1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trong luật hình sự việt nam

86 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT THUỘC DANH MỤC LOÀI NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM ĐƢỢC ƢU TIÊN BẢO VỆ (16)
    • 1.1. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay (16)
      • 1.1.1. Thời kỳ từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 (16)
      • 1.1.2. Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 (17)
      • 1.1.3. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trong Bộ luật hình sự năm 1999 (19)
      • 1.1.4. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trong Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999 số 37/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 (22)
    • 1.2. Pháp luật hình sự của một số quốc gia có liên quan đến Tội vi phạm các (22)
      • 1.2.1. So sánh với pháp luật hình sự của Vương quốc Thụy Điển (23)
      • 1.2.2. So sánh với Bộ Luật hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (23)
      • 1.2.3. So sánh với pháp luật hình sự của Philippines (24)
      • 1.2.4. So sánh với Bộ luật Hình sự của Liên Bang Nga (25)
      • 1.2.5. So sánh với bộ luật hình sự Canada (26)
    • 1.3. Đặc điểm pháp lý của Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc (27)
      • 1.3.1. Khái niệm động vật, động vật nguy cấp, quý, hiếm và Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (27)
    • 2.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội có tác động đến các (41)
    • 2.2. Tình trạng vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài (43)
    • 2.3 Những hạn chế, bất cập trong việc áp dụng các quy định của pháp luật có liên quan đến Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ (46)
      • 2.3.1. Những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật (46)
      • 2.3.2. Thực tiễn áp dụng Điều 190 Bộ luật hình sự và những hạn chế, vướng mắc (57)
    • 2.4. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan đến Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ (62)
      • 2.4.1. Hoàn thiện Điều 190 Bộ luật hình sự về Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (62)
      • 2.4.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật c liên quan đến việc áp dụng Điều (64)
      • 2.4.3. Nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật c liên quan đến Điều 190 Bộ luật Hình sự về Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (0)
  • KẾT LUẬN (39)

Nội dung

Trong bài viết, tác giả đã nêu lên thực trạng vướng mắc của các cơ quan chức năng trong việc áp dụng Điều 190 BLHS và những điểm bất hợp lý, thiếu đồng bộ của các văn bản hướng dẫn thi h

NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT THUỘC DANH MỤC LOÀI NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM ĐƢỢC ƢU TIÊN BẢO VỆ

Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay

1.1.1 Thời kỳ từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985

Ngay sau khi Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập, khai sinh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945, nước ta đã ban hành Hiến pháp năm 1946, mở ra kỷ nguyên pháp lý cho một nước Việt Nam độc lập và tự do Hiến pháp năm 1946 xác lập nền tảng của chế độ dân chủ cộng hòa, khẳng định quyền làm chủ của nhân dân và định hình đường lối xây dựng đất nước sau ngày lịch sử 2/9/1945.

Vào năm 1946, Việt Nam đã đặt nền tảng pháp lý để tổ chức và vận hành một nhà nước non trẻ, nhưng giai đoạn này các luật chuyên ngành hầu như chưa được ban hành do áp lực đấu tranh giành độc lập và xây dựng quốc gia Hiến pháp năm 1946, ở lời nói đầu, khẳng định nhiệm vụ của dân tộc là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ Luật hình sự thời kỳ này đã quy định các tội phạm và hình phạt để trừng trị những hành vi xâm phạm đến các lợi ích thiêng liêng được Hiến pháp quy định, như Sắc lệnh 26/SL (25-2-1946) về trừng trị tội phá hoại công sản và Sắc lệnh 223/SL (17-11-1946) quy định truy tố tội hối lộ, biển thủ công quỹ; tuy nhiên lĩnh vực môi trường nói chung và tội phạm xâm hại các loài động vật quý hiếm chưa được đề cập tới và chưa có văn bản quy định cụ thể Chỉ có Thông tư liên bộ 1303-BCN/VN (28-6-1946) liên quan đến bảo vệ rừng, nhấn mạnh ai vi phạm lệnh cấm chặt phá rừng sẽ bị phạt tù, phạt tiền theo thể lệ đã ấn định, nhưng dường như các nhà làm luật chú tâm nhiều đến bảo vệ thực vật và chưa quan tâm đầy đủ tới bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm Nhận thức của nước ta ở giai đoạn này cho thấy việc săn bắt động vật chưa được coi là ưu tiên.

BLHS 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 lần đầu đề cập đến cụm từ “động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” và nêu rõ các hành vi nuôi, săn bắt và buôn bán động vật hoang dã là trái pháp luật Nguyên nhân của tình trạng này là nước ta lúc ấy là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu với dân số còn hạn chế, khiến việc bảo vệ môi trường và các loài động vật hoang dã quý hiếm chưa được coi là ưu tiên Văn kiện Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần III năm 1960 nhấn mạnh đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam để thực hiện thống nhất đất nước.

Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước, dân tộc ta tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh và thúc đẩy phát triển kinh tế để thoát khỏi khủng hoảng kéo dài Đây cũng là bước ngoặt trong lịch sử lập pháp Việt Nam về bảo vệ môi trường khi vấn đề bảo vệ môi trường được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1980 Điều 36 của Hiến pháp 1980 quy định rằng các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân có nghĩa vụ thực hiện các chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống.

Trước khi BLHS 1985 được ban hành, pháp luật Việt Nam đã có các quy định về tội phạm và hình phạt nhằm trừng trị những hành vi xâm phạm đến an ninh quốc gia và chủ quyền lãnh thổ, nhưng chưa có quy định nào về tội “xâm hại” các loài động vật nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.

1.1.2 Thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 Ở nước ta, khủng hoảng kinh tế, xã hội cuối những năm 70 và đầu những năm 80 đã dẫn đến những cuộc cải cách kinh tế sâu sắc bằng việc xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa (từ năm 1986) Cùng với việc phục hồi và phát triển nền kinh tế, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Và cũng chính từ đây, môi trường tự nhiên bắt đầu bị xâm hại đến mức báo động Dân số tăng nhanh, đất nước chưa thực sự phát triển mạnh mẽ, nông nghiệp lạc hậu, kỹ thuật công nghiệp mới bắt đầu được hình thành là nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy con người đi đến khai thác, tận diệt các nguồn tài nguyên, các loài động vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm Tình trạng phá rừng tràn lan, tận diệt tài nguyên làm đe dọa đến cân bằng sinh thái, tình trạng thải chất thải chưa qua xử lý trong quá trình sản xuất làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng,…đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của mọi người không chỉ trong giai đoạn hiện tại mà còn để lại hậu quả nặng nề cho thế hệ mai sau Để hiện thực hóa tinh thần Điều 36 Hiến pháp 1980, tại Điều 181 BLHS

1985 nêu rõ:“ Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng

1 Người nào khai thác trái phép cây rừng, săn bắt trái phép chim, thú hoặc c những hành vi khác vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm

2 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm.”

