1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trách nhiệm dân sự trong pháp luật nhà lê giai đoạn 1428 – 1527 (thế kỷ XV)

74 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó giai đoạn 1428 – 1527 được xem là giai đoạn phát triển cực thịnh của pháp luật phong kiến, điển hình có Bộ Quốc triều hình luật chứa đựng những yếu tố tiến bộ rất gần với tư tưở

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH -*** -

ĐẶNG HOA TRANG MSSV:0855040091

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ TRONG PHÁP

Trang 2

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ QUA

CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN VIỆT NAM 4

1.1 Khái quát về trách nhiệm dân sự 4

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm dân sự 4

1.1.2 Phân loại trách nhiệm dân sự 11

1.1.3 Vai trò của trách nhiệm dân sự trong pháp luật phong kiến việt nam 15

1.1.4 Vị trí của trách nhiệm dân sự trong pháp luật phong kiến việt nam 17

1.2 Sự phát triển của trách nhiệm dân sự qua các triều đại phong kiến Việt Nam 20

1.2.1 Trách nhiệm dân sự trong pháp luật thời ngô – đinh – tiền lê 20

1.2.2 Trách nhiệm dân sự trong pháp luật thời lý – trần – hồ 21

1.2.3 Trách nhiệm dân sự trong pháp luật thời lê sơ và nội chiến phân liệt 22

1.2.4 Trách nhiệm dân sự trong pháp luật thời nguyễn 28

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT NHÀ LÊ GIAI ĐOẠN 1428 – 1527 VÀ GIÁ TRỊ CÓ THỂ KẾ THỪA 32

2.1 Các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm dân sự trong pháp luật nhà Lê giai đoạn 1428 - 1527 32

2.1.1 Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật 32

2.1.2 Sự tổn thất thực tế 34

2.1.3 Lỗi của người gây ra tổn thất 37

2.2 Các trường hợp đặc biệt của trách nhiệm dân sự 41

2.2.1 Trách nhiệm dân sự về những tổn thất do lỗi của người thứ ba gây ra 41

2.2.2 Trách nhiệm dân sự về những tổn thất do loài vật gây ra 43

Trang 3

2.2.3 Trách nhiệm dân sự về những tổn thất do đồ vật gây ra 45

2.3 Sự bồi thường thiệt hại 46

2.3.1 Các căn cứ xác định mức độ bồi thường 46

2.3.2 Các phương thức bồi thường thiệt hại 51

2.4 Các trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm dân sự và miễn trách nhiệm dân sự 57

2.4.1 Trường hợp giảm nhẹ trách nhiệm dân sự 57

2.4.2 Trường hợp miễn trách nhiệm dân sự 59

2.5 Những giá trị có thể kế thừa của pháp luật nhà Lê thế kỷ XV về trách nhiệm dân sự trong giai đoạn hiện nay 60

KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

“Lịch sử hoài thai chân lý, nó có thế kháng cự với thời gian, có thể dìm đi những việc cũ, nó là dấu tích của thời xa xưa, là gương soi của đương đại, là lời giáo huấn cho thế hệ sau” (Cervantes)

Không ai có thể phủ nhận vai trò to lớn của lịch sử, lịch sử là bài học kinh nghiệm cho sự phát triển bền vững của hiện tại và tương lai Xã hội loài người đang từng ngày bước đi trên nền tảng mà ông cha đã xây dựng ngàn đời để gặt hái những thành quả vĩ đại Chính vì lẽ đó, trên con đường phát triển Nhà nước và pháp luật hiện đại không thể thiếu vắng sự nghiên cứu một cách nghiêm túc và có hệ thống Nhà nước và pháp luật trong lịch sử

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường quan hệ dân sự trở nên phổ biến và ngày càng phức tạp Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là hết sức cần thiết Vì vậy, thông qua pháp luật nói chung và những qui định về trách nhiệm dân sự nói riêng Nhà nước có thể hạn chế sự xâm hại đến quyền lợi của công dân, đảm bảo sự tồn tại và vận hành bình thường của xã hội Hiện nay, trách nhiệm dân sự được qui định thành một chế định khá đầy đủ và rõ ràng Tuy nhiên, trên thực tiễn việc áp dụng pháp luật còn gặp một số khó khăn và vướng mắc

Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của chế định trách nhiệm dân sự cũng như để giải quyết những bất cập vẫn đang tồn tại, việc quan trọng và cần thiết hơn hết là học hỏi kinh nghiệm lập pháp của ông cha ta để có một cách nhìn tổng quát, đầy đủ

và sâu sắc về vấn đề này Chính vì lý do đó, tác giả xin chọn đề tài “Trách nhiệm dân sự trong pháp luật nhà Lê giai đoạn 1428 – 1527 (thế kỷ XV)” – giai đoạn

phát triển rực rỡ của pháp luật phong kiến Việt Nam để làm khóa luận tốt nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Tác giả nghiên cứu đề tài nhằm mục đích

 Làm sáng tỏ sự phát triển của trách nhiệm dân sự qua các triều đại phong kiến Việt Nam, từ đó thấy rằng trách nhiệm dân sự trong pháp luật nhà Lê thế kỷ

XV so với các triều đại trước được qui định khá cụ thể, chặt chẽ và tiến bộ hơn cả

Trang 5

 Phân tích làm nổi bật những giá trị có thể kế thừa từ qui định về trách nhiệm dân sự trong pháp luật nhà Lê thế kỷ XV để từ đó có hướng tiếp thu và hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện đại

3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: nhà Lê giai đoạn 1428 – 1527 đã đạt được nhiều thành

tựu trên nhiều lĩnh vực khác nhau: kinh tế, xã hội, nông nghiệp, quan chế, hợp đồng, tuyển chọn quan lại…trong đó có pháp luật mà cụ thể là những qui định về trách nhiệm dân sự Do đó, trong đề tài này tác giả chỉ tìm hiểu “Những qui định pháp luật về trách nhiệm dân sự”

Phương pháp nghiên cứu: trong quá trình làm đề tài tác giả đã sử dụng chủ

nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác – Lênin làm nền tảng Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng các phương pháp sau: phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, đối chiếu so sánh

4 Phạm vi nghiên cứu

Triều đại nhà Lê trải qua hai giai đoạn: nhà Lê Sơ (1428 – 1527) và nhà Lê Mạt hay còn gọi là Lê Trung Hưng (1527 – 1787) Trong đó giai đoạn 1428 – 1527 được xem là giai đoạn phát triển cực thịnh của pháp luật phong kiến, điển hình có

Bộ Quốc triều hình luật chứa đựng những yếu tố tiến bộ rất gần với tư tưởng lập pháp hiện đại trong việc điều chỉnh quan hệ dân sự bao gồm cả trách nhiệm dân sự

Do đó, đề tài nghiên cứu trách nhiệm dân sự trong phạm vi pháp luật nhà Lê giai đoạn 1428 – 1527, mà trước hết và chủ yếu là trong Bộ Quốc triều hình luật – Bộ luật điển hình về kỹ thuật lập pháp và giá trị nhân văn của pháp luật phong kiến nhà

Lê nói riêng, Việt Nam nói chung

Trang 6

Chương 2: Nội dung trách nhiệm dân sự trong pháp luật nhà Lê giai đoạn

1428 - 1527 và giá trị có thể kế thừa

Trang 7

CHƯƠNG 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ QUA

CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN VIỆT NAM

1.1 Khái quát về trách nhiệm dân sự

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm dân sự

Thuật ngữ “trách nhiệm” là một thuật ngữ khá quen thuộc và được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực Trong lĩnh vực chính trị, đạo đức “trách nhiệm” được hiểu là bổn phận, vai trò Nó luôn mang tính tích cực xuất phát từ ý thức của con người về vị trí, vai trò của mình đối với gia đình và xã hội

Trong lĩnh vực pháp lý “trách nhiệm” được hiểu theo hai nghĩa Nghĩa thứ nhất được hiểu là nghĩa vụ mà pháp luật yêu cầu phải làm trong hiện tại hoặc tương lai Nghĩa thứ hai được hiểu là những hậu quả bất lợi mà chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu, là sự phản ứng, sự lên án của xã hội đối với hành vi vi phạm pháp luật Và “trách nhiệm” trong “trách nhiệm pháp lý” sẽ được hiểu theo nghĩa thứ hai Trách nhiệm pháp lý thể hiện mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước với chủ thể

vi phạm pháp luật, được các qui phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh Trong đó, chủ thể vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được qui định ở chế tài của các qui phạm pháp luật Trách nhiệm pháp lý có liên quan mật thiết với cưỡng chế Nhà nước; khi vi phạm pháp luật xảy ra thì cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp có tính cưỡng chế khác nhau nhưng biện pháp trách nhiệm pháp lý là những biện pháp có tính trừng phạt tức là tước đoạt ở một phạm vi nào đó các quyền tự do, lợi ích của chủ thể vi phạm pháp luật Vì vậy, chỉ khi nào quyết định có hiệu lực của cơ quan Nhà nước được ban hành thì mới được phép truy cứu trách nhiệm pháp lý, điều đó có nghĩa chỉ Nhà nước mới là chủ thể có thẩm quyền xác định một cách chính thức đâu là hành vi vi

Trang 8

phạm pháp luật và cần phải áp dụng biện pháp trách nhiệm pháp lý nào1 Do đó, trách nhiệm pháp lý sẽ có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, là loại trách nhiệm do pháp luật qui định Đây là điểm khác biệt

giữa trách nhiệm pháp lý với các loại trách nhiệm khác như: trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm tôn giáo, trách nhiệm chính trị,…;

Thứ hai, chỉ được áp dụng khi có hành vi vi phạm pháp luật và chỉ áp dụng đối

Tóm lại, trách nhiệm pháp lý là việc Nhà nước bằng ý chí đơn phương của

mình, buộc chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế Nhà nước được qui định ở bộ phận chế tài của qui phạm pháp luật do ngành luật tương xứng xác định 3

Căn cứ vào mối quan hệ của trách nhiệm pháp lý với các ngành luật thì trách nhiệm pháp lý bao gồm: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm công vụ

Như vậy, trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý cho nên giống như các loại trách nhiệm pháp lý khác nó mang trên mình tất cả các đặc điểm chung

của trách nhiệm pháp lý Tuy nhiên, “luật dân sự là một ngành luật độc lập trong hệ

thống pháp luật Việt Nam, bao gồm tổng thể các qui phạm pháp luật dân sự do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản và các quan hệ nhân thân phi tài sản hoặc có liên quan đến tài sản của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, dựa trên nguyên tắc bình đẳng về mặt pháp lý, quyền tự định đoạt, quyền khởi kiện

1 Lê Minh Toàn (chủ biên)(2010), Pháp luật đại cương, nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội

2 Trường đại học luật Hà Nội(2006), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 2, nhà xuất bản công an nhân dân,

Hà Nội, tr.45

3 Trường đại học luật TP.Hồ Chí Minh - khoa luật Hành chính - Nhà nước(2009 – 2010), Tập bài giảng lý luận về nhà nước và pháp luật, tr.89

Trang 9

dân sự và trách nhiệm tài sản của người tham gia quan hệ đó”4 hay nói cách khác luật dân sự là một ngành luật trong lĩnh vực luật tư của hệ thống pháp luật Việt Nam Từ khái niệm luật dân sự có thể thấy, đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là quan hệ nhân thân hoặc quan hệ tài sản giữa các chủ thể bình đẳng với nhau về mặt pháp lý, tương ứng với các quan hệ bình đẳng ấy là hai biện pháp điều chỉnh tự định đoạt và thỏa thuận Chính tính đặc thù của đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh này đã đem lại cho trách nhiệm dân sự với tư cách là một chế định cơ bản của luật dân sự có những đặc điểm riêng khác với các loại trách nhiệm pháp lý còn lại:

