Bên cạnh đó, một số các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 chưa thực sự tạo cho Kiểm sát viên vai trò chủ động, ý thức, trách nhiệm trong việc chứng minh tội phạm và người phạm tộ
NHẬN THỨC CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1 Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố
1.1.1.1 Khái niệm quyền công tố
Quyền công tố là một hoạt động tố tụng vì lợi ích công cộng đối với người phạm tội đã được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của xã hội loài người Cùng với thời gian, đến nay, quyền công tố đã trở thành một chế định pháp lý độc lập được thừa nhận chung trong luật tố tụng hình sự (TTHS) ở đa số các nước văn minh trên thế giới
Theo quy định của Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), Viện kiểm sát (VKS) vừa được giao trách nhiệm thực hành quyền công tố, vừa thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp, nhằm bảo đảm việc khởi tố, điều tra, xét xử có căn cứ và hợp pháp, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), bảo vệ lợi ích của Nhà nước; quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội
Việc xác định khái niệm quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa lí luận và thực tiễn rất quan trọng Giải quyết tốt vấn đề đó giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí của VKS trong hệ thống cơ quan nhà nước nói chung và trong các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng; xác định rõ chức năng của VKS, đặc biệt là trong TTHS; từ đó có những quyết định đúng đắn về tổ chức VKS các cấp Điều này đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay, khi cả nước đang triển khai thực hiện các nghị quyết lần thứ 8 khoá VII, lần thứ 3 và thứ 7 khóa VIII của Ban chấp hành trung ương Đảng về cải cách bộ máy nhà nước
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì " công tố" có nghĩa là "điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án" 1 Như vậy, theo từ điển tiếng
Việt thì công tố được hiểu với các nội dung khác nhau bao gồm: Điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án Ở nước ta, thuật ngữ “quyền công tố” lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980 khi đề cập đến chức năng của VKSND (Điều 138) Từ đó đến nay,
1 Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 45 có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến khái niệm và thể hiện quan điểm về quyền công tố với các mức độ khác nhau Có tác giả đề cập khi giải quyết các vấn đề chung của TTHS, một số bài viết có tính chất chuyên khảo phân tích có hệ thống về quyền công tố và gần đây một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sỹ cũng đề cập quyền công tố trong từng phạm vi khác nhau Nhìn chung, có thể thấy mỗi quan điểm tuy được lí giải trên cơ sở các quy định của pháp luật và thực tiễn nước ta, dù ít hay nhiều đều có những hạt nhân hợp lí và có những bất cập Có thể kể đến một số quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất, là quan điểm cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật của VKS đều là thực hành quyền công tố Với quan điểm này thì công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật 2 Đây là quan điểm phổ biến trong ngành kiểm sát từ khi thành lập năm 1960 cho đến khi Luật tổ chức VKSND 2002 được ban hành Cơ sở cho những lập luận này chính là quy định của các Điều 137 và 138 Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức VKSND các năm 1981 và
1992 Thể hiện rõ nhất quan điểm này tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND 1992 3 Quan điểm này có trước khi Hiến pháp 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001, đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS Quan điểm này cho rằng các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật cũng là thực hành quyền công tố: khi VKS ban hành kiến nghị yêu cầu các Cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội bị kiểm sát sửa chữa, khắc phục vi phạm pháp luật của mình trên các lĩnh vực hành chính, kinh tế cũng là thực hành quyền công tố
Theo Hiến pháp 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001 thì VKS có hai chức năng: “Thực hành quyền công tố và Kiểm sát các hoạt động tư pháp” 4 Điều này tiếp tục được khẳng định tại khoản 1 Điều 107 Hiến pháp 2013: “VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” 5 Việc quy định cụ thể, rành mạch hai chức năng của VKSND đã bác bỏ quan điểm nêu trên Cho dù trong quá trình thực hiện hai chức năng này, chúng tôi thấy rằng có một số nội dung đã đan xen, liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau, nhưng không vì thế mà phủ nhận tính độc lập của chúng cả về nội dung, hình thức và phạm vi áp dụng
Quan điểm thứ hai, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà
2 Trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội (1996), Giáo trình công tác k iểm sát (tập 1), Nxb Công an nhân dân,
3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, Điều 3.