Điều luật này gộp chung nhiều hành vi xâm hại môi trường liên quan đến quản lý và bảo vệ rừng, đồng thời bao gồm cả nội dung bảo vệ động vật nói chung nhưng lại không nhắc tới các loài động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm Điều luật chỉ đề cập đến hành vi săn bắt trái phép chim, thú nhưng vẫn chưa thực sự đầy đủ Dường như các nhà làm luật quan tâm nhiều hơn tới yếu tố kinh tế thay vì bảo vệ sự tồn tại của các loài chim, thú hoang dã và bảo vệ tính đa dạng sinh học của rừng Điều này được thể hiện rõ qua cách phân tích cấu thành tội phạm của điều luật.

Khách thể của tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng là các quan hệ xã hội được Nhà nước bảo vệ trong quá trình quản lý và bảo vệ rừng, nhằm bảo đảm sự phát triển bình thường của cây rừng và sự đa dạng của các loài chim, thú sống trong môi trường tự nhiên Các quan hệ này dễ bị xâm hại bởi hành vi phạm tội, từ đó làm tổn hại đến quá trình quản lý và bảo vệ rừng.

Mặt khách quan được thể hiện qua các hành vi liên quan đến bảo vệ động vật hoang dã, điển hình là hành vi săn bắt chim muông, thú rừng khi không có giấy phép hoặc vi phạm các quy định của nhà nước Điều 181 BLHS năm 1985 quy định rằng hành vi khách quan chỉ được coi là tội phạm khi gây ra hậu quả nghiêm trọng; nếu không chứng minh được hậu quả nghiêm trọng, người thực hiện hành vi săn bắt như trên chỉ có dấu hiệu xử phạt vi phạm hành chính, và do đó không được coi là tội phạm.

Mặt chủ quan là mặt bên trong của tội phạm, bao gồm lỗi, động cơ và mục đích phạm tội Trong điều luật này, lỗi được xác định là lỗi cố ý; còn động cơ và mục đích không nhất thiết phải có để cấu thành tội phạm.

Về chủ thể, người thực hiện hành vi phải đủ độ tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS 1985

Trong pháp lý hình sự, tội phạm có cấu thành vật chất gây ra hậu quả nghiêm trọng là làm mất các loài chim, thú được bảo vệ và làm mất cân bằng sinh thái Vì vậy, hành vi săn bắt trái phép các loài này được coi là tội phạm khi có chứng cứ về hậu quả nghiêm trọng Nếu không chứng minh được hậu quả nghiêm trọng, hành vi săn bắt nói trên chỉ được coi là vi phạm hành chính, trừ khi có dấu hiệu đã bị xử lý hành chính thì mới được coi là tội phạm.

Về hình phạt, khung hình phạt cao nhất lên tới 10 năm tù cho các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, và xu hướng của các nhà làm luật dường như là ưu tiên phá rừng gây hậu quả nghiêm trọng hơn là chú trọng tới các hành vi săn bắt chim, thú rừng trái phép Trước khi Bộ luật hình sự năm 1999 được ban hành, thực tế xử lý các tội phạm này chủ yếu liên quan đến phá rừng và khai thác gỗ trái phép, với tỷ lệ áp dụng không cao.

1.1.3 Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trong Bộ luật hình sự năm 1999

1.1.3.1 Bối cảnh và quan điểm lập pháp

Điều 29 Hiến pháp năm 1992 (nay là Điều 63 Hiến pháp năm 2013) quy định rằng mọi cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; đồng thời nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường.

Pháp luật hình sự của một số quốc gia có liên quan đến Tội vi phạm các

Đối với Việt Nam, tội danh vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ là một tội mới được bổ sung thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999, nhưng tên gọi và một số hành vi khách quan còn nhiều bất cập, đồng thời các văn bản hướng dẫn thi hành chưa thống nhất với nhau Việc nghiên cứu quy định của luật hình sự liên quan đến tội danh này ở một số quốc gia đã ưu tiên bảo vệ động vật giúp làm rõ các mô hình quy định, từ đó rút ra kinh nghiệm để đề xuất các giải pháp lập pháp phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam Các nhà làm luật có cơ sở so sánh và lựa chọn kinh nghiệm quý báu từ các quốc gia trên nhằm nâng cao tính nhất quán, hiệu lực thực thi và khả năng bảo vệ các loài nguy cấp, quý hiếm trong khuôn khổ hệ thống pháp luật Việt Nam.

1.2.1 So sánh với pháp luật hình sự của Vương quốc Thụy Điển

Ở Thụy Điển, tội phạm về môi trường được hệ thống hoá và tập hợp thống nhất tại Chương 29, Bộ luật Môi trường Thụy Điển năm 1999; các tội danh cụ thể về môi trường được điều chỉnh bởi Bộ luật Môi trường, còn các vấn đề chung như chủ thể phạm tội và quyết định hình phạt lại thuộc phạm vi Bộ luật Hình sự Thụy Điển năm 1999 Nội dung luật có quy định về tội vi phạm các quy định bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, được thể hiện trong Điều 8 và Điều 10 của Chương 29 Mặc dù kỹ thuật lập pháp khác nhau, các hành vi khách quan tương ứng với Điều 190 BLHS Việt Nam đã được quy định đầy đủ trong Điều 8 và Điều 10 của Bộ luật Môi trường Thụy Điển năm 1999 Tuy nhiên, về hình phạt, mức án tù tối đa cho tội phạm này ở Thụy Điển chỉ là 2 năm, so với mức tối đa 7 năm tù của Việt Nam.

1.2.2 So sánh với Bộ Luật hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

BLHS nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được Quốc hội nước này thông qua tại kỳ họp thứ II ngày 10 tháng 7 năm 1979, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1980 Văn bản này sau đó đã được sửa đổi và bổ sung vào các năm 1997 và 1999 để phù hợp với thực tiễn pháp lý và nhu cầu phát triển của xã hội.

2001, 2002, và gần đây nhất là năm 2005 tại Hội nghị lần thứ 14 của Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa X

Khác với BLHS Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới, BLHS Trung Quốc không gắn tên điều luật cho từng quy định mà chỉ thể hiện nội dung quy định của điều luật đó; hệ thống pháp lý Trung Quốc trình bày các quy định dựa trên nội dung con nói, không đặt nhãn riêng cho mỗi điều luật mà mô tả rõ ràng ý nghĩa và phạm vi áp dụng thông qua nội dung cụ thể của từng điều.

Trong Bộ luật Hình sự nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa năm 2005, điều luật có liên quan đến Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được quy định tại Điều 341:

4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Bộ luật hình sự Thụy Điển, Nxb CAND, Hà Nội, Phần 3, Chế tài, tr

Người săn bắt, giết hại trái phép động vật hoang dã và động vật quý hiếm—những loài được Nhà nước đặt trọng điểm bảo vệ hoặc quản lý việc buôn bán, vận chuyển trái phép và các sản phẩm của chúng—sẽ đối mặt với các hình thức xử phạt hình sự Mức phạt gồm phạt tù tối đa 5 năm hoặc cải tạo lao động kèm phạt tiền; nếu có tình tiết nghiêm trọng, tù từ 5 năm đến 10 năm và phạt tiền; nếu có tình tiết đặc biệt nghiêm trọng, tù từ 10 năm trở lên và phạt tiền hoặc tịch thu tài sản.