Thứ nhất, là biện pháp cưỡng chế mang tính tài sản;

Thứ hai, là trách nhiệm của người vi phạm trước người có quyền, lợi ích bị

xâm phạm;

Thứ ba, được hình thành dựa trên sự thỏa thuận hợp pháp của các bên hoặc

theo qui định của pháp luật;

Thư tư, có thể giải quyết bằng biện pháp tự hòa giải, thương lượng hoặc khởi

kiện ra cơ quan tư pháp dựa trên nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận và tự định đoạt;

Thứ năm, nhằm đền bù hoặc khôi phục lại quyền và lợi ích bị xâm phạm5 Khác với trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm dân sự ở đây xác lập nên những chế tài cụ thể, nhưng không phải là một sự trừng phạt về tinh thần mà là một biện pháp của Nhà nước buộc người có hành vi vi phạm bồi thường tổn thất hoặc thực hiện một nghĩa vụ nhằm hỗ trợ người bị thiệt hại khôi phục lại tình trạng tài chính, sức khỏe như ban đầu khi chưa có sự vi phạm Sở dĩ như vậy là vì, trách nhiệm dân

sự bao giờ cũng liên quan đến tài sản, lợi ích mà các bên hướng tới trong quan hệ nghĩa vụ dân sự bao giờ cũng mang tính tài sản, việc vi phạm nghĩa vụ của bên này

sẽ làm ảnh hưởng đến lợi ích của bên kia cho nên trách nhiệm dân sự của người vi phạm là buộc phải thực hiện nghĩa vụ hoặc phải bồi thường thiệt hại nhằm thỏa mãn

4 Lê Minh Toàn (chủ biên)(2010), pháp luật đại cương, nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.159

5 Nguyễn Xuân Quang-Lê Nết-Hồ Thị Bích Hằng(2007), Luật dân sự Việt Nam, nhà xuất bản đại học quốc

gia, Tp.Hồ Chí Minh, tr.398

Trang 10

quyền lợi chính đáng cho người bị thiệt hại, khắc phục những hậu quả vật chất cho

họ Mặt khác, xuất phát từ tính đặc thù của luật dân sự, quan hệ mà trách nhiệm dân

sự hướng đến là các quan hệ luật tư giữa hai chủ thể độc lập có địa vị pháp lý ngang nhau, nên các trường hợp vi phạm giữa các bên thường do chính họ thỏa thuận, thương lượng và tự định đoạt về phương thức hòa giải là trước hết và chủ yếu

Từ những đặc điểm nêu trên có thể rút ra một khái niệm tổng quát về trách

nhiệm dân sự như sau: Trách nhiệm dân sự là một loại trách nhiệm pháp lý mang

tính tài sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp tổn thất về vật chất, tinh thần cho người bị thiệt hại 6

Cũng nói thêm rằng, trong lịch sử pháp luật Việt Nam chế định trách nhiệm dân sự là một trong những chế định xuất hiện khá sớm Từ chỗ là một ý niệm sơ khai được qui định rời rạc, hời hợt đến khi chiếm được sự quan tâm của các nhà lập pháp và trở thành một chế định được qui định đầy đủ, toàn diện và mang tính hệ thống như ngày ngày, trách nhiệm dân sự đã trải qua rất nhiều giai đoạn phát triển với những đặc trưng riêng phụ thuộc vào quan điểm giai cấp, trình độ kỹ thuật lập pháp cũng như điều kiện kinh tế-xã hội của từng thời kỳ Theo Vũ Văn Mẫu tiến trình của ý niệm trách nhiệm dân sự trải qua bốn giai đoạn7:

Giai đoạn “chế độ tư nhân phục cừu”: trong thời kỳ cổ đại, các cơ quan công

quyền chưa được tổ chức để xét đoán tất cả các tranh chấp nhỏ lẻ giữa cá nhân với nhau trong xã hội nên mỗi khi quyền lợi của mình bị xâm phạm, các cá nhân sẽ tự mình giải quyết bằng cách trả thù kẻ gây thiệt hại Các biện pháp trả thù khá đa đạng tùy thuộc vào mỗi quốc gia, mỗi vùng miền có khi là tự ý tước đoạt tài sản của đối phương, cũng có khi bắt đối phương cùng thân nhân làm nô lệ; trong luật tục La

Mã thì biện pháp trừng trị thường tập trung vào nhân thân của kẻ vi phạm do người

6

Từ điển giải thích thuật ngữ luật học(1999), trường đại học luật Hà Nội, nhà xuất bản công an nhân dân,

tr.128

7 Vũ Văn Mẫu(1968), Cổ luật Việt Nam lược khảo (quyển thứ nhất), nhà xuất bản Sài Gòn, tr.80-86

7 Trường đại học luật Hà Nội(2006), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 2, nhà xuất bản công an nhân dân,

Hà Nội, tr.253-254

http://vietlaw.vn/thuat-ngu.aspx?tag=C&page=16 , truy cập lúc 8 giờ 31 phút ngày 29 tháng 6

Trang 11

bị thiệt hại và người thân của họ áp dụng, pháp luật cho phép nạn nhân được trả thù

kẻ vi phạm bằng với những tổn thất mà họ chịu đựng theo cách “lấy mắt trả mắt, lấy răng trả răng”; còn ở Châu Âu quyết đấu là một hình thức phục thù buộc đối phương đấu gươm hoặc đấu súng… để gở gạt mối thù mà mình đã gây nên Ở Việt Nam, chế độ này vẫn còn di lưu lại trong một số điều luật của hai Bộ luật Gia Long

và Quốc triều hình luật

Theo Điều 591 Bộ Quốc triều hình luật “Không trình quan mà những người

đòi nợ tự ý xiết đồ đạc con nợ, nếu hơn số tiền trong văn khế thì bị đánh 80 trượng…” Như vậy, Quốc triều hình luật đã mặc nhiên cho chủ nợ bắt tài sản của

con nợ và chỉ khi nào bắt quá số tiền nợ nhưng không báo lên quan thì mới bị phạt tội Điều 134 Bộ luật Gia Long cũng đề cập đến vấn đề này nhưng rõ ràng hơn, cụ thể: Điều luật cấm đoán các chủ nợ không được tự tiện bắt gia súc hay tài sản của con nợ để trừ nợ và không được bắt thân nhân của họ làm nô tỳ

Giai đoạn “chế độ thục kim”: ở đầu giai đoạn, các cá nhân nhận thấy rằng

việc trả thù không đem lại cho họ bất kỳ một lợi ích nào mà chẳng qua chỉ là “ăn miếng trả miếng”, họ bắt đầu thỏa thuận và đưa ra một hình thức mới thuận tiện hơn, người gây thiệt hại sẽ phải trả cho nạn nhân một khoản tiền gọi là tiền chuộc lỗi, làm như vậy người gây thiệt hại tránh được sự trả thù mà người thiệt hại cũng

có thêm nguồn tài chính để khắc phục thiệt hại cho bản thân Ban đầu chế độ này mang tính tự phát giữa các cá nhân với nhau gọi là chế độ “thục kim tự ý” Về sau khi chính quyền được tổ chức ổn định và vững vàng hơn, chính quyền bắt đầu can thiệp giải quyết mâu thuẫn trong quan hệ giữa mọi người trong xã hội; các bên đương sự có phân tranh không được tự hẹn báo thù mà buộc phải giải quyết bằng cách trả cho nhau một khoản tiền theo ngạch giá đã được các nhà làm luật định sẵn; gọi là chế độ “thục kim bắt buộc” Tiền thục kim này vừa mang tính hình phạt vừa

có tính đền bù Ở Tây Phương, trong cổ luật La Mã vào giữa thế kỷ thứ V trước công nguyên, chế độ thục kim tự ý được chuyển dần sang chế độ thục kim bắt buộc

Ở Việt Nam, chế độ thục kim cũng trải qua hai giai đoạn như trên; di tích của chế

độ thục kim tự ý chính là tục ăn vạ ở nông thôn Việt Nam; còn hình thức thục kim

Trang 12

bắt buộc vẫn để lại dấu vết trong hai Bộ luật Gia Long và Quốc triều hình luật Điều

29 Quốc triều hình luật đưa ra mức tiền đền mạng cụ thể căn cứ vào phẩm trật của

kẻ bị giết như sau: “Tiền thường mạng thì nhất phẩm, tòng nhất phẩm được đền

15000 quan, nhị phẩm, tòng nhị phầm 9000 quan, tam phẩm, tòng tam phẩm 7000 quan, tứ phẩm, tòng tứ phẩm 5000 quan, ngũ phẩm, tòng ngũ phẩm 2000 quan, lục phẩm, tòng lục phẩm 1000 quan, thất phẩm, tòng thất phẩm 500 quan, bát phẩm đến cửu phẩm 300 quan, thứ dân trở xuống 150 quan” Trong trường hợp đánh

người gây thương tích, ngoài hình phạt bị đánh roi, kẻ vi phạm còn phải bồi thường

cho nạn nhân theo mức đã được qui định trong Điều 466 Quốc triều hình luật “Sưng

phù thì phải đền tiền thương tổn 3 tiền, chảy máu thì phải 1 quan, gãy một ngón tay, một răng thì đền 10 quan, đâm chém bị thương thì 15 quan Đọa thai chưa thành hình thì 30 quan, đã thành hình thì 50 quan, gãy một chân một tay, mù một mắt thì

50 quan, đứt lưỡi và hỏng âm dương vật thì đền 100 quan Về người quyền quí phải

xử khác”

Bộ luật Gia Long không đề cập đến tiền bồi thường Chỉ có Điều 201 qui định

về tiền bồi thường cho gia đình nạn nhân trong trường hợp phạm tội giết người, phạm nhân bị phạm tội chiếu theo điều luật cố ý đả thương nhân thương chí tử nhưng cho chuộc tội Tiền chuộc thì giao cho gia đình nạn nhân để lo chôn cất Nếu phạm nhân bị phạt tội giảo thì số tiền chuộc là 12 lạng bạc Đối với người điên giết người số tiền này cũng như vậy

Nếu kẻ giết người được ân xá, y phải trả cho gia đình nạn nhân 20 lạng bạc Nếu nghèo túng chỉ phải trả nửa số tiền ấy Đối với trường hợp gây thương tích tại Điều 271 Bộ luật Gia Long cũng qui định tỉ mỉ các hình phạt theo thương tích từ nặng đến nhẹ nhưng đó chỉ là những chế tài hình sự chứ không đề cập đến bồi thường như trong Điều 466 Quốc triều hình luật Điều 271 Bộ luật Gia Long chỉ dự liệu bồi thường trong trường hợp nặng nhất như hỏng mắt, gãy tay chân, hỏng bộ phận cơ thể,… thì ngoài hình phạt lưu 3000 lý, 100 trượng, một nửa tài sản của phạm nhân phải đền cho nạn nhân

