Ta có thể kể đến một số quan điểm nổi bậc sau: Thứ nhất, có khá nhiều quan điểm đã nhận định tranh tụng chính là cuộc tranh luận tranh cãi về vụ án mà trong đó các bên đưa ra lý lẽ
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRANH TRỤNG TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ
Khái niệm tranh tụng tại phiên tòa hình sự
Tranh tụng bắt nguồn từ tư tưởng của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại, đặc biệt Plato, người cho rằng đối thoại kéo dài về một vấn đề sẽ xuất hiện những dấu hiệu hoặc hiểu biết để hai bên cùng nhận ra sự thật Tư tưởng tranh tụng được áp dụng ở Hy Lạp cổ đại trước khi lan rộng sang La Mã với thủ tục hỏi đáp liên tục, rồi phổ biến sang các quốc gia châu Âu thời Trung cổ (thế kỷ 10–13) Hiện nay, khái niệm này trở nên quen thuộc với các hệ thống pháp luật dựa trên tiền lệ ở Anh, Mỹ, Úc và nhiều nước khác.
Xét về mặt từ ngữ, trong tiếng Hán - Việt, “Tranh tụng” là từ được ghép bởi
Tranh luận và tố tụng, hay còn gọi là “tranh luận trong tố tụng”, là quá trình tranh luận, bàn bạc nhằm giải quyết xung đột giữa hai chủ thể theo quy định của pháp luật Trong từ điển Tiếng Việt, tranh tụng được hiểu là “thưa kiện nhau để dành lẽ phải”; còn trong tiếng Anh, litigation là thuật ngữ dùng để mô tả thủ tục tố tụng được khởi xướng giữa hai bên đối lập để buộc thi hành hoặc bảo vệ một quyền hợp pháp Như vậy, về mặt từ ngữ, tranh tụng là sự cáo buộc, kiện tụng, đấu tranh giữa hai bên có lợi ích đối lập theo pháp luật; tuy nhiên, chỉ xét về mặt từ ngữ sẽ không thể lột tả hết bản chất của tranh tụng.
Trong lĩnh vực pháp lý, tranh tụng phát sinh khi hai bên trong một quan hệ pháp lý có xung đột lợi ích và chính họ không thể tự giải quyết Khi ấy, một chủ thể thứ ba được nhờ đóng vai trò trọng tài để phân xử, bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên và đảm bảo quyết định công bằng theo các quy định của pháp luật.
Tranh tụng là diễn tiến xảy ra khi hai chủ thể trong cùng một quan hệ pháp lý có lợi ích trái ngược nhau, liên tục mâu thuẫn, đấu tranh và phủ định lẫn nhau Sự xung đột này kéo dài đến mức hai bên không thể tự giải quyết bằng ý kiến và lập luận của mình, dẫn tới tình trạng tranh chấp leo thang Khi đó, một chủ thể thứ ba được xem như trọng tài trung lập, phân xử và phán quyết để bảo đảm công bằng và hợp pháp, chấm dứt tranh chấp một cách có căn cứ, từ đó bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mỗi bên.
2 Khoa luật trường đại học Cannor Mỹ (2001), “Cải cách Toà án”, Thông tin khoa học xét xử (1), tr.10
3 Ban biên soạn chuyên từ điển: New Era (2005), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr 1966
4 https://law.freeadvice.com/litigation/litigation/litigation.htm, truy cập ngày 09/07/2017
5 Nguyễn Trương Tín (2007), Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam có nhiều luận văn thạc sĩ được trình bày tại Trường Đại học Luật TP.HCM, cho thấy tranh tụng có thể diễn ra ở các tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và tố tụng hành chính Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, người viết tập trung vào tranh tụng trong tố tụng hình sự, đặc biệt là tranh tụng tại phiên tòa hình sự – đỉnh điểm của quá trình tranh tụng trong tố tụng hình sự.
Hiện nay, trong khoa học pháp lý Việt Nam, khái niệm tranh tụng đã trở nên quen thuộc và không còn là một khái niệm xa lạ Tuy nhiên, trước năm 2002, vấn đề tranh tụng ở nước ta vẫn còn khá mới mẻ, và có nhiều ý kiến cho rằng nội dung này chưa được thừa nhận đầy đủ.
Tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam đã thu hút sự quan tâm ngày càng lớn kể từ khi ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp; sau đó, ngày càng nhiều tác giả đề cập đến tranh tụng trong tố tụng hình sự nói chung và tại phiên tòa hình sự nói riêng Hiện vẫn chưa có một khái niệm chính thức về tranh tụng, nhưng mỗi quan điểm lại vẽ ra một khía cạnh, một góc độ khác nhau của bức tranh tranh tụng Có thể kể đến một số quan điểm nổi bật được trình bày trong các công trình nghiên cứu và bài viết, phản ánh sự đa chiều của vấn đề.
Có nhiều quan điểm cho rằng tranh tụng chỉ là cuộc tranh luận về vụ án, nơi các bên trình bày lý lẽ, chứng cứ và văn bản pháp luật nhằm bảo vệ quan điểm buộc tội hoặc bào chữa của mình Tuy nhiên, các khẳng định này thường đồng nhất tranh tụng với một mô hình tố tụng hoặc với hoạt động tranh luận của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm Tranh tụng có thể được hiểu là sự tranh luận dựa trên các lý lẽ, chứng cứ và văn bản làm cơ sở cho sự buộc tội hay bào chữa và được thể hiện trong toàn bộ thủ tục tố tụng Theo tác giả, các quan điểm trên chưa phản ánh đầy đủ bản chất của tranh tụng, vì chúng bỏ qua vai trò và diễn tiến tố tụng ở từng cấp độ, từ đó làm giảm sự hiểu đúng và tiềm năng nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên trong xét xử hình sự.
Chuyên đề VKSTC (2014) mang đến phân tích về tranh tụng và những giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên trong xét xử hình sự nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp Bài viết nhấn mạnh vai trò then chốt của kiểm sát viên trong quá trình tranh tụng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng, đảm bảo tính công khai, công bằng và minh bạch trong xét xử hình sự Tham khảo tại http://www.vksndtc.gov.vn/khac-306, truy cập ngày 6/6/2017.
7 Nguyễn Đức Mai (1995), “Tranh tụng trong Tố tụng hình sự”, Tạp chí Nhà Nước và Pháp luật, (1), tr 31
Trong bài viết năm 2002 của 8 Từ Văn Nhũ về Đổi mới thủ tục xét xử nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự, tác giả nhấn mạnh rằng tranh luận và tranh tụng có mối quan hệ mật thiết nhưng không đồng nhất Tranh luận là một thủ tục độc lập của phiên tòa hình sự, đứng sau phần xét hỏi; ở phần tranh luận, các bên bằng lời nói và tư duy để tổng hợp, đánh giá giá trị chứng cứ cũng như các nội dung đã được trình bày trong phần xét hỏi trước đó Tính tranh tụng được thể hiện rất rõ ở phần tranh luận, song tranh luận không bao quát được toàn bộ bản chất của tranh tụng Tranh tụng không chỉ giới hạn ở những lời đối đáp tại tòa mà còn thể hiện qua các hoạt động tố tụng khác Vì vậy, tác giả không đồng tình với các quan điểm cho rằng tranh luận và tranh tụng là đồng nhất.