Người vi phạm pháp luật về săn bắn, sử dụng công cụ và cách thức săn bắn ở khu vực cấm săn bắn hoặc săn bắn trong thời gian cấm săn bắn, phá hoại tài nguyên động vật hoang dã, cùng các tình tiết nghiêm trọng sẽ bị phạt tù lên tới 3 năm, cải tạo lao động, quản chế hoặc phạt tiền Khi đối chiếu Điều 341 BLHS Trung Quốc và Điều 190 BLHS Việt Nam, ta thấy có một số điểm giống và khác nhau giữa hai hệ thống pháp lý về xử lý vi phạm săn bắn và bảo vệ động vật hoang dã.

Cả hai điều luật có kỹ thuật lập pháp tương đồng khi sử dụng khái niệm động vật quý hiếm được ưu tiên bảo vệ và quy định các hành vi săn bắt, bắt giữ, giết hại, buôn bán và vận chuyển động vật hoặc sản phẩm từ động vật là hành vi phạm tội; đồng thời chúng quy định cấu thành tội phạm hình thức và bổ sung các cấu thành tăng nặng phụ thuộc vào dấu hiệu hậu quả, với hình phạt tiền là hình phạt chính.

Khác với Điều 190 và Điều 341, Bộ luật Hình sự Trung Quốc không quy định nuôi nhốt trái phép động vật nguy cấp, quý hiếm và vận chuyển, buôn bán bộ phận cơ thể của các động vật đó là tội phạm, nhưng lại quy định thêm hành vi vi phạm pháp luật về săn bắt gây hậu quả nghiêm trọng cũng được coi là tội phạm Mặt khác, Điều 341 vẫn sử dụng thuật ngữ "hoang dã" trong khi Điều 190 đã bỏ thuật ngữ này từ sau sửa đổi năm 2009 Về hình phạt, Điều 190 quy định hình phạt tù nhẹ hơn so với Điều 341, và theo Điều 341 hình phạt tiền được áp dụng cùng với các hình phạt chính khác.

1.2.3 So sánh với pháp luật hình sự của Philippines

Philippines có hệ thống quy định về bảo vệ động vật hoang dã khá nghiêm ngặt, nhằm bảo vệ các loài quý hiếm và duy trì sự cân bằng sinh thái Đối với những loài động vật quý, hiếm, luật pháp nước này ưu tiên bảo vệ và ngăn chặn mọi hành vi săn bắt, buôn bán trái phép Theo Điều 28 của Luật bảo vệ động vật hoang dã, các biện pháp quản lý và bảo tồn được áp dụng nghiêm ngặt để bảo vệ các loài ở mức nguy cấp và đảm bảo nguồn gen quý hiếm được duy trì Nhờ đó, Philippines mong muốn tăng cường bảo vệ động vật hoang dã, thúc đẩy nghiên cứu và giáo dục cộng đồng, đồng thời hợp tác với các đối tác quốc tế để nâng cao hiệu quả bảo tồn.

5 Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Bộ luật hình sự của nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr 207

Pháp luật bảo tồn các khu hoang dã ở Philippines quy định mức hình phạt tù lên tới 12 năm cho các hành vi xâm hại động vật hoang dã, vượt xa mức tối đa 7 năm của Việt Nam Mức độ nặng nhẹ của hình phạt phụ thuộc vào tính quý hiếm của loài bị xâm hại và tội phạm có cấu thành hình thức Mức phạt tiền tối đa là 1.000.000 pesos (khoảng 500 triệu đồng Việt Nam), tương đương với mức phạt tiền tối đa mà Điều 190 BLHS Việt Nam cho phép áp dụng với tư cách là hình phạt chính, tuy nhiên mức phạt này cũng có thể là hình phạt bổ sung nếu tòa án thấy cần thiết Điểm hạn chế của điều luật là do nằm trong Luật Bảo tồn các khu hoang dã nên đối tượng được bảo vệ chỉ là các động vật hoang dã đang sinh sống tại các khu bảo tồn và không có quy định về các hành vi vận chuyển, buôn bán các sản phẩm, cũng như dẫn xuất từ các loài động vật này.

1.2.4 So sánh với Bộ luật Hình sự của Liên Bang Nga

BLHS Liên Bang Nga quy định tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm tại điểm c khoản 1 Điều 258 mang tên “Tội săn bắt trái phép”, trong đó hành vi săn bắt chim, thú bị coi là phạm tội theo quy định của Chính phủ Liên bang Nga và người phạm tội chỉ cần có hành vi vi phạm mà không cần hậu quả mới bị coi là phạm tội Về lỗi, Điều 258 cũng xem một số tình tiết là tình tiết định khung tăng nặng như phạm tội có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn; theo đó người thực hiện hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc bàn bạc trước giữa nhiều người hoặc phạm tội có tổ chức sẽ bị phạt tiền từ 100 nghìn rúp đến 300 nghìn rúp, hoặc bị phạt dựa trên thu nhập của người bị kết án từ một năm đến hai năm, hoặc bị phạt tù đến hai năm và bị tước quyền đảm nhiệm một số chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đến ba năm BLHS Liên Bang Nga còn quy định hình phạt bổ sung ở dạng cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm một công việc nhất định.

6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Bộ luật hình sự Liên bang Nga, Nxb CAND, Hà Nội, tr 488

7 Theo Luật sửa đổi Luật Liên bang Nga ngày 06/5/2010, NĐ 81 –FD- Tổng tập luật Liên bang Nga, 2010, N

1.2.5 So sánh với bộ luật hình sự Canada

BLHS Canada không quy định rõ tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm như ở Điều 190 BLHS Việt Nam; thay vào đó, trong BLHS Canada chỉ quy định về hành vi dã man với động vật tại Điều 445, nên phạm vi xử phạt ở Canada tập trung vào hành vi tàn ác đối với động vật, còn các quy định riêng biệt về bảo vệ động vật hoang dã và quý hiếm chưa được nêu ra rõ ràng trong BLHS Canada.

“ (1) Một người phạm tội một khi:

Hành vi cố ý gây đau đớn, mất mát hoặc thương tích không cần thiết cho động vật hoặc chim, khi được thực hiện bởi người giữ vai trò chủ sở hữu và cố ý cho phép hành vi đó diễn ra, được xem là hành vi bạo hành động vật và cho thấy sự thiếu trách nhiệm của người nuôi; việc cho phép hoặc khuyến khích các hành động gây đau đớn không cần thiết sẽ ảnh hưởng xấu tới phúc lợi của động vật và có thể bị xử lý theo các quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ động vật.

(b) Bằng bất kỳ cách nào khuyến khích, hỗ trợ hay giúp đỡ việc đánh hay bẫy động vật hay chim;

Cố ý sử dụng thuốc độc hoặc các chất gây thương tổn cho động vật nuôi, chim hoặc động vật hoang dã được nuôi dưỡng bởi chủ sở hữu hoặc người chăm sóc động vật là hành vi bị cấm khi không có lý do hợp lý, và nếu người chủ sở hữu đã cố ý cho phép việc sử dụng thuốc độc hoặc chất gây thương tổn cho động vật, mức độ vi phạm sẽ càng nghiêm trọng.