Trang 13

Giai đoạn “chế độ chế tài hình sự”: bước sang giai đoạn này, chính quyền đã

can thiệp một cách mạnh mẽ hơn bằng cách dự liệu những chế tài hình sự để trừng phạt kẻ nào xâm phạm vào tài sản hay nhân thân của người khác Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự can thiệp thô bạo này nhưng nguyên nhân chi phối nhiều nhất đến

từ mong muốn tập trung thiết kế các qui định mang tính răn đe đủ sức củng cố uy quyền cho nhà vua và giữ vững chế độ Do đó, ngoài việc bồi thường cho nạn nhân, phạm nhân còn phải chịu những hình phạt hình sự khác, không chỉ vậy số tiền bồi thường vì nhuốm màu hình sự nên thường được ấn định gấp đôi, gấp ba thậm chí gấp nhiều lần số thiệt hại Chế độ này được thể hiện rất rõ trong pháp luật nhà Lê và nhà Nguyễn Xin lấy một ví dụ điển hình được qui định tại Điều 28 Quốc triều hình

luật về nguyên tắc bội tang phần “Tiền thường tang vật gấp nhiều lần, chia hai bực:

thường gấp 2 phần (của công gấp 3 phần) Thường gấp 1 phần (những tang vật, tội lặt vặt) Tội nặng thì thường gấp 5 phần, 9 phần (nếu cố ý tái phạm) Phần bội tang này cộng với nguyên tang được tịch thu trả cho công quĩ (nếu tang vật là của công) hay được hoàn cho chủ (nếu tang vật là của tư) Nếu không có chủ thì tang vật cho vào của công…”

Giai đoạn “ý niệm trách nhiệm thuần túy dân sự”: mặc dầu còn lệ thuộc vào

quan niệm hình sự và chưa nêu lên được một nguyên tắc tổng quát về trách nhiệm thuần túy dân sự (tức chỉ buộc người gây ra thiệt hại bồi thường về tổn hại mà không đi kèm với hình phạt hình sự), nhưng pháp luật nhà Lê và nhà Nguyễn có một số điều luật cho thấy ý niệm trách nhiệm thuần túy dân sự đã manh mún xuất

hiện Cụ thể, Điều 585 Quốc triều hình luật “Trâu của hai nhà đánh nhau, con nào

chết thì hai nhà cùng ăn thịt, con nào sống thì hai nhà cùng cày, trái luật thì xử phạt 80 trượng” Vậy, chỉ khi nào không tuân thủ biện pháp dân sự mà pháp luật dự

liệu thì mới chịu hình phạt 80 trượng ngoài trường hợp này hai bên đương sự không phải chịu bất kỳ chế tài hình sự nào khác nữa Điều 91 Bộ luật Gia Long qui định về trường hợp khi vứt bỏ hay phá hoại đồ vật, mùa màng, cây cối của người khác thì ngoài việc xử người vi phạm về tội trộm, can phạm còn phải bồi thường sự tổn hại cho công quỹ hoặc cho tư nhân đã bị thiệt hại Tuy nhiên, nếu những đồ vật này là

Trang 14

của tư nhân và sự vứt bỏ, phá hoại là do vô ý hay sơ ý gây nên thì người gây ra thiệt hại chỉ phải bồi thường, không phải tội – Đây là những qui định cho thấy trách nhiệm dân sự bắt đầu có xu hướng tách rời khỏi trách nhiệm hình sự

Như vậy, cùng với sự phát triển của xã hội, trải qua các kiểu Nhà nước, phụ thuộc vào quan điểm giai cấp thống trị mà mức độ ghi nhận về luật dân sự nói chung, chế định trách nhiệm dân sự nói riêng có ít nhiều khác nhau Ớ kiểu Nhà nước chiếm hữu nô lệ và Nhà nước phong kiến, bản chất giai cấp còn mạnh mẽ, do

đó trách nhiệm dân sự chưa được quan tâm đúng mức để phát triển thành một chế định độc lập với trách nhiệm hình sự Nhưng cho đến nay, khi hoạt động lập phát đã phát triển xa hơn rất nhiều cộng thêm tính dân chủ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, trách nhiệm dân sự ngày càng được chú trọng phát triển, giờ đây nó đã hoàn toàn tách khỏi trách nhiệm hình sự để thoát xác trở thành một trong những chế tài cơ bản của luật dân sự

1.1.2 Phân loại trách nhiệm dân sự

Có nhiều tiêu chí để phân loại trách nhiệm dân sự, tuy nhiên căn cứ vào nghĩa

vụ bị vi phạm phát sinh từ hợp đồng hay từ pháp luật mà trách nhiệm dân sự có thể phân thành hai loại sau: trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng

1.1.2.1 Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng

Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng (trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng) là trách nhiệm dân sự giữa các bên có tồn tại một hợp đồng và phát sinh khi một bên vi phạm những nghĩa vụ đã được cam kết trong hợp đồng, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của bên còn lại8 Một khi các bên tiến hành giao kết hợp đồng thì đồng nghĩa quan hệ nghĩa vụ dân sự giữa các bên cũng được xác lập, các bên phải thực hiện đúng như nội dung mà họ đã thỏa thuận với nhau Nếu một bên không thực hiện hoặc có thực hiện nhưng thực hiện không đúng, không đầy đủ sẽ làm phát sinh trách nhiệm dân sự, bên vi phạm buộc gánh chịu những hậu quả bất

8 Nguyễn Xuân Quang-Lê Nết-Hồ Thị Bích Hằng(2007), Luật dân sự Việt Nam, nhà xuất bản đại học quốc

gia, Tp.Hồ Chí Minh, tr.398

Trang 15

lợi Nếu sự vi phạm này chưa gây ra thiệt hại thì người vi phạm chỉ có trách nhiệm thực hiện đúng nghĩa vụ Ngược lại, nếu sự vi phạm nghĩa vụ gây ra thiệt hại cho bên còn lại thì người vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Do đó, tùy thuộc vào tính chất và hậu quả của sự vi phạm mà trách nhiệm dân sự trong hợp đồng được chia thành:

 Trách nhiệm buộc phải thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng: Khi trách nhiệm này phát sinh, người vi phạm phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của bên

có quyền Nếu đã yêu cầu mà bên vi phạm vẫn không thực hiện thì bên kia có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước áp dụng các biện pháp cưỡng chế buộc bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình9 Loại trách nhiệm này gồm:

+ Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật;

+ Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ phải làm một công việc hoặc không được làm một công việc;

+ Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự;

+ Trách nhiệm do chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ dân sự

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng: “là trách nhiệm dân sự

phát sinh do hành vi vi phạm hợp đồng của một bên, do đó bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng mà gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại mà mình đã gây ra cho phía bên kia tương xứng với mức độ lỗi của mình”10

Về mặt nguyên tắc, bồi thường phải được tiến hành kịp thời và phải bồi thường toàn bộ tổn thất đã xảy

ra trên thực tế (trừ một số trường hợp đặc biệt), như vậy trách nhiệm bồi thường đã tác động xấu đến khối tài sản của kẻ vi phạm cho nên pháp luật phải qui định khắc khe hơn đối với điều kiện làm phát sinh trách nhiệm, theo đó khi có đủ bốn yếu tố sau: có hành vi trái pháp luật, có thiệt hại xảy ra trên thực tế, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm pháp luật và thiệt hại xảy ra, người vi phạm nghĩa vụ dân sự

9 Trường đại học luật Hà Nội(2006), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, tập 2, nhà xuất bản công an nhân dân,

Hà Nội, tr.47

10 Nguyễn Xuân Quang-Lê Nết-Hồ Thị Bích Hằng(2007), Luật dân sự Việt Nam, nhà xuất bản đại học quốc

gia, Tp.Hồ Chí Minh, tr.408

Trang 16

phải có lỗi; thì người vi phạm nghĩa vụ mới phải bồi thường tổn thất cho bên thiệt hại Ngoài ra, một điều kiện khác cũng hết sức quan trọng tạo nên tính đặc thù cho loại trách nhiệm này, giúp phân biệt nó với loại trách nhiệm bồi thường khác đó là giữa bên vi phạm và bên bị thiệt hại phải tồn tại một quan hệ hợp đồng dân sự, các bên trong quan hệ hợp đồng sẽ cùng nhau thỏa thuận thiết lập nên nội dung nghĩa

vụ ràng buộc họ với nhau trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và tự định đoạt; trách nhiệm sẽ phát sinh trên cơ sở có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng ấy Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng chỉ giới hạn trong phạm vi những thiệt hại thực tế và những thiệt hại có thể tiên liệu được vào thời điểm giao kết hợp đồng Mặt khác, lỗi là một trong những điều kiện bắt buộc khi xác định trách nhiệm nhưng sẽ không phân biệt hình thức cố ý hay vô ý vì mức bồi thường không phân hóa theo hình thức lỗi mà căn cứ vào thiệt hại thực tế; và việc thực hiện xong trách nhiệm không đương nhiên làm chấm dứt quan hệ hợp đồng giữa các bên

1.1.2.2 Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng

Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là: trách nhiệm dân sự phát sinh do chủ

thể xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản và các quyền cùng lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ 11

Mặc dù tham gia vào các quan hệ xã hội khác nhau, và ở những địa vị khác nhau nhưng hầu như các chủ thể khi tham gia vào quan hệ xã hội đều mong muốn đạt được lợi ích cao nhất cũng như mong muốn tự do làm theo sở thích của bản thân Mọi người trong xã hội được gắn kết với nhau bởi những mối liên kết là các quan hệ xã hội, điều này khiến cho sự tự do của người này sẽ ảnh hưởng đến tự do

và lợi ích cả người khác Như một điều tất yếu, mỗi chủ thể trong xã hội phải tuân thủ các nguyên tắc chung mà pháp luật đã đặt ra nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích của cá nhân và cả cộng đồng Do đó, khi một người có hành vi phá vỡ các nguyên tắc ấy gây tổn hại đến lợi ích của người khác thì cần phải có một công cụ

11 Nguyễn Xuân Quang-Lê Nết-Hồ Thị Bích Hằng(2007), Luật dân sự Việt Nam, nhà xuất bản đại học quốc

gia, Tp.Hồ Chí Minh, tr.398

Trang 17

cưỡng chế buộc họ gánh chịu hậu quả bất lợi cho hành vi của mình gây ra, đó không chỉ là những bất lợi về nhân thân mà còn là những bất lợi về tài sản mà người gây thiệt hại phải bù đắp cho người bị hại vì trên thực tế không ai tự giác tước đoạt lợi ích của bản thân để bù đắp cho kẻ khác nếu không có áp lực từ công quyền Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ra đời như một cách thức bảo đảm việc đền bù cho nạn nhân về mặt tài sản được hiện thực hóa và giáo dục mọi người ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài sản công cộng, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Vì suy cho cùng, pháp luật do Nhà nước ban hành và đương nhiên sẽ được Nhà nước đảm bảo thực hiện nên trách nhiệm của kẻ vi phạm nếu không được luật hóa thì chỉ là lý thuyết xuông mà thôi

Cũng giống trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ phát sinh khi có đủ các điều kiện về: hành vi vi phạm pháp luật, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả và lỗi của người vi phạm Nhưng khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, loại trách nhiệm này phát sinh trên cơ sở qui định của pháp luật (không phải hợp đồng) được ghi nhận trong những văn bản luật hoặc văn bản dưới luật Do đó, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được giới hạn trong qui định của các văn bản pháp luật, bên thiệt hại chỉ có thể yêu cầu bên vi phạm chịu trách nhiệm trong phạm

vi nghĩa vụ mà pháp luật qui định Đặc biệt hơn, xuất phát từ hậu quả nghiêm trọng của hành vi vi phạm pháp luật có thể xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng; cần phải nhanh chóng khắc phục thiệt hại bảo vệ trật tự xã hội; nên trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng được đặt ra ngay cả khi đương sự không có lỗi Mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là nhằm khôi phục lại tình trạng như ban đầu cho nạn nhân vì vậy một khi trách nhiệm bồi thường được hoàn thành thì quan hệ về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ chấm dứt Trong trường hợp hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng, danh dự và uy tín của chủ thể khác khiến chính nạn nhân hoặc người thân của nạn nhân phiền muộn, hụt hẫng, dằn vặt, đau khổ tức ở đây đã có một tổn thất về tinh thần thì pháp luật sẽ buộc người vi phạm đền bù một khoản tiền được gọi là tiền bồi

