng Bên cạnh đó, mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính (VPHC) trong lĩnh vực BVMT

là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó Nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá

11

Quy định chung về thiết bị đo và địa điểm thực hiện đo tiếng ồn

management law, 0a8a1014ea29;page=0;query=DocId%3A7b4418bd-1ffc-49f9-b34d-

http://statutes.agc.gov.sg/aol/search/display/view.w3p;ident=3ab0d603-13b1-4ba7-b3c1-7de5f7a6fd72%20Depth%3A0%20Status%3Ainforce;rec=0#pr5-he-, truy cập ngày 15/07/2017

http://statutes.agc.gov.sg/aol/search/display/view.w3p;ident=b5d59745-72ff-4ebc-a842-

09bd7bdf88ba;page=0;query=DocId%3A8615ccd4-a019-485d-aa9e-d858e4e246c5%20Depth%3A0%20Status%3Ainforce;rec=0, truy cập ngày 15/07/2017

Trang 18

- Thu hồi giấy phép: là hình thức xử phạt đối với cá nhân, tổ chức được quy

định tại Đạo luật về môi trường sức khỏe cộng đồng, Luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, Luật quản lý chất thải nguy hại Khái niệm giấy phép được định nghĩa

tại Điều 98 Đạo luật về môi trường sức khỏe cộng đồng:“Bao gồm bất kỳ sự chấp

thuận, cho phép, ủy quyền hoặc giấy phép được các cơ quan môi trường cấp theo quy định của đạo luật này 16 ” Như vậy, giấy phép bị thu hồi có thể là giấy phép vận

chuyển chất thải, giấy phép kiểm dịch, giấy phép nhập khẩu, xuất khẩu chất thải nguy hại, giấy phép kinh doanh hoạt động hỏa táng, mai táng…

Tại Điều 19 Đạo luật về môi trường sức khỏe cộng đồng quy định: “Nếu người

được cấp giấy phép có hành vi vi phạm hoặc không thực hiện hoặc không đảm bảo các quy định về thu gom rác thải công cộng có thể bị đình chỉ hoạt động hoặc thu hồi giấy phép 17 ” Bên cạnh đó, Điều 20 Đạo luật này cũng quy định: “Chủ thể vi

phạm các quy định về vận chuyển, xử lý chất thải công cộng hoặc rác thải gây hại cho môi trường thì phải ngoài phạt tiền có thể bị buộc tạm dừng hoạt động đến 12 tháng hoặc thu hồi giấy phép 18 ” Dựa vào các quy định trên có thể thấy hình thức

15

Điểm a Khoản 1 Điều 13 Nghị định 155/2016/NĐ - CP

http://statutes.agc.gov.sg/aol/search/display/view.w3p;ident=b5d59745-72ff-4ebc-a842-

09bd7bdf88ba;page=0;query=DocId%3A8615ccd4-a019-485d-aa9e-d858e4e246c5%20Depth%3A0%20Status%3Ainforce;rec=0, truy cập ngày 15/07/2017

http://statutes.agc.gov.sg/aol/search/display/view.w3p;ident=b5d59745-72ff-4ebc-a842-

09bd7bdf88ba;page=0;query=DocId%3A8615ccd4-a019-485d-aa9e-d858e4e246c5%20Depth%3A0%20Status%3Ainforce;rec=0, truy cập ngày 15/07/2017

http://statutes.agc.gov.sg/aol/search/display/view.w3p;ident=b5d59745-72ff-4ebc-a842-

09bd7bdf88ba;page=0;query=DocId%3A8615ccd4-a019-485d-aa9e-d858e4e246c5%20Depth%3A0%20Status%3Ainforce;rec=0, truy cập ngày 15/07/2017

Trang 19

13

xử phạt thu hồi giấy phép trong pháp luật Singapore tương tự với hình thức xử phạt

bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn trong pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT của Việt Nam Cả hai biện pháp đều áp dụng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện những vi phạm nghiêm trọng nhằm hạn chế khả năng tiếp tục tác động xấu đến môi trường của các chủ thể này

Như vậy, nhiều quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT của pháp luật Singapore có điểm tương đồng với pháp luật Việt Nam Tuy nhiên, về số lượng hình thức xử phạt thì pháp luật Việt Nam lại quy định đa dạng và phong phú hơn Ngoài hình thức xử phạt chính, chủ thể vi phạm còn có thể bị áp dụng các hình thức

xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả Bên cạnh đó, tại các Luật quy định về thành phần môi trường như Luật không khí sạch, Luật về vi phạm tiếng ồn nơi công cộng, Luật về thoát nước và chống ô nhiễm nước, Luật về phòng, chống ô nhiễm biển; Luật về hệ thống cống tiêu thoát nước19; Luật quản lý chất thải nguy hại; Đạo luật về môi trường sức khỏe cộng đồng 1987 sửa đổi, bổ sung 2002; Luật Bảo tồn thiên nhiên của Singapore đều không quy định rõ hình thức nào là hình thức xử phạt chính, hình thức nào là hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả Tuy nhiên, điều này không gây ra khó khăn trong việc áp dụng pháp luật vì tại nội dung mỗi điều luật đã quy định rõ về hành vi vi phạm và hình thức xử phạt được áp dụng

1.1.3 Pháp luật hình sự về tội phạm môi trường của Singapore

Tội phạm về môi trường ở Singapore không được quy định trong BLHS, mà quy định trực tiếp tại các luật như Luật phòng, chống ô nhiễm (bao gồm: Luật không khí sạch 1998, Luật về vi phạm tiếng ồn nơi công cộng, Luật về thoát nước

và chống ô nhiễm nước 1995); Luật về phòng, chống ô nhiễm biển; Đạo luật về môi trường sức khỏe cộng đồng 1987 sửa đổi, bổ sung 2002; Luật Bảo tồn thiên nhiên (bao gồm: Luật về bảo vệ các loài động vật hoang dã, Luật về hải sản, Luật về vườn quốc gia) Ví dụ: Điều 21 Đạo luật về môi trường sức khỏe cộng đồng quy định:

“Người nào thực hiện hành vi trái với quy định tại Điều 17 Luật này (vứt rác, khạc

nhổ nơi công cộng), Điều 18 (xây dựng công trình gây ra bụi ảnh hưởng đến người dân), Điều 19 (thải chất thải ra môi trường công cộng) sẽ bị cảnh sát bắt tạm giam

và truy tố ra Tòa án hình sự cấp quận 20 ”

Trang 20

14

Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật Singapore thì tội phạm về môi trường đều được quy định dưới dạng cấu thành hình thức, tức là hậu quả và yếu tố lỗi không phải là tình tiết định tội Do đó, Toà án có thể ra phán quyết về hành vi phạm tội mà không cần Công tố viên phải chứng minh bị cáo đã cố ý khi thực hiện hành vi đó Ví dụ: trường hợp ông Young Heng Yew sinh năm 1996 bị buộc tội xả rác nơi công cộng theo quy định tại Điểm a Điều 18 Chương III Đạo luật về môi

trường sức khoẻ cộng đồng Chánh án Tòa án cấp cao tại Singapore cho rằng: “Quy

định tại Chương III là vi phạm thuộc loại “chịu trách nhiệm tuyệt đối”, do vậy khi

xét xử Tòa án không quan tâm đến yếu tố lỗi, không cần phải làm sáng tỏ sự tồn tại của trạng thái lỗi trong ý thức21”

Mặc khác, pháp luật Singapore không chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với

cá nhân mà còn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân (bao gồm pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại) Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân được áp dụng tại Singapore từ năm 1987 Cụ thể, tại Điều 103A Đạo luật về môi trường sức khỏe cộng đồng quy định về hành vi phạm tội của các

cơ quan, tổ chức: “Cơ quan, tổ chức vi phạm các quy định về nhà tang lễ, nghĩa

trang hoặc hỏa táng sẽ bị phạt tiền theo quy định của chương này 22 ” Còn tại Việt

Nam vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân vừa mới được công nhận trong BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) Đây được xem là một điểm tiến bộ của pháp luật hình sự Việt Nam

Xét về hệ thống hình phạt thì pháp luật Singapore chỉ áp dụng 3 loại hình phạt đối với tội phạm về môi trường, bao gồm: Phạt tiền, phạt tù, buộc lao động công ích nơi công cộng và tạm giữ tịch thu công cụ, phương tiện phạm tội