Quan điểm thứ hai cho rằng tranh tụng là quá trình xác định sự thật khách quan về vụ án và đồng thời là phương tiện để đạt được các mục đích, nhiệm vụ do luật TTHS đề ra, bảo đảm cho các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng và cho phép TTHS thực hiện chức năng của mình ở mọi giai đoạn; theo tôi, quan điểm này có phần hợp lý và phần chưa hợp lý: chưa hợp lý ở chỗ tranh tụng không phải là quá trình xác định sự thật khách quan về vụ án, vì sự thật của vụ án được chứng minh thông qua quá trình tố tụng và chứng minh tội phạm; tuy nhiên, Nguyễn Đức Mai cho rằng tranh tụng là một tiền đề và phương tiện quan trọng để xác định sự thật vụ án đồng thời là cơ sở bảo đảm cho các chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng Khi tranh tụng được bảo đảm, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được phân định rõ ràng, từ đó việc thực hiện chức năng tố tụng đạt hiệu quả cao; ngược lại, thiếu tranh tụng làm cho các hoạt động tố tụng trở nên phiến diện và một chiều Do vậy, tranh tụng là tiền đề quan trọng để xác định sự thật khách quan của vụ án.
Tranh tụng là quá trình cọ xát quan điểm và lập luận giữa các chủ thể buộc tội và bên bào chữa tham gia vào tố tụng hình sự nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án Quá trình này chỉ thực sự được tiến hành khi có sự hiện diện đầy đủ của các bên buộc tội và bào chữa dưới sự kiểm tra, giám sát của Tòa án Tôi đồng tình với khái niệm của tác giả Lê Tiến Châu: tranh tụng là quá trình các bên đối thoại, trao đổi quan điểm và lập luận về các vấn đề của vụ án để làm rõ các chứng cứ và các yếu tố pháp lý liên quan.
9 Nguyễn Đức Mai (1996), “Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự”, Tạp chí luật học, số (1), tr 23-24
10 Lê Tiến Châu (2003) nêu vấn đề về tranh tụng trong TTHS nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án và mở rộng phạm vi tranh tụng cả ở các giai đoạn tiền xét xử, chứ không chỉ ở phiên tòa; theo quan điểm của tác giả, tranh tụng bắt đầu và kết thúc khi có sự hiện diện đầy đủ của ba bên (buộc tội, bào chữa, xét xử) tại phiên tòa, nên quan niệm tranh tụng chỉ diễn ra ở phiên tòa là phiến diện và bỏ qua quá trình tranh tụng ở các giai đoạn tiền xét xử; tuy nhiên, quan điểm này bị phản biện rằng ngay ở giai đoạn điều tra và khởi tố vẫn có sự tranh tụng giữa bên buộc tội và bên bào chữa, khi phía buộc tội đưa ra căn cứ buộc tội còn phía bào chữa đưa ra luận cứ, căn cứ và tài liệu để phản biện; cơ quan điều tra tiếp nhận và làm rõ các căn cứ này và, nếu hợp lý, hợp pháp, tiến hành tố tụng ra quyết định đình chỉ điều tra, cho thấy tranh tụng không phiến diện và vẫn diễn ra trong các giai đoạn tiền xét xử Vì vậy, tranh tụng không chỉ giới hạn ở phiên tòa mà còn hiện hữu ở các giai đoạn tiền xét xử, và quan điểm cho rằng tranh tụng chỉ tại phiên tòa là chưa hợp lý.
Nguyễn Thái Phúc cho rằng tranh tụng là quá trình tồn tại, vận động và đấu tranh giữa hai chức năng đối trọng nhau, có quyền ngang nhau trong việc bảo vệ ý kiến, lập luận và lợi ích của mình và phản bác ý kiến, lập luận và lợi ích của phía đối phương: chức năng buộc tội và chức năng bào chữa Quan điểm này làm rõ quá trình tranh tụng hơn so với các quan điểm trước đó và được nhiều học giả đồng thuận Theo ông, tranh tụng bắt đầu khi hai chức năng buộc tội và bào chữa tồn tại, như hai mặt đối lập vận động không ngừng: thu thập chứng cứ, tư duy và lý luận nhằm đấu tranh bảo vệ ý kiến, lập luận và lợi ích của mình đồng thời phủ định ý kiến, lập luận và lợi ích của đối phương Quá trình này tạo ra các mâu thuẫn và quá trình giải quyết mâu thuẫn sẽ làm sáng tỏ các quan điểm và luận cứ của hai bên.
11 Nguyễn Thái Phúc (2003), “Dự thảo BLTTHS sửa đổi và nguyên tắc tranh tụng”, Tạp chí Nhà nước và
Trong số Pháp luật, số 9, trang 7, các mâu thuẫn và sự thật khác quan của vụ án được hé mở; chức năng buộc tội và bào chữa được xem như hai đối thủ trong quá trình tranh tụng Để các chức năng này thực hiện tốt nhiệm vụ và bảo đảm tranh tụng công bằng, cần có sự ngang bằng về quyền, phương tiện và cơ hội để bảo vệ ý kiến, lợi ích của mỗi bên.
Vấn đề tranh tụng tại phiên tòa hình sự trong các mô hình tố tụng
Tranh tụng là yếu tố có mặt trong mọi mô hình tố tụng và đóng vai trò cốt lõi trong quá trình giải quyết vụ án Tuy nhiên sự thể hiện của tranh tụng khác nhau giữa các mô hình tố tụng ở mức độ tham gia và hình thức diễn đạt, từ mức độ cơ bản đến mức độ phức tạp Đồng thời, chủ thể tham gia tranh tụng cũng có sự khác biệt đáng kể tùy thuộc vào hệ thống pháp lý và cơ chế tố tụng được áp dụng Do đó, khi phân tích các mô hình tố tụng, cần nắm bắt sự đa dạng của tranh tụng về mức độ và vai trò của các chủ thể để đánh giá đúng đặc thù của từng mô hình.
1.2.1 Mô hình tố tụng tranh tụng
Mô hình tố tụng tranh tụng ra đời ở Hy Lạp cổ đại và sau đó được La Mã tiếp nhận, được biết đến với tên gọi "Thủ tục hỏi đáp liên tục" (Procedure des questions perpetuelle) Hiện nay, hầu hết các nước theo hệ thống luật án lệ như Anh và Mỹ áp dụng mô hình tố tụng tranh tụng Trong mô hình này, vấn đề tranh chấp được thể hiện một cách rõ ràng, đậm nét qua các đặc điểm nổi bật của quy trình, giúp các bên trình bày và đánh giá chứng cứ một cách có hệ thống.