Đặc điểm pháp lý của Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc

1.3.1 Khái niệm động vật, động vật nguy cấp, quý, hiếm và Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ

Trong từ điển tiếng Việt, động vật được định nghĩa là những sinh vật có khả năng tự động di chuyển Khác với thực vật, cơ thể động vật không có thành tế bào cứng như ở thực vật Động vật được phân loại thành hai nhóm chính: động vật có xương sống và động vật không xương sống.

Trong sinh học, các sinh vật được chia thành 5 giới: nguyên sinh, khởi sinh, nấm, thực vật và động vật; ở đây ta tập trung vào động vật Động vật là nhóm sinh vật sống dị dưỡng, có phản ứng nhanh và khả năng di chuyển, được xếp vào giới Động vật (Animalia) trong hệ thống phân loại 5 giới Động vật chủ yếu là cơ thể đa bào, có khả năng di chuyển và thích nghi với môi trường thông qua nguồn thức ăn là các sinh vật khác (dị dưỡng) Quá trình phát triển của động vật được thể hiện qua ontogeny từ phôi thai đến các giai đoạn hình thành và metamorphosis Động vật là thành phần cơ bản của sự đa dạng sinh học, phong phú về gen, loài và hệ sinh thái trong tự nhiên, và sự đa dạng này mang lại các giá trị kinh tế, sinh thái, môi trường và văn hóa xã hội.

Động vật hoang dã có giá trị sinh thái và bảo tồn rất cao, đóng vai trò thiết yếu trong cân bằng hệ sinh thái và sự bền vững của toàn bộ lưới thức ăn Chúng là mắt xích quan trọng trong chuỗi thức ăn, góp phần tạo nên các giá trị bảo tồn hiện tại và tiềm năng ứng dụng trong tương lai Các loài đặc hữu mang nguồn gen quý hiếm, có vai trò đặc biệt đối với thế giới, bởi chứa những gen quý với các đặc tính vượt trội mà nhiều loài khác không có Thông qua động vật hoang dã, đặc biệt là các loài quý hiếm, con người có thể nghiên cứu, bảo tồn và khai thác một cách hợp lý nguồn gen này để đạt hiệu quả cao nhất cho khoa học, công nghệ và phát triển bền vững.

9 https://vn.answers.yahoo.com/question/index?qid 080716204621AAvzdSf, truy cập ngày 03/11/2014

10 Khoản 5, Điều 3, Luật Đa dạng sinh học

Động vật quý, hiếm mang lại giá trị kinh tế đáng kể cho đời sống con người qua nhiều khía cạnh, từ dược liệu và các sản phẩm từ động vật đến các ứng dụng công nghệ sinh học; nhiều chế phẩm sinh học được chiết xuất từ nuôi cấy mô động vật hoặc từ động vật sống, như vaccine và hormone Bên cạnh đó, động vật còn được nuôi làm cảnh và phục vụ đời sống giải trí, với nhiều vườn thú và công viên thu hút tham quan, du lịch Đồng thời, động vật đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học và giáo dục, đặc biệt đối với các loài nguy cấp, quý hiếm, nhằm bảo tồn và tăng cường hiểu biết về thế giới tự nhiên.

Trong xã hội ngày càng phát triển kinh tế, nhiều người có điều kiện muốn thưởng thức các món ăn và sản phẩm từ động vật quý hiếm được cho là có tác dụng trong trị liệu và phòng bệnh, đồng thời nhu cầu trang trí và làm trang sức từ các loài quý hiếm cũng gia tăng, đẩy quy mô buôn bán động vật quý hiếm lên mức rộng trên phạm vi toàn quốc và quốc tế Động vật nguy cấp, quý hiếm được coi là có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao Theo nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm được chia thành hai nhóm là IB và IIB.

Nhóm IB là các loài động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học và môi trường hoặc có giá trị kinh tế cao Số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao, nên việc khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại bị nghiêm cấm để bảo vệ sự tồn tại của chúng.

Nhóm IIB là tập hợp các động vật rừng có giá trị cao về khoa học và môi trường hoặc có giá trị kinh tế lớn, đồng thời số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên và đang đối mặt nguy cơ tuyệt chủng Vì vậy, cần hạn chế khai thác và sử dụng nhằm bảo tồn và quản lý bền vững nguồn động vật của nhóm này.

Loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ là các loài hoang dã, giống cây trồng, giống vật nuôi, vi sinh vật và nấm đặc hữu có giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan môi trường hoặc văn hóa - lịch sử, mà số lượng còn ít hoặc đang đe dọa tuyệt chủng Từ khái niệm này, ta có thể hiểu động vật thuộc danh mục các loài cần bảo vệ và được ưu tiên bảo tồn để duy trì đa dạng sinh học và các giá trị liên quan.

11 Khoản 1 điều 2 nghị định 32/NĐ-CP

Theo 12 Khoản 20 Điều 3 Luật đa dạng sinh học 2008, mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ là các loài động vật đặc hữu có giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan môi trường hoặc văn hóa - lịch sử mà số lượng còn ít hoặc có nguy cơ tuyệt chủng; danh mục các loài này được xác định và quản lý theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013, với 83 loài động vật được ban hành kèm theo danh mục ưu tiên bảo vệ.

Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ là hành vi săn bắt, giết hại, vận chuyển và buôn bán trái phép động vật này, hoặc buôn bán trái phép sản phẩm, bộ phận cơ thể của chúng Theo quy định của Chính phủ, các hành vi trên bị cấm tuyệt đối và có thể chịu xử phạt hành chính hoặc hình sự tùy theo mức độ vi phạm.

Nội dung pháp lý cũng như giải thích ngữ nghĩa của tội phạm này sẽ được phân tích, làm rõ trong phần tiếp theo của Luận văn

1.3.2 Các dấu hiệu pháp lý của Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trong Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành

1.3.2.1 Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, nhằm ngăn chặn sự xâm hại mang tính phạm tội đối với xã hội; tuy nhiên, tội phạm có thể xâm hại đến những quan hệ này và gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho xã hội.

Khách thể của tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ là các quan hệ xã hội được hình thành từ các quy định của pháp luật về chế độ nhà nước nhằm bảo vệ các loài động vật thuộc danh mục này Hành vi xâm phạm đã, đang hoặc sẽ gây thiệt hại đáng kể cho hệ cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học của các loài thuộc danh mục được ưu tiên bảo vệ trong môi trường sinh thái tự nhiên hoặc nhân tạo, đồng thời trái với các quy định của pháp luật, các quy định này được thể hiện trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

Đối tượng tác động của tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ là các loài động vật nằm trong danh mục do Chính phủ ban hành, cùng với các bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của chúng được quy định theo từng thời kỳ; các loài này được ưu tiên bảo vệ và bị nghiêm cấm khai thác theo quy định của Chính phủ, cụ thể là 83 loài động vật được liệt kê trong danh mục động vật nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo nghị định số 160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013, nội dung được trình bày và phân tích trong Bình luận khoa học Bộ luật hình sự của Đinh Văn Quế (2005), Phần các tội phạm tập VIII.

Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội có tác động đến các

Lãnh thổ Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ tuyến và độ cao, với 3/4 diện tích là đồi núi và nền khí hậu biến đổi từ nhiệt đới ở phía nam đến ôn hòa ở vùng núi phía bắc, tạo nên sự đa dạng của hệ sinh thái tự nhiên và làm nền tảng cho sự phát triển phong phú của động vật, thực vật Với hệ sinh thái đa dạng, Việt Nam được thế giới công nhận là một trong 16 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao, nổi bật với hệ động vật hoang dã quý hiếm.

Động vật hoang dã Việt Nam đã được điều tra và phân loại với tổng số khoảng 21.125 loài, cho thấy sự đa dạng sinh học phong phú của khu vực Trong tổng số này, có khoảng 7.750 loài côn trùng, 1.100 loài cá nước ngọt, 2.500 loài cá biển, 162 loài lưỡng cư, 296 loài bò sát và 840 loài chim.

Có 310 loài thú, 17 loài thú biển và hàng chục ngàn loài động vật không xương sống phân bổ khắp các hệ sinh thái rừng trên đất liền, rừng ngập mặn, đất ngập nước và vùng biển, cho thấy sự đa dạng sinh học ấn tượng của khu vực này Sự phong phú của động vật học ở các hệ sinh thái rừng và ven biển hỗ trợ chu trình dinh dưỡng, cân bằng sinh thái và khả năng phục hồi của môi trường nơi đây.

Trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007, 418 loài động vật được ghi nhận thuộc danh mục nguy cấp, quý, hiếm cần ưu tiên bảo vệ, gồm Thú 94 loài; Chim 76 loài; Bò sát 40 loài; Lưỡng cư 14 loài; Cá 89 loài (cá nước ngọt 36 loài, cá biển 53 loài); và Động vật không xương sống nước ngọt.

(19 loài); Động vật không xương sống biển (61 loài); Côn trùng ( 25 loài)

Bảng Nhóm loài động vật và phân hạng nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam

TT Nhóm động vật Sách Đỏ Việt Nam 2007

CR EX EW EN VU LRnt DD

6 Động vật không xương sống nước ngọt 1 1 11 1 5

TT Nhóm động vật Sách Đỏ Việt Nam 2007

CR EX EW EN VU LRnt DD

7 Động vật không xương sống biển 6 9 44 2

Trong hệ thống phân hạng của IUCN, EX là Tuyệt chủng; EW là Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên; CR là Rất nguy cấp; EN là Nguy cấp; VU là sẽ nguy cấp; LRnt là Ít nguy cấp; DD là Thiếu dẫn liệu Những bậc phân hạng này cho biết mức độ đe dọa đối với sự tồn tại của loài và giúp các nhà bảo tồn xác định ưu tiên can thiệp, theo dõi biến động và huy động nguồn lực cho các biện pháp bảo vệ.

Việt Nam có nguồn đa dạng sinh học phong phú và được xem là một trong những quốc gia được ưu tiên cho bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu Đa dạng sinh học Việt Nam đóng vai trò then chốt đối với đời sống con người ở nhiều mặt: kinh tế thông qua khai thác và sử dụng nguồn lực sinh học một cách bền vững, sinh thái và môi trường thông qua duy trì các hệ sinh thái lành mạnh, và văn hóa - xã hội thể hiện qua các giá trị truyền thống và sự gắn kết của cộng đồng với thiên nhiên Bảo tồn đa dạng sinh học hỗ trợ tăng trưởng kinh tế xanh, phát triển du lịch sinh thái và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, góp phần vào phát triển bền vững của đất nước.

Với điều kiện khí hậu thuận lợi, Việt Nam có thế mạnh lớn trong nuôi các loài động vật hoang dã có giá trị cao để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trên thị trường thế giới Theo các nhà khoa học và chuyên gia, trong tương lai sản phẩm từ các loài vật nuôi mới sẽ chiếm ưu thế trong sản xuất nông nghiệp và là thế mạnh độc quyền của các nước giàu tài nguyên đa dạng sinh học, trong đó Việt Nam có tiềm năng tham gia Sản phẩm từ động vật hoang dã được nuôi nhốt sẽ dần thay thế các sản phẩm từ tự nhiên Các sản phẩm khai thác và buôn bán bất hợp pháp sẽ không còn chỗ đứng trên thị trường thế giới khi các nước tăng cường liên kết đấu tranh chống lại hoạt động buôn bán các loài động vật thuộc danh mục nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ theo quy định của pháp luật Việt Nam và Công ước CITES mà các quốc gia là thành viên.

Việc quy hoạch bảo tồn và phát triển động vật hoang dã quốc gia mang ý nghĩa then chốt trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, tạo khuôn khổ thuận lợi cho nghiên cứu, bảo tồn và sử dụng hợp pháp, bền vững động vật quý hiếm Quy hoạch này giúp các trại nuôi và doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng liên quan đến quý hiếm tuân thủ đầy đủ pháp luật, tiêu chuẩn an toàn sinh học và bảo vệ đa dạng sinh học, đồng thời mở cửa cho họ tiếp cận thị trường thế giới một cách có trách nhiệm Đồng thời mở ra cơ hội hợp tác sản xuất, kinh doanh và thu hút vốn, kỹ thuật từ các nước phát triển, nâng cao năng lực quản lý, công nghệ bảo tồn và trình độ quản trị ngành, đóng góp vào sự phát triển kinh tế–xã hội bền vững.

Quy hoạch bảo tồn và phát triển động vật hoang dã, quý hiếm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý và kiểm soát hoạt động khai thác cũng như sử dụng các sản phẩm động vật có nguồn gốc từ tự nhiên, nhằm đảm bảo khai thác bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu tác động tới cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường, đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia và toàn cầu Việc thúc đẩy nuôi sinh sản và trồng cấy nhân tạo các loài động vật hoang dã đóng vai trò quan trọng trong tăng cường quan hệ thương mại và đóng góp vào công cuộc bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường trên thế giới.

Với nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu có, Việt Nam là điểm cung cấp các loài động vật và thực vật hoang dã cho thị trường quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc Việt Nam cũng là nơi tiêu thụ các loài động vật và thực vật hoang dã được săn bắt trong nước và từ nước ngoài.