- Phạt tiền: đây là hình phạt được áp dụng phổ biến nhất trong các Luật về

BVMT ở Singapore như Luật phòng, chống ô nhiễm (bao gồm: Luật không khí sạch

1998, Luật về vi phạm tiếng ồn nơi công cộng, Luật về thoát nước và chống ô nhiễm nước 1995); Luật về phòng, chống ô nhiễm biển; Đạo luật về môi trường sức khỏe cộng đồng 1987 sửa đổi, bổ sung 2002; Luật Bảo tồn thiên nhiên (bao gồm: Luật về bảo vệ các loài động vật hoang dã, Luật về hải sản, Luật về vườn quốc gia)

Cụ thể, tại Điều 24 Luật Quản lý và Bảo vệ môi trường: “Bất kỳ người nào vi phạm

quy định về cấm thải bỏ chất thải công nghiệp sẽ bị xem là có hành vi phạm tội và phải chịu hình phạt tiền không quá 10.000 SGD hoặc phạt tù không quá 12 tháng

Trang 21

15

hoặc cả hai Trong trường hợp tái phạm mức phạt tiền không quá 20.000 SGD và phạt tù từ 1 tháng đến 12 tháng 23 ” Ngoài ra, hình phạt tiền được quy định tại Điều

21 Đạo luật về môi trường sức khỏe cộng đồng: “Người nào thực hiện hành vi trái

với quy định tại Điều 17 Luật này (vứt rác, khạc nhổ nơi công cộng) sẽ bị Tòa hình

sự cấp quận áp dụng hình phạt tiền với mức phạt 1.000 SGD ở lần đầu tiên, nếu tiếp tục tái phạm mức phạt này tăng lên là 2.000 SGD 24 ”

Cũng tương tự như hình thức phạt tiền trong xử phạt VPHC, pháp luật Singapore không quy định khung tiền phạt mà ấn định một số tiền phạt cụ thể cho từng hành vi phạm tội, nếu chủ thể vi phạm nhiều lần thì mức phạt sau sẽ cao hơn mức phạt trước Khác với quy định của Singapore, pháp luật hình sự Việt Nam quy định khung tiền phạt (mức tối thiểu - mức tối đa ) trong từng Khoản của điều luật Với khoản 1 là khoản có mức phạt tiền thấp nhất, các Khoản sau: Khoản 2, Khoản 3 (nếu có) sẽ quy định mức tiền phạt cao hơn Bên cạnh đó, trường hợp chủ thể phạm tội lần hai mức phạt tiền sẽ cao hơn so với phạm tội lần đầu Đây là điểm giống nhau giữa hình phạt tiền trong pháp luật Singapore và Việt Nam Cách quy định này

đã phân hóa trách nhiệm hình sự giữa những chủ thể cùng thực hiện một tội phạm, tạo ra được sự công bằng trong áp dụng pháp luật

- Phạt tù: Nếu như phạt tiền được áp dụng trong cả xử phạt VPHC và xử lý

hình sự thì phạt tù chỉ được áp dụng để xử lý hình sự đối với tội phạm về môi trường Đây là điểm tương đồng giữa pháp luật Singapore và pháp luật Việt Nam cũng như một số quốc gia khác Trong pháp luật Singapore, hình phạt này áp dụng đối với tội phạm ngoan cố đã gây hậu quả nghiêm trọng cho môi trường mà khi xem xét áp dụng hình phạt tiền không thể bù đắp lại các thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Ví dụ Điều 23 Chương V Đạo luật về môi trường sức khỏe cộng đồng quy

định: “Cá nhân có hành vi xả thải vào nguồn nước ngầm có thể bị phạt tù không

quá 12 tháng 25 ” Thêm vào đó, Điều 25 chương IV Luật Quản lý và Bảo vệ môi

trường quy định: “Người vi phạm quy định 4 , 5 , 6 , 7 , 8 , 9 , 10 , 11 , 12 , 13 , 14,

344fd2763280;page=0;query=DocId%3A2a0218cf-8ad8-43b1-a343-602558277315%20Depth%3A0%20Status%3Ainforce;rec=0#pr25-he-, truy cập ngày 15/07/2017

http://statutes.agc.gov.sg/aol/search/display/view.w3p;ident=b5d59745-72ff-4ebc-a842-

09bd7bdf88ba;page=0;query=DocId%3A8615ccd4-a019-485d-aa9e-d858e4e246c5%20Depth%3A0%20Status%3Ainforce;rec=0, truy cập ngày 15/07/2017

http://statutes.agc.gov.sg/aol/search/display/view.w3p;ident=b5d59745-72ff-4ebc-a842-

09bd7bdf88ba;page=0;query=DocId%3A8615ccd4-a019-485d-aa9e-d858e4e246c5%20Depth%3A0%20Status%3Ainforce;rec=0, truy cập ngày 15/07/2017

Trang 22

có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

- Buộc lao động công ích nơi công cộng: Qua thực tiễn thực thi pháp luật về

BVMT ở Singapore cho thấy hình phạt này là một trong các hình phạt hữu hiệu nhất nhằm ngăn chặn những vi phạm nhỏ, áp dụng đối với chủ thể vi phạm là các cá nhân từ 16 tuổi trở lên và phải thõa mãn các điều kiện về y tế Cụ thể, Điều 21A Đạo Luật về môi trường sức khỏe cộng đồng quy định như sau:

Người nào từ 16 tuổi trở lên bị kết án vì vi phạm một trong các quy định tại

chương III 27 , toà án thấy rằng để cải tạo người vi phạm và để bảo vệ môi trường cũng như sức khoẻ cộng đồng, người vi phạm cần phải thực hiện công việc liên quan đến vệ sinh làm sạch các vị trí nhất định mà không được trả thù lao thì thay cho các quyết định hoặc hình phạt khác (trừ khi có những lý do đặc biệt) Toà án sẽ

ra quyết định buộc lao động công ích nơi công cộng đối với người vi phạm, buộc họ phải thực hiện công việc nói trên dưới sự giám sát chặt chẽ của các nhân viên giám sát, phù hợp với các quy định của mục này

Khác với hình phạt tiền, hình phạt buộc lao động công ích nơi công cộng chỉ

áp dụng đối với cá nhân vi phạm các quy định về BVMT Cụ thể, cá nhân có hành

vi vứt bỏ rác, giấy gói quà, mẩu thuốc lá không đúng nơi quy định thì hình phạt buộc lao động công ích nơi công cộng đặt ra yêu cầu chính cá nhân này phải dọn dẹp vệ sinh tại khu vực đã vi phạm, trả lại môi trường ban đầu Đồng thời, suốt quá trình làm sạch các khu vực đã vứt bỏ rác người vi phạm phải mặc một chiếc áo sơ

mi màu cam với dòng chữ "Lệnh làm việc” Hình phạt trên đã tác động mạnh mẽ

đến ý thức người vi phạm, khiến họ cảm thấy xấu hổ với bản thân và mọi người xung quanh, đồng thời hạn chế khả năng lặp lại hành vi vi phạm Đạo luật về môi trường sức khỏe cộng đồng đã dành riêng chương III để quy định các hành vi vi

phạm về môi trường công cộng kèm theo hình phạt: “Hành vi vứt bỏ rác như giấy

http://statutes.agc.gov.sg/aol/search/display/view.w3p;ident=b5d59745-72ff-4ebc-a842-

09bd7bdf88ba;page=0;query=DocId%3A8615ccd4-a019-485d-aa9e-d858e4e246c5%20Depth%3A0%20Status%3Ainforce;rec=0, truy cập ngày 15/07/2017

Trang 23

17

gói quà, mẩu thuốc lá không đúng nơi quy định sẽ bị phạt 3.000 SGD 28 hoặc phải thực hiện hình phạt buộc lao động công ích nơi công cộng (viết tắt là CWO) lên đến

12 giờ hoặc cả hai biện pháp trên 29 ” Tại Singapore, CWO được áp dụng xử phạt từ

tháng 11/1992 đối với người vứt rác không đúng nơi quy định Năm 1993, 10 người

vi phạm đầu tiên bị áp dụng hình phạt CWO phải làm sạch một phần của bãi biển30 Đến năm 2013, tòa án ban hành 261 hình phạt CWO và năm 2015 số lượng hình phạt CWO đã tăng gấp đôi là 688 lệnh