17 Ban cán sự Đảng VKSNDTC, Đề án mô hình TTHS Việt Nam, 2012
Trong mô hình tố tụng tranh tụng, sự thật được tìm ra thông qua tranh luận công bằng giữa hai bên dựa trên các dữ liệu vụ án chính xác mà các bên thu thập được, và một trong những đặc điểm nổi bật của mô hình này là sự phân chia rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các chủ thể thực hiện chức năng tố tụng: công tố viên hoặc đại diện của người bị hại buộc tội, luật sư bào chữa cho bị cáo, và các bên được đảm bảo điều kiện, phương tiện và cơ hội ngang nhau để thực hiện chức năng tố tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đồng thời bác bỏ và phản đối những gì bất lợi bằng cách đặt câu hỏi kiểm tra nhân chứng và chứng cứ, đồng thời có quyền đối chất và ngắt lời khi nhận thấy sự vi phạm tố tụng; nói cách khác, hai bên là đối thủ của nhau tại phiên tòa trong việc thực hiện chức năng buộc tội và gỡ tội Thẩm phán và bồi thẩm đoàn là các chủ thể thực hiện chức năng xét xử, tòa án là trọng tài trung lập; họ không được tiếp xúc hay có hiểu biết trước về vụ án mà phải lắng nghe lý lẽ và chứng cứ được trình bày để có phán quyết đúng đắn và công bằng đồng thời kiểm soát cuộc tranh tụng tại phiên tòa Nếu công tố viên có thể chứng minh tội phạm một cách thuyết phục, thẩm phán và bồi thẩm đoàn sẽ kết án, còn ngược lại, luật sư có thể bảo vệ thành công cho bị cáo và bị tuyên trắng án; thẩm phán và bồi thẩm đoàn không có nhiệm vụ chứng minh tội phạm hay xác định sự thật vụ án một cách riêng biệt mà phán quyết dựa trên các chứng cứ, lý lẽ được trình bày trước tòa Vai trò của thẩm phán và bồi thẩm đoàn tại phiên tòa hình sự tương đối thụ động, và sự phân định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tố tụng trong mô hình này thúc đẩy cuộc tranh tụng diễn ra một cách mạnh mẽ và công bằng.
Trong hệ thống tư pháp, tranh tụng chỉ thực sự xuất hiện rõ nét và ở mức cao nhất tại phiên tòa, khi phiên tòa diễn ra như một cuộc điều tra công khai với sự có mặt đầy đủ của các bên tố tụng Chỉ những chứng cứ được trình bày và kiểm tra tại phiên tòa mới tuân thủ quy định nghiêm ngặt về chứng cứ và nguyên tắc tranh tụng, và được Thẩm phán chấp nhận mới có giá trị chứng minh Vì vậy, các tài liệu và chứng cứ được thu thập trước khi mở phiên tòa không được xem là chứng cứ cũng như không nói lên sự thật khách quan của vụ án Tuy nhiên, đây là những căn cứ mà các bên chuẩn bị để chứng minh sự buộc tội hoặc bào chữa của mình và đồng thời dùng để phản bác, đặt nghi vấn đối với lập luận và chứng cứ của bên đối thủ Do vậy, tính tranh tụng thể hiện rõ nhất tại phiên tòa phần lớn là do các bên đối trọng nhau đưa ra các lập luận và quan điểm để bảo vệ hoặc bác bỏ lời khai của nhân chứng và chứng cứ.
Mặc dù ưu điểm lớn của mô hình tố tụng tranh tụng là sự tranh luận công khai giúp bảo vệ quyền con người trong suốt quá trình tố tụng, nó vẫn tồn tại những khuyết điểm và hạn chế cần xem xét Trong mô hình này, các bên tự soạn hồ sơ cho mình, trong khi thẩm phán và hội đồng xét xử không được tiếp xúc với hồ sơ trước khi mở phiên tòa, điều này đảm bảo tính công bằng và cho cả hai bên trình bày đầy đủ vấn đề của vụ án Ưu điểm là thẩm phán không chịu ảnh hưởng bởi định kiến cá nhân và sẽ lắng nghe hai bên để đi tới quyết định đúng đắn dựa trên lập luận, chứng cứ và quan điểm thuyết phục nhất; đồng thời, nó thúc đẩy các bên tranh luận tích cực để đưa ra các căn cứ, chứng cứ và lý lẽ thuyết phục Tuy nhiên, do thẩm phán và hội đồng xét xử chỉ nắm lấy 'sự thật của vụ án' từ những chứng cứ và lời khai trình bày tại tòa, không có nghĩa vụ xác định sự thật tuyệt đối—sự thật ở đây có thể là sự thật được thuyết phục nhất chứ không phải là sự thật khách quan Bên cạnh đó, toàn bộ quá trình làm rõ sự thật khách quan thông qua tranh luận tại phiên tòa thường tốn nhiều thời gian và nguồn lực của hệ thống tư pháp.
1.2.2 Mô hình tố tụng thẩm vấn
Trong thế kỷ 13, tố tụng thẩm vấn được áp dụng như một hình thức kỷ luật do Giáo Hoàng Innocent III thiết lập, thể hiện sự nghiêm ngặt của hệ thống pháp lý giáo hội thời Trung cổ Đến cuối thế kỷ 15 và tiếp tục suốt các thế kỷ sau, cơ chế này vẫn được duy trì nhằm duy trì trật tự và kiểm soát các hành vi sai phạm trong giáo hội, cho thấy ảnh hưởng lâu dài của tố tụng thẩm vấn đối với lịch sử pháp lý Công giáo.
Nhắc đến tố tụng thẩm vấn, người ta thường hình dung những hình ảnh tra tấn độc ác nhằm ép buộc lời nhận tội, dù đây là di sản của quá khứ Có thể nói, người bị bắt luôn bị cho là có tội cho tới khi họ có thể chứng minh được sự vô tội của mình Ngày nay, tố tụng thẩm vấn không còn sự tra tấn hay ngược đãi, nhưng tầm quan trọng của lời nhận tội vẫn tồn tại và có thể ảnh hưởng đến kết quả xét xử Khác với mô hình tố tụng tranh tụng, tranh chấp trong tố tụng thẩm vấn hiện lên ở mức độ mờ nhạt do các đặc điểm riêng của kiểu tố tụng này.