Tình trạng vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài

Với vị trí địa lý nằm tiếp giáp với Trung Quốc, Việt Nam là nơi trung chuyển trong đường dây buôn bán động, thực vật hoang dã tại khu vực tiểu vùng sông Mê Kông Đông Nam Á vừa là trung tâm tiêu thụ vừa là nguồn cung cấp các sản phẩm từ động, thực vật hoang dã cho toàn thế giới Việt Nam là một nước mà nạn buôn bán động vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm diễn ra một cách rộng rãi, hầu hết các tỉnh, thành Những nơi có đường biên giới với các nước thì tình trạng buôn bán và vận chuyển động vật càng diễn biến phức tạp hơn Các động vật hoang dã thu được trong các vụ mua bán tại Việt Nam đa phần có nguồn gốc từ nước khác sau đó chuyển sang Trung Quốc, Trong năm 2012 đã có 20 vụ vận chuyển Tê Tê bị bắt giữ với khối lượng 4,14 tấn khoảng 785 cá thể

Vùng núi Trường Sơn, nằm giữa biên giới Việt – Lào, là nơi cư trú của nhiều loài động vật thuộc danh sách bảo tồn toàn cầu như hổ, voi châu Á và đặc hữu Sao La, khiến khu vực này trở thành điểm nóng của hoạt động buôn bán và trung chuyển động vật hoang dã quý hiếm được ưu tiên bảo vệ ở Việt Nam Các loài này thường bị săn bắt từ các nước láng giềng như Lào, Campuchia và được đưa qua Việt Nam, qua Huế và các tỉnh phía Bắc để tiêu thụ ở Trung Quốc.

Trong những năm qua, dù đã có nhiều nỗ lực bảo tồn, hoạt động buôn bán và tiêu thụ động vật hoang dã bất hợp pháp đã làm suy giảm nguồn tài nguyên sinh học của nước ta; trong 50 năm gần đây tốc độ tuyệt chủng diễn ra nhanh hơn nhiều so với tự nhiên, ước tính gấp khoảng 1.000 lần Theo số liệu của Tổng cục Môi trường, khoảng 12% loài chim, gần 25% động vật có vú và khoảng 30% động vật khác đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng; nguồn cá toàn cầu đã giảm tới 90% kể từ khi có đánh bắt thương mại Các cánh rừng đang biến mất và ảnh hưởng tới môi trường sống của khoảng 50-90% số loài trên tổng số gần 10 triệu loài trên trái đất, và ước tính 5-10% loài ở rừng nhiệt đới có thể đối mặt với tuyệt chủng trong vòng 30 năm tới Sự suy giảm đa dạng sinh học của hệ sinh thái nước ngọt và biển cũng diễn ra do ô nhiễm và mất cân bằng sinh thái Sự tuyệt chủng của loài là một hình thức suy thoái đa dạng sinh học, chịu ảnh hưởng của cả yếu tố tự nhiên lẫn yếu tố con người.

Vấn đề suy giảm đa dạng sinh học có yếu tố tự nhiên, nhưng các hoạt động của con người trong những năm gần đây đã gây tác động đáng kể đến kết quả hiện tại của tình trạng này Sự thờ ơ của xã hội đối với bảo tồn càng làm cho mức độ suy giảm đa dạng sinh học tăng lên, làm gia tăng mối đe dọa đối với hệ sinh thái và nguồn tài nguyên tự nhiên.

Hiện tượng săn bắt và buôn bán trái phép động vật hoang dã vẫn tồn tại, trong khi khai thác nguồn lợi thủy sản không bền vững ngày càng gia tăng, là nguyên nhân chính gây tuyệt chủng cho nhiều loài Việc săn bắt thú rừng và khai thác triệt để tài nguyên rừng cùng thủy sản đẩy các loài quý, hiếm vào danh sách bị đe dọa trong Sách đỏ và ảnh hưởng tới cân bằng sinh thái Rà cá bằng điện, bắt cá bằng thuốc nổ và lưới mắt nhỏ khiến các loài cá tự nhiên khó phục hồi sau tổn thất sinh sản Các rạn san hô kiệt quệ khi khai thác quá mức so với nhịp sinh sản, dẫn tới mất đa dạng sinh học và đe dọa sự tồn tại của nhiều giống loài.

Đối tượng phạm tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ trong BLHS rất đa dạng, gồm cả người nước ngoài và người Việt Nam; có đối tượng buôn bán chuyên nghiệp, nhưng cũng có đối tượng mang tính chất cơ hội: họ bình thường làm nghề khác, nhưng khi gặp điều kiện thuận lợi vẫn tham gia buôn bán, vận chuyển trái phép động vật nguy cấp, quý hiếm và sản phẩm từ chúng để kiếm lời, có đối tượng là các nhóm người với nhiều mức độ tham gia khác nhau.

22 sokhcn.angiang.gov.vn/wps/wcm/connect/ /2010049.doc?MOD (Mai Thị Vân Anh, Nhiều loài – Một hành tinh – Tương lai chúng ta ), truy cập ngày 10/8/2015

Dựa trên Báo cáo tổng kết năm 2013 và 2014 của Cục Cảnh sát Môi trường (C49) – Bộ Công an, đối tượng phạm tội, phương thức thủ đoạn phạm tội, tuyến và địa bàn trọng điểm được xác định rõ; nhóm đối tượng chủ yếu là doanh nhân và viên chức giàu có, đi kèm với những người có thú vui săn bắn hoặc có nhu cầu thưởng thức các món ngon, vật lạ Các tuyến đường và địa bàn trọng điểm cùng các hình thức thủ đoạn được ghi nhận cho thấy sự tập trung ở những khu vực cụ thể, qua đó đề xuất các biện pháp quản lý và xử lý vi phạm nhằm bảo vệ môi trường và trật tự xã hội.

Phương thức và thủ đoạn phạm tội của các nhóm này chủ yếu là tinh vi, có tổ chức chặt chẽ và hung hãn khi bị phát hiện, thường dùng vũ khí và sẵn sàng chống trả quyết liệt Ví dụ vụ bắt giữ 42 cá thể tê tê vận chuyển trái phép gần Tiên Phong, Bắc Ninh cho thấy xe tang vật được bàn giao cho cơ quan chức năng sau vụ bắt, bề ngoài bóng bẩy nhưng nội thất tối giản để tối ưu không gian chứa hàng hoá; hai ghế sau bị tháo bỏ, tạo khoảng trống rộng để chứa hàng tạ tê tê Đối tượng lái xe đã liều mạng lùi xe đâm vào xe lực lượng chức năng để chạy trốn, thể hiện mức độ liều lĩnh và quyết tâm thoát thân Việc dùng xế sang và biển số giả để che mắt các cơ quan chức năng nhằm vận chuyển động vật hoang dã quý hiếm là thực tế phổ biến và các đối tượng này luôn sẵn sàng chống trả khi bị phát hiện Các phương tiện vận chuyển hàng lậu thường là xe nhập lậu với giá rẻ, khiến bọn chúng sẵn sàng bỏ lại tài sản để thoát thân.

Chi cục Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất cho biết đã thu giữ tang vật liên quan đến buôn lậu động vật hoang dã với số lượng lớn, gồm 1,39 kg sừng tê giác, 43,5 kg ngà voi ở dạng khúc và 3,68 kg sản phẩm chế tác từ ngà voi Châu Phi; đối tượng N.V.H., quốc tịch Việt Nam, bị bắt giữ cùng tang vật 1,39 kg sừng tê giác vận chuyển từ nước ngoài về Việt Nam Quá trình điều tra cho thấy thủ đoạn được cho là tinh vi nhằm che giấu hàng hóa trái phép, cho thấy mức độ phạm pháp và sự nghiêm trọng của vụ việc trong hoạt động phòng chống buôn bán động vật hoang dã Đây là một vụ việc nổi bật, nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác kiểm soát hải quan và ý thức cộng đồng về bảo vệ động vật hoang dã.