Trang 18

thường thiệt hại về tinh thần nhằm động viên, chia sẻ giúp nạn nhân sớm hòa nhập với cuộc sống cộng đồng Nhưng điều này không đồng nghĩa với việc giá trị nhân thân của con người có thể cân đo đong đếm thành tiền mà giá trị nhân thân là vô giá

và không thể định đoạt được Vậy, thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không chỉ bao gồm thiệt hại về vật chất mà còn có cả những thiệt hại về tinh thần

Trên đây là khái niệm về trách nhiệm dân sự của pháp luật hiện đại nhưng việc tìm hiểu sơ lược sẽ phần nào giúp chúng ta thấy được qui định nào trong cổ luật là thuộc về chế định trách nhiệm dân sự Bởi, không giống “dân luật” hiện đại, pháp luật phong kiến không phân ngành, hầu hết các qui phạm đều mang tính chất hỗn hợp của nhiều ngành luật (theo quan niệm ngày nay), mặt khác những qui định về trách nhệm dân sự lại nằm một cách rải rác nên thật khó nhận diện nếu không dựa vào pháp luật hiện đại để hiểu như thế nào là trách nhiệm dân sự Mặc dù, xuất phát

từ nhiều nguyên nhân trong đó có sự khác biệt về bản chất Nhà nước đã làm trách nhiệm dân sự vào mỗi thời kỳ có những điểm riêng nhưng xét về bản chất thì chúng đều là biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với các bên có địa vị pháp lý ngang nhau, biện pháp này buộc người vi phạm phải gánh chịu một hậu quả bất lợi về mặt tài sản nhằm bù đắp tổn thất cho nạn nhân Vì cùng một bản chất như thế nên vẫn có thể sử dụng khái niệm của “dân luật” hiện đại để tìm hiểu về trách nhiệm dân sự trong cổ luật

1.1.3 Vai trò của trách nhiệm dân sự trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Pháp luật ra đời phản ánh ý chí của giai cấp thống trị Tính giai cấp của pháp luật thể hiện ở mục đích điều chỉnh quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội hướng các quan hệ ấy theo một “trật tự” phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp thống trị Với ý nghĩa đó pháp luật chính là công cụ để thống trị giai cấp Trong xã hội phong kiến, pháp luật mang tính giai cấp sâu sắc, nó bảo vệ các hình thức áp bức, bóc lột của địa chủ phong kiến đối với nông dân; và đảm bảo sự thống trị về kinh tế, chính trị, tinh thần của giai cấp địa chủ phong kiến trong xã hội Bên cạnh đó, xã hội phong kiến chịu ảnh hưởng từ tư

Trang 19

tưởng Nho giáo, sự phân tầng Vua – Quan – Dân trở thành một trục quan hệ chủ đạo, địa vị ngôi thứ của con người trong xã hội hết sức được chú trọng đã khiến pháp luật thời bấy giờ trở thành “pháp luật đẳng cấp và đặc quyền” thể hiện ở việc pháp luật qui định sự trừng phạt khác nhau căn cứ vào đẳng cấp và thứ bậc của người phạm tội và người bị hại trong xã hội Như vậy, có thể thấy pháp luật phong kiến hướng tới việc bảo vệ tuyệt đối quyền lợi của giai cấp thống trị - giai cấp địa chủ phong kiến, còn quyền lợi của thường dân tuy có quan tâm nhưng rất ít Do đó, trách nhiệm dân sự với “tính chất tư” sẽ như một qui định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành phần khác trong xã hội mà nông dân là những con người chiếm số đông, là lực lượng lao động chủ đạo tạo ra của cải vật chất Điều này cũng đồng nghĩa với việc ý chí và nguyện vọng của đông đảo giai tầng trong xã hội đã được pháp luật thể chế hóa, khi đó tính dân chủ của pháp luật được đảm bảo hơn, pháp luật dễ dàng thực thi trên thực tế

Những qui định về trách nhiệm dân sự còn góp phần thể hiện tính nhân đạo của pháp luật phong kiến thông qua các điều luật qui định về miễn giảm trách nhiệm dân sự, các qui định về phân chia mức độ bồi thường dựa vào lỗi cố ý hoặc

vô ý (Điều 499, Điều 582, Điều 533 Quốc triều hình luật)

Cùng với các chế định về thừa kế, sỡ hữu ruộng đất, khế ước,…sự xuất hiện của các qui định về trách nhiệm dân sự, góp phần làm cho hệ thống pháp luật phong kiến hoàn thiện hơn Chứng tỏ, pháp luật phong kiến dự liệu và điều chỉnh được hầu

hết các mảng đời sống, đảm bảo được tính toàn diện của pháp luật Không những

vậy, vấn đề trách nhiệm dân sự trong pháp luật phong kiến mang đậm màu sắc hình

sự thể hiện tính phù hợp của pháp luật trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ khi mà

các triều đại phong kiến luôn phải đối mặt với thù trong giặt ngoài, tầng lớp vua quan luôn mong muốn bảo vệ tuyệt đối địa vị thống trị của mình và như một đòi hỏi tất yếu để pháp luật được tuân thủ nghiêm ngặt, các qui định sẽ thiên về hình phạt

và tội phạm, điều dĩ nhiên trách nhiệm dân sự cũng sẽ mang hơi hướm hình sự, mức

độ bồi thường thiệt hại có tính chất trừng phạt, răn đe nhiều hơn là bù đắp tổn thất nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu

Trang 20

Tóm lại, những qui định về trách nhiệm dân sự góp phần hoàn thiện hơn nữa

hệ thống pháp luật phong kiến, thể hiện được tính nhân đạo cũng như phần nào đó làm cho pháp luật được tôn trọng và thực thi trên thực tế thông qua việc bảo vệ lợi ích của tầng lớp nhân dân lao động – tầng lớp đông đảo và thấp kém trong xã hội

1.1.4 Vị trí của trách nhiệm dân sự trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Trách nhiệm dân sự là một trong những chế định quan trọng của pháp luật dân

sự Vì vậy, muốn biết được vị trí của trách nhiệm dân sự trong hệ thống pháp luật phong kiến thì không thể bỏ qua quá trình tìm hiểu pháp luật dân sự trong cổ luật đứng ở một vị trí như thế nào, bởi vị trí của “dân luật” sẽ quyết định phần lớn đến

sự quan tâm của các nhà lập pháp đối với chế định trách nhiệm dân sự

Một đặc điểm dễ dàng nhận thấy trong nhà nước phong kiến chính là vấn đề bảo vệ tuyệt đối uy quyền của nhà Vua Cho dù, ở dưới triều đại nào, chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng nào thì tất cả những người trị vì đều ra sức giữ vững vị trí độc tôn của mình, cố gắng duy trì quyền lực tối thượng cũng như sẵn sàng loại bỏ bất kỳ thế lực nào làm ảnh hưởng đến vương quyền hay làm phân tán quyền lực của nhà Vua Đây là lý do chính tác động rất lớn đến tư tưởng lập pháp phong kiến, hầu hết nội dung của pháp luật đều tập trung vào các qui định nhằm củng cố và bảo vệ chế độ tập quyền cho hoàng đế, ổn định trật tự xã hội, kỹ cương, phép nước Suy cho cùng thì pháp luật chính là công cụ hữu hiệu hiện thực hóa ý chí của giai cấp thống trị, nên điều cần thiết là phải thiết kế một thiết chế pháp luật đảm bảo tính nghiêm minh, để làm được điều đó các nhà làm luật đã hình sự hóa tất cả các quan

hệ mặc dù có những quan hệ hoàn toàn mang tính chất bình đẳng giữa các cá nhân trong xã hội, có như vậy pháp luật mới đủ sức răn đe và hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật Đây chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng luật dân sự - một ngành luật thuộc lĩnh vực “luật tư” có vị trí khiêm tốn hơn rất nhiều so với

“luật công” Tuy nhiên ranh giới giữa hai lĩnh vực này hiện nay còn nhiều tranh cãi

và khó có thể xác định rõ ràng nhưng có thể hiểu rằng “Tư pháp là hệ thống các quy

phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ cá nhân thuần t y giữa công dân và công

Trang 21

dân, mang tính chất tài sản, phi tài sản và quan hệ nhân thân Luật công pháp điều chỉnh quan hệ xã hội trong đó có sự tham gia của công quyền”12

Đặc trưng của nền kinh tế cũng là một trong những nguyên nhân khác khiến cho dân luật chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ phía Nhà nước Điều kiện địa lý Việt Nam có nhiều con sông bù đắp phù sa màu mỡ cùng với khí hậu gió mùa nóng ẩm làm cho nền nông nghiệp lúa nước sớm phát triển, không những là một ngành kinh tế có tuổi đời lâu năm mà nông nghiệp còn đóng vai trò chủ đạo tạo ra của cải vật chất cho xã hội, đặc biệt trong xã hội phong kiến khi nền kinh tế còn đơn giản thì vai trò trụ cột của nông nghiệp càng được khẳng định Hoạt động thương nghiệp lúc bấy giờ cũng phát triển nhưng mang tính chất nhỏ lẻ, thêm vào đó Nhà nước vì muốn đảm bảo an ninh quốc gia nên cho áp dụng chính sách “ức thương”

và “bế quan tỏa cảng”, mặc dù với đường biển dài hết sức thuận tiện để phát triển

ngoại thương nhưng “Lối ửng xử đó với biển làm cho nền ngoại thương Việt Nam

rất mờ nhạt trong bức tranh kinh tế toàn cảnh, chỉ là nền “ngoại thương một chiều” hay “ngoại thương đơn tuyến”, tức chỉ có người nước ngoài đến Việt Nam buôn bán trong sự kiểm soát chặt ch của nhà nước, còn người Việt không thể ra nước ngoài buôn bán hợp pháp, chỉ có một số quan lại lợi dụng những chuyến đi công cán để “buôn lậu” và nếu bị phát hiện s bị xử lý rất nặng”13 Về thủ công nghiệp,

Bùi Xuân Đính nhận xét: “không tách khỏi nông nghiệp để trở thành ngành kinh tế

độc lập, tạo điều kiện cho tích lũy tư bản chủ nghĩa và hình thành nền sản xuất đại

cơ khí” 14 Các quan hệ dân sự không có điều kiện phát triển một cách “sôi nổi” kéo

theo xã hội cũng không có nhu cầu đến mức cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước Tất cả những lý do đó đã tạo điều kiện cho pháp luật dành sự quan tâm của

12 Viện Nghiên cứu nhà nước và pháp luật (1995), Những vấn đề lý luận cơ bản về nhà nước và pháp luật,

nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Tp.HCM , tr.188

13 Bùi Xuân Đính(2005), Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam – những suy ng m, nhà xuất bản

Tư pháp, tr.258

14 Bùi Xuân Đính(2005), Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam – những suy ng m, nhà xuất bản

Tư pháp, tr.256

Trang 22

mình cho các quan hệ nảy sinh trong hoạt động sản xuất nông nghiệp nhiều hơn mà không mấy lưu ý đến các giao dịch dân sự15