Thứ nhất, mô hình tố tụng thẩm vấn coi trọng việc kiểm soát và trấn áp tội phạm Mục đích tìm ra sự thật của vụ án chính là vấn đề quan trọng nhất Vì vậy quá trình giải quyết vụ án là một cuộc điều tra, kể cả phiên toà cũng được xem như sự tiếp tục điều tra làm rõ, xem xét tính hợp pháp và có căn cứ của các chứng cứ đã được thu thập trong các giai đoạn trước Công tố viên không đại diện cho người bị hại mà đại diện quyền lực nhà nước thực hiện chức năng buộc tội Cơ quan nhà nước tiến hành các hoạt động điều tra bằng hình thức viết, bí mật và không trực diện nhằm thu thập chứng cứ buộc tội và gỡ tội Chính vì vậy, vai trò của luật sư bào chữa tương đối mờ nhạt Ngoài ra, mô hình tố tụng thẩm vấn đòi hỏi sự hợp tác của người tham gia tố tụng trong khi mô hình tranh tụng không đòi hỏi sự hợp tác này Người tham gia tố tụng có nghĩa vụ phải khai báo khi bị thẩm vấn, họ không có quyền im lặng và thậm chí là người tham gia tố tụng bị tra tấn, ngược đãi nhằm lấy được lời khai, lời nhận tội
Thứ hai, đó là vai trò tích cực của Thẩm phán Trong tố tụng thẩm vấn, chức năng chính của thẩm phán là xét xử Tại phiên tòa xét xử theo mô hình tố tụng thẩm vấn, Thẩm phán trực tiếp và tích cực thẩm vấn nhân chứng, kiểm tra chứng cứ buộc tội lẫn chứng cứ gỡ tội Công tố viên và luật sư bào chữa có vai trò rất thụ động và hầu như không tranh tụng với nhau tại phiên toà hình sự Điều này tạo nên cảm giác rằng thẩm phán thực hiện cả chức năng buộc tội Mặc dù, chức năng buộc tội của Thẩm phán có phần mờ nhạt hơn so với chức năng xét xử Đồng thời, mô hình tố tụng thẩm vấn cũng không chú trọng tạo cho những người bị buộc tội những quyền để họ bảo vệ mình trước cơ quan tư pháp Điều này khiến cho phiên toà hình sự theo mô hình tố tụng thẩm vấn hoàn toàn khác với phiên toà theo mô hình tố tụng tranh tụng Trong khi phiên toà theo mô hình tranh tụng diễn ra sôi nổi bởi sự tranh tụng giữa công tố viên và luật sư bào chữa thì phiên toà theo mô hình tố tụng thẩm vấn diễn ra như sự tiếp tục điều tra, thẩm vấn Ưu điểm lớn nhất của mô hình tố tụng thẩm vấn là kiểm soát tốt tội phạm Bởi vì các hoạt động tố tụng đều do cơ quan đại diện quyền lực nhà nước trực tiếp thực hiện Nếu có sự bóp méo, che giấu sự thật từ những người tham gia tố tụng đều dễ dàng bị cơ quan tiến hành tố tụng nhận ra Đồng thời, với quyền lực của mình, cơ quan tiến hành tố tụng thuận lợi hơn khi thực hiện các hoạt động thu thập chứng cứ, lấy lời khai Bên cạnh đó, mục đích tìm ra sự thật của vụ án là mục đích tối quan trọng nên mô hình tố tụng thẩm vấn không đặt nặng về hình thức: Các vi phạm thủ tục tố tụng không đáng kể có thể sẽ được bỏ qua nếu mục đích tìm ra sự thật vụ án vẫn đạt được Từ đó, việc giải quyết vụ án, phiên toà xét xử diễn ra nhanh chóng hơn rất nhiều so với mô hình tố tụng tranh tụng Tuy nhiên, mô hình tố tụng thẩm vấn vẫn tồn tại những khuyết điểm Tình trạng bức cung, nhục hình, ép cung xảy ra thường xuyên khi mà lời nhận tội là “chứng cứ vua”, các cơ quan tiến hành tố tụng kể cả thẩm phán cũng phải chịu áp lực chứng minh tội phạm trong khi luật sư với vai trò bào chữa mờ nhạt, sự tranh tụng không được chú trọng, từ đó thiếu đi sự phản biện cần thiết trong hoạt động chứng minh tội phạm mà dẫn đến sự phiến diện, suy nghĩ một chiều từ cơ quan tiến hành tố tụng Quyền con người, quyền công dân không thể bảo đảm khi mà quyền và nghĩa vụ các bên trong tranh tụng không được cân xứng Người thực hiện chức năng buộc tội có hầu hết các quyền lợi thuận tiện cho việc thực hiện chức năng của mình, trong khi quyền và lợi ích của chủ thể thực hiện chức năng bào chữa mờ nhạt, không được chú trọng, quan tâm
Mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng thẩm vấn đều có ưu điểm và hạn chế riêng, nên hiện nay hầu như không quốc gia nào theo đúng một mô hình tố tụng thuần túy Xu hướng chung là chọn lọc những yếu tố tích cực từ từng mô hình để phù hợp với truyền thống pháp luật, điều kiện kinh tế và văn hóa xã hội của mỗi nước Việt Nam cũng vậy, chúng ta xác định Việt Nam là một mô hình tố tụng thẩm vấn nhưng vẫn tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tích cực từ mô hình tố tụng tranh tụng nhằm hoàn thiện hệ thống tố tụng của nước nhà.
Vai trò, ý nghĩa của tranh tụng tại phiên tòa hình sự
Trước đây, nhiều quan điểm cho rằng tranh tụng không đáng thừa nhận và nâng cao tranh tụng sẽ gây khó khăn cho người thi hành pháp luật cũng như tạo điều kiện cho người phạm tội biện hộ hành vi, làm phức tạp hoạt động điều tra, truy tố và xét xử trong tố tụng hình sự Tuy nhiên, ngày nay có nhiều bài viết và phân tích ủng hộ việc thừa nhận và nâng cao tranh tụng, bởi mọi người đã nhận ra tranh tụng không chỉ là một yếu tố tất yếu mà còn mang ý nghĩa thực sự trong quá trình tư pháp Ba ý nghĩa chính của tranh tụng có thể tóm gọn như sau: 1) bảo vệ quyền bị cáo; 2) nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử; 3) tăng cường công bằng và minh bạch của tố tụng hình sự.
Tranh tụng là sự phản biện cần thiết cho hoạt động chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng và áp lực phải chứng minh bằng được tội danh có thể khiến họ vô tình hoặc có ý phớt lờ chứng cứ, tình tiết có thể gỡ tội Nếu thiếu sự tham gia phản biện từ người bào chữa và người bị buộc tội, hoạt động chứng minh sẽ dễ trở nên tùy tiện, phiến diện, dẫn đến oan sai và những hậu quả khó khắc phục Bên cạnh đó, tranh tụng còn giúp ngăn ngừa các tiêu cực tố tụng như ép cung, nhục hình và hối lộ Đồng thời, các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội được bảo đảm, và tranh tụng đóng vai trò bảo vệ quyền con người trong các hoạt động tố tụng.
Tranh tụng không chỉ là nơi đối thoại giữa các bên mà còn tạo ra một môi trường đòi hỏi sự rèn luyện liên tục để nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, từ đó bảo vệ và thuyết phục về quan điểm, chứng cứ và luận cứ một cách thuyết phục Ví dụ, để có thể bào chữa cho thân chủ một cách hiệu quả, luật sư phải nắm vững thủ tục tố tụng hình sự, có kiến thức chuyên môn sâu và tích lũy kinh nghiệm cùng chiến lược bào chữa Để đạt được điều đó, họ cần thường xuyên theo dõi các quy định pháp luật, trau dồi kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm thực tiễn nhằm thực hiện tốt chức năng bào chữa Vì vậy, tranh tụng tạo ra môi trường yêu cầu các bên trong tranh tụng không ngừng hoàn thiện, nâng cao trình độ và hướng tới một tranh tụng công bằng như tiền đề để tìm ra sự thật khách quan của vụ án, đồng thời nâng cao nhận thức và niềm tin của người dân vào vai trò của luật sư cũng như cơ quan tiến hành tố tụng.
Ở mức độ ba, mối quan hệ giữa chức năng buộc tội và chức năng bào chữa được xác định rõ hơn Sự phân công quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể thực hiện các chức năng cơ bản đã rõ ràng, góp phần xác định sự thật khách quan của vụ án Thẩm phán không gánh vác quá nhiều trách nhiệm: chỉ thực hiện chức năng xét xử; chức năng buộc tội và chức năng bào chữa được phân công cho các chủ thể phù hợp, nhằm đảm bảo sự minh bạch và công bằng trong tố tụng Điều này tạo nên thế kiềng ba chân vững chắc cho hệ thống tư pháp.
3 chân” cân bằng trong các hoạt động tố tụng nhằm bảo vệ tốt các quyền con người đồng thời kiểm soát được tội phạm
Phân tích cho thấy tranh tụng đóng vai trò quan trọng trong quá trình chứng minh tội phạm, đồng thời vẫn bảo đảm các quyền con người Vì vậy, chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng tố tụng hình sự nói chung cũng như tại phiên tòa xét xử nói riêng, bằng cách nghiên cứu tranh tụng ở các nước khác và học hỏi những yếu tố, thủ tục tích cực phù hợp với nước ta.