4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 được sửa đổi bổ sung năm 2001, Điều 137
5 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam các năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 nước, bảo vệ trật tự pháp luật 6 Quan điểm này được đưa vào chương trình giảng dạy chính thức của Trường cao đẳng kiểm sát Hà Nội và thường xuyên được nhắc đến trong các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, tổng kết các chuyên đề trước đây của VKSND Quan điểm này cho rằng, quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà nước và pháp luật, được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, TTHS, cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự và ngày nay tiếp tục mở rộng sang các lĩnh vực tố tụng tư pháp khác 7 Theo quan điểm này, khái niệm quyền công tố được xác định là quyền của Nhà nước giao cho VKS thực hiện theo luật định Nội dung quyền công tố là tổng hợp các biện pháp pháp lý đặc trưng theo luật định mà VKS có trách nhiệm thực hiện trong hoạt động tố tụng tư pháp Quyền công tố là một nội dung của hoạt động thực hiện chức năng của VKSND trong lĩnh vực tố tụng dân sự, TTHS và các lĩnh vực tư pháp khác nhằm đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đều bị phát hiện, điều tra, xử lý theo pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, tăng cường pháp chế thống nhất 8
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và so sánh với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi cho rằng, quan điểm này đã quá mở rộng khái niệm, nội dung và phạm vi của quyền công tố dẫn đến sự xoá nhòa ranh giới và tính đặc thù giữa TTHS và các lĩnh vực tố tụng khác Đặc trưng của TTHS là phát sinh, tồn tại và chấm dứt không phụ thuộc vào ý chí của những người tham gia tố tụng; còn tố tụng dân sự được tiến hành với nguyên tắc đặc trưng là: quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự nên hoạt động tố tụng này phát sinh, tồn tại và chấm dứt phụ thuộc vào ý chí của đương sự Ý chí, lợi ích của bản thân đương sự là động lực chủ yếu của hoạt động tố tụng dân sự, nó quyết định sự vận động của hoạt động tố tụng Đồng thời, quan điểm nêu trên đã đồng nhất quyền công tố với những quyền năng của VKS trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh tế, lao động
Quan điểm thứ ba, quyền công tố là quyền Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài hình sự đối với người phạm tội Hay nói cách khác, quyền công tố do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và thi hành án hình sự Đó là hoạt động tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên (KSV) và những người khác được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định
6 Trường cao đẳng kiểm sát Hà Nội (1996), tlđd, tr.87
7 Lê Hữu Thể (2008), Thực hành quyền công tố và k iểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb tư pháp, Hà Nội, tr.25
8 Trường cao đẳng kiểm sát Hà Nội (1996), tlđd, tr.88 người phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội 9
Quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với nguyên tắc của TTHS: tội phạm khi được thực hiện đều xâm phạm đến lợi ích chung, vì vậy người phạm tội phải bị truy cứu TNHS và bị trừng trị bằng các chế tài hình sự Việc truy cứu TNHS và áp dụng hình phạt đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội được
Đặc điểm thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Nhà nước giao cho VKS thay mặt nhà nước thực hành quyền công tố, theo đó VKS được sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử Đây là đặc điểm cơ bản nhất của thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là một hoạt động áp dụng pháp luật vào thực tế nhằm truy cứu TNHS đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội Hoạt động này chỉ do VKS tiến hành bởi VKS là cơ quan duy nhất đại diện Nhà nước thực hiện chức năng thực hành quyền công tố Để thực hiện chức năng công tố, Bộ luật LTTHS và Luật tổ chức VKSND quy định cho VKS một hệ thống khá đầy đủ các quyền năng pháp lý, trong đó có những quyền chỉ VKS mới được thực hiện (như quyền quyết định truy tố bị can ra Tòa án để xét xử) Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, VKS phải bảo đảm rằng mọi hành vi phạm tội đều phải được đánh giá, xem xét, cân nhắc và đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời, đúng đắn, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội
Khi thực quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, VKS phải bảo đảm rằng sự buộc tội là có căn cứ, các chứng cứ được thu thập ở các giai đoạn trước đó phải được kiểm chứng, chứng minh tại tòa có đúng với nội dung bản cáo trạng, các hành vi pham tội phải được phát hiện xử lý, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội KSV kiểm chứng, chứng minh sự buộc tội của mình bằng việc xét hỏi bị cáo, nhân chứng, bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người giám định, xem xét, đối chiếu tài liệu của các cơ quan chuyên môn, xem xét vật chứng…
Sau khi xét hỏi nếu xét thấy việc buộc tội bị cáo là không có căn cứ, thì KSV có quyền rút truy tố Nếu việc buộc tội có căn cứ KSV bảo vệ cáo trạng bằng luận tội
Luận tội phân tích đánh giá chứng cứ của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, viện dẫn các chứng cứ đã được kiểm tại tòa đảm bảo sự buộc tội của VKS (bản cáo trạng) là có căn cứ
Luận tội của VKS làm phát sinh tranh luận giữa KSV và bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác Đây được coi là giai đoạn “đấu lý” quan trọng nhất, giai đoạn làm việc vất vả nhất của VKS tại phiên tòa Bản luận tội không những là căn cứ để bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác đưa ra ý kiến, quan điểm của mình về toàn bộ nội dung vụ án mà VKS đã truy tố trước Tòa án, là cơ sở để Tòa án xem xét, quyết định trong việc đưa ra phán quyết của mình đối với người phạm tội và toàn bộ vụ án
Thực hành quyền công tố ở giai đoạn xét xử sơ thẩm của VKS bao gồm các hành vi và các quyết định tố tụng mang tính công khai theo một trình tự, thủ tục, thẩm quyền được pháp luật TTHS quy định Mục đích của hoạt động thực hành quyền công tố của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là nhằm truy cứu TNHS đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do các chế tài pháp luật hình sự đặt ra
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là hoạt động nhân danh Nhà nước thực hiện sự buộc tội đối với người phạm tội, những hoạt động này chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKSND cùng cấp và chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng VKS cấp trên trực tiếp, đồng thời chịu sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Viện trưởng VKSNDTC VKS cấp trên có quyền rút, hủy bỏ các quyết định công tố không có căn cứ và trái pháp luật của VKS cấp dưới và yêu cầu ra quyết định đúng pháp luật
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là VKS kiểm tra, xem xét một cách toàn diện việc thu thập, đánh giá chứng cứ và các tình tiết khác có liên quan đến vụ án đã được thu thập trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố Quá trình thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm của VKS là sự đánh giá tổng hợp các chứng cứ chứng minh tội phạm của CQĐT, VKS trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và chứng cứ do VKS thu thập trong giai đoạn truy tố bao gồm chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân người phạm tội… để quyết định truy cứu TNHS đối với người phạm tội dựa trên chứng cứ có thật, liên quan đến vụ án chứ không dựa trên suy luận chủ quan
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm chính là việc VKS thực hiện các hoạt động công tố nhằm thực thi quyền truy cứu TNHS, quyết định việc buộc tội, việc gỡ tội trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề xuất mức hình phạt đối với hành vi phạm tội, các biện pháp tư pháp, các vấn đề khác trong vụ án hình sự
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm có đặc điểm khác với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử sơ thẩm Tuy cùng một chủ thể là VKS tiến hành nhưng thực hành quyền công tố nhằm vào việc buộc tội, gỡ tội, đề xuất mức hình phạt đối với hành vi phạm tội, các biện pháp tư pháp, các vấn đề khác đối với người phạm tội Còn hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hướng đến sự tuân thủ pháp luật của Tòa án và những người tham gia tố tụng Nếu phát hiện có hành vi phạm pháp luật, VKS có quyền kiến nghị, yêu cầu các chủ thể chấm dứt vi phạm, khôi phục lại trật tự pháp luật đã bị vi phạm.