Bên cạnh đó, tính cố kết cộng đồng của làng xã Việt Nam cũng tác động không nhỏ đến vị trí của luật dân sự trong tổng thể hệ thống pháp luật phong kiến Không phải vì vô cớ mà ông cha ta có câu “phép vua thua lệ làng”, đa phần các giao dịch dân sự trong nội bộ làng xã thường được dân làng sử dụng tập quán lưu truyền nhiều đời để điều chỉnh mà ít sử dụng pháp luật của vua Có lẽ “lối sống trọng tình cảm” cũng ảnh hưởng ít nhiều đến cách hành xử xem trọng tục lệ của người dân Thêm vào đó, Nhà nước nhận thấy rằng các giao dich dân sự giữa người dân trong làng với nhau mang tính nhỏ lẻ không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng hay tác động xấu đến vương quyền nên pháp luật không cần thiết phải can thiệp điều chỉnh; hơn nữa việc sử dụng “lệ làng” lại là một cái hay vừa không ảnh hưởng đến tính tập quyền của nhà vua, đến trật tự chung của xã hội, lại vừa dễ dàng được nhân dân chấp thuận16

Đó là những lý do dẫn đến tình trạng pháp luật trở nên “thờ ơ” đối với luật dân

sự, theo đó trách nhiệm dân sự cũng không thể nào được quan tâm phát triển toàn diện Tuy nhiên theo qui luật phát triển, pháp luật sẽ ngày càng hoàn thiện cho nên luật dân sự nói chung và trách nhiệm dân sự nói riêng từ chỗ được qui định rời rạc

và thiếu hụt, có vị trí khiêm tốn hơn rất nhiều so với luật hình thì về sau được dự liệu đầy đủ và mang tính hệ thống hơn Vì thế, bên cạnh các chế định bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, mang nặng màu sắc giai cấp thì các qui định điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể có địa vị pháp lý ngang nhau liên quan đến tài sản và nhân thân xuất hiện ngày càng nhiều Chứng tỏ, “dân luật” nói chung hay trách nhiệm dân sự nói riêng đã khẳng định được chỗ đứng của mình trong hệ thống pháp luật phong kiến

Trang 23

Cùng với dân luật trách nhiệm dân sự phát triển liên tục qua các triều đại phong kiến Ở mỗi vương triều, các qui định về trách nhiệm dân sự có những đặc trưng riêng và đứng ở vị trí “cao thấp” khác nhau Nhưng có thể nói, dưới triều các

vị vua Lê anh minh và tài ba cộng với sự giúp sức tận tụy của đội ngũ quan lại trí tuệ đã đưa dân luật trong đó bao gồm cả trách nhiệm dân sự phát triển vượt xa những triều đại khác Không những thế pháp luật nhà Lê còn có sức sống mãnh liệt, các vương triều về sau đều lấy pháp luật nhà Lê làm cơ sở để gầy dựng hệ thống pháp luật cho riêng mình Thời kỳ nội chiến phân liệt, tình hình đất nước phân ly, bất ổn đã chiếm hết “tâm tư” của nhà cầm quyền, pháp luật dường như sử dụng lại toàn bộ pháp luật nhà Lê Đến thời nhà Nguyễn, pháp luật được tập trung phát triển hơn nhưng cũng cân nhắc xem xét đến giá trị pháp lý của bộ Quốc triều hình luật nhà Lê Chứng tỏ, pháp luật nhà Lê mà bao gồm cả trách nhiệm dân sự thực sự là một thành tựu lập pháp cần được quan tâm nghiên cứu để đút rút ra nhiều bài học kinh nghiệm bổ sung cho nền pháp luật hiện đại

1.2 Sự phát triển của trách nhiệm dân sự qua các triều đại phong kiến Việt Nam

Sử liệu về pháp luật phong kiến Việt Nam không thấy nhắc tới một cách khái quát như thế nào là trách nhiệm dân sự Tuy nhiên, đối chiếu với các khái niệm mà pháp luật hiện đại đưa ra cũng thấy được trong các bộ cổ luật Việt Nam các nhà lập pháp đã dự liệu một số biện pháp cưỡng chế mang tính tài sản giữa hai chủ thể có địa vị pháp lý ngang nhau Mặc dù, các qui định nêu trên chỉ áp dụng trong một phạm vi có giới hạn song điều này chứng tỏ khái niệm trách nhiệm dân sự không phải là khái niệm xa lạ trong cổ luật Việt Nam Có thể nói rằng ý niệm này đã manh nha và cùng với sự phát triển của hệ thống pháp luật dần dần được định hình với tư

cách là một chế định quan trọng của pháp luật dân sự

1.2.1 Trách nhiệm dân sự trong pháp luật thời Ngô – Đinh – Tiền Lê

Trong thư tịch cổ, về tổ chức bộ máy nhà nước thời Ngô-Đinh-Tiền Lê được ghi rất ít ỏi, về luật pháp lại càng ít hơn nhưng có thể hình dung pháp luật thế kỷ X

là nền pháp luật sơ khai của nhà nước tự chủ, còn đơn giản, sơ sài và phiến diện

Trang 24

Đất nước vừa thoát khỏi ách Bắc thuộc và bước vào thời kỳ độc lập; xã hội đầy biến động của nạn ngoại xâm, nạn cát cứ; vì vậy các vương triều phải tập trung cho việc bình định chống cát cứ và chống ngoại xâm là chính chưa có điều kiện bỏ nhiều công sức cho việc xây dựng pháp luật Tuy nhiên, thời kỳ này đã có pháp luật thành văn bởi người Việt đã tiếp thu chữ Hán nhưng các qui định của luật thành văn và tập quán chính trị chỉ tập trung xác lập và điều chỉnh một số lĩnh vực trọng yếu, cấp bách như quan chế, quân sự Ngoài ra còn có luật tục, luật tục vẫn giữ vai trò rất quan trọng và rộng khắp trong việc điều chỉnh nhiều quan hệ xã hội, đó là những lệ của các làng xã cổ truyền Những lệ này có hiệu lực không gian rộng khắp các làng

xã và chủ yếu điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực ruộng đất hôn nhân và gia đình… Người dân lúc bấy giờ chủ yếu sống theo lệ, chứ ít khi bị pháp luật triều

đình chi phối

Nhìn chung, các tài liệu nói về pháp luật thời kỳ này không thấy nhắc tới một điều khoản cụ thể nào liên quan đến trách nhiệm dân sự Có thể lúc bấy giờ trách nhiệm dân sự chỉ mới manh mún dưới dạng “chế độ tư nhân phục cừu” hoặc có thể

đã có một số qui định về vấn đề này; tuy nhiên đây chỉ là suy đoán vì sử liệu giai đoạn này quá ít và cũng bị mất mát, thất lạc nên không đủ cơ sở kết luận chắc chắn trách nhiệm dân sự thời kỳ Ngô – Đinh – Tiền Lê đã được qui định như thế nào

1.2.2 Trách nhiệm dân sự trong pháp luật thời Lý – Trần – Hồ

Vì các văn kiện pháp luật thời kỳ Lý-Trần-Hồ đã bị thất lạc, nên không tìm

được nội dung qui định cụ thể, chi tiết Như Phan Huy Chú đã viết “Hình pháp các

đời Lý - Trần không thể biết rõ từng điều một cách tỷ mỉ, kỹ càng Buổi đầu định ra luật cách, tưởng cũng đã dùng theo chế độ của các đời Đường, Tống, song trong khoảng rộng nghiêm, nhiều l c có châm chước Nay lục ra những điều đã thấy trong sử, lần lượt chép ra để có thể biết được đại khái”17 Nói chung pháp luật đó phỏng theo tinh thần của pháp luật phong kiến Trung Quốc thời Đường, Tống có châm chước sửa đổi theo yêu cầu chính trị đặc biệt của xã hội Việt Nam hồi ấy Do

đó, không thể có một lời khẳng định chắc chắn pháp luật Lý – Trần – Hồ qui định

17 Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, t.II, tr.291

Trang 25

như thế nào về trách nhiệm dân sự Tuy nhiên, cũng thấy một số tư liệu có nhắc tới

trách nhiệm dân sự trong “nguyên tắc truy cứu trách nhiệm hình sự” thời Trần: trộm

cắp lần đầu bị đánh 80 trượng, thích chàm vào mặt hai chữ “phạm đạo”, đền 9 lần tài sản trộm cắp, nếu không làm được thì bắt vợ con sung làm nô tỳ, tái phạm chặt

chân tay, phạm lần ba bị giết18 Trách nhiệm dân sự trong qui định này được qui định song hành với trách nhiệm hình sự mà không có sự tách bạch như pháp luật

hiện đại, mức bồi thường mang tính chất hình phạt hà khắc Thời Lý, kẻ nào ỷ vào

sức mạnh dùng dao đánh hoặc giết người để tự ý giải quyết các việc tương tranh về

đất đai, không những phải tội về mặt hình, còn bị mất cả ruộng ao tương tranh để đền cho kẻ bị thương hay thiệt mạng 19 Với điều khoản này, pháp luật nhà Lý bước

từ địa hạt luật hình sang địa hạt luật hộ (dân luật) thuần túy Để bênh vực người dân quê bị kẻ cường hào hà hiếp, như trường hợp một người muốn chuộc ruộng bị chủ

nợ đánh, nhà làm luật đã cảm thấy phải đi xa hơn là sự trừng phạt về hình sự Chứng tỏ, các nhà làm luật thời ấy đã hiểu rằng duy trì trật tự công cộng trong xã hội bằng hình phạt chưa đủ; còn cần phải hòa mình vào đời sống dân chúng, hiểu thấu nỗi đau khổ, oan ức của họ, phải nâng đỡ họ và làm êm dịu những bất công mà

họ phải chịu đựng Và vì lẽ đó kẻ cầm dao đánh người, ngoài hình phạt hình sự còn phải mất ruộng ao tương tranh để đền cho kẻ bị đánh Như vậy, so với giai đoạn Ngô – Đinh – Tiền Lê, trong pháp luật Lý – Trần – Hồ các qui định trách nhiệm

hình sự đã manh mún xuất hiện mặc dù còn chưa phổ biến

1.2.3 Trách nhiệm dân sự trong pháp luật thời Lê sơ và nội chiến phân liệt

Nhà Lê lên làm vua được 360 năm, trong khoảng thời gian ấy có thể phân chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ Lê triều toàn thịnh (1428 – 1527), các vua Lê kế tiếp nhau làm vua trong toàn thể cõi Việt Nam nhưng giai đoạn cực thịnh chỉ kéo dài vỏn vẹn

70 năm đầu, về sau quyền hành của các vua Lê vẫn còn, song các vua đều kém tài cai trị, chơi bời tửu sắc, không thiết đến chính sự, do đó cái mầm Nam – Bắc phân

Trang 26

tranh đã bắt đầu nảy nở từ đây Thời kỳ Nam – Bắc phân tranh (1528 – 1788) do mâu thuẫn nội bộ, các thế lực phong kiến nổi dậy tranh giành quyền lực, làm suy yếu Nhà nước trung ương dẫn đến tình trạng đất nước bị phân chia; sự thực trong thời kỳ này, quyền binh của vua Lê chỉ hữu danh vô thực, quyền lực thực tế nằm cả trong tay nhà Trịnh và nhà Nguyễn Bối cảnh lịch sử biến động không ngừng như trên đã tác động không nhỏ đến tiến trình “tiến hóa” của pháp luật Nhà Lê