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ LIÊN BANG HOA KỲ VÀ VIỆT NAM
Vai trò của các chủ thể tham gia tranh tụng theo quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự của Việt Nam và Hoa Kỳ
Tranh tụng tại phiên toà xét xử là đỉnh điểm của quá trình tranh tụng, nơi xuất hiện đầy đủ ba chủ thể quan trọng: buộc tội, bào chữa và xét xử Tại phiên toà này, các chức năng cơ bản được thực thi: bên buộc tội trình bày chứng cứ và lý lẽ để buộc tội; bên bào chữa bảo vệ quyền và lợi ích của bị cáo; và hội đồng/xét xử tiến hành đánh giá chứng cứ, đưa ra kết luận và ra phán quyết Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, số lượng, quyền hạn, nghĩa vụ và địa vị pháp lý của các chủ thể thực hiện các chức năng cơ bản này có sự khác biệt, dẫn tới sự khác biệt về hiệu quả thực thi và cách thức tiến hành tranh tụng.
2.1.1 Vai trò của Công tố viên và kiểm sát viên
Trong các vụ án hình sự liên bang, người thực hiện chức năng buộc tội là công tố viên liên bang (hay còn gọi là luật sư chính phủ), có thể là Tổng Chưởng lý hoặc trợ lý được ủy quyền, hoặc một luật sư liên bang khác được quyền tham gia; khi áp dụng cho các vụ án theo Luật Guam, Tổng Chưởng lý Guam hoặc người được Guam ủy quyền đóng vai trò là luật sư chính phủ, và có thể có bất kỳ luật sư nào khác được pháp luật trao quyền tiến hành tố tụng với vai trò công tố viên; họ có quyền tự quyết định vụ án nào nên được giải quyết ngoài tòa hay tại tòa; công tố viên phải có mặt tại phiên xử để đại diện cho Hoa Kỳ công bố cáo trạng cụ thể; theo Nguyên tắc truy tố liên bang (Principles of Federal Prosecution) Mục 9-27.220, một công tố viên bắt đầu hoặc đề xuất truy tố liên bang khi tin rằng hành vi của một người cấu thành tội phạm liên bang và bằng chứng được chấp nhận có thể dẫn tới kết án và mang lại lợi ích đáng kể cho Liên bang từ việc truy tố, và công tố viên phải cung cấp bằng chứng để thuyết phục bồi thẩm đoàn và thẩm phán về sự hợp lệ của cáo trạng.
18 Tố tụng hình sự Hoa kỳ, nguyên tắc 1, (b), (1)
Nguyên tắc truy tố liên bang quy định rằng công tố viên liên bang nên khởi tố hoặc đề nghị truy tố khi cho rằng hành vi của bị cáo cấu thành tội phạm liên bang, bằng chứng hợp lệ có khả năng thu thập và duy trì một bản án, và một lợi ích liên bang đáng kể sẽ được phục vụ bởi việc truy tố; mức chứng cứ để kết án phải vững chắc và vượt qua nghi ngờ hợp lý Công tố viên cần chuẩn bị nhân chứng và vật chứng cụ thể, bảo vệ lời buộc tội trước các lập luận của luật sư bào chữa bằng nhiều cách như kiểm tra chéo nhân chứng, tấn công uy tín của nhân chứng và công khai lời khai khi có lý do hợp lệ Tuy việc xét xử và tuyên án là nhiệm vụ của toà án, điều này không đồng nghĩa với việc công tố viên chấm dứt vai trò sau khi ra quyết định buộc tội hoặc án được tuyên; công tố viên còn có nhiệm vụ đề xuất cho toà án hình phạt phù hợp sau khi bị kết tội Công tố viên không có quyền hạn giám sát toà án và đồng thời phải trao cho luật sư bào chữa những thông tin hoặc chứng cứ có thể giúp cho việc bào chữa, bao gồm lời khai trước của các nhân chứng phía công tố Như vậy, về chức năng buộc tội, công tố viên Hoa Kỳ so với Kiểm sát viên Việt Nam không có sự khác biệt lớn, nhưng ngoài chức năng buộc tội, Kiểm sát viên Việt Nam còn thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân thủ pháp luật bởi cơ quan điều tra và cả toà án theo quy định tại điều 42, 267 của BLTTHS năm 2015; sự khác biệt này bắt nguồn từ lịch sử hình thành và truyền thống pháp luật của hai nước.
Ở Việt Nam từ năm 1945 đến 1958, cơ quan công tố chưa tách rời khỏi hệ thống Tòa Án, hoạt động mang nhiều điểm tương đồng với viện công tố theo truyền thống pháp luật Châu Âu Năm 1959, cơ quan công tố tách khỏi hệ thống tòa án, trở thành một cơ quan độc lập trực thuộc Chính phủ Nhiệm vụ chung của Viện Công tố là điều tra và truy tố người vi phạm pháp luật hình sự; đồng thời giám sát việc tuân thủ và chấp hành pháp luật nhà nước trong quá trình điều tra, xét xử và thi hành án Đến năm 1960, trong bối cảnh nền chính trị nước ta còn non yếu, cần được củng cố, bồi đắp để bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh trên khắp đất nước và tránh tình trạng “phép nước thua lệ làng” Viện công tố Việt Nam sau đó trở thành Viện kiểm sát theo hiệp pháp.
1959 thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà
20 Khoản 4, Mục 9-27.720, Nguyên tắc truy tố Liên Bang, Sổ tay luật sư Hoa Kỳ, https://www.justice.gov/usam/usam-9-27000-principles-federal-prosecution
21 Mục 9-27.730, Nguyên tắc truy tố liên bang, Sổ tay luật sư Hoa Kỳ, https://www.justice.gov/usam/usam-9- 27000-principles-federal-prosecution
22 Mục 9-27.750, Nguyên tắc truy tố liên bang, Sổ tay luật sư Hoa Kỳ, https://www.justice.gov/usam/usam-9- 27000-principles-federal-prosecution
Vào ngày 01/7/1959, Nghị định số 256-TTg quy định nhiệm vụ và tổ chức của Viện Công Tố Sau đó, do sự chồng chéo chức năng với cơ quan thanh tra và khối lượng công việc quá tải, Viện Công Tố gặp nhiều bất cập Hiến pháp Việt Nam năm 1992 đã thu hẹp phạm vi hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, bỏ đi chức năng kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước, và từ đó đến ngày nay chỉ còn thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Với sự phát triển của tư duy và khoa học pháp lý, có quan điểm cho rằng công tố là một giai đoạn của hoạt động tư pháp và Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thực hiện công tác giám sát tư pháp, dẫn đến hiện tượng tự giám sát và tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”; do đó, cần bỏ nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử vụ án hình sự và thậm chí cả quá trình tố tụng hình sự, để Kiểm sát viên chỉ thực hiện quyền công tố Theo đó, bỏ chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát, kể cả kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động tố tụng, bởi vì điều tra vụ án thuộc chức năng của cơ quan thực hành quyền công tố, việc xét xử ở tòa án cấp dưới do tòa án cấp trên đảm nhận, và giám sát thi hành án hình sự là lĩnh vực hành pháp cũng như giám sát các lĩnh vực quản lý khác đã có cơ quan thanh tra thực hiện Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng xác định: “Nghiên cứu việc chuyển …”
Viện kiểm sát chuyển đổi thành Viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố viên trong hoạt động điều tra và giám sát tư pháp Điều này có nghĩa là dần quay lại mô hình trước năm 1960, khi VKS chủ yếu thực hiện quyền công tố và bỏ qua nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp Mô hình này gần giống với cách Viện công tố Hoa Kỳ vận hành hiện nay.
