Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của đời sống kinh tế - xã hội nên các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, các quy định pháp luậ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
MSSV: 1055020152
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 2Cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Luật đã giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu trong thời gian tác giả theo học tại trường
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tác giả rất nhiều trong suốt chặng đường học tập
Mặc dù bản thân đã cố gắng trong việc học hỏi, nghiên cứu đề tài nhưng khóa luận không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Do đó, tác giả rất mong nhận được sự quan tâm, đóng góp từ phía thầy cô, các bạn sinh viên cũng như những ai quan tâm đến đề tài này
Trân trọng cảm ơn!
Trang 4Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN CHIA THỪA KẾ 6
1.1 Khái quát những vấn đề lý luận về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế 6
1.1.1 Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế 6
1.1.2 Khái niệm thời hiệu khởi kiện 8
1.1.3 Khái niệm thời hiệu khởi kiện chia thừa kế 9
1.2 Ý nghĩa của quy định pháp luật về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế 11
1.3 Sơ lược quy định của pháp luật Việt Nam về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế từ năm 1990 đến nay 12
1.3.1 Giai đoạn từ khi Pháp lệnh thừa kế 1990 có hiệu lực đến trước khi Bộ luật dân sự 1995 có hiệu lực 12
1.3.2 Giai đoạn từ khi Bộ luật dân sự 1995 có hiệu lực đến nay 13
1.4 Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế 16
1.4.1 Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện chia thừa kế 16
1.4.2 Những gián đoạn về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế 19
1.4.3 Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện chia thừa kế 26
1.4.4 Không áp dụng thời hiệu khởi kiện chia thừa kế theo Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP 29
1.4.5 Hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế và hậu quả pháp lý 30
1.5 Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế theo quy định của một số nước trên thế giới 31
1.5.1 Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế trong Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp 31
1.5.2 Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế trong Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan 33
1.5.3 Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế trong Bộ luật dân sự Nhật Bản 34
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN CHIA THỪA KẾ 37
2.1 Thực trạng về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế 37
2.1.1 Thực trạng quy định của pháp luật 37
2.1.2 Thực trạng trong thực tiễn áp dụng 44
Trang 52.2 Những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế 59
2.2.1 Giải pháp đối với trường hợp làm gián đoạn thời hiệu khởi kiện chia thừa kế 59 2.2.2 Giải pháp về thời hạn của thời hiệu khởi kiện chia thừa kế và giải quyết hậu quả của di sản hết thời hiệu 61 2.2.3 Giải pháp về trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện chia thừa
kế theo Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP 64
KẾT LUẬN 66
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền thừa kế tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Ở bất kỳ chế độ xã hội nào, vấn đề thừa kế cũng đóng vai trò quan trọng trong chế định pháp luật và là một trong những hình thức pháp lý
để bảo vệ quyền con người Với tính chất là một quyền dân sự cơ bản, quyền thừa kế đóng vai trò là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng để xác lập
và duy trì quyền sở hữu tư nhân Chính vì vậy, thừa kế trở thành một vấn đề gắn liền với đời sống của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội
Trong bối cảnh phát triển của xã hội ngày nay, với thực trạng xây dựng nền kinh tế thị trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền, vấn thừa kế di sản nảy sinh nhiều dạng tranh chấp phức tạp với tỷ lệ ngày càng cao, trong đó đa
số là loại tranh chấp yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật thì Tòa án chỉ thụ lý giải quyết yêu cầu chia thừa
kế khi thời hiệu khởi kiện chia thừa kế còn Do đó, đòi hỏi các chủ thể phải
có những hiểu biết pháp luật nhất định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản
Các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế được kế thừa từ giai đoạn trước đó cho đến nay và ngày càng được hoàn thiện hơn BLDS 2005 là kết quả cao của quá trình pháp điển hóa các quy định của pháp luật về thừa kế, không ngừng được hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của những người thừa kế một cách hiệu quả nhất Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của đời sống kinh tế - xã hội nên các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, các quy định pháp luật còn khá phức tạp, cách lập pháp trong một số trường hợp còn chưa thực
sự rõ ràng, gây khó khăn cho các chủ thể khi tìm hiểu pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho chính mình và gây lúng túng trong thực tiễn xét xử; có nhiều trường hợp Tòa án xét xử nhiều lần nhưng tính thuyết phục vẫn không cao Đồng thời, gây những ảnh hưởng lớn đến quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản của các thừa kế
Vì vậy, vấn đề thời hiệu khởi kiện chia thừa kế cần được nghiên cứu một cách toàn diện nhằm góp phần làm rõ các quy định của pháp luật, đồng thời khắc phục những bất cập hiện còn tồn tại trong luật thực định Cần xác định rõ thời điểm tính thời hiệu khởi kiện chia thừa kế, thời hiệu khởi kiện là bao lâu? Khi hết thời hiệu khởi kiện thì các thừa kế còn được quyền khởi
Trang 7kiện yêu cầu Tòa án chia di sản không? Di sản hết thời hiệu được giải quyết như thế nào? Làm thế nào để khắc phục những bất cập trong luật thực định?
Từ những phân tích trên, tác giả nhận thấy được tầm quan trọng của thời hiệu khởi kiện chia thừa kế và mong muốn nghiên cứu một cách tổng thể
về vấn đề này để trang bị thêm kiến thức cho bản thân, cũng như đưa ra một
số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quy định này trong BLDS sửa đổi sắp
tới Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Thời hiệu khởi kiện
chia thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành” để làm
khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề thời hiệu khởi kiện chia thừa kế là một trong những nội dung quan trọng của chế định thừa kế Đây là đề tài được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và tiếp cận với những góc độ khác nhau Các công trình đó bao gồm:
- Nguyễn Thị Hoài Phương (2007), Thời hiệu khởi kiện vụ việc
dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Báo cáo kết quả nghiên cứu
– Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ;
- Nguyễn Thị Hoài Thương (2011), Thời hiệu khởi kiện về thừa kế
theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, Luận văn cử nhân,
Trường Đại học Luật TP.HCM;
- Chu Xuân Minh (2003), “Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế”,
Tòa án nhân dân, (số 09), tr 18 – 21, 23;
- Lê Minh Hùng (2005), “Thời hiệu khởi kiện thừa kế-Thực trạng
pháp luật và hướng hoàn thiện”, Khoa học pháp lý, (số 05), tr 28 – 33;
- Nguyễn Công Lực (2006), “Những vướng mắc về không áp
dụng thời hiệu khởi kiện về thừa kế”, Tòa án nhân dân, (số 19), tr 14
– 16;
- Phạm Văn Hiểu (2007), “Những bất cập về thời hiệu khởi kiện
về quyền thừa kế trong pháp luật dân sự hiện hành”, Luật học, (số 08),
tr 19 – 22;
- Nguyễn Minh Hằng (2009), “Yêu cầu chia di sản thừa kế hoặc
chia một phần di sản thừa kế khi đã hết thời hiệu khởi kiện”, Kiểm sát,
(số 15), tr 29 – 33;
- Trần Quốc Hạnh (01/2014), “Xác định thời hiệu khởi kiện trong
vụ án tranh chấp thừa kế nhà ở mà thời điểm mở thừa kế trước ngày
Trang 801/7/1991, có người Vệt Nam định cư ở nước ngoài, các nhân, tổ chức
nước ngoài tham gia”, Tòa án nhân dân, (số 02), tr 12 – 13… và các
công trình nghiên cứu khác;
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn đề về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện Đây là tài liệu rất bổ ích giúp tác giả trong việc hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình Việc lựa chọn đề tài là sự kế thừa kinh nghiệm của những bài viết trước, đồng thời là sự nghiên cứu một cách tổng thể chế định thời hiệu khởi kiện chia thừa kế bao gồm những quy định của pháp luật và chỉ ra những bất cập,
từ đó đưa ra định hướng hoàn thiện pháp luật
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đây là công trình nghiên cứu dưới góc độ khóa luận tốt nghiệp Vì thế,
đề tài có giá trị tham khảo phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu đối với bạn đọc có nhu cầu tìm hiểu về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế Qua đó, cung cấp những kiến thức chung nhất đến những kiến thức cơ bản, giúp người đọc
có cái nhìn rõ nét đối với những vấn đề về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế Đồng thời, với công trình nghiên cứu này, tác giả đã chỉ những bất cập và từ
đó đưa ra định hướng hoàn thiện, hy vọng sẽ đóng góp phần nào cho công tác lập pháp và thực thi pháp luật liên quan đến vấn đề thời hiệu khởi kiện chia thừa kế
4 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế, tác giả phân tích cơ sở lý luận, bản chất pháp lý và các nguyên tắc xác định thời hiệu khởi kiện chia thừa kế; đồng thời chỉ ra những bất cập trong quy định của pháp luật và khi áp dụng trên thực tế Từ đó, hướng đến việc đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế
5 Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận tập trung làm sáng tỏ những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế và thực tiễn áp dụng pháp luật những quy định này Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế
Khóa luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với chủ nghĩa duy vật biện chứng để làm sáng tỏ khái niệm, bản chất pháp lý và tiến trình lịch sử của thời hiệu khởi kiện chia thừa kế Ngoài ra, khóa luận còn sử dụng kết hợp các phương
Trang 9pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, liệt kê để làm rõ thực trạng, những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và định hướng hoàn thiện pháp luật về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế
6 Bố cục khóa luận
Bên cạnh mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận được chia thành ba phần:
Phần mở đầu
Phần nội dung gồm hai chương:
- Chương 1: Lý luận chung và những quy định của pháp luật hiện hành về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế
- Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế
Phần kết luận
Trang 10CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN CHIA THỪA KẾ
1.1 Khái quát những vấn đề lý luận về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế
1.1.1 Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế
1.1.1.1 Khái niệm thừa kế
“Thừa” và “kế” đều có nghĩa là tiếp nối, tiếp tục Do đó, khi nói đến thừa kế
có thể hình dung và hiểu được đó là sự chuyển dịch khối tài sản từ người đã chết sang người còn sống1
Theo nghĩa thông thường, “thừa kế là sự truyền lại tài sản của người đã chết
cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật”2 Khi một người qua đời, khối tài sản của người chết cần có người tiếp tục sở hữu để quản lý và sử dụng, mà thông thường người được sở hữu phải là những người thân thích hoặc có quan hệ gắn bó mật thiết với người để lại di sản, đó là những người được người để lại di sản chọn hoặc theo quy định pháp luật là những người có quan hệ huyết thống với người để lại di sản
Thừa kế là việc truyền lại tài sản từ người đã chết cho những người còn sống Đây là một hiện tượng xã hội khách quan, xuất hiện ngay từ thời kỳ sơ khai và tồn tại trong mọi xã hội Vào thời kỳ sơ khai của xã hội loài người, con người đã biết để lại tài sản của mình cho những người còn sống để người còn sống tiếp tục sử dụng làm phương tiện mưu sinh, nhưng tài sản lúc bấy giờ là tài sản chung của cộng đồng Thế nhưng, từ khi Nhà nước và pháp luật ra đời thừa nhận quyền sở hữu tư nhân, tài sản không còn thuộc sở hữu chung của cộng đồng nữa mà thuộc sở hữu cá nhân Việc thừa kế được thực hiện qua hai hình thức:
- Thông qua hình thức di chúc để quyết định những người nào được quyền hưởng di sản theo ý chí của người để lại di sản
- Thực hiện việc dịch chuyển tài sản theo trình tự, thủ tục nhất định của pháp luật trong trường hợp không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp Khi một cá nhân chết, quyền sở hữu tài sản có sự dịch chuyển từ người chết sang người còn sống, thông qua việc dịch chuyển tài sản đó đã làm hình thành nên quan hệ xã hội tương ứng, là quan hệ thừa kế Quan hệ thừa kế giúp bảo vệ, duy trì
và củng cố quyền sở hữu tư nhân Ngược lại quyền sở hữu là tiền đề, là yếu tố để quyết định thừa kế Di sản người chết để lại được sử dụng như một phương tiện để
Trang 11duy trì và đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống, do vậy thừa kế cũng là một chế định mang phạm trù kinh tế
Từ những nhìn nhận trên, có thể định nghĩa thừa kế như sau: “Thừa kế việc
dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống Thừa kế luôn gắn với chủ sở hữu, sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế và thừa kế là phương tiện duy trì, củng cố quan hệ sở hữu” 3
1.1.1.2 Khái niệm quyền thừa kế
Việc dịch chuyển tài sản từ người đã chết sang những người sống tồn tại từ khi xã hội loài người xuất hiện Với việc ra đời sớm từ khi xã hội chưa có sự phân chia giai cấp, thừa kế phát triển và tồn tại tương thích với sự phát triển của xã hội loài người Nếu trước đây, thừa kế trong xã hội thị tộc được dịch chuyển theo phong tục tập quán thì khi Nhà nước xuất hiện, quá trình dịch chuyển tài sản từ người chết sang người sống chịu sự tác động bằng ý chí của Nhà nước, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị Việc dịch chuyển tài sản từ người đã chết sang người còn sống khi được Nhà nước và pháp luật ghi nhận, bảo vệ được gọi là quyền thừa kế Quyền thừa kế là một phạm trù pháp lý chỉ tồn tại trong pháp luật, khi xã hội đã có Nhà nước xuất hiện Ở mỗi chế độ xã hội khác nhau sẽ có những quy định khác nhau về quyền thừa kế, thậm chí trong cùng một chế độ xã hội nhưng ở những giai đoạn khác nhau thì cũng tồn tại những quy định khác nhau Sự khác nhau đó xuất phát từ việc chịu sự tác động của chế độ sở hữu trong xã hội, các quy tắc xã hội, phong tục, tập quán…và đặc biệt là ý chí của giai cấp thống trị Do đó, bản chất của quyền thừa kế luôn gắn liền với bản chất của mỗi xã hội và trình độ phát triển của mỗi quốc gia
Người có quyền thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam là công dân hay tổ chức Quyền thừa kế được thể hiện ở hai chủ thể nhất định, đó là chủ thể để lại tài sản và chủ thể hưởng thừa kế di sản Những người được thừa kế theo quy định của pháp luật không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi, người có hay không có năng lực hành vi hoặc người có năng lực hành vi không đầy đủ đều có quyền thừa kế
Dưới góc độ là một thuật ngữ pháp lý, quyền thừa kế được hiểu với nhiều nghĩa4 :
- Theo nghĩa chủ quan, quyền thừa kế được hiểu là một quyền năng dân sự
cụ thể Đó là quyền định đoạt di sản của người để lại di sản theo ý chí thông qua di
3
Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, tr.123
4 Lê Đình Nghị (Chủ biên) (2010), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.298
Trang 12chúc hoặc theo pháp luật hay là quyền nhận di sản của người được hưởng di sản hoặc quyền từ chối nhận di sản để lại Đây là ý chí chủ quan của họ, không ai được quyền ép buộc nhưng việc thực hiện cũng phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật Đối với người để lại di sản, họ chỉ được quyền định đoạt những tài sản nào thuộc quyền sở hữu của mình và việc để lại di sản cũng phải tuân thủ chặt chẽ những quy định của pháp luật như về hình thức di chúc, về ý chí,… Còn đối với người hưởng di sản phải là người được người để lại di sản chỉ định trong di chúc hoặc theo pháp luật và phải thỏa mãn những điều kiện nhất định như tại thời điểm
mở thừa kế phải còn sống hoặc không thuộc diện không được quyền hưởng di sản,…
- Theo nghĩa khách quan, quyền thừa kế được hiểu là chế định pháp lý trong ngành luật dân sự, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ nhằm điều chỉnh quá trình dịch chuyển tài sản từ người để lại di sản cho người hưởng di sản Thông qua các quy phạm pháp luật về quyền thừa kế, Nhà nước điều chỉnh từ những vấn đề chung nhất đến những vấn đề cụ thể nhằm giải quyết các quan hệ và các vấn đề về quyền thừa kế
- Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự với đầy đủ ba bộ phận cấu thành là chủ thể, khách thể và nội dung Quan hệ thừa kế được xác định gồm một bên để lại di sản và một bên nhận di sản Mỗi bên đều có những quyền năng nhất định và phải được tôn trọng
Tóm lại, quyền thừa kế là một phạm trù pháp lý chỉ tồn tại khi Nhà nước và pháp luật ra đời, đó là quyền dân sự cơ bản của mỗi người được Nhà nước và pháp luật bảo vệ, gồm quyền của người để lại di sản và quyền của người nhận di sản Quyền thừa kế có ý nghĩa kinh tế và xã hội sâu sắc, thông qua đó giúp duy trì và củng cố vững chắc quyền sở hữu tư nhân
1.1.2 Khái niệm thời hiệu khởi kiện
Thời hiệu khởi kiện là một chế định nằm trong nội hàm thời hiệu nói chung Các quy định về thời hiệu khởi kiện được pháp luật ghi nhận tại các văn bản pháp luật khác nhau, nhằm buộc các chủ thể phải ý thức và có trách nhiệm trong việc bảo
vệ quyền lợi của mình
Theo quy định tại khoản 3 Điều 155 BLDS 2005: “Thời hiệu khởi kiện là
thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân
sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”
Trang 13Cũng giống như BLDS 2005, quy định tại khoản 1 Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011(BLTTDS 2004) đã đưa ra định nghĩa
tương tự: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu
cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”
Như vậy, thời hiệu khởi kiện được hiểu là khoảng thời gian mà pháp luật quy định, trong khoảng thời gian đó đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm, nếu thời hạn
đó kết thúc thì chủ thể mất quyền khởi kiện Trong nội hàm khái niệm thời hiệu khởi kiện cho thấy, thời hiệu khởi kiện chỉ đặt ra trong trường hợp khởi kiện tại Tòa
án nhân dân mà không đặt ra đối với trường hợp vụ việc đó được giải quyết tại các
cơ quan, tổ chức khác: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi
kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự…” Thời hiệu khởi kiện dài ngắn
bao nhiêu do pháp luật quy định mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các chủ thể trong quan hệ dân sự Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là khi quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (khoản 1 Điều 159 BLDS 2005) và thời điểm kết thúc là thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu
Tùy vào từng loại vụ việc và tính chất đặc thù của các quan hệ trong vụ việc
đó mà pháp luật có những quy định khác nhau về thời hiệu khởi kiện, nhưng dù thời hiệu khởi kiện dài hay ngắn thì về nguyên tắc phải đảm bảo tính liên tục Tuy nhiên, pháp luật cũng có quy định về những trường hợp cho phép tạm dừng thời hiệu, tức
là thời gian không tính vào thời hiệu được quy định tại Điều 161 BLDS 2005 như trường hợp sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan Đối với khoảng thời gian xảy ra trước khi bắt đầu sự kiện vẫn được tính vào thời hiệu
Khác với trường hợp thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện, thì bắt đầu lại thời hiệu là những trường hợp nếu xảy ra sự kiện bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện được tính lại từ đầu, kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra các
sự kiện đã được pháp luật dự liệu tại khoản 1 Điều 162 BLDS 2005
Việc quy định thời gian không tính vào thời hiệu và bắt đầu lại thời hiệu nhằm đảm bảo quyền lợi cho các đương sự trong việc thực thi bảo vệ quyền lợi của mình - vì những lý do khách quan mà không thực hiện việc khởi kiện trong khoảng thời gian luật định
1.1.3 Khái niệm thời hiệu khởi kiện chia thừa kế
Trang 14Thời hiệu khởi kiện về thừa kế là một loại thời hiệu quan trọng nằm trong quy định của pháp luật dân sự Theo quy định tại Điều 645 BLDS 2005, thời hiệu khởi kiện về thừa kế gồm thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác và thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại Trên thực tế, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại ít có bất cập Thế nhưng, đối với loại thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế lại thường hay có xảy ra bất cập và tranh chấp Vì vậy, khóa luận chỉ tập trung khai thác vấn đề thời hiệu khởi kiện chia thừa
Trước đây, thời hiệu khởi kiện chia thừa kế được quy định trong Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước số 44-LCT/HĐNN8 ngày 10/9/1990 về thừa kế (Pháp lệnh
thừa kế 1990), tại Điều 36 quy định: “Trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở
thừa kế, người thừa kế có quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản…” Sau đó, các
quy định của pháp luật dân sự về sau tiếp tục kế thừa quy định trước đó, tại Điều
648 BLDS 1995 quy định: “Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là mười năm, kể
từ thời điểm mở thừa kế” và tại Điều 645 BLDS 2005 quy định: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản…là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế” Như vậy, quy định về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế khá ổn định qua các
năm, đều được quy định là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế
Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế cũng là một loại thời hiệu khởi kiện, do đó cũng là một thời hạn nhất định do pháp luật quy định mà không do ý chí chủ quan của các chủ thể trong quan hệ thừa kế quyết định Đồng thời, các quy định về thời gian không tính vào thời hiệu hay bắt đầu lại thời hiệu được áp dụng cho thời hiệu
5
Hoàng Thế Liên (Chủ biên)(2010), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự (tập III), Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, tr.645
Trang 15cũng áp dụng cho thời hiệu khởi kiện chia thừa kế Theo quy định tại Điều 645BLDS 2005 thì thời hiệu khởi kiện chia thừa kế là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế Nếu quá thời hạn mười năm thì người thừa kế không còn được quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
Do tính chất đặc thù của quan hệ thừa kế là quan hệ để lại di sản của người chết và nhận di sản của những người còn sống, nên chỉ những người được hưởng di sản mới được quyền khởi kiện Việc khởi kiện trong thời hạn do pháp luật quy định
là nhằm đảm bảo quyền lợi cho các thừa kế khi có tranh chấp xảy ra Nếu không quy định thời hiệu thì việc chia thừa kế sẽ gây khó khăn cho tòa trong công tác xét
xử, cũng như cho chính các thừa kế khi yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền thừa kế của mình
1.2 Ý nghĩa của quy định pháp luật về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế
Khi có tranh chấp về thừa kế xảy ra, căn cứ vào việc còn hay không thời hiệu khởi kiện Tòa án mới quyết định thụ lý, giải quyết vụ án, nếu thời hiệu khởi kiện đã hết thì Tòa án không thụ lý và trả lại đơn khởi kiện, nếu còn thời hiệu khởi kiện thì Tòa án phải thụ lý và giải quyết vụ án Việc quy định thời hiệu khởi kiện chia thừa
kế mang nhiều ý nghĩa quan trọng đối với chủ thể trong quan hệ thừa kế, đối với xã hội - trật tự công cộng và trong công tác quản lý Nhà nước
Về phương diện chủ thể, việc quy định thời hiệu khởi chia thừa kế yêu cầu các thừa kế phải hiểu và có trách nhiệm đối với việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của chính mình, cần khởi kiện trong khoảng thời gian pháp luật quy định để đảm bảo được tính nhanh gọn, chính xác trong giải quyết tranh chấp và đảm bảo được quyền lợi của các chính các thừa kế Đồng thời, cũng thể hiện việc tôn trọng quyền
tự định đoạt của các thừa kế trong việc yêu cầu Tòa án chia di sản trong thời gian sớm nhất để ổn định quan hệ thừa kế, sở hữu Nếu các thừa kế không thực hiện quyền khởi kiện của mình trong khoảng thời gian luật định, mặc dù không có bất kỳ trở ngại nào cản trở việc thực hiện quyền này, thì có thể suy đoán rằng họ từ bỏ quyền của mình Khi thời hiệu khởi kiện đã chấm dứt, mặc dù các thừa kế có khởi kiện thì Tòa án cũng không thụ lý chia di sản
Về phương diện xã hội - trật tự công cộng, việc quy định thời hiệu khởi kiện chia thừa kế nhằm ổn định các quan hệ thừa kế, tránh tình trạng tranh chấp kép dài
mà không đến hồi kết Trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, một mặt Nhà nước cần thiết phải có cơ chế bảo vệ trong trường hợp quyền lợi hợp pháp của các thừa kế bị xâm phạm, mặt khác các thừa kế cũng có nghĩa vụ phải tôn trọng sự phát triển ổn định của các quan hệ dân sự, mà ở đây là quan hệ thừa kế trong xã hội
Trang 16Chính vì vậy, việc giải quyết tranh chấp chia thừa kế chỉ áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định chứ không thể là mãi mãi, cụ thể được quy định tại Điều 645 BLDS 2005 là thời hiệu mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế Nếu không quy định thời hiệu khởi kiện, mỗi chủ thể tham gia vào quan hệ thừa kế sẽ bị đe dọa bởi tính tranh chấp kéo dài, ảnh hưởng đến quyền lợi và đời sống của các chủ thể trong quan hệ
Về phương diện quản lý Nhà nước, mà đặc biệt là về mặt tố tụng, việc quy định thời hiệu khởi kiện chia thừa kế nhằm đảm bảo việc giải quyết tranh chấp được nhanh chóng, đảm bảo thực hiện tốt công tác xét xử, thông qua việc thu thập chứng
cứ, chứng minh dễ dàng hơn Bởi lẽ mọi thứ đều có thể thay đổi theo thời gian, thời gian càng lâu việc thu thập chứng cứ để chứng minh càng khó khăn và phức tạp, thậm chí không thể xác minh được, gây khó khăn trong hoạt động xét xử của Tòa
án Do đó, quy định thời hiệu khởi kiện chia thừa kế để đảm bảo cho công tác quản
lý tốt hơn và việc giải quyết tranh chấp cũng được nhanh gọn, chính xác
1.3 Sơ lƣợc quy định của pháp luật Việt Nam về thời hiệu khởi kiện chia thừa
kế từ năm 1990 đến nay
1.3.1 Giai đoạn từ khi Pháp lệnh thừa kế 1990 có hiệu lực đến trước khi Bộ luật dân sự 1995 có hiệu lực
Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế được quy định tại khoản 1 Điều 36 Pháp
lệnh thừa kế 1990: “Trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, người
thừa kế có quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản…” Theo đó, các thừa kế chỉ có
quyền khởi kiện tại Tòa án trong thời gian do pháp luật quy định là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế Trong thời gian mười năm đó, nếu có tranh chấp xảy ra thì các thừa kế có quyền khởi kiện, nhưng khi quá thời hạn mười năm thì không được quyền khởi kiện nữa
Cùng với việc quy định về thời hạn của thời hiệu khởi kiện chia thừa kế, Pháp lệnh thừa kế 1990 cũng dự liệu trường hợp thời gian không tính vào thời hiệu:
“Trong trường hợp do trở ngại khách quan mà không thể thực hiện được quyền
khởi kiện trong thời hạn quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này thì thời gian bị trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khởi kiện” (khoản 3 Điều 36 Pháp lệnh
thừa kế 1990) Đây được xem là những tiến bộ trong công tác lập pháp, đảm bảo cho người thừa kế phải ý thức được việc khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình, nhưng nếu gặp những trường hợp trở ngại khách quan, không thể lường trước được thì thời gian đó không tính vào thời hiệu khởi kiện, do đó thời hiệu khởi kiện chia thừa kế sẽ được kéo dài hơn
Trang 17Đồng thời, Pháp lệnh thừa kế 1990 cũng đã quy định đối các trường hợp mà thời điểm mở thừa kế trước ngày ban hành Pháp lệnh (30/8/1990) thì thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày công bố Pháp lệnh (10/9/1990)6 Như vậy, đối với trường hợp thời điểm mở thừa kế trước ngày 30/8/1990 thì thời hiệu khởi kiện chia thừa kế vẫn là mười năm, nhưng thời điểm để tính thời hiệu không phải thời điểm mở thừa
kế mà là ngày công bố Pháp lệnh thừa kế, tức là ngày 10/9/1990 Trường hợp thừa
kế được mở từ khi có Pháp lệnh thừa kế thì ngày bắt đầu thời hiệu khởi kiện là “thời
điểm mở thừa kế” Việc quy định này nhằm mục đích giải quyết những tranh chấp
đã xảy ra trước đó nhanh chóng hơn mà vẫn đảm bảo quyền lợi cho các đương sự
Tại điểm D mục 10 Nghị quyết 02/1990/NQ-HĐT của HĐTPANDTC ngày
19 tháng 10 năm 1990 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh thừa kế
(NQ 02/1990) quy định: “Đối với người thừa kế là người chưa thành niên vào thời
điểm mở thừa kế thì thời hiệu khởi kiện về thừa kế được tính từ ngày họ đủ 18 tuổi”
Quy định này nhằm hướng đến việc bảo vệ quyền lợi của những người chưa thành niên vào thời điểm mở thừa kế Bởi lẽ người chưa thành niên là người không hoặc
có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ Đây là lứa tuổi mới lớn, người chưa thành niên nhận thức vấn đề chưa toàn diện và sâu sắc, không có đủ năng lực chủ thể để
tự mình định đoạt quyền và lợi ích hợp pháp của mình Trong khi quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là một quyền quan trọng liên quan tới tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, với đặc điểm là người thừa kế mới được quyền khởi kiện Do đó, tại NQ 02/1990 mới quy định thời hiệu khởi kiện bắt đầu từ khi người chưa thành niên đủ 18 tuổi Khi đó, người chưa thành niên đã trưởng thành, có cuộc sống kinh
tế độc lập, nhận thức vấn đề toàn diện hơn, có quyền được tự mình khởi kiện để bảo
vệ quyền lợi của chính mình mà không phải thông qua người đại diện
Giai đoạn từ khi Pháp lệnh thừa kế 1990 có hiệu lực đến trước khi BLDS
1995 được ban hành tồn tại hai văn bản chủ yếu điều chỉnh về vần đề này là Pháp lệnh thừa kế 1990 và NQ 02/1990 Qua đó, làm rõ thời hiệu mà các chủ thể được quyền khởi kiện, giải quyết được những khó khăn và vướng mắc tồn tại trước đó
1.3.2 Giai đoạn từ khi Bộ luật dân sự 1995 có hiệu lực đến nay
BLDS 1995 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 1996, kế thừa quy định về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế trước đó được quy định trong Pháp lệnh thừa kế
1990: “Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa
kế” 7 Không quy định rõ ràng là thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu Tòa
6
Khoản 4 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế 1990
7 Điều 648 BLDS 1995
Trang 18án chia di sản thừa kế là mười năm, nhưng có thể hiểu thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mười năm được quy định tại Điều 648 BLDS 1995 bao gồm cả thời hiệu khởi kiện chia thừa kế Bởi lẽ, quyền thừa kế là bao gồm: quyền yêu cầu xác quyền thừa kế của mình, bác bỏ quyền thừa kế của người khác và yêu cầu chia di sản thừa
kế
Quy định thời hiệu mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế đối với thời hiệu khởi kiện chia thừa kế tiếp tục được quy định trong BLDS 20058 và được sử dụng cho đến ngày nay Trong BLDS 2005 cũng đã có những quy định rõ ràng và đi xa hơn so với BLDS 1995 về thời hiệu khởi kiện, cụ thể là quy định khoảng thời gian không tính vào thời hiệu tại Điều 161 BLDS 2005, hạn chế phân chia di sản khi việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người vợ hoặc chồng còn sống tại Điều 686 BLDS 2005
Trong các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS 1995 và BLDS 2005 còn có những quy định về trường hợp đặc biệt: thời gian không tính vào thời hiệu hay trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện
Trước hết là Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 24 tháng 8 năm
1998 về giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 (NQ 58/1998) và sau đó đến năm 1999 Thông tư liên tịch số 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNHTC ngày 25 tháng 01 năm 1999 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Nghị quyết về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01/7/1991 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (TTLT 01/1999) được ra đời để hướng dẫn chi tiết NQ 58/1998 Trong Nghị quyết và Thông tư quy định đối với các giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước ngày 01/7/1991 mà chưa khởi kiện tại Tòa án, thì khoảng thời gian từ 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện9 Như vậy, đối với di sản là nhà ở mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/7/1991 thì áp dụng quy định tại Nghị quyết và Thông tư trên, tức là thời gian từ 01/7/1996 đến 01/01/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện chia thừa kế Các thừa kế sẽ có khoảng thời gian là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế cộng với hai năm sáu tháng để yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế, nhưng khoảng thời gian không tính vào thời hiệu này chỉ được áp dụng đối với thừa kế là nhà ở, không được áp dụng đối với các loại di sản khác