Pháp luật trong lĩnh vực BVMT của Việt Nam cũng có quy định hình thức xử phạt tương tự như hình phạt trên Cụ thể, Khoản 3 Điều 52 Luật Bảo vệ môi trường

2005 quy định tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về BVMT, vệ sinh nơi công công ngoài bị phạt tiền và tạm giữ phương tiện có liên quan gây ra ô nhiễm

môi trường còn bị áp dụng biện pháp xử phạt buộc lao động vệ sinh môi trường có

thời hạn ở nơi công cộng Như vậy, buộc lao động vệ sinh môi trường có thời hạn ở nơi công cộng trong Luật Bảo vệ môi trường 2005 là một trong những biện pháp xử

phạt vi phạm hành chính

Khi xem xét về hai quy định trên, tác giả cho rằng buộc lao động vệ sinh môi

trường có thời hạn ở nơi công cộng và buộc lao động công ích nơi công cộng đều

tác động trực tiếp đến ý thức người vi phạm, thông qua việc buộc chính chủ thể vi phạm phải thực hiện hoạt động dọn dẹp vệ sinh tại nơi công cộng: trường học, bệnh viện, công viên, bãi biển trong một khoảng thời gian nhất định nhằm phục hồi lại môi trường như trước khi có hành vi vi phạm Khi bị áp dụng biện pháp này, người

vi phạm sẽ cảm thấy xấu hổ với bản thân, người xung quanh, đồng thời răn đe, giáo dục, nâng cao ý thức không chỉ riêng đối với người vi phạm mà còn đối với mọi

người xung quanh Tuy nhiên buộc lao động công ích nơi công cộng trong pháp luật Singapore là hình phạt chỉ áp dụng đối với cá nhân, còn biện pháp buộc lao động vệ

sinh môi trường có thời hạn ở nơi công cộng trong Luật Bảo vệ môi trường 2005

của Việt Nam áp dụng cho cả tổ chức và cá nhân Bên cạnh đó, phạm vi áp dụng

của biện pháp buộc lao động vệ sinh môi trường có thời hạn ở nơi công cộng là khá

rộng, ngoài hành vi quy định giữ gìn vệ sinh môi trường nơi công cộng còn áp dụng đối với hành vi vi phạm pháp luật về BVMT Tuy nhiên, mặc dù Luật Bảo vệ môi

trường 2005 có quy định về buộc lao động vệ sinh môi trường có thời hạn ở nơi

công cộng nhưng các văn bản hướng dẫn thi hành lại không đề cập đến, vì vậy biện

30

Measures against littering in Singapore, measures-against-littering-in-singapore, truy cập ngày 15/7/2017

Trang 24

http://www.straitstimes.com/singapore/environment/current-18

pháp trên không được áp dụng thực thi trên thực tế Tác giả nhận thấy, buộc lao

động công ích nơi công cộng là một quy định khá hay trong pháp luật BVMT của

Singapore mà Việt Nam có thể nghiên cứu, xem xét áp dụng

- Tạm giữ và tịch thu công cụ, phương tiện phạm tội: hình phạt này áp dụng

đối với tổ chức, cá nhân được quy định trong Luật Quản lý và bảo vệ môi trường của Singapore Việc tạm giữ và tịch công cụ, phương tiện vi phạm nhằm mục đích hạn chế đến mức thấp nhất khả năng tiếp tục gây hại đến môi trường của chủ thể vi phạm Đặc biệt, trường hợp công cụ, phương tiện phạm tội không phù hợp cho con người, xã hội có thể tịch thu và tiêu huỷ Cụ thể Điều 13 Phần III Chương IV quy

định: “Trong quá trình lưu giữ, vận chuyển chất thải nguy hại không đúng quy định

có thể bị tịch thu và tiêu hủy 31 ” hay Điều 17 Phần 5 Chương VI quy định: “Trường

hợp phát hiện xe ô tô phát ra khí thải quá quy chuẩn mà trước đó chưa được kiểm tra định kì thì có thể bị thu hồi phương tiện 32 ” So với hình thức phạt tiền và hình

phạt buộc lao động công ích nơi công cộng thì hình thức xử phạt tạm giữ và tịch thu

công cụ, phương tiện phạm tội có phạm vi áp dụng hẹp hơn chỉ được quy định trong

Luật Quản lý và bảo vệ môi trường, đồng thời chỉ được áp dụng trong trường hợp không có công cụ, phương tiện phạm tội thì chủ thể không thực hiện được hành vi

phạm tội Tương tự với pháp luật BVMT của Singapore, pháp luật hình sự Việt

Nam cũng có quy định về điều này

Khi so sánh các hình phạt đối với tội phạm về môi trường trong pháp luật của Singapore và pháp luật Việt Nam, bên cạnh điểm tương đồng về một số loại hình phạt: hình phạt tiền, hình phạt tù, tác giả thấy rằng cũng có điểm khác biệt Pháp luật Singapore quy định các tội phạm về môi trường và hệ thống hình phạt vào các Luật trong lĩnh vực BVMT như Luật không khí sạch, Luật về vi phạm tiếng ồn nơi công cộng, Luật về thoát nước và chống ô nhiễm nước, Luật về phòng, chống ô nhiễm biển; Luật về hệ thống cống tiêu thoát nước; Luật quản lý chất thải nguy hại; Đạo luật về môi trường sức khỏe cộng đồng 1987 sửa đổi, bổ sung 2002; Luật Bảo tồn thiên nhiên, đồng thời vì quy định chung nên không có quy định cụ thể hình phạt chính và hình phạt bổ sung Còn pháp luật hình sự Việt Nam xây dựng một chương riêng trong BLHS để quy định về các tội phạm về môi trường

http://statutes.agc.gov.sg/aol/search/display/view.w3p;ident=de0b3339-4fbf-41f4-946a-

344fd2763280;page=0;query=DocId%3A2a0218cf-8ad8-43b1-a343-602558277315%20Depth%3A0%20Status%3Ainforce;rec=0#pr25-he-, truy cập ngày 15/07/2017

http://statutes.agc.gov.sg/aol/search/display/view.w3p;ident=de0b3339-4fbf-41f4-946a-

344fd2763280;page=0;query=DocId%3A2a0218cf-8ad8-43b1-a343-602558277315%20Depth%3A0%20Status%3Ainforce;rec=0#pr25-he-, truy cập ngày 15/07/2017

Trang 25

19

1.2 Pháp luật Trung Quốc

1.2.1 Khái quát pháp luật bảo vệ môi trường của Trung Quốc

Luật Bảo vệ môi trường tại Trung Quốc được ban hành lần đầu tiên vào năm

1979 Ngoài việc khẳng định mục tiêu BVMT, Luật này đưa ra bốn chính sách cụ thể đó là:

(a) Thành lập các cơ quan nhà nước về bảo vệ môi trường;

(b) Quy định về trách nhiệm và phí bảo vệ môi trường;

(c) Quy định chung về đánh giá tác động môi trường;

(d) Việc xử lý ô nhiễm công nghiệp

Sau khi Luật Bảo vệ môi trường ra đời, Trung Quốc thành lập Ủy ban Bảo vệ môi trường trực thuộc Chính phủ nhằm thực hiện công tác bảo vệ và quản lý môi trường, ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm Đến năm 1989, Trung Quốc thay thế Luật Bảo vệ môi trường năm 1979 bằng Luật Bảo vệ môi trường năm 1989 gồm 47 điều được chia thành 6 chương Năm 2014, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc đã thông qua các sửa đối với Luật Bảo vệ môi trường 2014 thay thế Luật Bảo vệ môi trường 1989 (tên tiếng anh viết tắt là EPL), có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm

2015

Bên cạnh đó, do quá trình công nghiệp hóa, môi trường nước ở Trung Quốc bị

ô nhiễm nặng nề dẫn đến ô nhiễm các thành phần khác như đất, nước, sinh vật và gây nhiều tác động xã hội Vì vậy năm 1984, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc đã ban hành thêm Luật Bảo vệ môi trường nước

Sau đó, Trung Quốc tiếp tục ban hành nhiều đạo luật về BVMT như: Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm không khí năm 1995, Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm chất thải rắn năm 1995, Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm nước