Hiện nay mục tiêu của chúng ta là xây dựng một nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam – nơi coi trọng vị trí tối thượng của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm Hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm ngặt nhất để bảo vệ quyền con người Vì vậy, hoạt động kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của Viện kiểm sát tại phiên tòa xét xử hình sự càng không thể xem nhẹ, đặc biệt trong công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng hiện nay Tham nhũng thường gắn liền với sự lạm quyền, không thực hiện hoặc thực hiện sai các quy định của pháp luật nhằm trục lợi.
24 Điều 105, Hiếp pháp nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, năm 1959
25 Thái Vĩnh Thắng (2008), “Viện công tố thay thế viện kiểm sát nhân sẽ được tổ chức và hoạt động như thế nào?”, Tạp chí luật học, (2)
Ý nghĩa của quyền công tố và vai trò của kiểm sát việc tuân thủ pháp luật tại phiên tòa là yếu tố then chốt để đảm bảo công bằng và khách quan trong xét xử, với VKS cùng sự lãnh đạo của VKS cấp trên và VKSND tối cao nhưng vẫn có mức độ độc lập nhất định so với cơ quan địa phương và chịu trách nhiệm trước Quốc hội; nếu bỏ chức năng này, sẽ mất đi một cơ chế giám sát tương đối hiệu quả chứ không chỉ đơn thuần thay đổi chức năng của một cơ quan, trong khi Hoa Kỳ và một số nước đã nhận ra nhược điểm của mô hình viện công tố thuần túy và chi phí cho kiểm sát nhằm chống tham nhũng là đáng kể; do đó, dù có ý kiến ủng hộ mô hình viện công tố theo tiêu chuẩn Mỹ, ở Việt Nam hiện nay việc chuyển đổi là chưa thuyết phục vì tham nhũng chưa được kiểm soát tốt và thiếu cơ chế thay thế hiệu quả; trước mắt cần hoàn thiện các quy định và nâng cao chất lượng hoạt động của kiểm sát viên để thực hiện tốt hơn quyền công tố, chức năng buộc tội và nâng cao chất lượng tranh tụng trong các phiên tòa hình sự.
Kể từ khi BLTTHS 2003 có hiệu lực, kiểm sát viên đã tích cực và chủ động tham gia thực hành quyền công tố, nâng cao chất lượng và hiệu quả tranh tụng tại tòa Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa 13, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao khẳng định những chuyển biến tích cực về chất lượng tranh tụng và kết quả xét xử; trong năm không có trường hợp kiểm sát viên từ chối tranh luận hay đối đáp với luật sư, người bào chữa, điều này được cho là đóng góp vào phán quyết của Tòa án một cách khách quan, chính xác và đúng sự thật, hạn chế oan sai Trong công tác chuẩn bị, kiểm sát viên đã nghiên cứu hồ sơ, nắm chắc chứng cứ và tình tiết vụ án, xây dựng đề cương xét hỏi và dự kiến các tình huống có thể phát sinh tại phiên tòa Tại phiên tòa, bản luận tội của kiểm sát viên ngày càng hoàn thiện, chủ động đối đáp và làm rõ các vấn đề luật sư nêu ra, thể hiện thái độ nghiêm túc và chuẩn mực nghề nghiệp.
Chủ đề “Tranh tụng và những giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của kiểm sát viên trong xét xử hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” quy tụ 27 báo cáo chuyên đề phân tích thực trạng tranh tụng tại các phiên tòa hình sự, chỉ ra các yếu tố tác động đến chất lượng tranh tụng và đề xuất các giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát và công tố Các báo cáo nhấn mạnh vai trò của kiểm sát viên trong bảo đảm quyền bào chữa, quyền công khai và minh bạch, đồng thời gợi ý tăng cường năng lực chuyên môn, chuẩn hóa quy trình công tố, tăng cường phối hợp với các bên tố tụng, ứng dụng công nghệ thông tin và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả Mục tiêu là thúc đẩy cải cách tư pháp thông qua một hệ thống tranh tụng chất lượng cao hơn, hướng tới xét xử công bằng và tăng cường niềm tin của xã hội vào hoạt động của hệ thống tư pháp.
Tuy nhiên, một số kiểm sát viên vẫn mang tâm lý ngại tranh luận với luật sư bào chữa, đặc biệt trong các vụ án có nhiều luật sư tham gia bào chữa cho các bị cáo, thường đối đáp lệch lạc và lúng túng khi xuất hiện những vấn đề mới cần làm sáng tỏ tại phiên tòa; có trường hợp kiểm sát viên không theo dõi và ghi chép đầy đủ diễn biến hỏi đáp hoặc khi luật sư bào chữa trình bày ý kiến dẫn đến đối đáp không đúng hoặc không đủ Đáng chú ý nhất là tư tưởng và tâm lý “bằng mọi giá phải buộc tội” của một số kiểm sát viên: ngay cả khi chứng cứ, lập luận và quan điểm truy tố chưa thực sự thuyết phục, hoặc khi HĐXX yêu cầu đối đáp lại lời bào chữa của luật sư, họ vẫn từ chối và kiên định giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố; có lúc họ còn nói rằng “việc này để dành cho Hội đồng xét xử quyết định” Chính vì vậy chất lượng tranh tụng tại phiên tòa chưa cao và tình trạng truy tố oan sai vẫn còn xảy ra; giai đoạn 2005–2015 có khoảng 350 bị cáo được Tòa án tuyên không phạm tội do chưa có đầy đủ chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm Vấn đề ở đây không chỉ nằm ở quy định của pháp luật mà còn ở tư tưởng của các Kiểm sát viên về buộc tội quá cứng nhắc Ở Hoa Kỳ, các Prosecutor có tư tưởng rõ ràng: nhiệm vụ là tìm kiếm công lý chứ không phải kết tội; theo tiêu chuẩn của ABA, công tố viên phải tìm kiếm công lý và bảo vệ quyền con người, tôn trọng pháp luật ngay cả khi điều đó khó khăn hoặc đòi hủy bỏ lời buộc tội Đó là tư tưởng tiến bộ mà kiểm sát viên cần có để thực hiện tốt hơn chức năng của mình; do đó, vấn đề của Viện Kiểm sát không chỉ ở quy định pháp luật mà còn ở tư tưởng và kỹ năng chuyên môn của kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa hình sự cần được tăng cường để bảo vệ công lý và đảm bảo tranh tụng chất lượng.
2.1.2 Vai trò của Thẩm phán
28 “Luật sư nói về Án oan, án bỏ túi”, http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/human-right-activist-the- story-behind-the-bar-02202017091124.html, ngày 01/03/2018, 16:55
29 Nguồn: Cục Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin, VKSNDTC, “Báo cao tổng kết công tác ngành
Tòa án năm 2015 của TANDTC”
Under the ABA’s 30 Standards on Prosecution, the core duty of the prosecutor is to seek justice, not merely to convict, guiding charging decisions, plea negotiations, and trial conduct in service of the public interest The standard 3-1.2(c) emphasizes that fairness, accuracy, and due process must trump the pursuit of victory, requiring prosecutors to pursue the truth, disclose exculpatory evidence, avoid reckless or unwarranted prosecutions, and refrain from prosecuting when the evidence or probability of conviction is insufficient By embedding integrity, accountability, and respect for defendants’ rights into daily practice, these standards aim to uphold the legitimate authority of the office and maintain public confidence in the justice system.
Chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự phụ thuộc hai yếu tố quyết định: thẩm phán độc lập và công bằng, và sự bình đẳng về cơ hội, phương tiện giữa bên buộc tội và bào chữa để các bên thực hiện đúng chức năng của mình Sự độc lập của thẩm phán và vai trò của họ như trọng tài trong xét xử là yếu tố then chốt giúp nền tư pháp bảo đảm quá trình tranh tụng diễn ra khách quan và công bằng Khi hai bên có cơ hội tiếp cận và sử dụng các công cụ pháp lý như nhau, chất lượng tranh tụng được nâng cao và phiên tòa sơ thẩm hình sự trở nên hiệu quả hơn Việt Nam có thể tham khảo mô hình thẩm phán độc lập và cơ chế bảo vệ quyền bào chữa của Hoa Kỳ để cải thiện chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa sơ thẩm hình sự.
Trong hệ thống tố tụng hình sự liên bang Hoa Kỳ, thẩm phán liên bang là người thực hiện chức năng xét xử; họ được Tổng thống bổ nhiệm với sự đồng ý của Thượng viện theo Điều III, Khoản 1 Hiến pháp Hoa Kỳ và giữ chức vụ suốt đời hoặc cho tới khi nghỉ hưu nhằm đảm bảo độc lập tư pháp, không cơ quan nào được giảm lương của họ Thẩm phán có thể đến từ các luật sư hành nghề lâu năm, công tố viên giàu kinh nghiệm hoặc thậm chí giảng viên luật, mang theo kinh nghiệm điều tra và nhận biết các thủ thuật mà công tố viên và luật sư bào chữa thường sử dụng để lấp liếm sai sót Trong các phiên tòa hình sự liên bang, thẩm phán đóng vai trò trọng tài trung lập giữa công tố viên và luật sư bào chữa, có nhiệm vụ lắng nghe, xem xét chứng cứ, lập luận, chất vấn, tranh luận và kiểm soát quá trình tố tụng theo các quy tắc pháp lý; thẩm phán xác định những thông tin được chấp nhận làm chứng cứ để trình lên bồi thẩm đoàn và quyết định hình phạt nếu bồi thẩm đoàn tuyên có tội, nhưng điều này chỉ xảy ra sau khi hai bên đã được trình bày đầy đủ lý lẽ và chứng cứ.
Kỳ không làm nhiệm vụ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo hay bào chữa cho
Trình tự, thủ tục tại phiên tòa hình sự theo quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự của Việt Nam và Hoa Kỳ
Tố tụng Hình sự của Việt Nam và Hoa Kỳ
Trong các bộ phim về luật sư Mỹ, phiên tòa được mô tả như một trận đấu đầy kịch tính, nhanh chóng và đầy mưu hiểm, nơi các luật sư dễ dàng tranh luận để đạt được tuyên án trắng án cho thân chủ Tuy nhiên, thực tế lại khác xa; các phiên tòa diễn ra chậm rãi, từ tốn và trang nghiêm, với cả luật sư bào chữa lẫn công tố viên đều thận trọng ở từng giai đoạn, cân nhắc và phân bổ thời gian trình bày một cách hợp lý để có thể truyền đạt các lập luận một cách hiệu quả nhất Phiên tòa được tiến hành theo một trình tự các bước cụ thể.
Những tuyên bố mở đầu
Mọi nhân chứng và bị hại sẽ bị cách ly hoàn toàn và не được vào phòng xử án cho đến khi được triệu tập lên Tòa, nhằm ngăn họ nghe lời khai của nhau và bảo đảm lời khai của họ tại phiên tòa không bị ảnh hưởng Đồng thời, tòa án sẽ hướng dẫn sơ bộ cho bồi thẩm đoàn – những người chưa quen với luật pháp – về các quy định, quyền và nghĩa vụ tại phiên tòa hình sự, giải thích quy trình xét xử và nhắc nhở họ không được nói về vụ án với bất kỳ ai, dù là trong hay ngoài phòng xử án.
Sau phần hướng dẫn sơ bộ, công tố viên và luật sư sẽ trình bày tuyên bố mở đầu trước bồi thẩm đoàn; trong phiên tòa có bồi thẩm đoàn, các tuyên bố này sẽ chi tiết và dài dòng hơn nhằm giúp bồi thẩm đoàn định hướng cho hai bên, xác định các bằng chứng sẽ được xuất trình, các nhân chứng sẽ được triệu tập và mỗi bên sẽ tìm cách chứng minh quan điểm của mình Sau lời trình bày của công tố viên, luật sư bào chữa có quyền trình bày lời mở đầu của mình, quyền này thường được bảo lưu cho tới khi bên buộc tội công bố chính xác các chứng cứ sẽ được đưa ra Sau phần trình bày tuyên bố mở đầu, phần lấy chứng cứ (phần chất vấn) sẽ bắt đầu.
61 Tô Văn Hòa (2012), tlđd (34), tr 425
Giống Hoa Kỳ, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định trước khi hỏi người làm chứng, chủ tọa phiên tòa phải quyết định biện pháp cách ly để các nhân chứng không nghe lời khai của nhau (Điều 304, 309 BLTTHS 2015) Tuy nhiên, thực tế việc cách ly chưa được thực hiện triệt để: nhiều người làm chứng và bị cáo ngồi cùng nhau trong phòng xét xử, có thể nghe lời khai của nhau vì hầu hết các cơ sở tòa án chưa bố trí phòng cách ly âm; hệ quả là lời khai của bị cáo và người làm chứng có thể bị ảnh hưởng, gây khó khăn cho việc chứng minh sự thật và gỡ tội, khi lời khai trở thành “nguyên liệu” cho công tố viên và luật sư bào chữa, làm giảm tính khách quan của quá trình tố tụng So sánh với Hoa Kỳ cho thấy sự khác biệt rõ nét: ở phiên tòa Mỹ, nhân chứng ở bên ngoài phòng cách ly và chỉ vào phòng xét xử khi được triệu tập, không được nghe lời khai của người khác và chỉ khai những gì họ biết, từ đó dễ nhận diện mâu thuẫn và lời khai ít bị chi phối Do đó, Việt Nam cần cân nhắc mở rộng biện pháp cách ly không chỉ với người làm chứng và bị cáo mà còn với các bị hại, nguyên đơn, bị đơn dân sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi được triệu tập, nhằm nâng cao tính khách quan và hiệu quả của quá trình xét xử.
Lấy chứng cứ (phần chất vấn)
Phiên tòa xét xử hình sự bắt đầu bằng tuyên bố mở đầu và phần chất vấn, trong đó công tố viên trình bày cáo buộc và các bằng chứng được xác thực như viên đạn, mẫu xét nghiệm máu, dấu vân tay, nhằm thuyết phục thẩm phán và các bồi thẩm viên về hành vi phạm tội của bị cáo Những nhân chứng này sẽ được công tố viên khai trực tiếp tại tòa, đối chất chéo với luật sư bào chữa, sau đó được tái khám; thẩm phán có thể đặt một vài câu hỏi khi cần Công tố viên có quyền độc lập quyết định ai được triệu tập và trình tự xuất hiện của nhân chứng và vật chứng Thẩm phán kiểm soát một cách hợp lý cách thức và trình tự thẩm vấn để làm sáng tỏ sự thật, tránh lãng phí thời gian và bảo vệ nhân chứng khỏi sự bối rối Bị hại và luật sư của họ không có vai trò đặc biệt trong phiên tòa ngoài việc cung cấp lời khai nếu được triệu tập; tuy vậy, công tố viên thường triệu tập bị hại làm nhân chứng, song cũng có lúc họ không làm như vậy Bị cáo có quyền từ chối khai và không bắt buộc trả lời bất cứ câu hỏi nào trừ khi họ quyết định khai báo như một nhân chứng, khi đó họ sẽ bị thẩm vấn bởi công tố viên, luật sư bào chữa và có thể là thẩm phán.