Tiếp tục kế thừa và làm rõ hơn quy định về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện chia thừa kế, Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP của HĐTPTANDTC ngày 10 tháng 8 năm 2004 hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các
Trang 19vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình (NQ 02/2004) được ban hành quy định: “Khi
xác định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà thời điểm mở thừa kế trước 01/7/1991 và di sản là nhà ở thì thời gian từ 01/7/1996 đến 01/01/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện” 10 Đồng thời, NQ 02/2004 còn có quy định về trường hợp
không áp dụng thời hiệu khởi kiện chia thừa kế, mà trước đó chưa có văn bản nào
quy định về vấn đề này: “Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở
thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa
kế Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung
để giải quyết” 11
Khi thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đã hết, đương sự không còn
được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, vậy di sản thừa kế giải quyết như thế nào? Do đó, NQ 02/2004 được ban hành quy định trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện để giải quyết bất cập trên Trong phần này tác giả chỉ nêu khái
quát, khi đến phần nội dung sau sẽ nói rõ về vấn đề này
Những bất cập về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế dần dần được giải quyết sau khi hàng loạt những văn bản pháp luật được ra đời quy định ngày càng rõ về vấn đề này Tuy nhiên, đối với trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài pháp luật quy định còn bất cập Nghị quyết 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27 tháng 7 năm 2006 về giao dịch dân sự về nhà ở xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm
1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài (NQ 1037/2006) được ra đời để giải quyết bất cập đó Việc NQ 1037/2004 được ban hành có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi phát sinh tranh chấp, quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm Bởi vì, trước đây họ là những chủ thể chưa được cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết do NQ 58/1998 quy định12, đến nay họ đã có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình Những quy định của NQ 1037/2006 là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết về vấn đề thừa kế nhà ở đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà thời điểm mở thừa
kế trước 01/7/1991 Tại khoản 2 Điều 39 NQ 1037/2006 quy định: “Thời gian từ
ngày 01 tháng 7 năm 1996 đến ngày Nghị quyết này có hiệu lực không tính vào thời hiệu trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đối với giao dịch dân sự về nhà ở
10 Đoạn 2 khoản A tiểu mục 2.2 phần 2 mục I NQ 02/2004/ NQ – HĐTP
11 Khoản A tiểu mục 2.4 phần 2 mục I NQ 02/2004
12
Khoản 2 Điều 2 NQ 58/1998 quy định: “Nghị quyết này không áp dụng đối với giao dịch được xác lập
trước ngày 01/7/1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân tổ chức nước ngoài tham gia”
Trang 20được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia”, Nghị quyết này có hiệu lực 01/9/2006 Như vậy, khoảng thời gian
từ 01/7/1996 đến 01/9/2006 là khoảng thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đối với di sản là nhà ở mà thời điểm mở thừa kế trước 01/7/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia
Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế được pháp luật quy định khá ổn định về mặt thời gian Từ khi Pháp lệnh thừa kế ra đời cho đến các BLDS sau này đều quy định thời hiệu khởi kiện là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế Qua các năm, những quy định về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế ngày càng được hoàn thiện, các lỗ hổng pháp luật trước đó dần dần được khắc phục bằng việc ban hành những văn bản pháp luật mới
1.4 Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế
1.4.1 Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện chia thừa kế
Trong quy định pháp luật về thừa kế, thời điểm để tính thời hiệu khởi kiện đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của những người thừa kế Khi xác định được thời điểm tính thời hiệu khởi kiện chia thừa kế, người thừa kế có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản để được hưởng kỷ phần thừa kế của mình
Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện chia thừa kế từ khi Pháp lệnh thừa
kế 1990 ra đời cho đến nay được xác định là thời điểm mở thừa kế Tại khoản 1 Điều 36 Pháp lệnh thừa kế 1990, Điều 648 BLDS 1995, Điều 645 BLDS 2005 đều quy định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu là “thời điểm mở thừa kế” Tại khoản 1
Điều 633 BLDS 2005 quy định: “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài
sản chết” Người có tài sản chết có thể là chết về mặt sinh học hoặc chết về mặt
pháp lý, tùy vào từng trường hợp mà xác định thời điểm mở thừa kế khác nhau Thông thường, thời điểm được ghi trên giấy khai tử của người đã chết được xác định là thời điểm mở thừa kế
Ví dụ, theo Quyết định số 623/2008/DS-PT ngày 17/6/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh: Ông Quách Đường chết năm 1964 theo giấy chứng tử
số 1036 ngày 09/7/1964 của Ủy ban nhân dân quận 2, Sài Gòn (bút lục số 32a), và
bà Trần Thị Lành chết năm 1997 theo giấy chứng tử số 08 ngày 25/4/1997 của Ủy ban nhân dân quận 1, thành phố Hồ Chí Minh Như vậy, thời điểm mở thừa kế đối với tài sản là căn nhà số 258/17/2A Nguyễn Công Trứ, phường Nguyễn Thái Bình,
Trang 21quận 1 do ông Đường và bà Lành chết không để lại di chúc là ngày 25/4/1997 (ngày
bà Lành chết)13
Tuy nhiên, nếu có nghi ngờ về ngày nêu trong giấy chứng tử, Tòa án thường căn cứ vào các yếu tố khác thực tế hơn Trường hợp đã biệt tích một khoảng thời gian, sau đó mới có yêu cầu Tòa án tuyên bố là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định trong quyết định của Tòa án Nếu không xác định được ngày chết, thì ngày mà quyết định của Tòa án tuyên bố người nào đó chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày người đó chết
Không phải mọi trường hợp thời điểm mở thừa kế đều là mốc đề tính thời hiệu khởi kiện Đối với các tranh chấp về thừa kế mà thời điểm mở thừa kế trước ngày ban hành Pháp lệnh thừa kế 1990, thì thời điểm tính thời hiệu khởi kiện chia thừa kế là ngày công bố pháp lệnh14 Pháp lệnh thừa kế được ban hành ngày 30/8/1990 và được công bố vào ngày 10/9/1990 Như vậy, đối với các tranh chấp về thừa kế mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 30/8/1990 thì thời hiệu khởi kiện chia thừa kế là mười năm, nhưng thời điểm tính thời hiệu khởi kiện không phải thời điểm mở thừa kế mà được tính từ ngày công bố Pháp lệnh thừa kế 1990, tức ngày 10/9/1990
Ví dụ, theo Bản án số 1531/2005/DSPT ngày 20/7/2005 của Tòa án nhân dân
thành phố Hồ Chí Minh: “Căn cứ vào Điều 636, 639, 648 của Bộ luật dân sự 1995,
Điều 36 Pháp lệnh thừa kế năm 1990 và hướng dẫn tại điểm 10 tiết a Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thời điểm mở thừa kế trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện tính từ ngày này đến ngày 10/9/2000 Ông Tăng Tu chết ngày 03/8/1985 Như vậy, thời điểm mở thừa kế trước ngày 10/9/199015
Thời điểm mở thừa kế không phải trong mọi trường hợp đều là thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện, nhưng là căn cứ quan trọng để xác định đúng thời điểm bắt đầu thời hiệu
Đối với các tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất mà trên đất không có nhà ở hoặc tài sản, thì thời điểm tính thời hiệu khởi kiện chia thừa kế được tính như sau:
- Đối với đất là di sản thừa kế mà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai 1987 và thời điểm mở thừa kế trước ngày 30/8/1990 thì không
Trang 22lấy ngày 10/9/1990 làm thời điểm tính thời hiệu khởi kiện mà lấy ngày 15/10/1993 làm mốc để tính thời hiệu khởi kiện Bởi lẽ, Luật đất đai 1987 và Pháp lệnh thừa kế
1990 chưa thừa nhận quyền sử dụng đất là di sản, mãi đến Luật đất đai 1993 (có
hiệu lực 15/10/1993) mới thừa nhận quyền sử dụng đất là di sản: “Hộ gia đình, cá
nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa
kế, thế chấp quyền sử dụng đất” 16 Tuy nhiên, đến năm 1997 Thông tư liên tịch số
02/1997/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 28 tháng 7 năm 1997 hướng dẫn về thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp quyền
sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật đất đai 1993 có hiệu lực thi hành ngày 15/8/1997 lại hướng dẫn rằng: Tòa án chỉ giải quyết tranh chấp đối với đất có giấy chứng nhận theo Luật đất đai 1993 nên trong thực tế, các tranh chấp về thừa kế đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai 1987 bị Tòa
án từ chối giải quyết Sau đó, Thông tư liên tịch số VKSNDTC-TCĐC ngày 03 tháng 01 năm 2002 hướng dẫn về thẩm quyền của Tòa
01/2002/TTLT-TANDTC-án nhân dân trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất được ban hành có hiệu lực từ ngày 18/01/2002 mới có hướng dẫn: Tòa án giải quyết các tranh chấp đối với đất được cấp giấy chứng nhận theo Luật đất đai 1987 Như vậy, khoảng thời gian từ ngày 15/8/1997 đến ngày 18/01/2002 là bốn năm bốn tháng ba ngày là khoảng thời gian Tòa án không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đối với đất có giấy chứng nhận theo Luật đất đai 1987
- Đối với đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai
1993 thì thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện chia thừa kế là thời điểm mở thừa kế
- Đối với đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai
2003 thì chia ra hai trường hợp: Nếu thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/7/2004 (ngày Luật đất đai 2003 có hiệu lực thi hành) nhưng ngày được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau ngày 01/7/2004 thì thời điểm bắt đầu thời hiệu là ngày được cấp giấy chứng nhận Vì đất chưa được cấp giấy chứng nhận thì Tòa án không
có thẩm quyền giải quyết Nếu thời điểm mở thừa kế và thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều sau 01/7/2004 thì sự kiện nào xảy ra sau sẽ lấy ngày đó để xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu17
- Đối với đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật đất đai
2013, thì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện chia thừa kế là thời điểm mở thừa kế
16 Khoản 2 Điều 3 Luật đất đai 1987
17