1996, Luật Ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn môi trường năm 1996, Luật Bảo vệ môi trường biển năm 1999, Luật Đánh giá tác động môi trường năm 2002 Ngoài ra, còn có một số đạo luật khác liên quan đến công tác BVMT như: Luật Khuyến khích sản xuất sạch, Luật Bảo vệ động vật hoang dã, Luật Bảo tồn năng lượng, Luật Chống sa mạc hóa Đồng thời, các văn bản hướng dẫn chi tiết cũng được Chính phủ và các bộ lần lượt ban hành dưới nhiều hình thức khác nhau

Như vậy, hoạt động BVMT của Trung Quốc được điều chỉnh bởi nhiều đạo luật, trong đó Luật Bảo vệ môi trường được coi là “luật khung” và chỉ quy định những vấn đề chung, cơ bản, khái quát nhất Còn việc kiểm soát, quản lý các thành phần môi trường như nước, không khí, chất thải rắn và tiếng ồn được quy định trong các đạo luật chuyên ngành Thêm vào đó, những vi phạm mang tính chất

Trang 26

20

nghiêm trọng trong lĩnh vực BVMT được xem là tội phạm môi trường sẽ được quy định thành một mục riêng trong BLHS

Điều này có nét tương đồng với pháp luật Việt Nam Tại Việt Nam, Luật Bảo

vệ môi trường đóng vai trò là luật nền tảng, quy định các vấn đề khái quát nhất về hoạt động BVMT Bên cạnh Luật Bảo vệ môi trường, các thành phần khác của môi trường như: nước, rừng, thủy sản, khoáng sản… được điều chỉnh bởi các luật chuyên ngành như: Luật Tài nguyên nước, Luật Bảo vệ và phát triển rừng pháp luật, Luật Thủy sản, Luật Khoáng sản… Đồng thời, để cụ thể hoá các nội dung trong văn bản luật, Việt Nam ban hành các Nghị định để hướng dẫn thi hành

1.2.2 Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của Trung Quốc

Luật Bảo vệ môi trường 2014 (tên tiếng anh viết tắt là EPL) của Trung Quốc quy định khá chi tiết về những hành vi vi phạm trong lĩnh vực BVMT như Điều 63 quy định tổ chức, cá nhân thực hiện những hành vi sau đây tuy không bị coi là tội phạm nhưng phải gánh chịu sự trừng phạt của luật này và pháp luật có liên quan:

(i) Không thực hiện các quy định về đánh giá tác động môi trường đối với dự

án xây dựng, được lệnh ngừng xây dựng nhưng không chấp hành;

(ii) Không xin giấy phép phát thải, xả thải các chất ô nhiễm, được lệnh phải ngăn chặn xả thải, phát thải nhưng không chấp hành;

(iii) Thực hiện không đúng các quy định về ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm

và những cách khác về xả trái phép các chất gây ô nhiễm

Tuy nhiên các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính không được quy định tại Luật Bảo vệ môi trường của Trung Quốc mà được quy định trong các luật chuyên ngành tương ứng như: Luật Phòng chống ô nhiễm không khí, Luật phòng chống ô nhiễm nước, Luật Phòng chống ô nhiễm chất thải rắn, Luật phòng chống ô nhiễm tiếng ồn, Luật Bảo vệ môi trường biển, Luật tài nguyên khoáng sản, Luật bảo vệ

nguồn nước…Ví dụ: Điều 48 Luật phòng chống ô nhiễm tiếng ồn quy định “Bất cứ

người nào vi phạm đưa vào thi công, hoạt động một dự án xây dựng mà chưa đáp ứng các điều kiện cần thiết để ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm tiếng ồn môi trường

sẽ bị đình chỉ sản xuất hoặc có thể bị phạt tiền bởi cơ quan quản lý có thẩm quyền

về bảo vệ môi trường 33 ” hoặc Điều 64 Luật về phòng, chống ô nhiễm chất thải rắn

http://english.sepa.gov.cn/Resources/laws/environmental_laws/200710/t20071009_109950.shtml, truy cập ngày 15/07/2017

Trang 27

xử phạt nào là hình thức xử phạt bổ sung

(1) Cảnh cáo: Áp dụng đối với tổ chức, cá nhân thực hiện vi phạm lần đầu với

tính chất không nghiêm trọng So với các biện pháp xử phạt khác, cảnh cáo được

quy định tại rất ít điều luật như Điều 49 Luật phòng chống ô nhiễm tiếng ồn: “Tổ

chức, cá nhân vi phạm các quy định của Luật này mà từ chối báo cáo hoặc báo cáo sai sự thật về báo cáo phát thải tiếng ồn ra môi trường có thể bị cảnh cáo ở lần đầu tiên hoặc phạt tù tùy mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm 35 ” Hoặc cũng tại

Điều 51 Luật này:“Bất kỳ cá nhân nào không nộp tiền phạt về việc phát ra tiếng ồn

quá mức cho phép có thể bị phạt cảnh cáo 36 ” Tại các Nghị định về xử phạt vi

phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT của Việt Nam cũng có quy định về hình thức xử phạt cảnh cáo với tích chất và đối tượng áp dụng tương tự như pháp luật Trung Quốc

(2) Phạt tiền: là hình thức xử phạt được áp dụng đối với tổ chức và cá nhân

Với mục đích tước đi lợi ích vật chất của chủ thể có hành vi vi phạm trong lĩnh vực BVMT Hình phạt tiền được quy định rộng rãi trong nhiều Luật như: Luật phòng chống ô nhiễm tiếng ồn, Luật phòng, chống ô nhiễm không khí, Luật phòng chống ô nhiễm nước, Luật Phòng chống ô nhiễm chất thải rắn, Luật Bảo vệ môi trường biển, Luật tài nguyên khoáng sản, Luật bảo vệ nguồn nước Cụ thể, Điều 48 Luật phòng,

chống ô nhiễm không khí quy định: “Người vi phạm các quy định của Luật này,

thải các chất gây ô nhiễm vào khí quyển vượt quá tiêu chuẩn trong nước hoặc địa phương sẽ bị áp dụng hình phạt tiền với mức phạt từ 10.000 NDT đến 100.000 NDT” Ngoài ra tại Điều 82 Luật Bảo vệ môi trường biển: “Người nào thải các chất

34

Article 64 Law of the People's Republic of China on the Prevention and Control of Environmental Pollution http://english.sepa.gov.cn/Resources/laws/environmental_laws/200710/t20071009_109944.shtml, truy cập ngày 15/07/2017

http://english.sepa.gov.cn/Resources/laws/environmental_laws/200710/t20071009_109950.shtml

Environmental,Noise,

http://english.sepa.gov.cn/Resources/laws/environmental_laws/200710/t20071009_109950.shtml, truy cập ngày 15/07/2017

Trang 28

(3) Buộc đình chỉ kinh doanh hoặc buộc đóng cửa: là hình thức xử phạt áp

dụng đối với tổ chức được quy định trong Luật Phòng chống ô nhiễm không khí, Luật phòng chống ô nhiễm nước, Luật Phòng chống ô nhiễm chất thải rắn, Luật phòng chống ô nhiễm tiếng ồn, Luật Bảo vệ môi trường biển, Luật tài nguyên khoáng sản, Luật bảo vệ nguồn nước Cụ thể Điều 52 Luật phòng chống ô nhiễm

nước quy định: “Doanh nghiệp hoặc cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng đến các vùng

nước có thể phạt tiền theo thiệt hại hoặc có thể bị đình chỉ hoạt động hoặc đóng cửa” Ngoài ra tại Điều 82 Luật bảo vệ môi trường biển thì: “Hành vi xây dựng các

dự án công nghiệp gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường biển thì sẽ đóng cửa

dự án đó 38 ” Tác giả nhận thấy, hình thức xử phạt buộc đóng cửa quy định tại các