Trách nhiệm dân sự trong pháp luật thời kỳ Lê triều toàn thịnh

Ở giai đoạn này, bên cạnh công cuộc gầy dựng mô hình nhà nước quân chủ tập quyền cao độ, các vua Lê cũng ra sức cải thiện và ban hành pháp luật hòng tạo lập nên một đất nước thịnh trị Hàng loạt văn bản pháp luật cùng lệnh và chiếu chỉ được ban hành rất nhiều trong suốt thời gian này, không chỉ da dạng về hình thức

mà nội dung cũng hết sức phong phú Theo đó, pháp luật dân sự cùng với trách nhiệm dân sự cũng được quan tâm và đạt được những tiến bộ vượt trội thể hiện tính độc lập, sáng tạo và tính nhân văn sâu sắc Lần đầu tiên trong lịch sử các vấn đề thuộc dân sự như: sở hữu, hợp đồng, thừa kế,… lại chiếm được sự quan tâm mạnh

mẽ của nhà làm luật đến vậy Chỉ xét riêng về Bộ Quốc triều hình luật tuy có phần chịu ảnh hưởng từ pháp luật nhà Đường nhưng đó chỉ là sự tham khảo để có điều kiện phát triển hơn thì thấy rằng các điều khoản trong Quốc triều hình luật được sắp xếp và thêm bớt phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của đất nước Điều này được thể hiện tập trung tại các chương qui định về pháp luật dân sự Nhà làm luật đã dành hẳn những chương riêng để qui định các lĩnh vực dân sự quan trọng Pháp luật dân

sự không còn là những qui định nằm rời rạc trong các chương của bộ luật như pháp luật nhà Đường, thay vào đó các quan hệ dân sự được tập trung điều chỉnh tại các chương: Điền sản, Hộ hôn, Điền sản tăng thêm qui định về vấn đề thừa kế Ngoài

ra, Bộ Quốc triều hình luật còn dự liệu thêm về luật hương hỏa rất phù hợp với truyền thống coi trọng việc thờ cúng ông bà tổ tiên của người Việt20 Bên cạnh sự tiến bộ trong kết cấu của bộ luật thì nội dung thuộc về “dân luật” cũng là một điểm

20 Phạm Thị Ngọc Huyên (chủ biên)(2011), Quyền con người trong pháp luật nhà Lê thế kỷ XV – những giá trị cần kế thừa, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, trang 11-14

Trang 27

nhấn đáng chú ý, cụ thể: bộ luật có nhiều điều khoản để bảo vệ sức kéo và bảo vệ đê điều phù hợp nền kinh tế thuần nông; qui định phong phú và đa dạng các mẫu khế ước để định hướng cho giao dịch dân sự phù hợp với hoàn cảnh dân trí thấp, người dân hiểu biết pháp luật còn hạn chế; có những qui định mang tính chất nhân văn như: bảo vệ người già và trẻ em, giúp đỡ người tàn tật, cô quả, những người có hoàn cảnh khó khăn, tôn trọng phong tục và văn hóa của các dân tộc thiểu số; mặc dù chịu ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo “trọng nam khinh nữ” nhưng vẫn có những điều luật bênh vực quyền lợi và thân phận của người phụ nữ; có những điều luật đề cao giá trị đạo đức tốt đẹp của con người như: lòng nhân ái, vị tha, sự hiếu thảo của con cái, sự chung thủy trong quan hệ vợ chồng, Theo xu hướng phát triển đi lên của luật dân sự, trách nhiệm dân sự thời kỳ này cũng có những thay đổi tích cực rất gần với tư tưởng lập pháp hiện đại: pháp luật đã biết phân biệt giữa lỗi cố ý và lỗi

vô ý để qui định mức trách nhiệm hình sự nặng nhẹ khác nhau; dự liệu các trường hợp được miễn, giảm trách nhiệm dân sự, các hình thức bồi thường thiệt hại,…; qui định nhiều khía cạnh xung quanh vấn đề trách nhiệm dân sự: trách nhiệm do súc vật gây ra, trách nhiệm do đồ vật gây ra, trách nhiệm do người khác gây ra Tuy, chịu tác động sâu sắc từ tính giai cấp của pháp luật phong kiến khiến Nhà nước phong kiến triều Lê hầu như không qui định riêng về việc bồi thường mà cơ bản là dự liệu những chế tài hình sự để trừng phạt những kẻ xâm phạm tài sản hoặc nhân thân của người khác; có nghĩa là người ta sẽ phải chịu hình phạt về hành vi xâm phạm của mình, đồng thời với sự bồi thường cho nạn nhân về tổn thất đã gây ra nhưng điều đặc biệt hơn cả là trong bối cảnh lịch sử kém phát triển như vậy Quốc triều hình luật vẫn có những qui định về trách nhiệm mang tính dân sự thuần túy – Đây thực sự là tiến bộ đáng ghi nhận và cần học hỏi

Như đã nói ở trên, thời kỳ Ngô – Đinh –Tiền Lê và Lý – Trần – Hồ sử liệu còn lại quá ít ỏi và sơ sài vì bị mất mát trong chiến loạn Khi nhà Minh đô hộ nước ta vào đầu thế kỷ thứ XV, họ đã dã tâm tịch thu hết sách vở của ta đem về Kim Lăng mục đích thủ tiêu nền văn hóa cổ truyền của dân Việt và mưu giữ vững nền thống trị bằng hai lợi khí nguy hiểm: chính sách ngu dân và đồng hóa Chính vì thiếu thốn

Trang 28

sử liệu nên không thể đưa ra nhận định chắc chắn rằng giai đoạn Ngô – Đinh – Tiền

Lê và Lý – Trần – Hồ trách nhiệm dân sự đã phát triển như thế nào một cách cụ thể

và rõ ràng Tuy nhiên, các triều đại sau mặc dù các tài liệu gốc không còn nhiều nhưng thông qua các công trình nghiên cứu gián tiếp của nhiều tác giả, cũng có thể thấy rằng hệ thống pháp luật nhà Lê là phát triển hơn cả, theo đó nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội cũng được pháp luật tập trung điều chỉnh bao gồm cả trách nhiệm dân sự Sở dĩ như vậy cũng là vì xuất phát từ nhiều nguyên nhân, khách quan có, chủ quan có: Nhà Lê giành lại đất nước một cách vẻ vang từ tay nhà Minh một phần

là nhờ công lao của nhân dân dưới sự lãnh đạo của giai cấp địa chủ bình dân, “Chế

độ phong kiến dân tộc thời Lê thế kỷ XV đóng một vai trò lịch sử tiến bộ, tích cực, khi lợi ích của giai cấp phong kiến nói chung còn phù hợp với lợi ích của dân tộc, quyền lợi của giai cấp phong kiến chưa mâu thu n sâu sắc với quyền lợi của giai cấp khác trong xã hội” 21 Sau khi giành được độc lập để khắc phục hậu quả chiến

tranh, ổn định xã hội, củng cố chính quyền nhanh chóng đưa đất nước lên đà phát triển các vua Lê đã áp dụng phương châm “cầu hiền”, quan chức được tuyển chọn thời kỳ này toàn nhân tài, họ đóng góp rất nhiều sức lực và trí tuệ của mình để cùng với vua Lê đưa ra nhiều chính sách cai quản đất nước đúng đắn Đặc biệt dưới thời vua Lê thành Tông, vua đã nhận thức được rằng cần phải phát triển kinh tế để tạo nguồn “tài nguyên” cho việc chấn hưng đất nước, do đó nhiều chính sách phát triển kinh tế đã được ban hành như: quân điền, lộc điền, trọng nông khuyến thương,… Tuy nhiên, nhằm đảm bảo những chính sách kinh tế này được lan tỏa nhanh rộng, thống nhất, và thực hiện chính xác trên quy mô toàn xã hội thì cần phải cụ thể hóa chúng vào pháp luật Vì thế, dân luật bắt đầu được chú trọng nhiều hơn và khi các quan hệ dân sự có một hành lang pháp lý vững vàng để vận hành thì càng có cơ hội

để phát triển ngày càng phong phú, đến lượt mình dân luật chịu sự chi phối từ các hiện tượng khách quan nên để đảm bảo tính khả thi, dân luật sẽ phải phát triển theo cho phù hợp với thực tiễn Tinh thần xem trọng kinh tế và tấm lòng nhân ái yêu

21 Đinh Gia Trinh(1968), Sơ khảo lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, nhà xuất bản khoa học xã hội,

tr.174

Trang 29

thương nhân dân của các vua Lê lại thêm đội ngũ quan lại tận tụy và trí tuệ giúp sức khiến cho pháp luật (bao gồm dân luật) nhà Lê phát triển đến đỉnh cao của pháp luật

phong kiến Hơn thế nữa, các vua Lê không chỉ “nuôi mộng” xây dựng nên một mô

hình nhà nước theo đúng bản chất phong kiến của nó (một cá nhân đại diện điển hình là Vua sẽ thâu tóm mọi quyền lực), mà còn mong muốn có được một đất nước hưng thịnh Và cách tốt nhất để hiện thực chúng chỉ có thể bằng con đường cụ thể hóa những “ý tưởng” ấy vào trong pháp luật vì pháp luật không những là ý chí của giai cấp thống trị đã được luật hóa mà còn là công cụ cưỡng chế hiệu quả nhất Chính vì vậy, các vua Lê ra sức hoàn thiện hệ thống pháp luật, bên cạnh chú trọng đến lợi ích của giai cấp thống trị, các vua Lê còn đưa ra các qui định nhằm bênh vực cho lợi ích của các thành phần xã hội khác vì họ nhận thức được rằng “Quốc dĩ dân

vi bản” (nước lấy dân làm gốc), điều này đã khiến dân luật và trách nhiệm dân sự có

cơ hội phát triển vượt bậc cùng cả hệ thống pháp luật nhà Lê, trở thành mẫu mực cho các triều đại sau noi theo22

Pháp luật nhà Lê đã phát triển liên tục như thế từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, trong lịch sử pháp luật phong kiến, không có thời kỳ nào nhiều tập hội điển như thời

kỳ này: Thiên nam dư hạ tập, Hồng đức thiện chính thư, Quốc triều thư khế thể thức, Quốc triều chiếu lệnh thiện chính, Lê triều hội điển Pháp luật ở buổi đầu của thời Lê Sơ, tuy đã chú trọng nhưng chưa thể phát triển tới đỉnh cao, phải đợi đến đời

Lê Thánh Tông – một vị vua anh minh trị vì 40 năm mới phát triển rực rỡ Tên tuổi của ông gắn liền với bộ Quốc triều hình luật là bộ luật được vua Thánh Tông tập hợp và sắp xếp từ các điều luật được ban hành và thi hành từ đầu thế kỷ cho đến lúc

đó Có thể nói Quốc triều hình luật là một trong những bộ luật phong kiến tiến bộ nhất và đặc sắc nhất trong lịch sử pháp luật Việt Nam; không chỉ phản ánh ý thức

22

Đinh Gia Trinh(1968), Sơ khảo lược sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, chương hai: Nhà nước và pháp

quyền trong thời kỳ phát triển toàn thịnh của chế độ phong kiến trung ương tập quyền (thế kỷ XV), nhà xuất bản khoa học xã hội

Phạm Thị Ngọc Huyên (chủ biên) (2011), Quyền con người trong pháp luật nhà Lê thế kỷ XV – những giá trị cần kế thừa, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, trang 15-19