Thực hành quyền công tố theo quy định pháp luật của một số nước trên thế giới
1.3.1 Khái quát việc tổ chức thực hành quyền công tố ở một số nước theo truyền thống luật lục địa
Các nước theo truyền thống luật lục địa nhấn mạnh vai trò của Công tố viên Công tố viên là những người đại diện cho Nhà nước, không chỉ bảo vệ lợi ích của Nhà nước mà còn bảo vệ quyền lợi cho người bị hại trong vụ án Điều đó có nghĩa Công tố viên không chỉ thực hiện chức năng buộc tội mà còn có chức năng duy trì sự công bằng và quyền lợi của xã hội
Cộng hòa Pháp và Cộng hòa Liên bang Đức là ví dụ điển hình theo truyền thống pháp luật Châu âu lục địa Giai đoạn xét xử sơ thẩm bắt đầu khi cơ quan công tố chuyển hồ sơ và bản cáo trạng sang tòa Tòa án có thời gian chuẩn bị xét xử để nghiên cứu trước hồ sơ, nếu không đủ chứng cứ thì trả hồ sơ điều tra bổ sung, đủ căn cứ thì quyết định đưa vụ án ra xét xử Phiên tòa thực chất là sự tiếp nối của một quá trình điều tra liên tục, chứ không phải sự cạnh tranh giữa các bên đối trọng nhau trong vụ án và thời điểm mấu chốt là quá trình xét hỏi Thẩm phán chủ động xét hỏi nhằm kiểm tra xác minh lại các chứng cứ đã thu thập được trong các giai đoạn tố tụng trước đó, làm căn cứ cho việc ra phán quyết bản án do đó hội đồng xét xử (HĐXX) là người hỏi chính Công tố viên tham gia phiên tòa có quyền công bố cáo trạng, tham gia thẩm vấn bị cáo và những người tham gia tố tụng khác sau khi HĐXX đã thẩm vấn xong Công tố viên đề nghị giám định, yêu cầu những vấn đề mang tính thủ tục Sau khi chứng cứ đã được thẩm tra, kết thúc phần xét hỏi, công tố viên trình bày bản luận tội, trong đó nêu tóm tắt kết quả thẩm vấn, các lập luận qua quá trình xét xử cùng với đề nghị mức hình phạt cụ thể và các biện pháp bổ sung Sau cùng, công tố viên có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật Ở Pháp, hệ thống cơ quan công tố chịu sự lãnh đạo của Bộ trưởng Tư pháp Nhưng theo quy định của pháp luật, Viện công tố là cơ quan truy tố tội phạm và là cơ quan đại diện cho xã hội bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng, bảo đảm việc áp dụng đúng pháp luật, các Công tố viên được bảo đảm hoạt động độc lập, có quyền tự do luận tội và quyền tự quyết định có truy tố hay không Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố Công tố viên có quyền tự điều tra; quyết định việc truy tố; quyết định mở cuộc điều tra theo chế độ dự thẩm Ngoài ra, Công tố viên có quyền tự mình quyết định số phận vụ án không cần chuyển sang Toà Đây là những vụ án mà hành vi phạm tội không ảnh hưởng lớn đến những giá trị nền tảng của xã hội và nạn nhân muốn được bồi thường hơn là đòi truy tố bị cáo ra trước Tòa 24 Ở Đức, cơ quan cảnh sát không có quyền kết thúc hoạt động tố tụng, không có quyền ra quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra Tất cả những vụ án mà cơ quan cảnh sát đã thụ lý điều tra, sau khi kết thúc việc điều tra phải chuyển hồ sơ vụ án sang cho Viện công tố để xem xét quyết định việc truy tố hay đình chỉ vụ án Khi có hồ sơ của Cảnh sát chuyển đến, Viện công tố xem xét có truy tố hay không để đưa ra quyết định xử lý Viện công tố có quyền tự quyết định xử lý vụ án ngay ở trong giai đoạn truy tố mà không cần phải đưa vụ án ra truy tố trước Toà án nếu xét thấy hành vi phạm tội không còn ý nghĩa đối với lợi ích