Luật về BVMT ở Trung Quốc đã xóa bỏ sự tồn tại của tổ chức trên thực tế, tổ chức không thể tiếp tục tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo ra giá trị của cải

vật chất Vì vậy, sẽ hợp lý hơn khi quy định buộc đóng cửa là hình phạt trong

BLHS áp dụng cho các tội phạm về môi trường

- Bêu tên trên các phương tiện thông tin đại chúng: Biện pháp bêu tên áp dụng

cho các doanh nghiệp, tổ chức có hành vi gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc ngoan cố, tái phạm nhiều lần Biện pháp này được quy định tại Điều 38 Luật BVMT 2014 Theo đó, Tòa án cấp quận sẽ có thẩm quyền ra quyết định bêu tên đối với doanh nghiệp, tổ chức trên phương tiện thông tin đại chúng Sau khi Luật Bảo

vệ môi trường 2014 của Trung Quốc có hiệu lực, Bộ Bảo vệ môi trường Trung Quốc đã tiến hành công khai tên của hơn 20 doanh nghiệp được xác định là vi phạm các quy định về môi trường Các nhà máy thép, nhà máy giấy, nhà máy điện và các nhà máy sản xuất hóa chất vừa bị nêu tên đã có hàng loạt sai phạm như không thực hiện lệnh đình chỉ hoạt động, trốn tránh các cuộc thanh tra và công bố sai dữ liệu về

Trang 29

23

hoạt động sản xuất39 Pháp luật trong lĩnh vực BVMT của Việt Nam cũng có quy định tương tự, tại Điều 57 Nghị định 155/2016/NĐ-CP về công bố công khai thông tin, thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp công khai thông tin về tình hình ô nhiễm

và vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, theo đó cá nhân, tổ chức

có các hành vi vi phạm hành chính dưới đây sẽ bị công bố công khai thông tin về tình hình ô nhiễm và vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường:

a) Cá nhân, tổ chức bị tước quyền sử dụng Giấy phép môi trường;

b) Cá nhân, tổ chức bị đình chỉ hoạt động gây ô nhiễm môi trường hoặc bị đình chỉ hoạt động của cơ sở gây ô nhiễm môi trường;

c) Cơ sở bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm buộc di dời địa điểm đến vị trí phù hợp với quy hoạch và sức chịu tải của môi trường;

d) Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường gây hậu quả lớn hoặc gây ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội

Dù Nghị định 155/2016 đã có quy định về các trường hợp bị công khai thông tin tình hình ô nhiễm và vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT tuy nhiên tính đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có doanh nghiệp nào bị áp dụng biện pháp công khai thông tin

So với các hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong pháp luật BVMT của Singapore, các hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong pháp luật BVMT của Trung Quốc được quy định khá chi tiết Trong các luật về BVMT của Trung Quốc

có sự quy định rõ hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung Đây là những điểm gần như tương tự với pháp luật của Việt Nam

1.2.3 Pháp luật hình sự về tội phạm môi trường của Trung Quốc

Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ II, ngày 01/07/1997, có hiệu lực vào ngày 01/01/1980 Sau đó, BLHS Trung Quốc tiếp tục được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1999, 2000,

2001 và gần đây nhất là tại Hội nghị lần thứ 14 của Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc lần thứ X năm 2005 BLHS Trung Quốc đã hình sự hóa các

hành vi nguy hiểm xâm hại đến môi trường tại Mục 6 “Các tội phạm xâm phạm việc

bảo vệ tài nguyên và môi trường” gồm 9 điều luật, từ Điều 338 đến Điều 346

Dựa vào khách thể, tội phạm môi trường ở Trung Quốc được chia thành 2 nhóm như sau:

- Các tội về hành vi gây ô nhiễm môi trường: Điều 338, Điều 339

http://baophapluat.vn/quoc-te/trung-quoc-day-manh-chien-dich-beu-ten-doanh-nghiep-gay-o-nhiem-312619.html (truy cập ngày 15/6/2017)

Trang 30

có cấu thành vật chất Còn các điều: Điều 339, Điều 34041, Điều 341, Điều 345 là những tội danh có cấu thành hình thức tức là hậu quả không phải là yếu tố bắt buộc

mà chỉ đóng vai trò là tình tiết định khung tăng nặng42

Xét về chủ thể thì pháp luật hình sự Trung Quốc truy cứu trách nhiệm hình sự

với cả cá nhân và pháp nhân, cụ thể Điều 69 BLHS Trung Quốc quy định:“Cá

nhân, tổ chức vi phạm Luật Bảo vệ môi trường cấu thành tội phạm thì phải chịu trách nhiệm hình sự”

Trước đây, khi Chính phủ Trung Quốc chính thức áp dụng chính sách cải cách

và mở cửa vào năm 1978, kinh tế tại quốc gia này là nền kinh tế kế hoạch, tập trung với mục tiêu chính là phát triển kinh tế nhà nước, chú trọng đến các hoạt động của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước chứ chưa quan tâm đến phát triển kinh tế

tư nhân Do đó, chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh chủ yếu tại Trung Quốc vào thời điểm này là các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, xí nghiệp và một số chủ thể pháp lý khác hoạt động dưới sự quản lý của nhà nước Đây là nguyên nhân mà pháp luật hình sự Trung Quốc không quy định tổ chức là chủ thể phạm tội trong BLHS Tuy nhiên vào năm 1978, nền kinh tế kế hoạch, tập trung bị sụp đổ và yêu cầu đặt ra cho Đảng Cộng sản Trung Quốc là xây dựng nên một nền kinh tế mới - Nền kinh tế mà các thành phần kinh tế tư nhân có điều kiện phát triển Từ sau năm

1979 hàng loạt công ty tư nhân được ra đời thay thế cho các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, kèm theo đó là sự gia nhập của nhiều các công ty liên doanh, các công ty nước ngoài, các tổ chức xã hội, các loại hình quỹ… Sau thời gian thực hiện chính sách mở cửa, nền kinh tế Trung Quốc đã có sự phát triển vượt bậc, tuy nhiên cũng đặt ra nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường cần được giải quyết, theo đó những

vi phạm pháp luật của các doanh nghiệp, tổ chức tư nhân cũng gia tăng nhanh chóng43 Để giải quyết thực trạng này, bắt buộc pháp luật của Trung Quốc phải thay đổi, chấp nhận các tổ chức là chủ thể thực hiện tội phạm trong các lĩnh vực, trong

41

Xem phụ lục 2: Các hành vi phá hoại tài nguyên môi trường trong BLHS Trung Quốc

http://www.fmprc.gov.cn/ce/cgvienna/eng/dbtyw/jdwt/crimelaw/t209043.htm, truy cập ngày 15/07/2017

crime-with-chinese-characteristics&catid=128:issues-in-2016&Itemid=684, truy cập ngày 15/07/2017

Trang 31

http://www.iiass.com/index.php?option=com_content&view=article&id=1023:criminalization-ofcorporate-25

đó có lĩnh vực BVMT Cuối cùng, TNHS của tổ chức được ghi nhận một cách chính thức trong BLHS 1997 tại Điều 3044, Điều 3145

Không dừng lại ở việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân, BLHS Trung Quốc còn áp dụng chế độ “trách nhiệm hình sự kép”, nghĩa là khi pháp nhân thực hiện tội phạm thì ngoài việc áp dụng hình phạt tiền đối với pháp nhân, người phụ trách trực tiếp và những người có trách nhiệm trực tiếp khác của pháp nhân phạm tội cũng phải chịu trách nhiệm hình sự Cụ thể, tại Điều 31 BLHS 1997 quy

định: “Người phụ trách trực tiếp và những người có trách nhiệm trực tiếp khác của

đơn vị cũng phải chịu trách nhiệm” Thêm vào đó, đối với các tội phạm môi trường

tại Điều 346 Mục 6 BLHS Trung Quốc: “Một tổ chức phạm tội quy định tại các

Điều 338 đến 345 thì bị phạt tiền, đồng thời người đứng đầu có trách nhiệm trực tiếp và nhân viên khác trực tiếp bị xử lý theo những quy định có liên quan đến chương này”.Về hệ thống hình phạt, tuỳ theo chủ thể thực hiện hành vi phạm tội là

cá nhân hay pháp nhân thì sẽ bị áp dụng các hình phạt tương ứng

Thứ nhất, đối với cá nhân phạm tội: hình phạt bao gồm hình phạt chính và

hình phạt bổ sung Cụ thể:

- Hình phạt chính bao gồm: kiểm soát hình sự, tạm giữ hình sự, tù có thời hạn

+ Kiểm soát hình sự46: là hình phạt áp dụng đối với cá nhân, theo đó cá nhân

sẽ bị kiểm soát, quản lý chặt chẽ từ phía cơ quan có thẩm quyền nhằm hạn chế khả năng tiếp tục thực hiện tội phạm trong thời gian từ ba tháng đến hai năm Việc ban hành phán quyết kiểm soát hình sự đối với người phạm tội được thực hiện bởi cơ

quan an ninh công cộng Đồng thời, người bị áp dụng biện pháp kiểm soát hình sự

phải tuân theo các quy tắc:

(i) Tuân theo pháp luật và các quy định hành chính, tự chịu trách nhiệm giám sát bản thân;

(ii) Không được thực hiện quyền tự do ngôn luận, báo chí mà không có sự chấp thuận của cơ quan thực hiện việc kiểm soát;

(iii) Báo cáo về các hoạt động của mình theo các quy tắc của cơ quan thực hiện nhiệm vụ kiểm soát;

(iv) Báo cáo và phải được sự chấp thuận của cơ quan thực hiện nhiệm vụ kiểm soát khi thay đổi nơi cư trú hoặc đi khỏi thành phố

44

Điều 30 BLHS Trung Quốc: “Công ty, xí nghiệp, đơn vị sự nghiệp, cơ quan, đoàn thể thực hiện hành vi

nguy hiểm cho xã hội, theo quy định của pháp luật bị coi là đơn vị phạm tội, đương nhiên phải chịu TNHS”

người trực tiếp quản lí và những người chịu trách nhiệm trực tiếp Nếu Bộ luật hình sự hoặc những luật khác

có quy định khác thì căn cứ theo những quy định đó”

Trang 32

26

Cụ thể Điều 340 BLHS Trung Quốc quy định: “Người nào vi phạm pháp luật

và các quy định về bảo vệ sản phẩm thuỷ sản, đánh bắt thuỷ sản trong khu cấm hoặc sử dụng các phương tiện vi phạm các quy định có tính chất nghiêm trọng thì

bị phạt tù không quá ba năm hoặc bị kiểm soát hình sự, ngoài ra còn bị phạt tiền”

hay Điều 345 quy định: “Người có hành vi khai thác trái phép lâm sản hoặc các

loại cây khác với số lượng tương đối lớn sẽ bị phạt tù hoặc bị tạm giữ hình sự hoặc

bị kiểm soát hình sự không quá ba năm, ngoài ra còn bị phạt tiền”

Về bản chất, kiểm soát hình sự được quy định trong BLHS Trung Quốc có nhiều điểm tương tự với hình phạt bổ sung là quản chế trong BLHS Việt Nam Cả hai hình phạt đều bắt buộc cá nhân phải cư trú tại một địa điểm nhất định dưới sự kiểm soát của cơ quan chức năng, trong thời gian bị áp dụng hai hình phạt này cá nhân bị tước một số quyền công dân đồng thời không được tự ý ra khỏi nơi cư trú Tuy nhiên, quản chế được BLHS Việt Nam quy định là hình phạt bổ sung sau khi cá nhân chấp hành xong hình phạt tù, do đó không được áp dụng độc lập Còn đối với hình phạt kiểm soát hình quy định trong BLHS Trung Quốc được quy định với tư cách là hình phạt chính

+ Tạm giữ hình sự47: Quy định tại các Điều 339 BLHS Trung Quốc: “Những

người nhập khẩu chất thải rắn làm nguyên liệu thô mà không có sự chấp thuận của các cơ quan hành chính liên quan của Hội đồng Nhà nước và gây ô nhiễm nghiêm trọng về môi trường, thiệt hại lớn đối với tài sản công cộng, tư nhân và gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ con người phải bị kết án không quá năm năm phạt tù hoặc tạm giữ hình sự, ngoài ra còn bị phạt tiền” hoặc Điều 340 BLHS Trung Quốc

quy định: “Người nào vi phạm pháp luật về bảo vệ thuỷ sản, đánh bắt thuỷ sản

trong khu cấm có tính chất nghiêm trọng thì bị phạt tù không quá ba năm, tạm giữ hình sự, kiểm soát hình sự, ngoài ra còn bị phạt tiền”

Về bản chất, biện pháp tạm giữ hình sự giống như hình phạt tù, nhằm cách li người phạm tội ra khỏi đời sống xã hội một thời gian Tuy nhiên, thời hạn tạm giữ hình sự thường không lâu: tối thiểu không quá 1 tháng và tối đa không quá 6 tháng Đồng thời trong thời gian bị tạm giữ hình sự người bị kết án hình sự có thể được xem xét cho về nhà một hoặc hai ngày mỗi tháng, có thể được xem xét tùy thuộc vào hoàn cảnh để áp dụng biện pháp bồi thường thay cho hình phạt tạm giữ hình sự Trong BLHS 2015 của Việt Nam không quy định về biện pháp này Tuy nhiên, tại một văn bản khác là Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quy định về biện pháp tạm giữ với tính chất là biện pháp ngăn chặn, áp dụng với hành vi phạm tội khi có căn cứ

47

Xem phụ lục 2: Các hành vi phá hoại tài nguyên môi trường trong BLHS Trung Quốc

Trang 33

27

chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn, cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc bị can, bị cáo sẽ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cũng như trường hợp bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã Thời hạn tạm giữ trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 không quá 9 ngày Tác giả nhận thấy, tội phạm môi về trường là hành

vi nguy hiểm cho xã hội, đe dọa đến an ninh sinh thái, gây đến con người và sinh vật, do vậy việc áp dụng hình phạt tạm giữ hình sự trong BLHS Trung Quốc là chưa

phù hợp, chưa phát huy tính nghiêm khắc của một hình phạt chính

+ Tù có thời hạn48: Được áp dụng với các tội phạm từ Điều 338 đến Điều 345 BLHS Trung Quốc Thời hạn của hình phạt tù đối với tội phạm về môi trường là từ sáu tháng đến mười năm, trừ trường hợp có quy định khác trong các Điều 5049 và

6950 của BLHS Trung Quốc Cụ thể, tại Điều 340 BLHS Trung Quốc quy định:

“Người nào lưu giữ, xử lý chất thải rắn từ nước ngoài vào trong nước bị kết án tù

không quá năm năm ngoài ra phải bị phạt tiền” Bên cạnh đó Điều 344 BLHS

Trung Quốc quy định: “Người nào vi phạm các quy định của Luật Lâm nghiệp và

khai thác trái phép trái phép cây có giá trị thì bị phạt tù không quá ba năm, ngoài

ra còn bị phạt tiền Trong những trường hợp nghiêm trọng, người phạm tội bị kết

án từ ba năm đến bảy năm, ngoài ra còn bị phạt tiền” Tương tự như các quy định

về hình phạt tù trong BLHS Trung Quốc, hình phạt tù được áp dụng cho tất cả tội phạm về môi trường trong BLHS Việt Nam Mức phạt tù tại BLHS Việt Nam cũng rất đa dạng: thấp nhất là 6 tháng, cao nhất là 15 năm Riêng đối với tội hủy hoại rừng và tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm có mức phạt tù tối đa là 15 năm Còn mức phạt tù mà BLHS Trung Quốc tối tiểu là 3 năm và tối đa là 10 năm (hành vi săn bắt trái phép động vật hoang dã, quý hiếm thuộc kế hoạch sản xuất chính của nhà nước hoặc mua, bán, bán bất hợp pháp động vật hoang dã, động vật hoang dã nguy cấp là hành vi phải gánh chịu hình phạt tù cao nhất là 10 năm)

- Hình phạt bổ sung gồm: phạt tiền và tịch thu tài sản

+ Phạt tiền 51 : Cũng như hình phạt tù có thời hạn, hình phạt tiền được quy định

từ Điều 338 đến Điều 345 BLHS Trung Quốc Khi xử phạt, mức tiền phạt được xác định theo hoàn cảnh của người phạm tội Khi hết hạn quy định trong bản án, người phạm tội bắt buộc nộp đầy đủ tiền phạt Trong trường hợp người bị kết án không trả