Về tuyến vận chuyển và buôn bán động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm, hệ thống quản lý và bảo vệ động vật hoang dã ở Việt Nam ưu tiên các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt nhằm ngăn chặn hành vi buôn bán trái phép Các hoạt động này được tổ chức theo nhiều hình thức và trên nhiều tuyến khác nhau, nhưng luôn phải tuân thủ khung pháp lý và các chương trình bảo tồn, với mục tiêu tăng cường giám sát, cấp phép hợp lệ và thúc đẩy sự phối hợp giữa cơ quan chức năng, cơ sở nghiên cứu và cộng đồng để bảo vệ đa dạng sinh học và duy trì cân bằng sinh thái.

Một là, tuyến từ các tỉnh phía Nam ra các tỉnh phía Bắc và ngược lại

Hai là, tuyến từ các tỉnh miền núi đến đồng bằng

24 http://laodong.com.vn/phong-su/chuyen-buon-buon-voi-te-te-297438.bld, truy cập ngày 10/4/2015

25 http://www.anninhthudo.vn/an-ninh-doi-song/buon-lau-sung-te-giac-cuc-tinh-vi-giau-trong-dau-tom-hum- dong-lanh/600311.antd, truy cập ngày 10/4/2015

Ba là, tuyến từ các của khẩu về các thành phố, thị xã để tiêu thụ ( từ cửa khẩu

Cầu Treo, Lao Bảo đi các tỉnh, thành phố như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh,…)

Bốn là, tuyến nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, vận chuyển quá cảnh từ các nước láng giềng và các nước trong khu vực qua lãnh thổ Việt Nam

Năm là, tuyến các tỉnh biên giới như quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng

Ở khu vực biên giới, địa hình hiểm trở với nhiều đồi núi khiến giao thông đi lại khó khăn và tạo điều kiện ẩn náu cho hoạt động buôn lậu Bên cạnh đó, khu vực này giáp ranh với nước ngoài tạo điều kiện cho tội phạm lợi dụng địa hình để vận chuyển và buôn bán động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm, làm tăng nguy cơ đe dọa an ninh và đa dạng sinh học của khu vực.

Về địa bàn, thị trường chủ yếu mua bán động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm và thường tập trung ở các tỉnh giáp biên giới, các tỉnh trung tâm và những tỉnh có nguồn động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm sinh sống Ở miền Bắc là Ninh Bình, Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Ninh và Lạng Sơn; ở miền Trung là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam và Kon Tum; ở miền Nam là Tây Ninh, Cần Thơ, Cà Mau, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa bàn hoạt động của việc săn bắt động vật nguy cấp, quý hiếm tập trung chủ yếu ở biên giới, khu bảo tồn thiên nhiên, rừng quốc gia và rừng phòng hộ, những nơi tạo điều kiện thuận lợi cho các hành vi buôn bán, săn bắt và vận chuyển trái phép Ở các khu vực này, động vật thuộc danh mục nguy cấp, quý hiếm là nơi sinh sống và tập trung, khiến nguy cơ săn bắt và buôn bán trái phép gia tăng.

Đối tượng phạm tội săn bắt và buôn bán động vật hoang dã thường tìm mọi cách tiếp cận và khai thác các loài quý hiếm để mang đi bán hoặc tiêu thụ Việc buôn bán động vật hoang dã và quý hiếm không chỉ diễn ra trong nước mà còn mở rộng sang thị trường quốc tế, khiến tội phạm lợi dụng vùng biên giới và các tuyến đường xuyên quốc gia để vận chuyển và né tránh sự quản lý của lực lượng chức năng Do đó, nạn buôn bán động vật hoang dã trở thành thách thức lớn đòi hỏi các biện pháp đồng bộ và hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan, tăng cường kiểm soát biên giới, truy vết nguồn gốc động vật và xử lý nghiêm các cá nhân và tổ chức liên quan.

Những hạn chế, bất cập trong việc áp dụng các quy định của pháp luật có liên quan đến Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ

2.3.1 Những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật

Mục tiêu của văn bản là cụ thể hóa việc quản lý và bảo tồn các loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ theo Luật Đa dạng sinh học năm 2008 và phù hợp với sửa đổi Điều 190 của Luật sửa đổi một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2009, nhằm tăng cường hiệu lực thực thi và bảo vệ hệ sinh thái.

Ngày 12 tháng 11 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý đối với các loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Danh mục này được gọi tắt là Danh mục loài được ưu tiên bảo vệ.

Danh mục loài được ưu tiên bảo vệ được xác định dựa trên hai tiêu chí: (i) số lượng cá thể còn ít hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng; (ii) là loài đặc hữu hoặc có giá trị đặc biệt về khoa học, y tế, kinh tế, sinh thái, cảnh quan môi trường và văn hóa – lịch sử Dựa trên hai tiêu chí này, nghị định quy định danh mục gồm 17 loài thực vật, 83 loài động vật, 15 giống cây trồng và 6 giống vật nuôi; trong đó có một số loài phổ biến đang bị buôn bán trái phép như tê tê và voọc, và một số loài rùa đầm cũng được đưa vào nhóm ưu tiên bảo vệ Định kỳ ba năm một lần hoặc khi cần thiết, Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh, bổ sung danh mục trên cơ sở đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường Cùng với danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, Bộ NN-PTNT đang dự thảo nghị định thay thế Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, trong đó có ban hành kèm danh mục động vật rừng nguy cấp, quý hiếm nhóm IB và IIB Nhiều chuyên gia cho rằng quá trình soạn thảo và ban hành các văn bản này cần Chính phủ xem xét kỹ lưỡng để tránh chồng chéo, thiếu nhất quán và gây khó khăn cho thực thi pháp luật, nhất là vấn đề phân cấp trách nhiệm cho các bên liên quan.

Bên cạnh việc ban hành các văn bản pháp luật nhằm làm rõ Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ trong BLHS, điều luật (Điều 190) và các văn bản hướng dẫn liên quan vẫn tồn tại một số bất cập và hạn chế, ảnh hưởng đến tính rõ ràng, đồng bộ và hiệu quả của việc áp dụng Điều này cho thấy cần rà soát, chỉnh sửa để tăng tính nhất quán giữa luật và văn bản hướng dẫn, cải thiện cơ chế xử lý vi phạm và nâng cao hiệu quả bảo vệ các loài nguy cấp, quý hiếm.

Thứ nhất, tại Điều 190 BLHS năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ có thể bị xử phạt ở mức nghiêm khắc; cụ thể, người săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi nhốt hoặc buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục này sẽ bị phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm Điều này đồng nghĩa với việc mọi hành vi săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi nhốt, buôn bán trái phép đối với loài động vật được ưu tiên bảo vệ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài đó sẽ bị xử lý hình sự bất kể số lượng, trọng lượng hay giá trị tang vật.