Nguyễn Thị Hoài Phương (2007), Thời hiệu khởi kiện vụ việc dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn,
Báo cáo kết quả nghiên cứu – Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, tr.40 - 41
Trang 23- Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đối với quyền sử dụng đất mà trên đất có nhà hay tài sản khác, thì việc tính thời điểm bắt đầu thời hiệu chia thừa kế đối với quyền sử dụng đất được xác định như những phân tích trên, còn đối với việc xác định thời điểm tính thời hiệu khởi kiện đối với tài sản trên đất thì tùy vào từng loại tài sản mà sẽ áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu phù hợp với tài sản
1.4.2 Những gián đoạn về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế
Về nguyên tắc, thời hiệu khởi kiện chia thừa kế phải đảm bảo tính liên tục Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, thời hiệu khởi kiện bị gián đoạn Các
sự kiện làm gián đoạn thời hiệu khởi kiện được chia ra thành hai loại, bao gồm thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện và hạn chế phân chia di sản
1.4.2.1 Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện chia thừa kế
BLDS 2005 quy định khoảng thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện tại Điều 161 gồm các sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan và người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự có quyền khởi kiện mà chưa có người đại diện hoặc chưa có người đại diện thay thế Đây là các sự kiện mà khi phát sinh thì thời hiệu khởi kiện không được tính trong khoảng thời gian xảy ra các sự kiện đó, khoảng thời gian trước khi
sự kiện xảy ra vẫn được tính vào thời hiệu
“Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”18, đây là quy định nhằm đảm bảo cho các thừa kế
có khoảng thời gian hợp lý để thực hiện quyền khởi kiện của mình Theo quy định tại khoản 1 Điều 161 BLDS 2005 thì sự kiện bất khả kháng phải là sự kiện khách quan mà các thừa kế không thể nào lường trước được, mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép vẫn không thể khắc phục được hậu quả Ví
dụ như bão, lụt, hạn hán,… Khi sự kiện bất khả kháng xảy ra trong khoảng thời gian
18 Khoản 1 Điều 161 BLDS 2005
Trang 24các chủ thể có quyền khởi kiện chia thừa kế (mười năm), là đã xâm phạm đến quyền khởi kiện khiến các thừa kế không thể đảm bảo thực hiện quyền khởi kiện của mình trong khoảng thời gian luật định Do đó khi có sự kiện bất khả kháng xảy ra, các thừa kế phải chứng minh các điều kiện để xem là sự kiện bất khả kháng đã xảy ra, thì khoảng thời gian tồn tại sự kiện đó sẽ không tính vào thời hiệu khởi kiện
“Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền hoặc nghĩa vụ dân sự của mình” 19, trở ngại khách quan cũng là những sự kiện khách quan xảy ra, nhưng khác với sự kiện bất khả kháng thì khi trở ngại khách quan xảy ra các thừa kế không thể biết được quyền lợi ích của mình bị xâm phạm Nhưng sau khi trở ngại khách quan xảy ra, các chủ thể mới biết được sự kiện đã xảy ra trước đó đã xâm phạm đến quyền lợi của mình Khi muốn xác định khoảng thời gian không tính vào thời hiệu, các chủ thể phải chứng minh trở ngại khách quan đã xảy ra trong khoảng thời gian mười năm, và chính vì trở ngại khách quan đó nên không thể khởi kiện trong thời hạn của thời hiệu Vì vậy, thời hiệu khởi kiện sẽ được kéo dài hơn so với quy định
Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là những người có năng lực hành vi dân sự chưa đầy
đủ, không có năng lực hay hạn chế năng lực hành vi dân sự, thiếu nhận thức và lý trí, không có cuộc sống kinh tế độc lập, không có đủ năng lực chủ thể để tự mình định đoạt quyền và lợi ích hợp pháp của mình và phải lệ thuộc vào người đại diện nên rất khó có thể tự mình khởi kiện chia thừa kế20 Do đó, pháp luật quy định họ có quyền khởi kiện thông qua người đại diện để đảm bảo quyền lợi cho họ Trong trường hợp chưa có người đại diện hoặc đã có người đại diện nhưng vì lý do nào đó
mà không thể tiếp tục đại diện cho họ nữa, thì khoảng thời gian đó không được tính vào thời hiệu khởi kiện chia thừa kế Bởi vì, khi không có người đại diện thì họ không thể tự mình thực hiện việc khởi kiện được, nếu vẫn tính khoảng thời gian không có người đại diện vào thời hiệu khởi kiện thì sẽ xâm phạm đến trước hết là quyền khởi kiện và sau đó là quyền thừa kế của những người đó
Điều 161 BLDS 2005 đã dự liệu những trường hợp thời gian không tính vào thời hiệu mà khi một trong các sự kiện đó xảy ra, dù khoảng thời gian xảy ra dài
Trang 25hay ngắn, một năm hay thậm chí là năm năm, chỉ cần các thừa kế chứng minh sự
kiện đã xảy ra thì khoảng thời gian đó sẽ không tính vào thời hiệu khởi kiện
Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện chia thừa kế theo Nghị quyết
58/1998/NQ-UBTVQH10 và Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP
Tại khoản 2 Điều 17 NQ 58/1998 quy định: “Thời gian từ ngày 1 tháng 7
năm 1996 đến ngày Nghị quyết này có hiệu lực không tính vào thời hiệu trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đối với giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1 tháng 7 năm 1991”, NQ 58/1998 có hiệu lực vào ngày 01/01/1999
Sau đó, đến năm 2004 NQ 02/2004 được ban hành quy định tại đoạn 2 điểm A tiểu
mục 2.2 mục 2 phần I:“Khi xác định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế mà thời
điểm mở thừa kế trước ngày 1/7/1991 và di sản là nhà ở thì thời gian từ ngày 1/7/1996 đến ngày 1/1/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện” Như vậy, cả NQ
58/1998 và NQ 02/2004 đều quy định đối với các tranh chấp về thừa kế là nhà ở mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/7/1991 thì khoảng thời gian từ 01/7/1996 đến 01/01/1999 (hai năm sáu tháng) không tính vào thời hiệu khởi kiện Khoảng thời gian từ 01/7/1996 đến 01/01/1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện chia thừa kế chỉ áp dụng đối với di sản thừa kế là nhà ở thuộc sở hữu tư nhân, mà thời điểm mở thừa kế trước 01/7/1991 Đối với các di sản là loại tài sản khác thì thời hiệu khởi kiện vẫn tính liên tục, không trừ khoảng thời gian không tính vào thời hiệu quy định tại NQ 58/1998 và NQ 02/200421
Thế nhưng đối với trường hợp này, việc tính thời hiệu cũng khá phức tạp, có hai cách tính thời hiệu như sau22:
Trường hợp thứ nhất, đối với các tranh chấp về thừa kế là nhà ở mà thời điểm mở thừa kế xảy ra trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện là mười năm tính từ ngày 10/9/1990, cộng thêm khoảng thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện tại NQ 58/1998 và NQ 02/2004 là hai năm sáu tháng Như vậy, thời hiệu khởi kiện chia thừa kế sẽ kết thúc vào ngày 10/3/2003
Trường hợp thứ hai, đối với các tranh chấp về thừa kế về nhà ở mà thời điểm
mở thừa kế xảy ra sau ngày 10/9/1990 nhưng trước ngày 01/7/1991 thì thời hiệu khởi kiện vẫn được kéo dài thêm hai năm sáu tháng (01/7/1996 đến 01/01/1999), nhưng khác với trường hợp thứ nhất ở chỗ, thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện là thời điểm mở thừa kế Ví dụ, tranh chấp về thừa kế nhà ở có thời điểm mở thừa kế xảy ra vào ngày 20/3/1991 thì thời hiệu khởi kiện kết thúc vào ngày 20/9/2003
21 Chu Xuân Minh (2003), “Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế”, Tòa án nhân dân, (số 09), tr.19
22 Lê Minh Hùng (2005), “Thời hiệu khởi kiện thừa kế - Thực trạng pháp luật và hướng hoàn thiện”, Khoa
học pháp lý, (số 05), tr.41
Trang 26Như vậy, đối với cả hai trường hợp đều áp dụng NQ 58/1998 để cộng thêm hai năm sáu tháng bù vào thời gian gián đoạn thời hiệu, nhưng cách thức xác định thời điểm bắt đầu thời hiệu của hai trường hợp là khác nhau
Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện chia thừa kế theo Nghị quyết
1037/2006/NQ-UBTVQH11
Theo điểm e khoản 1 Điều 1 NQ 1037/2006 thì thừa kế là nhà ở thuộc quyền sở hữu tư nhân mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/7/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết Tại Công văn số 91/TANDTC-KHXX ngày 28/6/2011 của Tòa án nhân dân tối cao về việc áp dụng Nghị quyết số 1037/2006/ NQ - UBTVQH11 ngày 27/7/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng đã hướng dẫn điều kiện để áp dụng NQ 1037/2006 phải thỏa mãn các yếu tố sau23
: Một là, giao dịch đó là giao dịch dân sự về nhà ở thuộc một trong bảy loại quan
hệ pháp luật được đề cập ở khoản 1 Điều 1 NQ 1037/2006
Hai là, các giao dịch đó phải xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991
Ba là, có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia từ trước ngày 01/7/1991
Theo quy định tại khoản 2 Điều 39 NQ 1037/2006:“Thời gian từ ngày 01 tháng
7 năm 1996 đến ngày Nghị quyết này có hiệu lực không tính vào thời hiệu trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đối với giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia”, NQ 1037/2006 có hiệu lực vào ngày 01/9/2006 Như vậy, khoảng thời gian từ
ngày 01/7/1996 đến ngày 01/9/2006 không tính vào thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đối với các tranh chấp về thừa kế là nhà ở mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/7/1991 có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia
Ví dụ, vụ án về tranh chấp thừa kế tài sản giữa nguyên đơn là bà Lưu Lệ Kim Chi, bị đơn là ông Lưu Thiết Hùng Nội dung vụ án như sau: Cụ Lưu Kiệt (chết năm 1979) và cụ Quách Cung (chết năm 1987) có bảy người con gồm Lưu Lệ Kim Chi, Lưu Thiết Hùng, Lưu Trang Nghiêm, Lưu Văn Lang, Lưu Muỗi, Lưu Khá Tiễn
và Lưu Khả Láu Hai cụ chết không để lại di chúc, di sản để lại gồm diện tích đất 3.817, 68 m2 tại 406 Ngô Quyền, phường VL, thành phố RG, tỉnh KG, trên đất có một căn nhà ngói trệt và nhiều cây trái do cha mẹ hai cụ để lại Sau khi hai cụ mất, các con của cụ tiếp tục sinh sống trên mảnh đất để lại Sau đó, ông Lưu Trang
Trang 27Nghiêm đã cất nhà và quản lý một lô đất tại địa chỉ 408 Ngô Quyền; ông Lưu Văn Lang có một căn nhà, đất giáp Đài truyền hình tỉnh KG; bà Kim Chi quản lý một căn nhà, đất tại 406 Ngô Quyền Đến tháng 3/2006 ông Lưu Thiết Hùng đã tự ý làm thủ tục hợp thức hóa nhà đất bao gồm toàn bộ đất vườn diện tích 3.131,6 m2 và quản lý sử dụng căn nhà đó Các bà Lưu Muỗi, Lưu Khá Tiễn và Lưu Khả Láu đã sang Mỹ định cư từ năm 1975 Sau đó các anh em có tranh chấp về di sản cha mẹ để lại, năm 2006 bà Kim Chi được các anh chị em ủy quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung, yêu cầu ông Hùng chia đều cho mỗi người được hưởng một phần đất của cha mẹ để lại
Tại Quyết định số 01/2008/QĐST-DS ngày 09/01/208 của Tòa án nhân dân tỉnh
KG và Quyết định số 119/2008/QĐ-PT đều nhận định: Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đã hết theo Điều 645 BLDS 2005
Sau đó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị, tại Quyết định giám đốc thẩm số 32/2012/DS-GĐT ngày 25/7/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã chấp nhận kháng nghị và nhận xét: Đối với việc thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10/9/1990 Trong vụ