đủ tiền nộp phạt có thể bị Toà án áp dụng biện pháp cưỡng chế thực hiện Tuy

51

Xem phụ lục 2: Các hành vi phá hoại tài nguyên môi trường trong BLHS Trung Quốc

Trang 34

28

nhiên, BLHS lại không quy định mức phạt tiền cụ thể là bao nhiêu mà “mức phạt

tiền được quyết định căn cứ vào tình tiết của tội phạm, số tiền tối thiểu không được nhỏ hơn 1000 Nhân dân tệ 52 ” Tuy nhiên, hạn chế của quy định tội phạm về môi

trường trong BLHS Trung Quốc là tuy có quy định các trường hợp áp dụng hình phạt tiền nhưng lại không quy định cụ thể mức phạt là bao nhiêu, như Điều 340

BLHS Trung Quốc: “Người nào vi phạm pháp luật và các quy định về bảo vệ thuỷ

sản, đánh bắt thuỷ sản trong khu có tính chất nghiêm trọng thì bị phạt tù không quá

ba năm hoặc tạm giữ hình sự hoặc kiểm soát hình sự, ngoài ra còn bị phạt tiền” mà

BLHS Trung Quốc chỉ giới hạn mới tối thiểu: “Mức phạt tiền được quyết định căn

cứ vào tình tiết của tội phạm, số tiền tối thiểu không được nhỏ hơn 1000 Nhân dân

tệ ”.Với cách quy định chỉ giới hạn mức phạt tiền tối thiểu như BLHS Trung Quốc

sẽ tạo ra sự linh hoạt khi quyết định mức phạt tiền Bởi lẽ, mức phạt tiền phụ thuộc

rất nhiều vào tính chất, hậu quả nghiêm trọng của hành vi phạm tội cũng như biến động giá cả thị trường của từng thời kì Khác với các quy định trong BLHS Trung Quốc, BLHS 2015 của Việt Nam quy định theo khung phạt tù (mức tối thiểu – mức tối đa) Với cách quy định như pháp luật hình sự Việt Nam sẽ phân hóa trách nhiệm hình sự trong trường hợp người phạm tội có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tạo ra sự công bằng và thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật Bên cạnh đó, hình phạt tiền trong BLHS Việt Nam vừa là hình phạt chính vừa

là hình phạt bổ sung, nhưng theo quy định của BLHS Trung Quốc hình phạt tiền chỉ

là hình phạt bổ sung Quy định này phát sinh từ tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng và có xu hướng gia tăng tại Trung Quốc Hình thức xử phạt tiền tuy có tác động đến lợi ích kinh tế cá nhân nhưng chưa giúp cá nhân nhận thức đúng mức về hành vi phạm tội Bên cạnh đó, nhiều cá nhân sẵn sàng chấp nhận nộp tiền phạt để đạt được những lợi ích vật chất cao hơn Do vậy, nhằm thực hiện mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm môi trường, giáo dục ý thức người phạm tội, BLHS Trung Quốc không quy định hình phạt tiền là hình phạt chính đối với cá nhân mà thay vào đó là các hình phạt nghiêm khắc cách ly người phạm tội ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như: kiểm soát hình sự, tạm giữ hình sự, tù có thời hạn

Thứ hai, đối với pháp nhân phạm tội thì chỉ bị áp dụng một hình phạt chính là

phạt tiền

Cụ thể tại Điều 31 BLHS Trung Quốc:“Tổ chức nào phạm tội sẽ bị phạt tiền;

người phụ trách trực tiếp và những người có trách nhiệm trực tiếp khác của đơn vị cũng phải chịu trách nhiệm” Bên cạnh đó, Điều 346 BLHS Trung Quốc cũng quy

định: “Nếu một đơn vị phạm các tội tại các Điều 338 đến 345 thì bị phạt tiền, trong

Trang 35

29

khi người đứng đầu có trách nhiệm trực tiếp và nhân viên khác trực tiếp chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm thì bị xử lý theo quy định của những quy định có liên quan tại chương này” Ngoài việc truy cứu trách nhiệm của pháp nhân thì người

đứng đầu pháp nhân có trách nhiệm trực tiếp và nhân viên khác trực tiếp cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự như trường hợp cá nhân thông thường phạm tội Như vậy các quy định tội phạm về môi trường trong BLHS 1997 của Trung Quốc và BLHS 2015 của Việt Nam có nhiều điểm tương đồng như về hệ thống hình phạt, tính chất hình phạt, chủ thể bị áp dụng hình phạt Đồng thời, pháp luật hình sự Trung Quốc cũng quy định các tội phạm về môi trường thành một chương riêng trong BLHS Vì vậy, ở một chừng mực nào đó, Việt Nam có thể học hỏi nhiều quy định trong BLHS Trung Quốc, nhất là quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân

và trách nhiệm hình sự của cá nhân khi pháp nhân phạm các tội về môi trường Đây

sẽ là những điểm tác giả cần quan tâm, lưu ý khi xây dựng các kiến nghị hoàn thiện pháp luật BVMT của Việt Nam

Trang 36

30

Kết luận chương 1

Trong chương này, tác giả đã tiếp cận pháp luật BVMT của Trung Quốc, Singapore thông qua các khía cạnh: pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT và tội phạm về môi trường Về kĩ thuật lập pháp, tác giả nhận thấy cả pháp luật Singapore và Trung Quốc đều xây dựng một đạo luật khung đóng vai trò

là luật nền tảng điều chỉnh chung nhất, khái quát nhất hoạt động BVMT, đồng thời ban hành các Luật trong từng lĩnh vực BVMT cụ thể, các luật này sẽ quy định chi tiết về hành vi vi phạm và các loại chế tài xử lý Tuy nhiên, nếu pháp luật của Singapore quy định biện pháp xử phạt vi phạm hành chính và hình phạt vào cùng một văn bản Luật thì pháp luật Trung Quốc lại có sự tách biệt rõ ràng đối với hai loại trách nhiệm trên khi dành riêng một chương trong BLHS để quy định các tội phạm về môi trường Đây cũng chính là kĩ thuật lập pháp đang được áp dụng tại Việt Nam Đồng thời, đối với từng hình thức xử phạt và hình phạt được quy định trong pháp luật Singapore và Trung Quốc, tác giả đều có sự phân tích, so sánh, đối chiếu với các quy định trong Luật Bảo vệ môi trường 2014, Nghị định 155/2016/NĐ-CP, BLHS 2015 Từ đó tìm ra những nét tương đồng và khác biệt, đây sẽ là cơ sở để tác giả đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật tại Chương

2

Trang 37

31

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ XỬ LÝ VI PHẠM TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

2.1 Khái quát pháp luật bảo vệ môi trường của Việt Nam

Luật Bảo vệ môi trường 1993 được ban hành ngày 27/12/1993 có hiệu lực từ ngày 01/04/1994 là văn bản luật đầu tiên đặt nền móng cho việc hình thành hệ thống pháp luật trong lĩnh vực BVMT tại Việt Nam Luật Bảo vệ môi trường 1993 tuy đã có những quy định cơ bản về quyền và nghĩa vụ BVMT của các tổ chức, cá nhân liên quan đến các hoạt động như kiểm soát chất thải, chất gây ô nhiễm, phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường… nhưng do là văn bản luật đầu tiên trong lĩnh vực BVMT nên các quy định còn khá

sơ sài Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động BVMT tại Việt Nam đòi hỏi pháp luật phải có sự quy định chặt chẽ hơn Vì vậy, năm 2005, Việt Nam đã ban hành Luật Bảo vệ môi trường mới53

để thay thế cho Luật Bảo vệ môi trường

1993 So với Luật Bảo vệ môi trường 1993 thì Luật Bảo vệ môi trường 2005 không chỉ gia tăng về số lượng điều luật54 mà còn nâng cao về chất lượng nội dung quy định pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác BVMT

Tuy nhiên, sau một thời gian áp dụng, Luật Bảo vệ môi trường 2005 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập như một số quy định còn chưa phù hợp, chưa sát thực tế, thiếu cụ thể dẫn đến chậm đi vào cuộc sống, không theo kịp yêu cầu phát triển của thực tiễn và hội nhập quốc tế; còn những chồng chéo và khoảng trống trong các quy định của pháp luật; cơ chế, chính sách bảo vệ môi trường chậm đổi mới, chưa đồng

bộ với thể chế kinh tế thị trường; vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn diễn biến phức tạp trong khi công tác thanh tra, kiểm tra chưa được quan tâm đúng mức, chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe Bên cạnh đó còn có nhiều vấn đề mới nảy sinh như tác động của biến đổi khí hậu, an ninh môi trường, an ninh sinh thái đòi hỏi pháp luật về bảo vệ môi trường phải được cập nhật, bổ sung với các giải pháp đồng bộ,