Trang 30

giai cấp mà nó còn thể hiện khá rõ nét bản sắc dân tộc; đặc biệt ở đây nổi lên ý thức bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, người già, trẻ em, bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của người dân cũng như ý thức bảo vệ độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ Bộ luật đánh dấu thời kỳ hoàng kim nhất, rực rỡ nhất của chế độ phong kiến dưới triều đại Lê sơ, là “khuôn vàng thước ngọc” cho các triều đại sau noi theo Bộ Quốc triều hình luật không chỉ được sử dụng trong suốt khoảng thời gian nhà Lê nắm quyền

mà ngay cả những triều đại sau đó không sử dụng lại toàn vẹn thì cũng kế thừa Cũng xin nói thêm rằng, các vương triều tiếp sau Nhà Lê tiếp tục ban hành nhiều bộ luật khác nhau, trong đó nổi trội có bộ Hoàng việt luật lệ thời nhà Nguyễn vẫn được đời sau nhắc đến; mặc dù ra đời sau, có kế thừa cũng như phát triển hơn tuy rất ít nhưng xét một cách tổng thể thì giá trị của bộ Hoàng việt luật lệ vẫn không thể sánh bằng bộ Quốc triều hình luật được Điều này lại xuất phát từ những nguyên nhân khác nữa23 Chính những thành tựu đó khiến Quốc triều hình luật được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá rất cao về tư tưởng và trình độ lập pháp, vượt xa so với khuôn mẫu tư duy của thời đại phong kiến, trở thành mẫu mực các triều đại trước đó chưa hề đạt tới, triều đại sau không thể vượt qua24

Trách nhiệm dân sự trong pháp luật thời kỳ nội chiến phân liệt:

Ở thời Nam – Bắc triều, chiến tranh triền miên nên việc xây dựng pháp luật ít được chú ý Nhà Mạc dường như không có ý định thay đổi hệ thống luật pháp vốn

đã hoàn chỉnh của thời Lê Đại việt sử ký toàn thư cho hay Đăng Dung sợ lòng người nhớ nhung vua cũ nên phải tuân giữ pháp độ của triều Lê, không dám thay đổi

Ở nhà nước Đàng trong – Đàng ngoài:

Đàng ngoài vẫn áp dụng pháp luật của thời Lê sơ, tuy rằng có sửa đổi và bổ sung cần thiết, nhất là trong địa hạt kinh tế, tài chính, văn hóa,… Riêng đối về dân luật, trong các thế kỷ sau Lê Thánh Tông hầu như không có văn bản pháp luật nào

có tính chất quan trọng đáng kể được ban hành thêm Những vấn đề về thừa kế, hợp

23 Sẽ được phân tích ở phần “Trách nhiệm dân sự trong pháp luật thời Nguyễn”

24 Sẽ được phân tích ở chương 2

Trang 31

đồng, hôn nhân – gia đình trong Quốc triều hình luật vẫn được giữ nguyên, về cơ bản không có gì thay đổi Nếu về pháp luật hình sự, dân sự, chính quyền Đàng ngoài không có những sáng tạo mới gì đáng kể thì trong lĩnh vực luật lệ về tố tụng

tư pháp hoạt động lập pháp của nhà Trịnh lại khá phong phú

Pháp luật của chúa Nguyễn ở Đàng trong hầu như không được ghi trong sử sách, có lẽ các chúa Nguyễn vẫn áp dụng nhiều luật lệ của thời Lê sơ Tuy nhiên, do

xã hội Đàng trong có những nét khác biệt nên đương nhiên phải có một số luật lệ mới về tổ chức chính quyền và điền sản để khuyến khích khai khẩn đất hoang

Ở triều Tây Sơn, luật lệ được ban hành nhằm mục đích yên dân, ổn định xã hội, khôi phục kinh tế Hơn nữa, nhà Tây Sơn chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ngắn và phải tập trung vào việc chiến tranh nên chưa có điều kiện thuận lợi để chú tâm xây dựng luật pháp và có lẽ vẫn áp dụng luật lệ của nhà Lê

Như vậy, pháp luật về mặt hình sự, dân sự, gia đình, hành chính, lễ nghi,… của các vương triều Lê –Trịnh, Nguyễn, Tây sơn nhìn chung vẫn áp dụng nền pháp luật phong kiến tương đối hoàn chỉnh của nhà Lê ở thế kỷ XV biểu hiện tập trung là

Bộ Quốc triều hình luật mà không có sửa đổi hoặc bổ sung gì quan trọng Điều này cũng đồng nghĩa với việc trách nhiệm dân sự trong thời kỳ này cũng không có gì mới mẻ hơn so với thời Lê triều toàn thịnh

1.2.4 Trách nhiệm dân sự trong pháp luật thời Nguyễn

Trong 143 năm từ 1802 đến 1945, xét dưới góc độ dân tộc độc lập cũng như Nhà nước và pháp luật, chúng ta có thể phân kỳ lịch sử triều Nguyễn thành hai giai đoạn: Giai đoạn độc lập (1802 – 1884) và giai đoạn Pháp thuộc (1885 – 1945) Tuy nhiên, trong tiểu mục này tác giả xin nghiên cứu về trách nhiệm dân sự trong pháp luật triều Nguyễn tại giai đoạn độc lập

Trong 82 năm, triều Nguyễn đã trải qua bảy đời vua từ Gia Long đến Tự Đức,

để củng cố vương quyền và khẳng định vị thế của mình, các Hoàng Đế đều quan tâm xây dựng pháp luật và chú trọng áp dụng pháp luật Thông qua việc ban hành nhiều văn bản qui phạm pháp luật khác nhau dưới nhiều hình thức phong phú từ các văn bản đơn hành như: Chiếu, Dụ, Sắc, Lệnh, Chuẩn, Sách đến các công trình pháp

Trang 32

điển hóa là các bộ luật mang tính tổng quát điều chỉnh các mảng đời sống xã hội rộng lớn hơn; pháp luật nhà Nguyễn cũng như dân luật và trách nhiệm dân sự đã có nhiều cơ hội để phát triển đa dạng về nội dung lẫn hình thức Trong số đó, Bộ luật Gia Long được xem là tinh hoa của pháp luật nhà Nguyễn Là bộ luật phong kiến ra đời sau muộn nên việc kế thừa kinh nghiệm lập pháp từ các triều đại trước cũng là

lẽ thường tình, đặc biệt triều đại nhà Lê trước đó đã thành công rực rỡ trong công cuộc tạo lập nên một nền pháp luật phong kiến mang tính nhân văn và đậm nét truyền thống dân tộc, sẽ là “kim chỉ nan” quan trọng mà vương triều nhà Nguyễn không thể bỏ qua trong hoạt động lập pháp của mình Điều này được thể hiện rõ nét

trong lời tựa của Hoàng việt luật lệ, vua Gia Long đã khẳng định: “Ta nhờ oai linh

liệt thánh, trấn áp hỗn loạn, đem lại thanh bình, chỉnh đốn trật tự c i bờ theo luật pháp, lấy giáo hóa làm việc hàng đầu; tuy vậy cũng v n quan tâm đặc biệt đến việc

xử phạt Giở xem hình luật của các triều đại trước của nước Việt ta, mỗi triều đại

thành lập từ Lý, Trần, Lê đều có pháp chế riêng cho mỗi triều đại, đầy đ hơn

ả ộ t ng đ i Cả triều đình phương ắc, các vua dựng lên

những là án, Đường, Tống, Minh… Mỗi triều đại các sách về luật lệ đều có sửa đổi mà đầy đủ nhất là luật triều đại nhà Thanh Thế cho nên, ta ra lệnh cho triều

thần lấy luật lệ của các triều đại nước ta làm căn bản, tha hi t ng

và luật Thanh triều; r t lấy, thêm bớt, cân nhắc, biên tập thành bộ luật tiện dụng…” Theo đó, trách nhiệm dân sự trong pháp luật nhà Nguyễn ít nhiều sẽ có kế

thừa từ nhà Lê và cũng có bước phát triển hơn, cụ thể: trách nhiệm dân sự đã có sự tách bạch giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, đã phân biệt lỗi cố ý với vô ý cũng như mức độ thiệt hại để qui định bồi thường tăng nặng hoặc giảm nhẹ, tôn trọng sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng về mức bồi thường thiệt hại do vi phạm khế ước, miễn trách nhiệm dân sự trong trường hợp thiệt hại xảy ra do nguyên nhân khách quan Đây thực sự là những qui định tiến bộ rất gần với tư tưởng lập pháp của “dân luật” hiện đại

Trang 33

Thế nhưng, trong suốt thời gian trị vì, nhà Nguyễn luôn phải đương đầu tình trạng chống đối quyết liệt từ nhân dân và sĩ phu các triều đại trước, cộng thêm tình hình đất nước thiếu thống nhất, những bất ổn này thực sự đã trở thành một gánh nặng, nên vấn đề củng cố vương quyền và bình ổn đất nước đương nhiên chiếm phần lớn tâm trí của vua quan nhà Nguyễn Trước tình hình đó, nhà nguyễn sẽ phải

sử dụng thành quả lập pháp của ông cha đi trước để nhanh chóng xây dựng pháp luật và sẽ là cần thiết khi nhà Nguyễn tiếp tục đề cao hình luật hơn dân luật Bên cạnh đó, để ngăn ngừa khả năng xâm chiếm của các nước hùng mạnh lân cận nhà Nguyễn vẫn tiếp tục áp dụng chế độ “ức thương” của thời kỳ trước, khiến các giao dịch dân sự càng không có cơ hội phát triển Cũng vì thế, dân luật nhà Nguyễn và cả trách nhiệm dân sự không có điều kiện để phát triển hơn nhà Lê25

25 Phạm Thị Ngọc Huyên (chủ biên)(2011), Quyền con người trong pháp luật nhà Lê thế kỷ XV – những giá trị cần kế thừa, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, trang 7-8

Trang 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Mặc dù, chịu sự chi phối mạnh mẽ từ bản chất tập quyền cao độ của Nhà nước phong kiến, lại thêm nền kinh tế thuần chất nông nghiệp và tính cố kết cộng đồng làng xã - bối cảnh lịch sử không mấy thuận lợi cho sự khẳng định vị thế của “dân luật” trong nền pháp luật phong kiến; nhưng thuận theo xu hướng phát triển chung của pháp luật, “trách nhiệm dân sự” đã ra đời Trải qua nhiều giai đoạn phát triển và

“trải nghiệm” cùng các vương triều phong kiến, trách nhiệm dân sự từ nguyên bản

sơ khai là sự trả thù tự phát giữa các cá nhân có gây thiệt hại với nhau và không được ghi nhận dưới bất kỳ điều luật nào, đã dần khẳng định được sự cần thiết của mình đối với nhu cầu của xã hội để được các nhà làm luật quan tâm định hình thành những điều khoản cụ thể, rõ ràng Tuy nhiên, cùng là trách nhiệm dân sự nhưng vào mỗi vương triều lại có mức độ hoàn thiện khác nhau Điển hình về sự phát triển vượt bậc là trách nhiệm dân sự trong pháp luật nhà Lê nhưng nổi bật nhất trong thế

kỷ XV này vẫn là những qui định về trách nhiệm dân sự trong Bộ Quốc triều hình luật – là sự kết tinh trí tuệ tài ba của tất cả các đời vua, chính điều này đã góp phần tạo nên giá trị trường tồn cho bộ luật và trở thành “khuôn vàng thước ngọc” cho muôn đời sau Đến lượt mình chế định trách nhiệm dân sự được đút kết trong đó cũng mang những tinh hoa lập pháp mà người nghiên cứu pháp lý khó lòng “làm ngơ”

Trang 35

CHƯƠNG 2:

NỘI DUNG TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ TRONG PHÁP LUẬT NHÀ