án này, cụ Lưu Kiệt và cụ Quách Cung đều chết trước năm 1990, do đó thời hiệu khởi kiện mười năm phải tính từ ngày 10/9/1990 Đồng thời, vụ án này có ba đương
sự là người Việt Nam định cư tại Hoa Kỳ, như vậy thuộc trường hợp phải áp dụng
NQ 1037/2006, khoảng thời gian từ ngày 01/7/1996 đến 01/9/2006 không tính vào thời hiệu khởi kiện Do đó, ngày 10/7/2006 bà Kim Chi có đơn khởi kiện, ngày 02/8/2006 bà Kim Chi đã đóng tiền tạm ứng án phí, Tòa án sơ thẩm đã thụ lý vụ án ngày 10/8/2006 thì phải khẳng định việc khởi kiện của bà Kim Chi là còn trong thời hiệu khởi kiện Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm nhận định đã hết thời hiệu khởi kiện để đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng24
Khi áp dụng NQ 1037/2006 cần lưu ý là khoảng thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện chỉ áp dụng đối với di sản là nhà ở, thời điểm mở thừa kế phải trước ngày 01/7/1991 và có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia trước ngày 01/7/1991 Phải thỏa mãn các điều kiện trên mới được áp dụng quy định tại Nghị quyết này, nếu chỉ thỏa mãn một trong các điều kiện thì không thể áp dụng Nghị quyết Tuy nhiên, nhà ở thì bao giờ cũng gắn liền với đất ở, vì vậy thừa kế nhà ở bao gồm cả thừa kế quyền sử dụng đất khuôn viên có nhà ở Căn cứ để xác định khuôn viên nhà ở là vào thời điểm mở thừa kế Đối với di sản vào thời điểm mở
24
Tưởng Duy Lượng (2013), Pháp luật hôn nhân – gia đình, thừa kế và thực tiễn xét xử, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, tr.312
Trang 28thừa kế có nhà ở, nhưng sau đó không còn nhà ở thì vẫn xác định thuộc loại thừa kế
có nhà ở
1.4.2.2 Hạn chế phân chia di sản
Hạn chế phân chia di sản được BLDS 2005 quy định tại Điều 686 Trong khoảng thời gian các sự kiện hạn chế phân chia di sản xảy ra, thì các thừa kế không được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản Tuy nhiên, thời gian xảy ra các sự kiện đó lại không được tính vào khoảng thời gian không tính thời hiệu khởi kiện chia thừa kế Tức là, mặc dù các sự kiện hạn chế phân chia di sản tồn tại khiến các thừa kế không thể khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản, nhưng thời gian đó vẫn tính vào thời hiệu khởi kiện chia thừa kế
Về nguyên tắc, người thừa kế có quyền phân chia di sản ngay sau khi người
để lại di sản chết Tuy nhiên, pháp luật quy định nếu vì những lý do khác nhau mà người để lại di sản đặt ra các điều kiện hoặc do các thừa kế thỏa thuận với nhau thì
di sản chỉ được chia khi thỏa mãn các điều kiện đó Tại đoạn 1 Điều 686 BLDS
2005 quy định: “Trong trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thoả
thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia” Việc hạn chế
phân chia di sản trong trường hợp này là theo ý chí của người để lại di sản hoặc do các thừa kế thỏa thuận với nhau Trường hợp người lập di chúc đã nói rõ là di sản chỉ được chia sau một thời gian nhất định hoặc khi có một sự kiện xảy ra, thì việc phân chia di sản phải tạm dừng cho đến hết thời hạn đó, hoặc cho đến khi sự kiện được xác định trong di chúc đã xảy ra Nếu các sự kiện theo ý chí của người để lại
di sản chưa xảy ra, thì khoảng thời gian đó các thừa kế không được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản
Thời hạn của việc hạn chế phân chia di sản trong trường hợp này là bao lâu, pháp luật không quy định Do đó, việc xác định thời hạn dài hay ngắn hoàn toàn do
ý chí của người để lại di sản, hoặc theo thỏa thuận của những người thừa kế với nhau nếu người lập di chúc không ấn định thời điểm phân chia di sản Người lập di chúc chỉ định trong di chúc hoặc những người thừa kế có thể thỏa thuận một thời gian cụ thể hoặc xác định phân chia di sản khi có sự kiện xảy ra25
Ngoài ra, tại Điều 686 BLDS 2005 còn quy định thêm trường hợp hạn chế phân chia di sản nếu việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên
vợ hoặc chồng còn sống Bởi lẽ, trên thực tế có trường hợp khi ông bà, cha mẹ vừa mới qua đời, nhiều người con cháu trong gia đình đã vội kiện ra Tòa án đòi chia
25
Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2010), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự 2005 (tập III), Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, tr.132
Trang 29thừa kế, bất chấp hoàn cảnh của người chồng hay người vợ đang còn sống của người quá cố như thế nào? Khó khăn ra sao? Vì vậy, để hạn chế tình trạng này, BLDS đã quy định trường hợp hạn chế phân chia di sản nhằm hạn chế những người thừa kế hợp pháp của người chết kiện tụng đòi chia thừa kế, gây mất đoàn kết trong gia đình, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của người vợ hoặc chồng còn sống26 Tại đoạn 2 Điều 686 BLDS 2005 quy định người vợ hoặc chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định để người vợ hoặc chồng còn sống ổn định về tâm lý, sức khỏe, kinh tế Tuy nhiên, khoảng thời gian hạn chế phân chia di sản trong trường hợp này được giới hạn tối đa là ba năm Sau
ba năm, thì các thừa kế khác có quyền yêu cầu chia di sản và người vợ hoặc chồng còn sống phải thực hiện việc chia di sản
Trong trường hợp chưa cho chia di sản thì bên còn sống chỉ có quyền sử dụng, khai thác để hưởng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ di sản và phải giữ gìn, bảo quản tài sản như đối với tài sản của chính mình; không được thực hiện các giao dịch liên quan đến việc định đoạt di sản, nếu không được sự đồng ý của các thừa kế khác
Tuy nhiên, việc hạn chế phân chia di sản chỉ được áp dụng khi người vợ hoặc chồng còn sống gặp khó khăn và chưa kết hôn với người khác Trường hợp chưa hết thời hạn ba năm, nhưng người vợ hoặc chồng còn sống đã kết hôn với người khác thì không thể lấy lý do cuộc sống khó khăn để không cho chia di sản Vì vậy, các thừa kế khác có quyền yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế
Việc quy định hạn chế phân chia di sản trong trường hợp này nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người vợ hoặc chồng còn sống cũng như gia đình của họ, tiếp tục khai thác di sản một cách hiệu quả để người còn sống tiếp tục duy trì cuộc sống bình thường, đặc biệt là trong trường hợp hoàn cảnh khó khăn, nếu chia di sản thì sẽ khiến người vợ hoặc chồng còn sống có thể rơi vào bế tắc Đồng thời, việc quy định như vậy vẫn đảm bảo quyền thừa kế cho những người thừa kế khác khi giới hạn thời hạn tối đa hạn chế phân chia di sản là ba năm
Ngoài hai trường hợp hạn chế phân chia di sản theo Điều 686 BLDS 2005 thì BLDS 2005 còn quy định thêm trường hợp hạn chế phân chia di sản khi vợ chồng
lập di chúc chung tại Điều 668: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời
điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết” Như vậy, khi vợ
chồng lập di chúc chung, nếu người vợ hoặc chồng chết trước thì những người thừa
kế của người chết trước không thể khởi kiện yêu cầu Toà án chia di sản đối với di
26
Lê Minh Hùng (2003), Hoàn thiện chế định quyền thừa kế trong Bộ luật dân sự Việt Nam hiện hành, Luận văn thạc sỹ Luật học, tr.42
Trang 30sản của người chết trước Di chúc chung của vợ chồng chỉ có hiệu lực vào thời điểm người sau cùng chết, nên thời điểm di chúc có hiệu lực thi hành đối với di sản của người vợ hoặc chồng chết trước là thời điểm người chồng hoặc vợ còn sống tạ thế sau này Đây là việc thể hiện ý chí chung thống nhất của hai vợ chồng nên pháp luật mới có quy định tại Điều 668 nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của họ
Hơn nữa, do đặc thù tài sản chung của vợ chồng là tài sản chung hợp nhất, rất khó xác định rõ đâu là tài sản của người vợ, đâu là tài sản của người chồng nên pháp luật quy định di chúc chung của vợ chồng chỉ có hiệu lực vào thời điểm người sau cùng chết Tuy nhiên, cũng giống như quy định về hạn chế phân chia di sản tại Điều 686 BLDS 2005, khoảng thời gian này làm gián đoạn về mặt thời hiệu khởi kiện, thế nhưng pháp luật lại không quy định trừ khoảng thời gian từ thời điểm người vợ hoặc chồng chết trước cho đến thời điểm người vợ hoặc chồng còn sống tạ thế sau này vào thời hiệu khởi kiện chia thừa kế Việc quy định như vậy trên thực tế
là không đảm bảo được quyền lợi cho các thừa kế của người vợ hoặc chồng chết trước
1.4.3 Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện chia thừa kế
Khi một trong các sự kiện được pháp luật dự liệu tại khoản 1 Điều 162 BLDS 2005 xảy ra thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự nói chung và thời hiệu khởi kiện chia thừa kế nói riêng được bắt đầu lại Khoảng thời gian xảy ra trước khi có các sự kiện pháp lý đó không được tính vào thời hiệu khởi kiện, mà thời hiệu khởi kiện được tính lại từ đầu, kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện đó Theo quy định tại Điều 162 BLDS 2005, thì có ba căn cứ để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện:
“Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện”; “bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện”; “các bên đã tự hoà giải với nhau” 27
1.4.3.1 Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện
Bên có nghĩa vụ thừa nhận nghĩa vụ của mình, có thể là một phần hoặc toàn
bộ nghĩa vụ, là một căn cứ quan trọng để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện khi Tòa án thụ lý các tranh chấp về thừa kế
Ví dụ, ông H chết ngày 06/9/1999, để lại di sản là một ngôi nhà Ông H có hai người con là M và N Sau khi ông H chết, M tiếp tục quản lý và sử dụng ngôi nhà này Ngày 15/10/2009, anh N kiện đòi chia thừa kế ngôi nhà ông H để lại và
27
Phùng Trung Lập (2013), “Hướng sửa đổi bổ sung các quy định về thời hạn, thời hiệu trong BLDS 2005”,
Luật học, (số10), tr.41
Trang 31xuất trình cam kết của M ngày 15/10/2001 là sẽ chia cho anh N ½ ngôi nhà Trong trường hợp trên, thời hiệu khởi kiện chia thừa kế bình thường là đến ngày 06/9/2009, đến ngày 15/10/2009 anh N mới khởi kiện là quá thời hiệu, nhưng vì cam kết của anh M với anh N ngày 15/10/2001 nên theo Điều 162 BDS 2005 thì thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại từ ngày 15/10/2001 Do đó, anh N khởi kiện chia thừa kế ngày 15/10/2009 là vẫn trong thời hiệu khởi kiện28
Như vậy, chỉ cần xác định bên có nghĩa vụ đã thừa nhận nghĩa vụ với bên có quyền thì thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại, mà không cần bắt buộc về hình thức của việc thừa nhận nghĩa vụ, có thể bằng văn bản, bằng miệng hoặc bằng hành động Dù việc thừa nhận nghĩa vụ bằng hình thức nào thì bên khởi kiện phải chứng minh được bên có nghĩa vụ đã thừa nhận nghĩa vụ trước đó Nếu bên có nghĩa vụ thừa nhận bằng văn bản thì phải xuất trình văn bản, bằng lời nói thì có thể cần đến người làm chứng hoặc thông qua băng ghi âm… bên khởi kiện phải đưa ra những bằng chứng xác thực, hợp pháp để chứng minh cho yêu cầu của mình Chỉ khi có đầy đủ căn cứ xác thực thì Tòa án mới xem xét việc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện
để đảm bảo quyền lợi cho người khởi kiện
1.4.3.2 Bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện
Cũng giống như quy định tại điểm a khoản 1 Điều 162 BLDS 2005, khi sự kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 162 BLDS 2005 xảy ra thì thời hiệu khởi kiện nói chung và thời hiệu khởi kiện chia thừa kế nói riêng được tính lại từ đầu Thời điểm thực hiện xong một phần nghĩa vụ được xác định là sự kiện pháp lý để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện Việc người có nghĩa vụ thực hiện một phần nghĩa vụ của mình, chứng tỏ họ đã thừa nhận nghĩa vụ trước đó
Ví dụ, ông A chết ngày 06/4/1992, để lại di sản là một ngôi nhà trị giá 500 triệu đồng Ông A có ba người con là B, C và D Sau khi ông A chết, B tiếp tục quản lý và sử dụng di sản của cha để lại Đến 10/6/1994 B đã tự nguyện đưa trước
kỷ phần thừa kế cho C và D mỗi người 60 triệu đồng Như vậy, về nguyên tắc thời hiệu khởi kiện tính từ ngày 06/4/1992, nhưng đến ngày 10/6/1994 thì B đã tự nguyện thực hiện một phần nghĩa vụ, nên thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại, tính
từ ngày 10/6/1994 đến hết ngày 10/6/2004
1.4.3.3 Các bên đã tự hoà giải với nhau
28
Nguyễn Thị Hoài Thương (2011), Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành, Luận văn cử nhân, tr.22
Trang 32Theo điểm c khoản 1 Điều 162 BLDS 2005 thì phải chứng minh các bên phải
tự hòa giải với nhau “Các bên” ở đây phải là các “đồng thừa kế”, tuy nhiên việc
hòa giải giữa các đồng thừa kế phải diễn ra trong thời hạn của thời hiệu thì mới được bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện Nếu việc hòa giải xảy ra vào thời điểm đã hết thời hiệu thì sẽ không áp dụng điểm c khoản 1 Điều 162 BLDS 2005 được Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 3 Điều 155 BLDS 2005 và Điều 159 BLTTDS 2004 đều
quy định: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu
cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện” Việc xác định sự kiện hòa giải
của các bên đương sự, nếu vận dụng để tính lại thời hiệu khởi kiện khi sự hòa giải nằm ngoài thời hiệu khởi kiện thì sẽ gây bất ổn trong các tranh chấp về thừa kế, làm cho tranh chấp kéo dài, trở nên phức tạp và khó giải quyết29
Ví dụ, theo Quyết định số 215/2006/DS-GĐT ngày 19/9/2006 của Tòa án nhân dân tối cao: “Về tố tụng, cụ Trương Văn Nghế chết ngày 29/6/1994 và cụ Đỗ Thị Hiển chết ngày 01/11/1993 Căn cứ Điều 36 Pháp lệnh thừa kế 1990 và Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì thời hiệu khởi kiện chia di sản của cụ Trương Văn Nghế và Đỗ Thị Hiển đều
đã hết Nhưng trước đó ngày 26/11/2001, các thừa kế đã họp có chứng kiến của ông
tổ trưởng tổ dân phố và người hàng xóm để “phân chia đất thổ cư do ông bà để lại theo nguyện vọng của ông bà tôi khi còn sống mảnh đất còn lại khoảng 200m2 trên
đó có một nhà cấp bốn diện tích 94m2
, một căn nhà cấp ba diện tích 42m2; trong gia đình còn một con trai là Trương Quang Tiến, ông bà cho sử dụng nhà cấp ba; cho cháu Trương Quang Khải căn nhà cấp bốn Đề nghị Ủy ban nhân dân cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” Biên bản được tất cả các thành viên là bà Trương Thị Mão, Trương Quang Tiến, Trương Thị Hạnh, Trương Thị Hòa và cháu Trương Quang Khải nhất trí cùng ký tên Ngoài ra ông Trần Đình Doãn, tổ trưởng tổ dân phố và ông Nguyễn Duy Lân là hàng xóm được mời tham gia chứng kiến cuộc họp cùng ký tên Ngày 27/7/2003, Ủy ban nhân dân phường Phan Đình Phùng chứng thực vào biên bản Như vậy, di chúc miệng của ông Trương Văn Nghế và bà Đỗ Thị Hiển đã được tất cả các thừa kế xác nhận và thực hiện”30
Trong ví dụ trên, các thừa kế đã tự thỏa thuận với nhau trong khoảng thời gian thời hiệu khởi kiện chia thừa kế vẫn còn Do đó, việc thỏa thuận này của các thừa kế là căn cứ để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện, nếu sau này có tranh chấp về
29 Nguyễn Thị Hoài Thương (2011), Thời hiệu khởi kiện về thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam
hiện hành, Luận văn cử nhân, tr.24
30
Đỗ Văn Đại (2009), Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, tr.632
Trang 33thừa kế xảy ra, thời gian các thừa kế thỏa thuận với nhau là ngày 26/11/2001, nên thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại kể từ ngày 26/11/2001
Khi áp dụng quy định các quy định tại Điều 162 BLDS 2005 cần lưu ý, trường hợp trong khoảng thời gian Tòa án thụ lý vụ án mới xuất hiện các sự kiện bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện tại Điều 162 BLDS 2005, thì không áp dụng các quy định đó để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện Bởi lẽ, về mặt tố tụng thì trước khi Tòa
án thụ lý vụ án, Tòa án phải xem xét thời hiệu khởi kiện chia thừa kế còn hay không dựa trên các chứng cứ đã có, nếu thời hiệu khởi kiện đã hết thì Tòa án không được thụ lý và phải trả lại đơn khởi kiện
1.4.4 Không áp dụng thời hiệu khởi kiện chia thừa kế theo Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP
Theo quy định tại tiểu mục 2.4 mục 2 phần I NQ 02/2004: “Trường hợp
trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết” Như vậy, đã có sự chuyển
hóa từ yêu cầu chia di sản thừa kế trở thành yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế Về nguyên tắc, việc khởi kiện yêu cầu chia di sản phải được thực hiện trong thời hạn do pháp luật quy định Tuy nhiên, với hướng dẫn tại
NQ 02/2004 nếu thỏa mãn điều kiện do pháp luật quy định thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đối với quan hệ chia tài sản chung, mặc dù căn cứ xác định tài sản chung xuất phát từ quyền thừa kế của đương sự
Theo quy định trên thì có hai trường hợp Tòa án thụ lý giải quyết tranh chấp
về chia thừa kế, nhưng giải quyết theo hướng chia tài sản chung:
- Thứ nhất, trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa
kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế Trường hợp này phải xác định các đồng thừa kế không có
tranh chấp về quyền thừa kế, “quyền thừa kế” ở đây có thể được hiểu là không có
tranh chấp quyền được hưởng di sản của người quá cố để Đồng thời, phải có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế của các đồng thừa kế với nhau, nghĩa là văn bản phải có nội dung cho phép xác định những người thừa kế đã thừa nhận họ là người
Trang 34thừa kế đối với di sản của người quá cố Khi thỏa mãn các điều kiện này, thì di sản trở thành tài sản chung
- Thứ hai, sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không
có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế Để chuyển hóa từ
yêu cầu chia di sản thừa kế thành chia tài sản chung trong trường hợp quá thời hiệu khởi kiện thì phải thỏa mãn hai điều kiện Điều kiện đầu tiên là các đồng thừa kế không được có tranh chấp về hàng thừa kế, nghĩa là không có tranh chấp về người nào ở hàng thừa kế thứ nhất, thứ hai hay thứ ba theo như quy định tại khoản 1 Điều
676 BLDS 2005 Điều kiện thứ hai là các đồng thừa kế phải thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia; việc thừa nhận này không nhất thiết phải bằng văn bản,
mà có thể chứng minh bằng mọi phương tiện Khi có tranh chấp về yêu cầu chia di sản mà các thừa kế không thỏa thuận được với nhau về kỷ phần của mỗi người, thì
có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản chung Tuy nhiên, nếu có tranh chấp
về thừa kế mà một trong các đồng thừa kế không thừa nhận di sản chưa chia, thì không thể áp dụng quy định về không áp dụng thời hiệu khởi kiện chia thừa kế tại
NQ 02/2004
Quy định trên được xác lập dựa trên nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu, là cơ sở pháp lý quan trọng để chủ sở hữu thực hiện quyền năng của mình Khi thời hiệu khởi kiện chia thừa kế của các thừa kế đã hết, các thừa kế vẫn có quyền khởi kiện
để chia tài sản chung nếu thỏa mãn các điều kiện Đồng thời, quy định này cũng là cách nhằm giải quyết hậu quả khi thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đã hết mà di sản
thừa kế chưa được chia
1.4.5 Hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế và hậu quả pháp lý
Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế theo quy định tại Điều 645 BLDS 2005 là mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế Do đó, sau khi hết thời hạn mười năm thì thời hiệu khởi kiện chia thừa kế chấm dứt Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt pháp luật quy định thì thời hiệu khởi kiện được kéo dài hơn do trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng, thời gian không tính vào thời hiệu hay không áp dụng thời hiệu khởi kiện chia thừa kế… và thời điểm kết thúc thời hiệu do đó sẽ được kéo dài
Điều 156 BLDS 2005 quy định: “Thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu
ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu” Như vậy, thời điểm kết thúc thời hiệu là thời điểm kết thúc ngày cuối
cùng của thời hiệu Ví dụ, ông A chết vào lúc 8h30 ngày 20/8/2003 thì thời điểm
Trang 35kết thúc thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đối với di sản của ông A là đến 23h59’59 ngày 20/8/2013
Khi thời hiệu khởi kiện chia thừa kế hết, về nguyên tắc Tòa án sẽ không thụ
lý vụ án hoặc nếu đã thụ lý thì đình chỉ giải quyết vụ án, không được quyền chia di sản thừa kế
Ví dụ, theo Quyết định giám đốc thẩm số 48/2006/DS-GĐT ngày 21/3/2006 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao: “Khi cụ Đừa còn sống cũng như sau khi cụ Đừa chết thì ông Hồng là người trực tiếp canh tác, quá trình ông Hồng đứng tên và được kê khai trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thừa kế của cụ Đừa không ai tranh chấp khiếu nại Mặt khác, theo quy định tại Điều 648 BLDS 1995 thì
đã hết thời hiệu khởi kiện đối với diện tích đất ruộng nêu trên vì cụ Đừa chết ngày 12/3/1991 đến ngày 01/12/2002 nguyên đơn mới khởi kiện chia thừa kế Tòa án cấp
sơ thẩm và cấp phúc thẩm phân chia thừa kế diện tích 7.540m2
đất ruộng là không đúng pháp luật”31
Tuy nhiên, pháp luật cũng có quy định trường hợp ngoại lệ khi thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đã hết thì Tòa án vẫn thụ lý giải quyết vụ án, nếu thỏa mãn những điều kiện nhất định do pháp luật quy định (các điều kiện đã được phân tích tại tiểu mục 1.4.4) Nhưng Tòa án không giải quyết chia di sản thừa kế, mà có sự chuyển hóa quan hệ từ yêu cầu chia di sản thừa kế thành yêu cầu chia tài sản chung theo quy định tại tiểu mục 2.4 mục 2 phần I NQ 02/2004
1.5 Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế theo quy định của một số nước trên thế giới
Trên thế giới, mỗi quốc gia có những hệ thống pháp luật riêng, thậm chí trong cùng một quốc gia lại tồn tại những hệ thống pháp luật khác nhau Trong đó,
có hai hệ thống pháp luật điển hình và có ảnh hưởng lớn trên thế giới là: hệ thống pháp luật Châu âu lục địa (Civil law) và Thông luật (Common law) Khi nghiên cứu