công nữa thì có thể kết thúc quá trình tố tụng bằng một quyết định đình chỉ vụ án Đối với các tội ít nghiêm trọng, Viện công tố có quyền xem xét miễn truy tố nếu thấy tính chất của hành vi phạm tội là ít nghiêm trọng và lợi ích của xã hội không đòi hỏi phải truy tố Về việc miễn truy tố phải đáp ứng các điều kiện: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng, nếu được sự đồng ý của Tòa án có thẩm quyền xét xử và của bị can, Viện công tố có thể quyết định miễn truy tố đối với bị can gắn với một trong các điều kiện: Bị can có đóng góp nhất định cho việc khắc phục thiệt hại do tội phạm gây ra; bị can nộp một khoản tiền cho một tổ chức phi lợi nhuận hoặc cho Bộ Tài chính; bị can thực hiện các hoạt động phi lợi nhuận khác Trong trường hợp truy tố thì quyết định truy tố của Viện công tố xác định ranh giới xét xử của Toà án Toà án chỉ xét xử những hành vi và bị cáo khi được Viện công tố truy tố Toà án không được xét xử những hành vi, những người mà Viện công tố không truy tố 25 Ở Liên bang Nga: VKS nước Cộng hoà Liên bang Nga là một cơ quan có vị trí độc lập với cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp, được xây dựng theo nguyên tắc tập trung, thống nhất VKS chỉ phục tùng một người lãnh đạo duy nhất là Tổng kiểm sát trưởng Liên bang; Tổng kiểm sát trưởng do Hội đồng Liên bang bổ nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng thống Liên bang Nga Dưới quyền Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga có các KSV các nước cộng hoà, các vùng, khu vực, thành phố trực thuộc Liên bang, các vùng tự trị, các khu vực tự trị, các thành phố quận, huyện và cấp tương đương do Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga bổ nhiệm và bãi nhiệm Mỗi KSV đều có một hệ thống những người giúp việc
Như vậy, truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa đã cho thấy trong giai đoạn xét xử vai trò của Công tố viên và luật sư không nổi bật như ở các nước Anh, Mỹ
24 Lê Thị Tuyết Hoa (2002), “Vài nét về việc tổ chức thực hành quyền công tố ở một số nước trên thế giới”,
Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, tr 64-68
25 Nguyễn Thị Thu Quỳ (2013), “Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự cộng hòa liên bang Đức”, Thông tin k hoa học Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tập 5+6, tr 81-82.
Công tố viên gần như thụ động tại phiên tòa Thẩm phán đóng vai trò tích cực, không chỉ thực hiện chức năng xét xử mà còn thực hiện cả chức năng điều tra, chức năng buộc tội thẩm vấn và chứng minh tội phạm và một phần nào đó chức năng bào chữa Việc giao trách nhiệm chứng minh cho cả ba CQĐT, công tố, xét xử tuy tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành các hoạt động tố tụng, bảo đảm khả năng kiểm soát tội phạm nhưng mặt khác rất dễ làm tổn thương đến lợi ích cá nhân, nhất là bị can, bị cáo, người bị hại và những người thân thích của họ; ảnh hưởng đến tính khách quan, công bằng, công khai của tố tụng
1.3.2 Khái quát việc tổ chức thực hành quyền công tố ở một số nước theo truyền thống luật án lệ