LÊ GIAI ĐOẠN 1428 – 1527 VÀ GIÁ TRỊ CÓ THỂ KẾ THỪA

2.1 Các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm dân sự trong pháp luật nhà Lê giai đoạn 1428 - 1527

Trong cổ luật, căn cứ làm phát sinh trách nhiệm dân sự không được qui định tổng quát ở một điều luật nào cả, song qua các điều khoản qui định từng trường hợp

cụ thể của Bộ Quốc triều hình luật, chiếu theo quan niệm pháp lý ngày nay ta có thể nhận diện và thấy rằng những căn cứ này cũng được thể hiện ở một số khía cạnh

sau:

2.1.1 ành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật

Về nguyên tắc, hành vi trái pháp luật có thể là hành vi trái với qui định của pháp luật hiện hành xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, uy tín của người khác và gây thiệt hại cho người đó (trường hợp giữa các bên không tồn tại một hợp đồng nào); cũng có thể là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghiã vụ mà pháp luật đã xác lập hoặc nghĩa vụ do hai bên thỏa thuận, cam kết thực hiện nhưng được pháp luật thừa nhận và bảo vệ (trường hợp giữa các bên tồn tại một hợp đồng) Pháp luật phong kiến triều Lê lại không phân chia như vậy mà ấn định một cách minh thị quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ dân sự, chỉ khi nào chúng được thực hiện khác với qui định của pháp luật thì mới làm phát sinh trách nhiệm dân sự Cụ thể, khi hai bên chủ thể có giao kết khế ước thì trách nhiệm dân sự vẫn chỉ phát sinh khi có hành vi làm trái với những gì pháp luật qui định,

Điều 603 Quốc triều hình luật: “Đồng ý cho mướn thuyền rồi mà cố cãi không có,

thì xử biếm một tư, phải đền tiền mướn gấp hai” Trong trường hợp này, hai bên đã

tồn tại một hợp đồng thuê mướn thuyền tuy nhiên chỉ khi nào xảy ra chuyện cãi cọ không cho mướn như điều luật đã cấm thì mới làm phát sinh trách nhiệm bồi thường, có nghĩa là ở đây tồn tại một sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mà nghĩa vụ này được pháp luật qui định sẵn; việc này hoàn toàn không phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia khế ước, cho dù hai bên có thỏa thuận không đền bù trong trường

Trang 36

hợp này đi chăng nữa thì cũng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của điều luật Xét

Điều 455 Quốc triều hình luật: “Những vương công nhà thế phiệt mà chứa chấp

trộm cướp trong trang trại, coi đó là nới ẩn nấp, thì bị phạt 500 quan tiền, tịch thu hết trang trại…Nếu bồi thường tang vật thì truy nơi chủ trang trại…” Ta thấy,

người chủ trang trại đã thực hiện hành vi trái pháp luật, pháp luật không cho làm một việc (không chứa chấp quân trộm cướp) mà người đó lại làm (chứa chấp quân trộm cướp) nên người chủ trang trại phải bồi thường tang vật do hành vi vi phạm

pháp luật của mình gây ra Tương tự, Điều 456 Quốc triều hình luật: “Đầy tớ nhà

nào đi ăn trộm mà chủ không tố cáo cho quan biết thì xử biếm năm tư… và phải đền thay cho tớ những tang vật mà ch ng ăn trộm, ăn cướp” Điều luật qui định một

việc phải làm (tố cáo đầy tớ) nhưng chủ nhà lại không thực hiện (không tố cáo đầy tớ), việc này hiển nhiên đã làm phát sinh trách nhiệm bồi thường đối với chủ nhà Xuất phát từ tính đặc thù của pháp luật phong kiến là các quan hệ pháp luật đều bị hình sự hóa, “hành vi nào pháp luật qui định là tội phạm thì mới được xem là tội phạm” nên việc xác định trách nhiệm dân sự cũng phải căn cứ vào pháp luật, chỉ khi nào hành vi được pháp luật qui định thì mới đem ra xét xử, việc hành động ngoài nội hàm của những gì pháp luật qui định đều không làm phát sinh trách nhiệm

dân sự cho người thực hiện Điều 683 Quốc triều hình luật nói rằng: “Quan xử án

trong bản án chỗ luận tội phải d n đủ chánh văn và cách thức luận lịch Làm trái thì xử phạt Xét xử theo riêng ý mình thì bị biếm một tư Nếu có thêm bớt thì xử theo luật thêm bớt tội cho người” Điều luật qui định việc xử án không thể tùy tiện mà

định tội, mọi hành vi vi phạm đều phải “rọi” vào pháp luật, nếu quan tự ý xét xử theo ý của mình sẽ bị biếm một tư và để đảm bảo rằng việc xét xử nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật thì chỗ luận tội phải dẫn đủ chánh văn và cách luận lịch Với qui định ghi rõ dẫn chứng và luận lịch trong phần luận tội của bản án, sẽ tiện cho việc kiểm tra giám sát hoạt động xét xử, loại trừ được khả năng quan lại xét xử cẩu thả không tuân thủ pháp luật Nội dung này cũng được thể hiện rõ nét tại Điều 722

Quốc triều hình luật: “ ình quan chuẩn định tội danh chiếu theo luật đã có các

điều mục chánh, nhưng người nào tự ý thêm vào hay viện d n điều chú thích khác

Trang 37

để xử tội nặng, nhẹ theo ý riêng mình, thì bị xử nặng hơn một bậc tội thêm bớt tội cho người” Như vậy, các quan khi định tội đều phải chiếu theo điều khoản pháp

luật đã qui định để xét xem hành vi ấy có vi phạm nghĩa vụ mà pháp luật qui định hay không, việc tự ý thêm bớt bất cứ chú thích nào khác ngoài những gì luật qui

định đều bị xử phạt Chế tài đối với hành vi này còn bị xử nặng hơn cả tội thêm bớt

tội cho người khác Chứng tỏ, pháp luật rất nghiêm khắc đối với những trường hợp

tùy tiện trong xét xử Điều 685 Quốc triều hình luật có nói: “Những sắc chế [của

vua] về xử tội thì có tính cách nhứt thời, nó không là sắc tịnh vĩnh viễn; do đó không được viện d n chế sắc ấy để xử chuyện sau Nếu ai kiện ra xét xử không đ ng đễn nỗi có chuyện thêm bớt tội, thì khép vào tội cố ý làm sai luật” Qui định của

điều luật khá tiến bộ khi mà các nhà lập pháp thời bấy giờ đã nhận thức được rằng sắc chế là bất biến và chỉ đúng trong một hoàn cảnh cụ thể tại một thời điểm nhất định mà thôi, trong khi các quan hệ xã hội thì luôn luôn thay đổi và biến hóa phức tạp Do đó, việc dùng sắc chế của vua để xét đoán các vụ án về sau là hoàn toàn không phù hợp, chỉ có pháp luật với tư cách là các qui định mang tính chất chung đã được các nhà lập pháp tiên liệu trước mới có thể tham gia điều chỉnh tất cả các quan

hệ phát sinh sau đó

2.1.2 Sự tổn thất thực tế

Tổn thất được xem là tiền đề quan trọng làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm dân sự từ đó mà cũng hình thành nên Mục đích của việc áp dụng loại trách nhiệm này là nhằm khôi phục lại tình trạng tài sản cũng như nhân thân cho người bị thiệt hại Do đó, không có tổn thất thì không thể đặt vấn đề bồi thường ở đây được Dựa trên cơ sở phân loại của pháp luật hiện đại, bóc tách các qui định từ cổ luật mà cụ thể là pháp luật nhà Lê, cũng có thể chia tổn thất thành hai

loại sau:

Thứ nhất, sự tổn thất vật chất:

Tổn thất vật chất là sự biến đổi theo chiều hướng xấu đi trong tài sản của một người thể hiện ở những tổn thất thực tế có thể tính được thành tiền mà người đó phải gánh chịu do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra Hầu hết các điều

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Xuân Đính, Vua Lê Thánh Tông và pháp luật, tạp chí Nhà nước – pháp luật (số 9/1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vua Lê Thánh Tông và pháp luật
2. Bùi Xuân Đính (2005), Nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam - những suy ng m, nhà xuất bản tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam - những suy ng m
Tác giả: Bùi Xuân Đính
Nhà XB: nhà xuất bản tư pháp
Năm: 2005
3. Đại Việt sử ký toàn thư (1993), tập II, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Đại Việt sử ký toàn thư
Nhà XB: nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1993
4. Đỗ Đức Hồng, Một số ghi nhận về nội dung của Bộ luật Hồng Đức, tạp chí Nhà Nước – Pháp luật (số 6/2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ghi nhận về nội dung của Bộ luật Hồng Đức
5. Đinh Gia Trinh (1968), Sơ khảo lược sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam, nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ khảo lược sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Trinh
Nhà XB: nhà xuất bản khoa học xã hội
Năm: 1968
6. Insun Yu (1994), Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XV – XVIII, người dịch Nguyễn Quang Ngọc, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XV – XVIII
Tác giả: Insun Yu
Nhà XB: nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1994
7. Giáo trình luật dân sự Việt Nam (2006), tập 2, trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Giáo trình luật dân sự Việt Nam
Nhà XB: nhà xuất bản công an nhân dân
Năm: 2006
8. Giáo trình lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam (2006), trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam
Tác giả: Giáo trình lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam
Nhà XB: nhà xuất bản công an nhân dân
Năm: 2006
9. Luật và xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII – XVIII (1994), nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật và xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII – XVIII
Tác giả: Luật và xã hội Việt Nam từ thế kỷ XVII – XVIII
Nhà XB: nhà xuất bản khoa học xã hội
Năm: 1994
10. Lê Thị Sơn (2004), Quốc triều hình luật – lịch sử hình thành, nội dung và giá trị, nhà xuất bản khoa hoc xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều hình luật – lịch sử hình thành, nội dung và giá trị
Tác giả: Lê Thị Sơn
Nhà XB: nhà xuất bản khoa hoc xã hội
Năm: 2004
11. Phan Huy Lê (1959), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, tập 2, nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam
Tác giả: Phan Huy Lê
Nhà XB: nhà xuất bản giáo dục
Năm: 1959
12. Lương Ninh (2005), Lịch sử Việt Nam giản yếu, nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam giản yếu
Tác giả: Lương Ninh
Nhà XB: nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2005
13. Nguyễn Hoài Văn (2002), Tư tưởng chính trị nho giáo từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh, nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng chính trị nho giáo từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh
Tác giả: Nguyễn Hoài Văn
Nhà XB: nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2002
14. Nguyễn Minh Tuấn, Nét độc đáo của qui phạm pháp luật trong bộ luật Hồng Đức, tạp chí nghiên cứu pháp luật (số 33 tháng 3/2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét độc đáo của qui phạm pháp luật trong bộ luật Hồng Đức
15. Nguyễn Xuân Quang – Lê Nết – Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật dân sự Việt Nam, nhà xuất bản đại học quốc gia, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Quang – Lê Nết – Nguyễn Hồ Bích Hằng
Nhà XB: nhà xuất bản đại học quốc gia
Năm: 2007
16. Nguyễn Quang Ngọc (2008), Tiến trình lịch sử Việt Nam, nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình lịch sử Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Ngọc
Nhà XB: nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2008
17. Nguyễn Văn Nam (2010), Lịch sử Việt Nam, nhà xuất bản thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Nam
Nhà XB: nhà xuất bản thời đại
Năm: 2010
18. Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV – Pháp thuộc (2007), nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV – Pháp thuộc
Tác giả: Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV – Pháp thuộc
Nhà XB: nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2007
19. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
20. Phạm Thị Ngọc Huyên (2000), Tính nhân văn của pháp luật nhà Lê thế kỷ XV, đặc san khoa học pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính nhân văn của pháp luật nhà Lê thế kỷ XV
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Huyên
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w