Ngày 11 tháng 11 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định 157/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, có hiệu lực từ ngày 25 tháng 12 năm 2013 Tại khoản 2 Điều 7 Nghị định 157 quy định những hành vi vi phạm (trừ hành vi nuôi động vật rừng nhóm IB) được xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự, bao gồm hành vi vi phạm gây hậu quả mà tang vật là động vật rừng nhóm IB vượt quá mức xử phạt vi phạm hành chính tối đa quy định tại Điều 21, 22, 23 của Nghị định 157.

Theo các quy định tại Điều 21, 22, 23 Nghị định 157, các hành vi săn bắt, bắn, bẫy, bắt, lấy dẫn xuất, giết, vận chuyển, mua bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh trái phép động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm thuộc nhóm IB và các sản phẩm, bộ phận của chúng chỉ bị xử lý hình sự khi tang vật có giá trị trên 100 triệu đồng.

Quy định nêu trên tại Nghị định 157 đang gây khó khăn cho các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc xử lý vi phạm liên quan đến động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm Khó khăn chủ yếu nằm ở việc xác định phạm vi vi phạm, phân loại mức độ xử phạt và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng, khiến quá trình xử lý kéo dài và hiệu quả thi hành giảm sút Hệ quả là làm giảm tính răn đe và ảnh hưởng tới công tác bảo vệ các loài động vật hoang dã quý hiếm Vì vậy, việc rà soát, sửa đổi Nghị định 157 nhằm làm rõ tiêu chí, tăng cường xử lý vi phạm và nâng cao hiệu lực thi hành là rất cần thiết để bảo vệ động vật hoang dã một cách bền vững.

Trong một vụ án xảy ra tại Hà Nội đầu tháng 11 năm 2013, Bàn Văn Q, người xã Thanh Tương, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, quen biết Lợi ở Thái Nguyên và được Lợi nhờ mua hộ 02 con rắn hổ mang chúa để bán cho người quen của Lợi ở thành phố với giá 2 triệu đồng một kilôgam; Q đồng ý Đầu giữa tháng 11 năm 2013, Q mua được 02 con rắn hổ mang chúa nặng 3,9 kg của một người không quen biết tại huyện Lâm Bình, Tuyên Quang với giá 5.550.000 đồng và cất giấu trong rừng Ngày 19 tháng 11 năm 2013, Q liên hệ với Lợi thông báo đã mua được 02 con rắn hổ mang chúa, Lợi hẹn Q mang xuống thành phố cho Lợi Tối ngày 19 tháng 11 năm 2013, Q đi xe khách từ Tuyên Quang mang theo 02 con rắn về Hà Nội và thuê nhà nghỉ tại bến xe Khoảng 10 giờ ngày 20 tháng 11 năm 2013, khi Q đem theo 02 con rắn để bán cho khách thì bị cơ quan Công an bắt quả tang cùng tang vật tại trước cửa số nhà 19 Vũ Phạm, thành phố Hà Nội.

Kết luận giám định của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cho biết hai cá thể động vật sống gửi giám định là rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah), thuộc nhóm IB.

Theo bản án hình sự sơ thẩm số 65 ngày 10 tháng 4 năm 2014 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, bị cáo Bàn Văn Q bị kết án về tội Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Tòa án đã áp dụng điểm d, khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 30 tháng tù, còn người mua không bị xử lý.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25 tháng 4 năm 2014, bị cáo Q kháng cáo xin được hưởng án treo

Bản án hình sự phúc thẩm số 500, ngày 09 tháng 7 năm 2014, của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định hủy bản án sơ thẩm số 65.

Vụ án năm 2014 tại Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy được xem xét lại dựa trên Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ban hành ngày 11 tháng 11 năm 2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, có hiệu lực từ ngày 25 tháng 12 năm 2013 Theo nghị định này, để có cơ sở xử lý hình sự đối với bị cáo Q, cần tiến hành định giá trị của hai cá thể rắn hổ mang chúa; nếu tổng giá trị trên 100 triệu đồng thì mới xem xét xử lý hình sự, còn nếu dưới mức này thì hành vi bị xử phạt hành chính Nói cách khác, hành vi này chỉ bị xử phạt hành chính vì giá trị của hai con rắn chưa đến 100 triệu đồng, và do đó, một người có thể vào rừng quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên săn bắt, giết động vật hoang dã mà không bị truy cứu hình sự.

Việc 10 con voi chà vá chân đen chỉ bị xử phạt hành chính dù có giá trị bảo tồn rất lớn và được định giá dưới 100 triệu đồng về mặt kinh tế cho thấy sự bất cập trong việc đánh giá giá trị bảo tồn Theo Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), mọi hành vi săn bắt, giết hại, vận chuyển, nuôi nhốt hoặc buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý như hiếm đều bị xử lý hình sự bất kể số lượng, trọng lượng hay giá trị tang vật; thậm chí cả đối với bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài đó cũng bị xử lý hình sự Do đó khung xử phạt về bảo vệ động vật quý hiếm được áp dụng đồng bộ với mọi trường hợp vi phạm, cho thấy sự cần thiết rà soát lại để bảo vệ hiệu quả hơn đối với các loài động vật nguy cấp, quý hiếm.

Phải chăng có sự mâu thuẫn giữa Nghị định 157/2013/NĐ-CP với Điều 190

Theo trao đổi từ Tổng cục Lâm nghiệp, cơ quan tham mưu cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong việc soạn thảo Nghị định 157, danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ được quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự và được thực hiện theo Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Điều 21.

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
22. Phạm Văn Lợi (2004), Tội phạm về môi trường: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm về môi trường: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn
Tác giả: Phạm Văn Lợi
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
23. Phạm Văn Lợi (2010), Tội phạm môi trường trong pháp luật hình sự của một số nước Đông Nam Á, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm môi trường trong pháp luật hình sự của một số nước Đông Nam Á
Tác giả: Phạm Văn Lợi
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
24. Đinh Văn Quế (2001), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2001
25. Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb CAND
Năm: 2009
26. Trường Đại học quốc gia Hà Nội (2010), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Phần các tội phạm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
27. Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Bộ Luật hình sự Liên Bang Nga, Nxb CAND, Hà Nội, tr 466 – 498 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật hình sự Liên Bang Nga
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb CAND
Năm: 2011
28. Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Bộ Luật hình sự Cộng hòa liên bang Đức, Nxb CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật hình sự Cộng hòa liên bang Đức
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb CAND
Năm: 2011
29. Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Bộ luật hình sự Canada, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự Canada
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2011
30. Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Bộ luật hình sự Thụy Điển, Nxb CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự Thụy Điển
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb CAND
Năm: 2010
31. Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb CAND
Năm: 2007
32. Trường Đại học quốc gia Hà Nội (2007), Giáo trình luật hình sự, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.C. Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự
Tác giả: Trường Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
33. sokhcn.angiang.gov.vn/wps/wcm/connect/.../2010049.doc?MOD...(Mai Thị Vân Anh, “Nhiều loài – Một hành tinh – Tương lai chúng ta”) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiều loài – Một hành tinh – Tương lai chúng ta

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w