Quốc gia điển hình theo hệ thống luật án lệ là Anh và Hoa Kỳ Giai đoạn xét xử sơ thẩm bắt đầu khi cơ quan công tố chuyển bản cáo trạng và bản bào chữa của luật sư chuyển đến tòa Thẩm phán và bồi thẩm đoàn không biết trước về chứng cứ Tại phiên tòa, Công tố viên trình bày cáo trạng, đưa ra lời buộc tội đối với bị cáo; đối đáp, tranh luận với luật sư và những người tham gia tố tụng về chứng cứ buộc tội, gỡ tội cũng như việc áp dụng pháp luật Quá trình tranh tụng giữa các đại diện thực hiện chức năng buộc tội và chức năng bào chữa là điều kiện tiên quyết bảo đảm sự bình đẳng giữa bị cáo, người bào chữa với công tố viên Thẩm phán và bồi thẩm đoàn không xét hỏi mà chỉ nghe các bên tranh tụng và đóng vai trò như trọng tài điều khiển sự tranh tụng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội, ra phán quyết về bị cáo có tội hay vô tội, nếu có tội thì tội gì và áp dụng hình phạt như thế nào Một khi bồi thẩm đoàn tuyên bị cáo vô tội thì cơ quan công tố không bao giờ được truy tố 26
Do tính chất khắc nghiệt của tranh tụng, cơ quan công tố rất khó khăn, thậm chí không thể tìm ra đủ chứng cứ để có thể “thắng” tại phiên tòa khi họ muốn truy tố một bị cáo Do đó, pháp luật khuyến khích bị cáo nhận tội hoặc cho phép họ thỏa thuận để bị cáo nhận tội Đổi lại, bị cáo có thể được miễn truy tố về một hoặc một số tội hay được giảm hình phạt Cơ chế này tác động tới trình tự tố tụng vì khi bị cáo nhận tội, dù ở bất cứ giai đoạn tố tụng nào, toàn bộ thủ tục tố tụng đối với bị cáo sẽ được thay đổi theo hướng không còn “tranh tụng” nữa và lúc đó thẩm phán sẽ chỉ phải thẩm tra lại hồ sơ vụ án để quyết định hình phạt Ở Anh tồn tại song song hai hệ thống pháp luật: Hệ thống pháp luật theo án lệ là Anh – xứ Wales và hệ thống pháp luật gần giống pháp luật của Pháp và Đức là xứ Scotland Hệ thống công tố theo truyền thống luật án lệ, đó là hệ thống Công tố Hoàng gia Anh Nhiệm vụ chủ yếu của Công tố Hoàng gia là truy tố tội phạm trên
26 Viện Khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp (1999), “Chuyên đề Tư pháp hình sự so sánh”, Thông tin khoa pháp lý , tr123 cơ sở sử dụng các tài liệu cung cấp bởi Cảnh sát, ngoài ra cơ quan này còn có quyền khởi tố đối với những vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp Ở Hoa Kỳ, hệ thống cơ quan công tố được chia làm hai cấp, cấp bang và liên bang Đứng đầu Viện công tố liên bang là Tổng công tố do Tổng thống Hoa Kỳ bổ nhiệm và có nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ Tổng thống Dưới Viện công tố liên bang là các Viện công tố bang Công tố viên ở Hoa kỳ có thẩm quyền rất rộng trong việc truy tố hay không truy tố và quyết định của Công tố viên không bị xét lại bởi thẩm phán hay viên chức tư pháp hình sự nào khác Ở các nước theo hệ thống luật án lệ, trong giai đoạn xét xử Công tố viên đóng vai trò là chủ thể thực hiện chức năng buộc tội, chức năng bào chữa thuộc về người bị buộc tội và người bào chữa của họ, Tòa án giữ vai trò trung lập không có trách nhiệm chứng minh sự thật vụ án Quá trình buộc tội và gỡ tội có đối kháng cao nên trở thành công cụ chống oan sai hiệu quả
1.3.3 Khái quát việc tổ chức thực hành quyền công tố ở một số nước Châu Á
Xem xét việc thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm ở một số quốc gia Châu Á có một số điểm tương đồng với Việt Nam về văn hóa, lịch sử, thậm chí cả một số điểm về hệ thống chính trị, chế độ Nhà nước, cơ cấu bộ máy… đó là Trung Quốc: Cơ quan thực hành quyền công tố ở Trung Quốc hiện nay là VKSND được tổ chức từ Trung ương xuống địa phương