hệ thống pháp luật trên thế giới, khóa luận chỉ tập trung vào một số quốc gia nhất định như Cộng hòa Pháp với vai trò là là BLDS điển hình trên thế giới, Thái Lan và Nhật Bản với ý nghĩa là quốc gia Châu Á gần gũi với Việt Nam
1.5.1 Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế trong Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp
BLDS Cộng hòa Pháp (hay còn gọi là Bộ luật Napoleon) được ban hành năm
1804, chia thành ba quyển, trong đó phần thừa kế được quy định trong quyển ba, từ
31
Đỗ Văn Đại (2009), Luật thừa kế Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
Nội, tr.603
Trang 36Điều 718 đến Điều 892, được chia thành sáu chương, chương V của thiên XX quy định về vấn đề thời hiệu
BLDS Cộng hòa Pháp không có quy định riêng về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế mà quy định chung thời hiệu khởi kiện cho các vụ việc dân sự là ba mươi
năm, tại Điều 2262 BLDS Cộng hòa Pháp quy định: “Thời hiệu khởi kiện đối với
việc kiện dù về tài sản hay nhân thân đều là ba mươi năm mà không cần người viện dẫn thời hiệu đưa ra chứng thư về thời hiệu hoặc không cần có phản kháng tố tụng
vì lý do người khởi kiện thiếu thiện chí” Từ đó cho thấy, thời hiệu khởi kiện đối với
việc kiện về tài sản hay nhân thân trong quy định của pháp luật dân sự Cộng hòa Pháp đều là ba mươi năm, do đó thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đối với di sản ở Cộng hòa Pháp được xác định là ba mươi năm, bởi lẽ tài sản do người chết để lại thì được gọi là di sản Mặc dù, không có định nghĩa như thế nào là di sản nhưng quy
định tại Điều 537 BLDS Cộng hòa Pháp: “Cá nhân có quyền tự do định đoạt các tài
sản thuộc sở hữu của họ với những thời hạn theo quy định của pháp luật” Như
vậy, di sản theo pháp luật Cộng hòa Pháp là tài sản, việc một người chết đi sẽ để lại tài sản cho những thừa kế còn sống và những người thừa kế đó có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế khi có tranh chấp xảy ra Thời hiệu đối với loại tranh chấp về chia di sản thừa kế là ba mươi năm Thời hiệu được tính từ khi căn cứ phát sinh thời hiệu xảy ra, Thẩm phán không thể chủ động thay đổi căn cứ đó32
Điểm khác biệt của quy định về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế của pháp luật Việt Nam so với pháp luật Cộng hòa Pháp là Việt Nam quy định thời hiệu khởi kiện chia thừa kế riêng trong một điều luật, trong khi đó pháp luật dân sự Pháp lại quy định chung đối với tất cả các vụ kiện về nhân thân hay tài sản đều có thời hiệu khởi kiện là ba mươi năm, trong đó có thời hiệu khởi kiện chia thừa kế Hơn nữa, pháp luật dân sự Cộng hòa Pháp không thừa nhận di chúc chung của vợ chồng như quy định của pháp luật Việt Nam Do đó sẽ không có trường hợp vợ chồng lập di chúc chung mà hai người chết vào hai thời điểm khác nhau, nên di sản của người chết trước hết thời hiệu, di sản của người chết sau vẫn còn thời hiệu và người thừa
kế của người vợ hoặc chồng chết trước không được khởi kiện chia di sản Vì không quy định về vấn đề này, nên pháp luật dân sự Cộng hòa Pháp không gặp phải bất cập hiện nay mà Việt Nam đang vấp phải liên quan đến di sản thừa kế của vợ chồng
mà một phần di sản đã hết thời hiệu khởi kiện
Thời hiệu khởi kiện theo pháp luật dân sự Cộng hòa Pháp được hiểu là khoảng thời gian do pháp luật ấn định mà không thể thay đổi, được tính theo ngày
32 Điều 2223 BLDS Pháp
Trang 37mà không tính theo giờ và người có quyền khởi kiện được hưởng thời hiệu cho đến ngày cuối cùng của thời hiệu đã hết33
Việc tạm hoãn chia di sản thừa kế cũng được quy định trong BLDS Cộng hòa Pháp, nếu việc chia ngay di sản có thể làm thiệt hại đến giá trị của di sản chưa chia Thời hạn để tạm hoãn chia di sản thừa kế tối đa là hai năm Việc quy định này nhằm đảm bảo giá trị di sản và qua đó đảm bảo quyền lợi của các thừa kế, nếu việc chia thừa kế làm giảm giá trị của di sản
BLDS Cộng hòa Pháp là BLDS điển hình trên thế giới, có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật thừa kế ở Việt Nam Có thể nói chế định thừa kế trong BLDS Cộng hòa Pháp là một cuộc cách mạng về kỹ thuật làm luật Các quy phạm pháp luật được sắp xếp một cách hợp lý và logic, trở thành mẫu mực được các quốc gia trên thế giới tham khảo học hỏi để hoàn thiện pháp luật Thời hiệu khởi kiện được BLDS Cộng hòa Pháp quy định chung cho các vụ việc dân sự là ba mươi năm, trong đó bao gồm cả thời hiệu khởi kiện chia thừa kế, cùng với đó là quy định về căn cứ làm gián đoạn thời hiệu được BLDS Cộng hòa Pháp quy định một cách cụ thể và rõ ràng
1.5.2 Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế trong Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan
Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan chiếm một vị trí quan trọng trong pháp luật nước này Bộ luật này có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm B.E 2468 (Cách tính theo Lịch Vương quốc Thái Lan có thể tương đương với năm 1925 dương lịch) (Sau đây gọi là BLDS và thương mại Thái Lan) quy định về điều chỉnh các vấn đề thừa kế, trong đó có quy định về thời hiệu khởi kiện khi có tranh chấp về thừa kế tại tiêu đề VI quyển VI
BLDS và thương mại Thái Lan quy định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa
kế là mười năm, tính từ ngày người để lại tài sản chết34 Như vậy, BLDS và thương mại Thái Lan không quy định cụ thể thời hiệu khởi kiện chia thừa kế mà quy định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, trong đó quyền thừa kế bao gồm cả quyền yêu cầu chia di sản, do đó thời hiệu khởi kiện chia thừa kế cũng được xác định là mười năm, kể từ ngày người để lại tài sản chết Sau khi kết thúc thời hạn mười năm thì quyền khởi kiện chia thừa kế không còn nữa, nếu khởi kiện thì Tòa án cũng không thụ lý giải quyết Người có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế là những người thừa kế của người để lại di sản, theo quy định tại Điều 1603 BLDS và
33 Điều 2260, 2261 BLDS Pháp
34
Điều 1754 BLDS và thương mại Thái Lan 1925 quy định: “Trong bất cứ trường hợp nào, các khiếu nại
quy định tại đoạn trên không được tiến hành sau 10 năm, kể từ ngày người để lại tài sản chết”
Trang 38thương mại Thái Lan thì: “Một tài sản được để lại cho những người thừa kế bằng di
chúc hoặc quyền do luật định
Những người thừa kế quyền này do luật định được gọi là những người thừa
là một, nhưng do cách sử dụng ngôn từ lập pháp của mỗi quốc gia là không giống nhau
Đồng thời BLDS và thương mại Thái Lan còn có quy định: “Khi một người,
trong suốt thời gian mười năm trong trường hợp một bất động sản hoặc năm năm trong trường hợp một động sản, đã chiếm dụng công khai và không có tranh chấp một tài sản thuộc về người khác, với ý định trở thành người sở hữu của tài sản đó thì người này giành được quyền sở hữu tài sản đó” 35
Quy định trên có thể hiểu
rằng, trường hợp người quản lý di sản hoặc cũng có thể là người khác chiếm hữu tài sản là bất động sản trong mười năm một cách công khai, và trong thời gian mười năm không có tranh chấp về tài sản đó thì sau mười năm, quyền sở hữu đối với bất động sản đó được xác lập cho người đang chiếm hữu tài sản Đây cũng được xem như một giải pháp để giải quyết hậu quả của việc di sản hết thời hiệu khởi kiện
Như vậy, xuất phát từ điểm tương đồng về hoàn cảnh kinh tế, xã hội của Việt Nam và Thái Lan nên quy định về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế có sự giống nhau, cả hai nước đều quy định thời hiệu khởi kiện chia thừa kế là mười năm, kể từ thời điểm người để lại tài sản chết
1.5.3 Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế trong Bộ luật dân sự Nhật Bản
BLDS Nhật Bản được xây dựng chủ yếu dựa trên BLDS Pháp, bắt đầu được soạn thảo từ năm đầu tiên của Triều đại Meyji (1868 – 1912) và có hiệu lực từ năm
Trang 39Về thời hiệu, BLDS Nhật Bản quy định khá đầy đủ và chi tiết trong các điều luật Theo thông lệ chung, BLDS Nhật Bản ghi nhận: xuất phát từ sự cần thiết bảo đảm ổn định các quan hệ dân sự, việc phát sinh hậu quả pháp lí của thời hiệu phải
có hiệu lực tuyệt đối Đặc trưng của các quy định về thời hiệu trong BLDS Nhật Bản là thời hiệu chỉ áp dụng các quyền về tài sản mà không áp dụng đối với quyền nhân thân phi tài sản37
BLDS Nhật Bản quy định thời hiệu gồm có những vấn đề lớn là căn cứ làm gián đoạn thời hiệu, tạm ngừng thời hiệu, thời hiệu tiêu hủy và thời hiệu thủ đắc Thời hiệu tố tụng đối với tài sản thừa kế được quy định tại Điều 160 BLDS Nhật
Bản: “Thừa kế không kết thúc trong thời hạn 6 tháng, kể từ khi người thừa kế được
xác định, người quản lý được chỉ định hay công bố phá sản được đưa ra”, tại Điều
883 BLDS Nhật Bản còn quy định: “Quyền yêu cầu xem lại việc thừa kế sẽ bị triệt
tiêu bởi thời hiệu tố tụng, nếu không thực hiện trong vòng 5 năm, kể từ khi người thừa kế hoặc người đại diện hợp pháp của người đó biết được sự kiện tạo thành hành vi vi phạm quyền thừa kế Quy định này cũng được áp dụng, nếu 25 năm đã trôi qua kể từ ngày mở thừa kế” Như vậy, BLDS Nhật Bản quy định thời hiệu khởi
kiện thừa kế nếu tính từ thời điểm mở thừa kế là 25 năm, tính từ khi quyền thừa kế
bị vi phạm là 5 năm, còn đối với tài sản thừa kế chỉ khởi kiện sau 6 tháng từ khi xác định được di sản38
Di sản thừa kế theo quy định của BLDS Nhật Bản bao gồm cả tài sản, quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại Tại Điều 896 BLDS
Nhật Bản quy định: “Người thừa kế được thừa kế từ thời điểm mở thừa kế đối với
tất cả các quyền và nghĩa vụ có liên quan đến tài sản thừa kế, trừ những gì liên quan đến cá nhân người để lại thừa kế” Như vậy, theo quy định của BLDS Nhật
Bản thì tài sản được xem xét theo nghĩa rộng bao gồm cả tài sản, phần nợ tài sản nên khi một người chết thì toàn bộ tài sản, trong đó có phần tài sản nợ sẽ được chuyển cho những người thừa kế, người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản
Do chịu ảnh hưởng bởi BLDS Cộng hòa Pháp nên thời hiệu khởi kiện trong BLDS Nhật Bản cũng quy định thời hạn của thời hiệu tương đối dài là 25 năm, kể
từ thời điểm mở thừa kế, nhưng thời điểm để tính thời hiệu trong BLDS Nhật Bản là khác nhau, và cứ mỗi căn cứ thì tương ứng với thời hiệu khác nhau
Cũng giống như pháp luật nước khác và Việt Nam, thời hiệu khởi kiện là khoảng thời gian do pháp luật ấn định mà các chủ thể không thể rút ngắn hoặc kéo dài Mọi loại thỏa thuận liên quan đến việc kéo dài hoặc rút ngắn thời hiệu đều bị vô
37
Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Nhật Bản (1995), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 188
38 http://doc.edu.vn/tai-lieu/luan-van-hoan-thien-phap-luat-ve-thua-ke-o-viet-nam-hien-nay-64033/
Trang 40hiệu Việc quy định thời hiệu cũng nhằm đảm bảo quyền lợi cho các thừa kế và giải quyết tốt, nhanh chóng các tranh chấp liên quan đến việc yêu cầu chia di sản thừa
kế, đảm bảo sự ổn định của xã hội, tránh tình trạng tranh chấp kéo dài, gây khó khăn cho hoạt động xét xử của Tòa án