đủ mạnh, có tính đột phá Chính vì vậy, ngày 23 tháng 6 năm 2014, Việt Nam ban hành Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi (Luật Bảo vệ môi trường 2014) Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 gồm 20 chương và 170 điều, kế thừa những nội dung và cấu trúc cơ bản của Luật Bảo vệ môi trường 2005; khắc phục hạn chế của những điều khoản thiếu tính thực thi; luật hóa những chủ trương, chính sách mới về BVMT; mở rộng và cụ thể hóa một số nội dung về BVMT; xử lý những trùng lặp và mâu thuẫn

01/7/2006

54

Luật BVMT năm 2005 có 15 chương, 136 điều So với Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 tăng 8 chương,

79 điều Tất cả các chương, điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 đều sửa đổi, bổ sung

Trang 38

32

với các luật khác để bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật; tạo tiền đề pháp lý để xây dựng các nghị định về BVMT và xây dựng các luật về bảo vệ các thành phần môi trường55

Tương tự như pháp luật của một số quốc gia khác như Trung Quốc và Singapore, ở Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường 2014 cũng đóng vai trò là luật khung trong hoạt động bảo vệ môi trường, bên cạnh đó, còn có các luật chuyên ngành khác về bảo vệ các thành phần môi trường như: Luật Thuỷ sản 2003, Luật khoáng sản 2010, Luật Tài nguyên nước 2012, Luật Bảo vệ phát triển rừng 2004, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật Dầu khí 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 2000 và 2008), Luật Biển Việt Nam 2012, Luật Đa dạng sinh học 2008…Tất

cả các văn bản này tập hợp lại tạo thành khung pháp lý vững chắc cho hoạt động bảo vệ môi trường tại Việt Nam

Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam có sự khác biệt với pháp luật Singapore trong cách quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực BVMT Cụ thể, các quy định về xác định hành vi vi phạm cũng như các biện pháp xử lý hành chính hay hình phạt hình

sự trong lĩnh vực BVMT không được quy định chung trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và các luật về bảo vệ các thành phần môi trường mà được quy định trong các văn bản riêng biệt – các vi phạm hành chính và biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT thì được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính

và các Nghị định về xử phạt VPHC, còn tội phạm về môi trường và các hình phạt thì được quy định thành một chương riêng trong BLHS Cách quy định này không chỉ áp dụng riêng cho lĩnh vực pháp luật về BVMT mà cũng là cách quy định chung của tất cả các lĩnh vực pháp luật khác của Việt Nam Điều này giúp tạo thành một

hệ thống các văn bản chuyên biệt về xử lý vi phạm hành chính và pháp luật về hình

sự cho tất cả các lĩnh vực pháp luật, tạo sự thuận lợi nhất định trong quá trình thực thi và áp dụng pháp luật Tuy nhiên, nó cũng có một số hạn chế, bất cập như nếu chỉnh sửa, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường và các luật về bảo vệ các thành phần môi trường thì cũng phải chỉnh sửa, bổ sung các văn bản về xử lý vi phạm hành chính và BLHS, nếu không sẽ tạo ra tình trạng không thống nhất, thiếu đồng bộ và

độ vênh giữa các văn bản pháp luật

Tóm lại, pháp luật về BVMT ở Việt Nam không chỉ bao gồm hệ thống các văn bản pháp luật quy định về nội dung của hoạt động BVMT mà còn bao gồm các văn bản dùng để áp dụng trong hoạt động xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT– bao gồm: xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự trong

http://moj.gov.vn/pbgdpl/Lists/DeCuongVanBan/View_Detail.aspx?ItemId=174 (truy cập ngày 16/7/2017)

Trang 39

33

lĩnh vực BVMT Và hệ thống các văn bản này không chỉ bao gồm cả các văn bản luật mà còn gồm các văn bản dưới luật như nghị định, thông tư để hướng dẫn thi hành luật

2.2 Pháp luật về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của Việt Nam

2.2.1 Khái niệm vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

2.2.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Xét về bản chất thì VPHC trong lĩnh vực BVMT là một trong các dạng vi phạm hành chính, vì vậy nó không chỉ chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật chuyên ngành về BVMT mà còn chịu sự điều chỉnh trực tiếp của các văn bản pháp luật về xử lý hành chính Hiện nay, trong các văn bản pháp luật hiện hành không có

quy định riêng biệt về khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, tuy

nhiên trong các quy định pháp luật trước đây thì khái niệm này đã từng được ghi nhận, cụ thể:

- Giai đoạn Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 đang có hiệu lực thi hành: khi đó Việt Nam chưa có Luật Bảo vệ môi trường nên chưa có khái niệm

vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, khi đó chỉ có khái niệm về vi phạm hành chính nói chung: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một

cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” 56

- Giai đoạn Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và Pháp lệnh xử lý

vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) đang có hiệu lực thi hành – khi đó Việt Nam đã có Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 và Luật Bảo vệ

môi trường năm 2005: giai đoạn này khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực

BVMT được quy định cụ thể trong các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính

trong lĩnh vực BVMT như:

+ Khoản 1 Điều 1 Nghị định 26 – CP năm 1996: “Mọi hành vi cố ý hoặc vô ý

vi phạm các quy tắc quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường (dưới đây gọi là vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường) của các tổ chức, cá nhân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.”

+ Khoản 2 Điều 1 của cả ba nghị định: Nghị định số 121/2004/NĐ-CP, Nghị

định số 81/2006/NĐ-CP, Nghị định số 117/2009/NĐ-CP đều quy định: “Vi phạm

hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là những hành vi vi phạm các quy

Trang 40

34

định quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định này phải bị xử lý vi phạm hành chính.”

Sở dĩ trong giai đoạn này khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT

phải được quy định cụ thể trong các Nghị định về xử phạt VPHC là vì trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) đều không có khái niệm chung về vi phạm hành chính Chính vì vậy, đòi hỏi bắt buộc trong các Nghị định về xử lý vi

phạm hành chính phải quy định cụ thể về khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh

vực BVMT, sau đó lại tiếp tục liệt kê xác định rõ vi phạm hành chính trong lĩnh vực

BVMT bao gồm những hành vi cụ thể nào để làm căn cứ xác định hành vi vi phạm

và áp dụng xử phạt trên thực tế

- Giai đoạn Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có hiệu lực thi hành cho đến nay (trong giai đoạn này Việt Nam ban hành Luật BVMT năm 2014 thay thế

cho Luật BVMT 2005): thì khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT

không còn được quy định trong các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT Cụ thể, trong Nghị định số 179/2013/NĐ-CP và Nghị định số 155/2016/NĐ-CP (thay thế cho Nghị định 179/2013/NĐ-CP và đang có hiệu lực thi

hành) đã không còn xuất hiện khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT

Điều này có thể xuất phát từ việc Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã đưa

ra khái niệm chung về vi phạm hành chính57 và khái niệm này được sử dụng cho tất

cả các loại hành vi vi phạm hành chính trong tất cả các lĩnh vực pháp luật, trong đó

có lĩnh vực bảo vệ môi trường Vì vậy, không nhất thiết phải đưa ra khái niệm riêng

biệt về vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, mà các Nghị định về xử phạt vi

phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT chỉ cần dựa vào khái niệm vi phạm hành chính chung rồi liệt kê các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT Tính đến thời điểm hiện nay, Việt Nam đã lần lượt ban hành 06 Nghị định có tên gọi là Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT58 nhưng điều này không có nghĩa là vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT chỉ bao gồm những hành vi được liệt kê trong các Nghị định này mà còn bao gồm các hành vi vi phạm hành chính được quy định trong các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính chuyên ngành khác Ví dụ như tại khoản 2 Điều 1 Nghị

nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”

Nghị định số 81/2006/NĐ–CP ban hành ngày 09/8/2006; Nghị định số 117/2009/NĐ–CP ban hành ngày 31/12/2009; Nghị định số 179/2013/NĐ–CP ban hành ngày 14/11/2013; Nghị định số 155/2016/NĐ–CP ban hành ngày 18/11/2016

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w