Giai đoạn xét xử được bắt đầu khi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng do VKS chuyển đến Tòa Sau đó, một Thẩm phán sẽ được chỉ định để thẩm tra các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Căn cứ vào kết quả thẩm tra, Tòa án ra một trong các quyết định: Quyết định thụ lý vụ án; Quyết định không thụ lý vụ án; Quyết định trả lại vụ án cho VKS; Yêu cầu VKS bổ sung tài liệu
Theo quy định của luật TTHS Trung Quốc trước năm 1996 thì KSV phải chuyển tất cả chứng cứ thu thập được đến Tòa án và người bào chữa có thể được xem xét các chứng cứ trước khi xét xử Tuy nhiên, quy định này đã dẫn đến tình trạng các Thẩm phán xem xét chứng cứ trước khi xét xử và quyết định hậu quả pháp lý trước khi mở phiên tòa xét xử Chính vì vậy để đảm bảo sự tập trung của Thẩm phán vào giai đoạn xét xử và để hạn chế hiện tượng “quyết định trước, xét xử sau”, Luật TTHS Trung Quốc năm 1997 không quy định thủ tục tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và không cho phép KSV chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án cùng các chứng cứ đến phiên tòa trước khi xét xử mà KSV phải nộp danh sách chứng cứ, danh sách các nhân chứng và bản sao hoặc ảnh của các chứng cứ quan trọng đến
Tòa án 27 Tuy nhiên, quy định này đã hạn chế quyền bào chữa của người bào chữa vì họ không được xem xét tất cả chứng cứ trước khi xét xử
Phiên tòa bắt đầu bằng việc xét hỏi về căn cước, tình trạng gia đình của bị cáo và tiến trình tố tụng cơ bản của vụ án đó, tiếp theo bị cáo được quyền đề nghị thay đổi Thẩm phán và KSV Sau khi kết thúc phần thủ tục, Tòa án tiến hành việc điều tra Việc điều tra tại phiên tòa giúp Tòa án xem xét, kiểm tra chứng cứ đã thu thập được có đủ giá trị chứng minh cho sự thật vụ án hay không, giúp các bên tìm kiếm, khẳng định, củng cố các chứng cứ có lợi cho mình Chính vì vậy, thẩm vấn (hỏi - đáp) là phương thức chủ yếu được sử dụng tại phiên tòa trong giai đoạn điều tra tại phiên tòa
Tại phiên tòa sơ thẩm KSV thực hành quyền công tố bằng việc công bố cáo trạng, bị cáo hoặc người đại diện tố tụng của họ trong vụ án dân sự kèm theo (nếu có tố tụng dân sự kèm theo) đọc đơn kiện dân sự Tiếp đó bị cáo, người bị hại có thể trình bày về sự việc phạm tội nêu trong cáo trạng
Khi HĐXX thấy rằng việc điều tra tại phiên tòa đã rõ ràng thì chủ tọa tuyên bố kết thúc việc điều tra chuyển sang phần tranh luận, tranh luận tại phiên tòa tập trung vào các vấn đề về sự thật, chứng cứ của vụ án và việc áp dụng pháp luật Việc tranh luận tại phiên tòa được thực hiện theo thứ tự: KSV phát biểu ý kiến, sau đó đến người bị hại và người đại diện tố tụng của họ phát biểu ý kiến, tiếp đến bị cáo tự bào chữa và người bào chữa bào chữa cho bị cáo và cuối cùng các bên tiến hành tranh luận với nhau Trong quá trình tranh luận, nếu có tình tiết mới phát sinh và thấy rằng cần phải điều tra thì Chủ tọa phiên tòa có thể tuyên bố tạm dừng việc tranh luận để khôi phục việc điều tra tại phiên tòa cho đến khi điều tra làm rõ sự thật thì mới tiếp tục việc tranh luận 28 Sau khi kết thúc việc tranh luận, bị cáo được nói lời sau cùng, tiếp đến HĐXX nghị án trong thời gian ngắn, rồi quay trở lại phiên tòa để tuyên án Bị cáo cũng có thể được tuyên thẳng là có tội hoặc tuyên vô tội nếu xét thấy chứng cứ không đầy đủ và việc truy tố không có cơ sở 29