Một khi bắt đầu kiểm tra trực tiếp, công tố viên sẽ đặt câu hỏi với nhân chứng truy tố; trước khi ra làm chứng, nhân chứng phải đọc 'lời tuyên thệ' hoặc 'lời khẳng định' cam kết sẽ trình bày sự thật Lời tuyên thệ được thiết kế thành mẫu đơn có tác động mạnh mẽ lên lương tâm của nhân chứng, nhằm đảm bảo tính trung thực của lời khai và tăng cường tính thẩm quyền của phiên tòa.
62 Stephen Seabrooke & John Sparack (2004), Criminal evidence & procedure, Black Stone Press limited,
Following any opening speech, prosecution witnesses are called and subjected to direct examination by the prosecutor, cross-examination by the defence, and re-examination by the prosecutor; the bench may then ask the witnesses questions.
63 Điều 611a, Quy tắc Liên Bang về chứng cứ (Federal Rules of Evidence 2010)
Quy tắc Liên bang về chứng cứ, đặc biệt Điều 603, yêu cầu mọi nhân chứng phải tuyên thệ hoặc khẳng định trước khi làm chứng để bảo đảm lời khai trung thực và đáng tin cậy Đây được xem như một biện pháp mềm, linh hoạt, hỗ trợ quá trình khai báo bằng cách tôn trọng quyền của người làm chứng và tạo điều kiện cho sự thành thật, kể cả với những người theo tôn giáo hay trẻ em Việc thề hoặc khẳng định giúp củng cố tính xác thực của chứng cứ và duy trì tính công bằng trong quy trình tố tụng dựa trên sự thật Nhờ tính linh hoạt và sự nhạy cảm với đa dạng hoàn cảnh, Điều 603 đóng vai trò then chốt trong hệ thống Quy tắc Chứng cứ Liên bang.
“Lời khẳng định” là sự cam kết làm chứng nghiêm túc và đúng sự thật Nếu nhân chứng cố ý cho lời khai giả dối thì họ có khả năng sẽ bị kết tội khai man và bị phạt hoặc bỏ tù không quá 5 năm hoặc cả hai 65
Trong quá trình hỏi, nếu luật sư bào chữa tin rằng câu hỏi hoặc câu trả lời đó vi phạm các quy tắc Liên Bang về chứng cứ (FRE) thì họ sẽ lập tức phản đối ngay, bên công tố có thể lập tức đưa phản biện nếu tin rằng mình không vi phạm và thẩm phán sẽ quyết định phản đối có hiệu lực hay không Thẩm phán có thể chấp nhận sự phản đối của luật sư bằng cách cấm các câu hỏi, câu trả lời hoặc bác bỏ sự phản đối của luật sư khi xét thấy công tố viên trình bày hợp lý 66
Sau khi công tố viên kết thúc phần hỏi, luật sư bào chữa có cơ hội chất vấn chéo nhân chứng của bên buộc tội, hoặc có thể từ chối chất vấn chéo và mất cơ hội hỏi nhân chứng ấy; khi cần thiết, họ có thể đưa nhân chứng trở lại phần bào chữa để tiến hành trực vấn, với các câu hỏi mang tính chất không dẫn dắt như trong chất vấn chéo Kiểm tra chéo không always trực tiếp xác định sự thật khách quan mà chủ yếu nhằm mục đích bồi thẩm đoàn và thẩm phán xem nhân chứng ấy có đáng tin hay lời khai có được chấp nhận thành chứng cứ hợp pháp hay không Điều này rất quan trọng đối với các bên tố tụng, vì nếu một nhân chứng quan trọng nhưng lời khai của họ không được biến thành chứng cứ hợp pháp thì việc buộc tội sẽ gặp khó khăn và bị cáo có thể được tuyên vô tội Vì vậy trong kiểm tra chéo, luật sư thường dùng những câu hỏi dẫn dắt để làm nhân chứng nhầm lẫn, mất bình tĩnh hoặc khai báo không nhớ rõ, hoặc dùng thủ thuật để kiềm chế nhân chứng bằng các dạng câu hỏi điển hình như: “Làm sao ông/bà biết được điều đó?” Do đó, nhân chứng tham gia phiên tòa thường chịu áp lực lớn, và nếu người bào chữa không chuẩn bị tâm lý vững vàng, họ có thể bị bất ngờ trước các phát sinh.
66 Vụ State v Johnston, 344 N.C 596 (1996) (tòa án không cho phép lặp lại các câu hỏi); Vụ State v Jaynes,
342 N.C 249 (1995) (giới hạn các câu hỏi lặp đi lặp lại); vụ State v Cook, 280 N.C 642 (1972) (cấm các câu trả lời lặp lại)
Theo tham khảo của Elisabeth Pelsez (2003), luật sư dễ dàng bị dẫn dắt vào các hướng câu hỏi có lợi cho bên bào chữa Để bảo vệ nhân chứng khỏi sự tấn công quá mức, Thẩm phán chỉ cho phép thẩm vấn những vấn đề nằm ngoài phạm vi kiểm tra trực tiếp và liên quan đến uy tín, sự chân thật của nhân chứng; Thẩm phán cũng cho phép thẩm vấn rộng hơn nhằm làm rõ các vấn đề đã trình bày trong phần kiểm tra trực tiếp nhưng chưa được làm rõ Vì vậy, khi thấy những câu hỏi không liên quan đến vụ án hoặc không phù hợp, bên công tố viên có quyền phản đối và hiệu quả của phản đối hay bị bác bỏ sẽ do Thẩm phán quyết định.
Cách đặt câu hỏi trong chất vấn chéo sẽ khác với cách hỏi kiểm tra của bên công tố; trong chất vấn chéo, luật sư có quyền được đặt những câu hỏi dẫn dắt (leading questions).
“Câu hỏi dẫn đắt”: Thông thường, đó là câu hỏi mà nhân chứng phải trả lời
Trong câu hỏi dẫn dắt, từ "có" hoặc "không" được dùng để bao hàm các yếu tố và ý định của người đặt câu hỏi nhằm dẫn người trả lời nói theo ý họ Ví dụ, khi muốn hỏi nhân chứng về việc họ làm gì hoặc ở đâu, một câu hỏi không mang ý dẫn dắt sẽ là: "Ngày X tháng Y bạn đang ở đâu?", còn một câu hỏi mang ý dẫn dắt sẽ là: "Ngày X tháng Y bạn đang có mặt tại nhà của bị hại đúng không?" Sự khác biệt giữa câu hỏi trung lập và câu hỏi có gợi ý nằm ở mức độ tác động đến câu trả lời và chất lượng thông tin thu được trong quá trình phỏng vấn.
Theo điểm c, điều 611 quy tắc chứng cứ của Liên Bang, các câu hỏi dẫn dắt không nên được áp dụng trong kiểm tra trực tiếp nhân chứng mà mình đưa ra, trừ khi dùng để phát triển lời khai của nhân chứng đó Tòa án cho phép đặt câu hỏi dẫn dắt trong kiểm tra chéo, kiểm tra nhân chứng thù địch.